Đối chiếu quy định tại Điều 304 BLHS năm 1999, khái niệm do tác giả Phạm Thanh Bình và Nguyễn Vạn Nguyên đưa ra theo người viết thì đã nêu lên được hành vi khách quan của tội phạm đó là
Trang 1NGUYỄN PHÚ ĐỨC
TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số 60380104
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Trần Thị Quang Vinh
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn của giáo viên Tiến sĩ.Trần Thị Quang Vinh Các kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình khoa học nào trước đây
Người cam đoan
Nguyễn Phú Đức
Trang 4Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 6
1.1 Tội không chấp hành án theo Điều 304 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm
1999 6
1.1.1 Khái niệm tội không chấp hành án 6
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội Không chấp hành án 9
1.1.3 Hình phạt của tội Không chấp hành án Điều 304 Bộ luật Hình sự
năm 1999 20
1.2 Phân biệt tội Không chấp hành án với một số tội phạm khác trong Bộ luật
hình sự năm 1999 20
1.2.1 Tội không chấp hành án với tội Không thi hành án 20
1.2.2 Tội không chấp hành án với tội Cản trở việc thi hành án 25
1.2.3 Tội không chấp hành án với tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên
tài sản 28 1.2.4 Tội không chấp hành án với tội Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ
cấp dưỡng 33
1.3 Tội không chấp hành án theo pháp luật hình sự một số nước trên thế giới37
1.3.1 Tội không chấp hành án theo pháp luật hình sự Liên bang Nga 37
1.3.2 Tội không chấp hành án theo pháp luật hình sự nước Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa 40 1.3.3 Tội không chấp hành án theo pháp luật hình sự Nhật Bản 41
Chương 2 THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN VÀ
VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
XÉT XỬ ĐỐI VỚI TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN 43
2.1 Thực tiễn xét xử tội Không chấp hành án 43
2.1.1 Thực tiễn xét xử trong xác định hành vi khách quan của tội Không
chấp hành án 43 2.1.2 Thực tiễn xét xử trong xác định dấu hiệu “đã bị áp dụng biện pháp
cưỡng chế cần thiết” 47
Trang 52.1.5 Bất cập xung quanh vấn đề chủ thể của tội Không chấp hành án 66 2.1.6 Về hình phạt trong Điều 304 Bộ luật Hình sự chưa hợp lý 67 2.1.7 Cơ chế phối hợp xử lý các hành vi phạm tội theo Điều 304 Bộ luật
Hình sự hiện nay giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn nhiều hạn chế 67 2.1.8 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 68
2.2 Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử về tội Không chấp hành
án 69
2.2.1 Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về tội Không chấp hành án69 2.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử đối với tội Không chấp hành án 70
PHẦN KẾT LUẬN 74
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bản án cũng như quyết định của Tòa án là kết quả của hoạt động tư pháp trong việc giải quyết các vụ án Nhưng đó chưa phải là kết quả cuối cùng của hoạt động này Bản án cũng như các quyết định của Tòa án chỉ có ý nghĩa thực sự khi được chấp hành Trên cả bình diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, nếu bản án, quyết định của Tòa án không được chấp hành thì toàn
bộ hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử trước đó cũng trở nên
vô nghĩa Điều đó dẫn đến trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực nhà nước không được thực hiện, chuyên chính bị buông lỏng Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định của Toà án là một yêu cầu tất yếu khách quan trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
Theo báo cáo tổng kết của Cơ quan thi hành án trong những năm gần đây tình trạng cá nhân, tổ chức chống đối, không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án thường xuyên xảy ra, nhưng điều đáng nói là rất ít khi họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong khi trên thực tế chúng ta đều biết, hiện nay lượng án tồn đọng hàng năm rất lớn Điều đó dẫn đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành án bị xâm phạm, gây tác hại trực tiếp đến uy tín cũng như việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
cơ quan, tổ chức thi hành án Đồng thời còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân
Bộ luật Hình sự hiện hành có quy định tội Không chấp hành án tại Điều
304 Tuy nhiên, các vấn đề về mặt lý luận cũng như thực tiễn tình hình các hoạt động tố tụng đối với tội Không chấp hành án, hiện nay tại các cơ quan tiến hành tố tụng còn rất nhiều hạn chế, mâu thuẫn và vướng mắc Các quy định pháp luật chưa thực sự đầy đủ và rõ ràng, gây khó khăn, nhằm lẫn trong nhận thức và đánh gía các tình tiết, chẳng hạn: Chẳng hạn xung quanh vấn đề thế nào là “đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết ?” Hay cùng là người phải chấp hành án nhưng khi không chấp hành án thì cá nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong khi đó cơ quan, tổ chức không chấp hành án thì không
Trang 7phải chịu trách nhiệm hình sự Ngoài ra từ khi được quy định thành một tội danh độc lập đến nay tội Không chấp hành án thực tiễn xét xử gặp một số vướng mắc trong việc xác định dấu hiệu cấu thành tội Không chấp hành án, nhưng cho đến nay vẫn chưa được hướng dẫn áp dụng Điều đó tạo ra các quan điểm khác nhau ở các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc khởi tố, định tội danh, quyết định hình phạt…Cùng với những hạn chế về mặt chủ quan và các yếu tố tiêu cực khác làm cho hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này chưa đạt được hiệu quả cao Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về tội Không chấp hành án, tổng kết các quan điểm và thống nhất nhận thức, phân tích thực tiễn các hoạt động tố tụng là hết sức cần thiết Trên
cơ sở đó, chúng ta tìm ra các giải pháp, phương hướng, đưa ra kiến nghị, đề xuất cho việc hoàn thiện các quy định trong pháp luật hình sự, nâng cao hiệu qủa của các hoạt động tố tụng đối với loại tội phạm này
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn đề tài: “ Tội không chấp hành án trong luật hình sự Việt Nam” làm luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội không chấp hành án trong luật hình sự Việt Nam, là một đề tài được nhiều người quan tâm trong thời gian qua, bao gồm các nhà nghiên cứu luật học, các cán bộ công tác trong ngành tư pháp nói chung, trong các cơ quan thi hành án nói riêng
Tuy nhiên từ trước đến nay các công trình nghiên cứu về tội Không chấp hành án hầu như không đáng kể Trong số các công trình đã được công
bố có thể kể đến đó là: công trình “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp” do Nhà xuất bản Pháp lý xuất bản năm 1989; hay công trình “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp” của tác giả Phạm Thanh Bình và Nguyễn Vạn Nguyên cũng do Nhà xuất bản Pháp lý xuất bản năm 1990; Các giáo trình luật hình sự- Phần các tội phạm của trường Đại học luật
Hà Nội, trường Đại học luật TP Hồ Chí Minh cũng dành một phần giới thiệu
về nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong đó có tội Không chấp hành án; bài viết “Về tội Không chấp hành án và tội Cản trở việc thi hành án” của tác giả Phạm Thanh Bình đăng trên Tập san Tòa án nhân dân, số 1-2/88; Nghị
Trang 8quyết số 04/HĐTP ngày 29 tháng 11 năm 1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 mà phần hướng dẫn xử lý tội Không chấp hành án cũng là một công trình nghiên cứu quan trọng, có tính chất định hướng để đấu tranh chống tội phạm này Bên cạnh đó, đã có một số bài viết gần đây về các khía cạnh khác nhau của tội Không chấp hành án được đăng trên các Website như: “Tội không chấp hành án lúc xử lúc không” của tác giả Thạnh Hưng; “Mất tiền, mất cả tự do vì không chấp hành án” của tác giả Huy Hoàng; “Tội phạm trong lĩnh vực thi hành án vì sao ít xử” của tác giả Thu Hằng, hay “Vì sao khó xử lý tội Không chấp hành án?” của tác giả Hoàng Sơn…Tuy nhiên, các công trình, các bài viết trên chỉ đề cập đến từng khía cạnh cụ thể như nêu lên khái niệm, trình bày các yếu tố cấu thành tội phạm cũng như hình phạt của tội Không chấp hành án mà chưa nghiên cứu sâu và có hệ thống về tội này Vì vậy, Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống cả về
lý luận lẫn thực tiễn đối với tội Không chấp hành án
3 Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội Không chấp hành án được quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 1999, chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, trên cơ
sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự đối với tội Không chấp hành án, nhằm góp phần nâng cao hiệu qủa đấu tranh phòng chống loại tội phạm này tại Việt Nam
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về tội Không chấp hành án theo pháp luật hình sự Việt Nam
- Phân tích và đánh giá thực tiễn xét xử tội Không chấp hành án, qua đó hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử đối với tội Không chấp hành
án
Trang 9- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quy định của pháp luật hình sự về tội Không chấp hành án và thực tiễn xét xử vụ án hình sự về tội Không chấp hành án
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định và thực trạng áp dụng pháp luật về tội Không chấp hành án theo Điều 304 Bộ luật hình sự năm 1999 Phạm vi nghiên cứu dưới góc độ hình sự
- Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã bám sát lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về phép biện chứng duy vật, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình sự, cải cách tư pháp
Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã sử dụng các phương pháp đặt thù của khoa học pháp lý như: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp; phương pháp lịch sử; phương pháp thống kê; phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Đối với phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp tác giả dùng để làm
rõ về mặt lý luận nhằm thống nhất nhận thức về tội Không chấp hành án và đặt nó trong sự so sánh với các tội phạm khác có liên quan Phương pháp lịch
sử, tác giả vận dụng nhằm phân tích, đánh giá sự kế thừa và phát triển trong lĩnh vực lập pháp đối với tội phạm này Phương pháp thống kê, tham khảo ý kiến chuyên gia, tác giả sử dụng để thống kê các vụ án về tội Không chấp hành án trong thời gian qua; tham khảo ý kiến các cán bộ là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Chấp hành viên… có kinh nghiệm thực tiễn trong công tác, từ đó có những nhận xét, đánh giá thực tiễn áp dụng và đưa ra những kiến nghị
5.Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận cũng như thực tiễn
Trang 10- Về mặt lý luận: Với kết quả đạt được qua việc nghiên cứu đề tài có
thể góp vào lý luận về tội Không chấp hành án dưới góc độ pháp lý hình sự và đưa ra cơ sở khoa học của hoạt động hoàn thiện pháp luật
-Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo đối
với những người làm công tác thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao nhận thức, rút kinh nghiệm về những bất cập, vướng mắc trong quá trình tiến hành tố tụng Luận văn cũng có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác pháp luật, cho việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu môn luật hình sự và làm tài liệu tham khảo trong hoạt động lập pháp, hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự liên quan đến tội Không chấp hành
án
6 Bố cục của luận văn
Trên cơ sở Qui định về bố cục và hình thức của luận văn Thạc sỹ, tác giả thực hiện luận văn với bố cục gồm: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Trong đó phần nội dung gồm 02 chương:
- Chương 1 Những vấn đề lý luận về tội Không chấp hành án theo pháp luật hình sự Việt Nam
- Chương 2 Thực tiễn xét xử tội Không chấp hành án và vấn đề hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử đối với tội Không chấp hành án
Ngoài ra, luận văn còn có lời nói đầu, cam kết của tác giả, danh mục các chữ viết tắt, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phục lục và kết luận
Trang 111.1.1 Khái niệm tội Không chấp hành án
Theo lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam thì mãi đến khi Bộ luật Hình
sự (BLHS) năm 1985 ban hành thì tội Không chấp hành án mới được quy định chính thức trong một văn bản pháp luật hình sự và được quy định chung với tội Cản trở việc thi hành án tại Điều 240 Đến khi BLHS năm 1999 được ban hành và thay thế BLHS năm 1985 thì tội Không chấp hành án được tách
ra thành một tội danh độc lập tại Điều 304
BLHS năm 1985 quy định tội Không chấp hành án tại Khoản 1 Điều
240 như sau:
“Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”
Kế thừa Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 tại Điều 304 BLHS năm
1999 đã quy định:
“Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì
bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”
Tuy được tách ra thành một Điều luật độc lập nhưng Điều 304 BLHS năm 1999 cơ bản là vẫn giống với Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985, theo đó: Khách thể của Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 và Điều 304 BLHS năm 1999 đều xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức
có trách nhiệm thi hành án; về hành vi khách quan, Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 và Điều 304 BLHS năm 1999 hoàn toàn giống nhau, người phạm
Trang 12tội đều có hành vi cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết; về chủ thể, Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 và Điều 304 BLHS năm 1999 đều quy định chủ thể là những người có nghĩa vụ phải thi hành các bản án hoặc quyết định của Tòa án; về mặt chủ quan, người thực hiện hành vi phạm tội theo Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 và Điều 304 BLHS năm 1999 đều thực hiện với lỗi cố ý; về hình phạt tù, Điều 304 BLHS năm 1999 vẫn giữ nguyên mức phạt tù như Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 là sáu tháng đến ba năm Tuy nhiên giữa Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 và Điều 304 BLHS năm 1999 có sự khác nhau về mức hình phạt cải tạo không giam giữ theo hướng nghiêm khắc hơn, theo đó tại Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ đến một năm, trong khi đó Điều 304 BLHS năm 1999 quy định mức phạt cải tạo không giam giữ lên đến
ba năm
Qua đó, chúng ta thấy rằng, dù theo Khoản 1 Điều 240 BLHS năm
1985 hay Điều 304 BLHS năm 1999 thì vẫn là hành vi cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án khi đã bị các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết thì mới xem là phạm tội không chấp hành án, nếu chưa bị áp dụng một trong các biện pháp cưỡng chế đó thì không phạm tội này Theo lời văn của điều luật thì những người phạm tội này thường là người có nghĩa vụ chấp hành các bản án hoặc quyết định của Tòa án trong các
vụ án hình sự hoặc là đương sự của vụ án dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình… Bản án là văn bản của Tòa án có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước tuyên khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm xét xử vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động, hoặc hành chính Bản án phải có đầy đủ các nội dung chính như tình tiết vụ việc, nhận định của Hội đồng xét
xử, quyết định của Tòa án…để xác định sự thật khách quan, quan hệ pháp luật
bị xâm phạm và trách nhiệm, quyền hạn pháp lý của các bên đương sự hoặc bị cáo Tương tự như vậy quyết định của Tòa án cũng là văn bản của Tòa án trong đó quy định trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong các vụ tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động, hành chính
Trang 13Trên tài liệu pháp lý hình sự cũng có nhiều tác giả đưa ra khái niệm tội Không chấp hành án như sau:
Theo quan điểm của tác gỉa Phạm Thanh Bình và Nguyễn Vạn Nguyên
thì “ Không chấp hành án được hiểu là hành vi của người phải thi hành án
nhưng đã không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án một cách cố ý”1
Theo tác giả Nguyễn Đức Thuận trong một tác phẩm của mình, cho
rằng: “ Không chấp hành án là tội phạm của những người cố ý không chấp
hành bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết”2
Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học luật Hà Nội
thì “ Tội không chấp hành án là hành vi cố ý không chấp hành bản án hoặc
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết”3
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng khái niệm về tội Không chấp hành
án vẫn có nhiều quan điểm khác nhau Đối chiếu quy định tại Điều 304 BLHS năm 1999, khái niệm do tác giả Phạm Thanh Bình và Nguyễn Vạn Nguyên đưa ra theo người viết thì đã nêu lên được hành vi khách quan của tội phạm đó là việc không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án một cách cố
ý, nhưng khái niệm này còn thiếu điều kiện cơ bản nhất đó là người phạm tội
đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, nghĩa là người nào đó cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc
dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết thì mới xem là phạm tội không chấp hành án Tương tự như vậy, khái niệm về tội Không chấp hành án
do tác giả Nguyễn Đức Thuận đưa ra theo người viết cũng chưa hợp lý, theo tác giả Nguyễn Đức Thuận thì không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân nhân đã có hiệu lực pháp luật mới bị xem là phạm tội không chấp hành án, điều này hoàn toàn chưa bao hàm hết các trường hợp không
Trang 14chấp hành án bởi lẽ bản án của Tòa án quân sự nếu không chấp hành vẫn xem
là phạm tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS Việt Nam
Quan điểm của tác giả khái niệm về tội Không chấp hành án theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội là tương đối hoàn chỉnh Nó vừa cụ thể hóa được điều luật, vừa khái quát được bản chất của tội phạm này.Tuy nhiên theo tác giả thì khái niệm tội Không chấp hành án cần phải đầy đủ hơn như sau:
Tội không chấp hành án là hành vi của người có điều kiện thi hành nhưng cố ý không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết theo quy định của pháp luật
Theo pháp luật hiện hành chỉ những người có điều kiện chấp hành án
mà cố ý không chấp hành thì mới bị cưỡng chế thi hành, các biện pháp cưỡng chế cũng được pháp luật quy định tương đối cụ thể cho từng trường hợp, khi tiến hành cưỡng chế cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế đúng theo quy định, không được tùy tiện áp dụng Còn những người không có điều kiện chấp hành thì sẽ được giải quyết theo điều luật như: Đình chỉ, trả đơn yêu cầu, hoãn thi hành, miễn, giảm.v.v Do đó chỉ những người nào có điều kiện mà không chấp hành án, mặc dù đã bị áp dụng một trong các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật mới bị xem là phạm tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS hiện nay
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội Không chấp hành án
Nếu xét về bản chất, nội dung chính trị, xã hội và nội dung pháp lý của tội phạm thì tội phạm được xem là hiện tượng xã hội có tính giai cấp và tính lịch sử được đặc trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự Nhưng khi nghiên cứu về mặt cấu trúc, tội phạm có đặc điểm chung
là đều được hợp bằng những yếu tố nhất định, tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể phân biệt được trong tư duy và do vậy có thể cho phép nghiên cứu độc lập với nhau Những yếu tố đó theo khoa học luật hình sự Việt Nam
là khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm
Trang 15Theo luật hình sự Việt Nam, bất cứ hành vi phạm tội nào, dù ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, dù bị quy định bởi hình phạt tới chung thân, tử hình hay chỉ là cảnh cáo, phạt tiền cũng đều là thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan - giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tâm lí bên trong, đều là hoạt động của con người cụ thể, xâm hại hoặc nhằm xâm hại những quan hệ xã hội nhất định Sự thống nhất của bốn yếu tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện đầy đủ nội dung chính trị, xã hội của tội phạm Nếu về mặt nội dung chính trị, xã hội, những hành vi phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì
về mặt cấu trúc, bốn yếu tố cấu thành tội phạm cũng có những nội dung biểu hiện khác nhau Chính sự khác nhau này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
1.1.2.1 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội Không chấp hành án là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực thi hành án, nhằm bảo đảm cho các cơ quan thi hành án thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình Hành vi phạm tội xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành án, gây tác hại trực tiếp đến uy tín cũng như việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức thi hành án Đồng thời còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân
Đối tượng tác động của tội Không chấp hành án là bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động, hành chính Việc không chấp hành các quyết định hành chính, quyết định về áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự thì không phải là đối tượng tác động của tội phạm này
Với việc xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành án, hành vi phạm tội này còn xâm phạm đến nhiều quan
hệ khác được Luật hình sự bảo vệ Đó có thể là quan hệ nhân thân, quan hệ sở hữu cũng như các quan hệ xã hội khác Hành vi phạm tội này còn có ảnh hưởng xấu tới uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, hạn chế hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật khác
Trang 161.1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm
Theo Điều 304 BLHS năm 1999, dấu hiệu khách quan của tội Không chấp hành án là : “Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật…”
Tội không chấp hành án là tội phạm có cấu thành tội phạm (CTTP) hình thức, do vậy mặt khách quan của tội phạm chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan Để phân biệt tội Không chấp hành án với hành vi không phải là tội phạm, pháp luật còn quy định kèm theo điều kiện là “đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết”
Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi không chấp hành án Không chấp hành án được hiểu là việc người phải chấp hành án cố tình không thực hiện các phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Thường các phán quyết của Tòa án buộc họ phải thi hành một nghĩa vụ về vật chất hay buộc làm hoặc không được làm một công việc nhất định
Xét về hình thức thể hiện, hành vi không chấp hành án thể hiện dưới dạng không hành động phạm tội, nghĩa là:
- Người phạm tội phải có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Như buộc phải bồi thường cho bên bị thiệt hại, dọn khỏi nhà đã chiếm giữ trái phép, phải đóng góp phí tổn nuôi con chung sau khi ly hôn, hay phải phân chia tài sản chung theo quyết định của Tòa án v.v
- Người phạm tội có điều kiện để chấp hành phán quyết của Tòa án Cụ thể là có tài sản, nguồn thu nhập để thực hiện nghĩa vụ về tài sản; có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để thực hiện nghĩa vụ về làm hay không làm công việc nhất định theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng họ đã không thực hiện Đây còn là tiêu chí quan trọng để phân biệt giữa hành vi khách quan trong Điều 304 BLHS với hành vi không chấp hành án trong trường hợp không có điều kiện thi hành Theo đó, cũng là hành vi không chấp hành án nhưng đối với những người không có điều kiện để chấp hành, pháp luật hình
sự xem đó không phải là hành vi phạm tội Không có điều kiện để chấp hành
án là trường hợp không có tài sản, nguồn thu nhập để thực hiện nghĩa vụ về tài sản; không có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để thực hiện
Trang 17nghĩa vụ về làm hay không làm công việc nhất định theo bản án, quyết định của Tòa án v.v
Những hành động như xô đẩy, giằng co, gây huyên náo hoặc có những lời lẽ chửi bới, thóa mạ, xúc phạm đến danh dự của cán bộ công chức làm công tác thi hành án khi họ tiến hành công việc cưỡng chế thi hành án thì đó chỉ là hành vi kèm theo, là thủ đoạn để người phạm tội không chấp hành án, nếu những thủ đoạn này cấu thành tội phạm khác thì sẽ xét xử tổng hợp tội phạm
Không phải mọi hành vi không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đều bị coi là hành vi phạm tội Chỉ những hành vi không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án xảy ra sau khi đã
áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết mới bị coi là hành vi phạm tội Những biện pháp cưỡng chế cần thiết là những biện pháp do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng, buộc người có nghĩa vụ chấp hành án phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình
Những biện pháp cưỡng chế cần thiết được áp dụng để thi hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là căn cứ để xác định hành vi phạm tội Tương ứng với ba lĩnh vực thi hành án4
đúng ra phải có ba loại biện pháp cưỡng chế tương ứng với nhóm hành vi phạm tội trong từng lĩnh vực thi hành án, thế nhưng hiện nay chỉ có trong lĩnh vực thi hành án dân
sự là quy định đầy đủ các biện pháp cưỡng chế để áp dụng khi người phải chấp hành án không tự nguyện thi hành án Trong lĩnh vực thi hành án hình sự thì hoàn toàn chưa có quy định bất cứ biện pháp cưỡng chế nào để áp dụng khi người chấp hành án không thực hiện theo bản án của Tòa án đã tuyên Riêng trong thi hành án hành chính, nếu nội dung thi hành án về tài sản thì áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong lĩnh vực thi hành án dân sự để thi hành, còn các nội dung thi hành khác trong lĩnh vực thi hành án hành chính luật cũng chưa có quy định biện pháp cưỡng chế nào sẽ được áp dụng nếu người phải chấp hành án không tự nguyện thi hành
4 Gồm: Thi hành án hình sự, thi hành án dân sự (các việc dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, thương mại) và thi hành án hành chính
Trang 18Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp do cơ quan thi hành án dân
sự áp dụng nhằm buộc đương sự thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc hành vi để thi bản án, quyết định theo quy định của pháp luật Điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án là người phải chấp hành án có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành Cụ thể, là người phải chấp hành án có tài sản, có thu nhập để thực hiện nghĩa vụ về tài sản; có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để thực hiện nghĩa vụ về làm hay không làm công việc nhất định theo bản án, quyết định của Tòa án Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải chấp hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án Trường hợp cần ngăn chặn người phải chấp hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc chấp hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế thi hành
Các biện pháp cưỡng chế thường được áp dụng là: Khấu trừ tiền
trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá; trừ vào thu nhập của người
phải thi hành án; Kê biên, xử lý tài sản là vật; Cưỡng chế trả vật, giấy tờ, quyền sử dụng đất; Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao nhà, trả nhà; Cưỡng chế
đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ; Cưỡng chế khai thác đối với tài sản; Cưỡng chế thi hành buộc thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định
* Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá; trừ vào thu nhập của người phải chấp hành án được quy định tại Khoản 1, Khoàn 2 Điều 71 Luật thi hành án dân sự (Luật THADS) năm 2008 và được quy định
cụ thể từ Điều 76 đến Điều 83 Luật THADS Thông thường, đây là những biện pháp đầu tiên thường được Chấp hành viên cân nhắc để lựa chọn trước các biện pháp khác Chỉ khi nào không đủ điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế này thì Chấp hành viên mới lựa chọn các biện pháp cưỡng chế khác Vì đây là các biện pháp cưỡng chế trên thực tế dễ thực hiện hơn các biện pháp cưỡng chế khác Điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế này là: Người phải chấp hành án có nghĩa vụ trả tiền Riêng đối với biện pháp trừ vào thu nhập của người phải chấp hành án được thực hiện trong các trường hợp
Trang 19sau đây: Theo thỏa thuận của đương sự; bản án ấn định trừ vào thu nhập của người phải chấp hành án; thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải chấp hành án không đủ để thi hành án
* Kê biên, xử lý tài sản là vật
Biện pháp kê biên, xử lý tài sản là vật được quy định tại Mục 6 Luật THADS từ Điều 87 đến Điều 106 là biện pháp kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản của người phải chấp hành án để thi hành án Kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản của người phải chấp hành án là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự có tính nghiêm khắc nhất trong các biện pháp cưỡng chế Theo đó, quyền tự định đoạt tài sản của người phải chấp hành án
có nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án có nguy cơ bị tước bỏ Các trình tự thủ tục để thực hiện biện pháp cưỡng chế này đòi hỏi phải thực hiện hết sức chặt chẽ, áp dụng đúng những quy định của pháp luật Ngoài ra việc kê biên, xử lý tài sản phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải chấp hành án và các chi phí cần thiết khác Tuy nhiên, trường hợp người phải chấp hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần đối với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì vẫn được quyền kê biên tài sản lớn hơn nghĩa vụ thi hành án Trong trường hợp người phải chấp hành án có nhiều tài sản khác nhau, thì chúng ta phải căn cứ theo quy định của pháp luật, đề nghị của người phải chấp hành án để kê biên tài sản nào trước
Ngoài ra pháp luật cũng quy định một số tài sản không được kê biên như: Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức Tài sản sau đây của người phải chấp hành án là cá nhân: Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải chấp hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới; Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải chấp hành án và gia đình; Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương; Công cụ lao động cần thiết, có giá trị
Trang 20không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải chấp hành án và gia đình; Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải chấp hành án và gia đình Tài sản sau đây của người phải chấp hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: Số thuốc phục
vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng
cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động; Nhà trẻ, trường học, cơ
sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải
là tài sản để kinh doanh; Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường 5
* Cưỡng chế trả vật, giấy tờ, quyền sử dụng đất
Cưỡng chế trả vật, giất tờ, quyền sử dụng đất là biện pháp cưỡng chế thi hành án trong trường hợp người phải chấp hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả vật, giấy tờ, quyền sử dụng đất cho người được thi hành án mà không tự nguyện thi hành Vì đối tượng (tài sản, giấy tờ…) đã được xác định cụ thể trong bản án, quyết định Do vậy việc xác minh điều kiện thi hành án sẽ ít phức tạp hơn so với các biện pháp cưỡng chế khác về tài sản là vật Tuy nhiên, trên thực tế, những tài sản, giấy tờ dễ bị mất mát, hư hỏng, thay đổi so với bản án, quyết định Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền sử dụng đất, giấy tờ cùng có một đặc điểm chung là nhằm chấm dứt trên thực tế quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của người này đồng thời xác lập quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản cho người khác theo quy định của pháp luật Chính vì có chung đặc điểm trên nên khi áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền sử dụng đất, giấy tờ cơ quan thi hành án dân sự thường xuyên gặp phải sự chống đối quyết liệt từ phía người phải chấp hành án và gia đình của họ Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế này cơ quan thi hành án phải có một kế hoạch thật chặt chẽ mới thực hiện việc cưỡng chế thành công
* Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao nhà, trả nhà
Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao nhà, trả nhà là biện pháp cưỡng chế dùng để áp dụng đối với người phải chấp hành án có nghĩa vụ giao nhà cho
5
Điều 87 Luật thi hành án dân sự năm 2008
Trang 21người được thi hành án hoặc người mua được nhà bán đấu giá nhưng người phải chấp hành án không tự nguyện thi hành
Đây là biện pháp cưỡng chế vô cùng phức tạp, vì nhà ở là tài sản có giá trị lớn và rất có ý nghĩa với người dân, ảnh hưởng trực tiếp đến người phải chấp hành án và nhân thân của họ Vì vậy việc áp dụng biện pháp này trên thực tế thường gặp phải sự chống đối rất cao, nếu không giải quyết thỏa đáng quyền lợi của người phải chấp hành án và nhân thân của họ sẽ dễ làm nảy sinh các vấn đề phức tạp về an ninh, chính trị trên địa bàn Điều 115 Luật THADS đã đưa ra một quy trình cưỡng chế trả nhà, giao nhà rất chi tiết và tương đối chặt chẽ Theo đó biện pháp cưỡng chế này được áp dụng trong các trường hợp sau:
- Bản án, quyết định của Tòa án tuyên người phải chấp hành án có nghĩa vụ trả nhà cho người được thi hành án
- Cưỡng chế giao nhà cho người mua được nhà bán đấu giá Đây là trường hợp người phải chấp hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền, trả vàng nhưng do không tự nguyện thi hành án nên bị cơ quan thi hành án kê biên, định giá, bán đấu giá để thi hành án Mặc dù đã được thông báo hợp lệ nhưng không tự nguyện thi hành nghĩa vụ giao nhà nên cơ quan thi hành án phải cưỡng chế buộc giao nhà cho người mua được nhà bán đấu giá
- Cưỡng chế giao nhà đã kê biên cho người được thi hành án để trừ vào
số tiền được thi hành án theo quy định tại Điều 100 Luật THADS 6
* Cưỡng chế đối với tài sản là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
Cưỡng chế đối với tài sản là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp do cơ quan thi hành án áp dụng đối với người phải chấp hành án, gồm
có các biện pháp như: kê biên, sử dụng, khai thác, bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ để thi hành án
Khi áp dụng biện pháp này, Chấp hành viên có quyền ra quyết định kê biên đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ của người phải chấp hành án Trường hợp người phải chấp hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đã chuyển
6 Trường hợp đương sự thỏa thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án
Trang 22quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên Hiện nay Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định cụ thể về trình tự thủ tục kê biên, khai thác, định giá, bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ Với sự đa dạng và phức tạp của hệ thống pháp luật
về quyền sở hữu trí tuệ, nếu không có những hướng dẫn cụ thể thì Chấp hành viên rất khó thực hiện và sẽ dễ nhầm lẫn, sai sót
* Cưỡng chế khai thác đối với tài sản
Cưỡng chế khai thác đối với tài sản là biện pháp cưỡng chế để đảm bảo thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự được quy định tại Khoản 4 Điều 71, Điều 107, 108, 109 Luật THADS Hoạt động cưỡng chế khai thác đối với tài sản là làm cách nào
đó thu được tiền từ việc sử dụng, khai thác tài sản của người phải chấp hành
án mà không phải bán tài sán đó để thi hành án Chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế này nếu thuộc một trong các trường hợp và điều kiện cụ thể, đó là: Tài sản của người phải chấp hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để thi hành án hoặc người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nhưng nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ
ba Đều đó có nghĩa là chỉ cần thuộc một trong hai trường hợp nêu trên là được quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án này Tuy nhiên, cần lưu
ý mỗi trường hợp phải có điều kiện nhất định và điều kiện này phù hợp với trường hợp cụ thể đó, nếu điều kiện này áp dụng cho trường hợp khác thì không đúng quy định
* Cưỡng chế thi hành buộc thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định
Cưỡng chế thi hành buộc thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định được quy định tại Khoản 6 Điều 71 của Luật THADS và được quy định rõ hơn tại các điều từ Điều 118 đến Điều 121 Luật THADS Ngoài ra, còn được quy định cụ thể hơn trong Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 Biện pháp cưỡng chế này khác hoàn toàn với các biện pháp cưỡng chế khác, vì đối tượng của biện pháp cưỡng chế này không liên
Trang 23quan đến tài sản, mà đối tượng của biện pháp cưỡng chế là hành vi của con người, cho nên việc tổ chức thi hành án có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của người phải chấp hành án Về điều kiện áp dụng, trước khi tổ chức cưỡng chế Chấp hành viên phải ra quyết định phạt tiền để buộc người phải chấp hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên mới tiến hành cưỡng chế hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Không chấp hành án
Một số loại việc thường gặp về buộc làm công việc hay không được làm công việc nhất định:
- Chấm dứt hành vi gây ô nhiễm môi trường
- Chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu tài sản, quyền
sử dụng đất hợp pháp
- Cải chính tin tức sai sự thật
- Công khai xin lỗi người bị xúc phạm danh dự nhân phẩm
- Nhận người lao động bị buộc thôi việc trái phép trở lại làm việc
- Giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng
Theo quy định những người phạm tội Không chấp hành án thường đã
bị kê biên, niêm phong, phát mãi tài sản hoặc đã bị khấu trừ vào tiền lương, vào các khoản thu nhập khác mà vẫn không chịu thi hành các khoản bồi hoàn, đóng góp đó Đã bị áp dụng những biện pháp bắt buộc thực hiện những quyết định của bản án như quyết định cưỡng chế rời khỏi nhà hoặc trả lại tài sản đã chiếm giữ trái phép mà vẫn không chịu chấp hành; cũng có thể là hành vi
Trang 24không thực hiện công việc bắt buộc phải làm hoặc không chấm dứt công việc không được làm sau khi đã bị phạt tiền v.v
Luật chỉ quy định hành vi không chấp hành án sau khi đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết mới là hành vi phạm tội, bởi hành vi không chấp hành án thực hiện sau khi bị cưỡng chế có tính nguy hiểm cao, thể hiện
rõ ý thức ngoan cố chống đối pháp luật của bị cáo Do vậy, việc xử lý bằng biện pháp hình sự là cần thiết
1.1.2.3 Chủ thể của tội phạm.
Chủ thể của tội phạm này là những người có nghĩa vụ phải chấp hành các bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Họ có thể là một trong số những người sau đây:
- Người bị kết án trong các vụ án hình sự bị xử phạt cải tạo không giam giữ, phạt tiền hoặc xử phạt các hình phạt bổ sung như quản chế, cấm cư trú hoặc phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính; người có trách nhiệm bồi thường, người có tài sản, quyền lợi liên quan đến việc phạm tội (trong các vụ
án hình sự)
- Bị đơn, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ kiện trong các vụ kiện dân
sự, kinh tế, lao động, hành chính hoặc hôn nhân gia đình
- Những người khác, do quan hệ tình cảm gia đình, họ hàng với những người phải chấp hành án, mà có hành vi xúi giục, giúp sức hoặc tổ chức cho những người phải chấp hành án không chấp hành các bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì cũng có thể đồng phạm trong vụ án
Nghĩa vụ chấp hành án không chỉ đặt ra cho cá nhân, mà còn đặt ra cho pháp nhân nhưng BLHS quy định chỉ có cá nhân mới là chủ thể của tội phạm, pháp nhân không chấp hành án sẽ không bị truy cứu TNHS và không là chủ thể của loại tội phạm này
Trường hợp một người bị kết án tù giam, đã lợi dụng việc tại ngoại để
bỏ trốn, không chấp hành án sẽ bị truy nã và cưỡng chế chấp hành án chứ không coi là chủ thể của Tội không chấp hành án Người đang bị tạm giam bỏ trốn nhằm trốn tránh việc chấp hành hình phạt thì tùy từng trường hợp cụ thể,
Trang 25có thể bị xét xử về tội Trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử 7
hoặc tội Chống phá trại giam 8
1.1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Tội không chấp hành án luôn luôn được thực hiện do cố ý Trường hợp không chấp hành án do nhận thức hạn chế về pháp luật, chỉ có thể được xem xét khi quyết định hình phạt, chứ không coi đây là trường hợp do “vô ý” không chấp hành án Do đó:
- Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý Người phạm tội biết mình có nghĩa
vụ phải chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Họ cũng biết đã có biện pháp cưỡng chế cần thiết được áp dụng để buộc
họ phải chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án Mặc dù vậy người phạm tội vẫn tiếp tục không chịu chấp hành bản án hoặc quyết định đó
- Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc Trong thực tế, người phạm tội có thể có những động cơ khác nhau thúc đẩy
1.1.3 Hình phạt của tội Không chấp hành án Điều 304 Bộ luật Hình sự năm
1999
Điều 304 BLHS năm 1999 chỉ quy định một khung hình phạt: Cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm áp dụng đối với những trường hợp phạm tội thông thường, không có những tình tiết đặc biệt nghiêm trọng như do chống đối mà gây thương tích hoặc làm chết người đang làm công tác thi hành án
1.2 Phân biệt tội Không chấp hành án với một số tội phạm khác trong
Bộ luật Hình sự năm 1999
1.2.1 Tội không chấp hành án với tội Không thi hành án
* Khái niệm tội Không thi hành án
Tội không thi hành án9
là hành vi của người có thẩm quyền cố ý không
ra quyết định thi hành án hoặc cố ý không thi hành quyết định thi hành án
7 Điều 311 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
8 Điều 90 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ năm 2009 )
9
Điều 305 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1 Người nào có thẩm quyền mà cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
2 Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
Trang 26trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người thực hiện đã bị xử lý
- Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi không ra quyết định thi hành án hoặc hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án Ví dụ: Không gửi trích lục bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan thi hành án có nhiệm vụ thi hành án (đối với bản án, quyết định dân sự, kinh tế, lao động, hành chính hoặc bản án hình sự
có tuyên phần nộp ngân sách nhà nước cũng như trách nhiệm dân sự trong hình sự…) hoặc cơ quan công an (đối với bản án hình sự); ra lệnh hoãn thi hành án hoặc tạm đình chỉ thi hành án không có căn cứ hoặc trái với các quy định của pháp luật về việc hoãn và tạm đình chỉ thi hành án hoặc hết thời hạn tạm hoãn vẫn tìm cách trì hoãn không buộc người phải chấp hành án thi hành hết phần nghĩa vụ còn lại; không buộc người phải chấp hành án thi hành nghĩa
vụ của mình mặc dù không có căn cứ để tạm hoãn việc thi hành Hành vi không thi hành án chỉ CTTP khi thỏa mãn một trong hai tình tiết dưới đây:
- Gây hậu quả nghiêm trọng: Hậu quả nghiêm trọng do hành vi không thi hành án gây ra có thể là trường hợp bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực nhưng không được thi hành, người bị kết án vẫn tự do ngoài xã hội và tiếp tục thực hiện tội phạm, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận, quần chúng hoặc gây thiệt hại về tài sản cho người được thi hành án Hậu quả nghiêm trọng phải có quan hệ nhân quả với hành vi không thi hành án
- Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm: Đây là trường hợp người có thẩm quyền trong việc thi hành án đã bị xử lý kỷ luật về hành vi
Trang 27không thi hành án, chưa được xóa kỷ luật lại tiếp tục có hành vi vi phạm, mặc
dù chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng Tình tiết này thể hiện thái độ bất chấp, coi thường pháp luật của người phạm tội, nói lên tính nguy hiểm không chỉ của hành vi phạm tội mà người đó thực hiện mà của cả về nhân thân người
đó
Thời điểm hoàn thành của tội phạm: Do cấu tạo của cấu thành cơ bản nên khi xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm cần phân biệt: Trường hợp người thực hiện hành vi không thi hành án đã bị xử lý kỷ luật, chưa được xóa kỷ luật lại tiếp tục có hành vi vi phạm, mặc dù chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người đó thực hiện một trong hai hành vi không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án Trường hợp người thực hiện hành vi không thi hành án chưa bị kỷ luật hoặc đã bị kỷ luật về hành
vi không thi hành án nhưng đã được xóa kỷ luật, thực hiện một trong hai hành
vi không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án thì tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm xảy ra hậu quả nghiêm trọng
Lưu ý: Việc không thi hành án do khinh xuất, do cẩu thả dẫn đến việc
bỏ quên không đưa ra thi hành một hay một số bản án, quyết định thì không cấu thành tội phạm này Tùy từng trường hợp cụ thể, người thực hiện những hành vi nói trên có thể bị xử lý hành chính (nếu chưa gây hậu quả nghiêm trọng) hoặc có thể bị xét xử theo Điều 285 BLHS về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (nếu đã gây ra hậu quả nghiêm trọng) Nếu không thi hành án do động cơ vụ lợi (như nhận hối lộ) thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hai tội: tội Nhận hối lộ và tội Không thi hành án
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội Không thi hành án là người có thẩm quyền trong việc đưa ra thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Đối với hành vi không ra quyết định thi hành án, họ có thể là Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó (nếu là bản án hình sự); Cục trưởng, Chi cục trưởng thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm (nếu là bản án dân sự, hôn
Trang 28nhân gia đình, kinh tế, lao động, hành chính hoặc phần dân sự trong bản án hình sự) Đối với hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án, họ có thể là người có thẩm quyền trong việc trực tiếp thi hành hoặc có nghĩa vụ phối hợp, hỗ trợ việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật như: Chấp hành viên ở các đơn vị thi hành án dân sự các cấp; lãnh đạo của Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án; đương sự cư trú hoặc làm việc…
- Mặt chủ quan của tội phạm
Đây là tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý Người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có trách nhiệm thi hành quyết định thi hành
án biết rõ việc không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành án là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện Động cơ phạm tội không có ý nghĩa trong việc định tội
* Hình phạt: Điều 305 BLHS quy định hai khung hình phạt
- Khung một: Quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm áp dụng đối với những trường hợp phạm tội không có các tình tiết tăng nặng
- Khung hai: Quy định hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm áp dụng đối với người phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng Hậu quả rất nghiêm trọng do việc không thi hành án gây ra có thể là việc làm cho người bị kết án không bị bắt đi thi hành án, có điều kiện tiếp tục thực hiện tội phạm nghiêm trọng; nhiều quyết định, bản án không được thi hành, gây thiệt hại lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành
án (có thể từ ba triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng…) Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng có thể làm cho nhiều người bị kết án không bị bắt đi thi hành
án, có điều kiện tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng như giết người tố giác hoặc làm chứng để trả thù…(có thể từ năm người trở lên); nhiều quyết định, bản án không thi hành được, gây thiệt hại rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân (có thể từ năm trăm triệu đồng trở lên…)
Trang 29* Những điểm giống nhau và khác nhau giữa tội Không chấp hành án
và tội Không thi hành án
- Điểm giống nhau: Đều xâm phạm đến hoạt động bình thường của các
cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành án Đều thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc, không có ý nghĩa trong việc định tội
- Điểm khác nhau: Chủ thể của tội Không chấp hành án là người có nghĩa vụ phải chấp hành các bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Trong khi đó chủ thể của tội Không thi hành án là chủ thể đặc biệt, chỉ là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc là người có trách nhiệm thi hành quyết định đó
Tội không chấp hành án là tội phạm có CTTP hình thức còn tội Không thi hành án là tội phạm vừa có cấu thành vật chất vừa có cấu thành hình thức Mặt khách quan của tội Không chấp hành án chỉ đòi hỏi có dấu hiệu hành vi dưới hình thức không hành động phạm tội Đó là hành vi không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết Mặt khách quan của tội Không thi hành án là hành vi không ra quyết định thi hành án hoặc hành vi không thi hành quyết định thi hành án Hành vi không thi hành án nói trên cấu thành tội khi: Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người không thi hành án đã bị xử lý kỷ luật về hành vi cùng loại như vậy mà còn tiếp tục vi phạm
Về hình phạt thì tội Không chấp hành án chỉ quy định một khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm áp dụng đối với những trường hợp phạm tội thông thường, không có những tình tiết đặc biệt nghiêm trọng như do chống đối mà gây thương tích hoặc làm chết người đang làm công tác thi hành án Trong khi đó tội Không thi hành án quy định hai khung hình phạt như: Khung cơ bản có mức phạt cải tạo không giam đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội bình thường Khung tăng nặng có mức phạt tù
từ hai năm đến bảy năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
Trang 301.2.2 Tội không chấp hành án với tội Cản trở việc thi hành án
* Khái niệm tội Cản trở việc thi hành án
Tội cản trở việc thi hành án10
là hành vi cố ý lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành án gây hậu quả nghiêm trọng
* Dấu hiệu pháp lý của tội Cản trở việc thi hành án
- Khách thể của tội phạm
Hành vi phạm tội xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành án, gây tác hại trực tiếp đến uy tín cũng như việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức thi hành án Đồng thời còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân
- Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi cản trở việc thi hành án là hành vi của những người có chức vụ quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để gây cản trở, gây khó khăn cho việc thi hành án như: Tạo điều kiện hoặc xúi giục người phải chấp hành án bỏ trốn, phân tán, cất giấu tài sản, cản trở việc ra quyết định thi hành án hoặc việc thực hiện quyết định thi hành án…để trốn tránh nghĩa vụ của mình Hành
vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án của kẻ phạm tội phải gây hậu quả nghiêm trọng thì tội phạm mới được coi là hoàn thành Hậu quả nghiêm trọng do hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án gây ra có thể là việc người có nghĩa vụ chấp hành án trốn tránh việc thi hành, gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án; gây dư luận bất bình trong quần chúng
Lưu ý: Những người không có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi cản trở việc thi hành án hoặc tuy có chức vụ, quyền hạn nhưng lại không lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình khi thực hiện hành vi cản trở việc thi hành
án thì không phải là chủ thể của tội phạm này Tùy từng trường hợp, họ có thể
10 Điều 306 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm
a) Có tổ chức;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
3 Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm
Trang 31bị xử lý hành chính nếu hành vi cản trở của họ ít nguy hiểm, chưa gây hậu quả nghiêm trọng; hoặc là chủ thể của một tội phạm khác: Tội không chấp hành án với vai trò đồng phạm, nếu họ có hành vi tích cực ngăn cản hoặc giúp
đỡ cho người phải chấp hành án trốn tránh nghĩa vụ của mình
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là những người có chức vụ, quyền hạn trong
cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức xã hội Đó là những người được giao đảm nhiệm những cương vị công tác nhất định, có một quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, họ cũng có thể là những người có chức vụ quyền hạn nhưng chỉ có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ chứ không có trách nhiệm tổ chức hoặc thực hiện công tác thi hành án; họ cũng có thể là những người tuy có chức vụ quyền hạn nhưng nhiệm vụ, quyền hạn của họ không liên quan gì đến việc thi hành án, ví dụ như cán bộ, chiến sĩ công an, cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn có nhiệm vụ bảo vệ, phối hợp với việc thi hành
án (cảnh sát dẫn giải, cảnh sát bảo vệ thi hành án, đại diện chính quyền địa phương chứng kiến, hỗ trợ cho việc thi hành án…); cán bộ ở các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội khác
- Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý Động cơ phạm tội của tội này có thể khác nhau nhưng không phải là dấu hiệu định tội Người phạm tội có thể vì tư lợi mà cản trở việc thi hành án nhưng cũng có thể do cảm tình cá nhân mà làm việc đó
* Hình phạt: Điều 306 BLHS quy định hai khung hình phạt
+ Khung 1: Quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có những tình tiết định khung tăng nặng
+ Khung 2: Quy định hình phạt tù từ hai năm đến năm năm áp dụng đối với người phạm tội có tổ chức hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng (tạo điều kiện cho người phải chấp hành hình phạt tù về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng trốn hoặc tiếp tục phạm tội; gây ảnh hưởng xấu đến chính trị, làm mất lòng tin của quần chúng)…
Trang 32+ Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn bị áp dụng hình phạt bổ sung: cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định trong thời hạn từ một năm đến năm năm
* Những điểm giống nhau và khác nhau giữa tội Không chấp hành án
và tội Cản trở việc thi hành án
- Điểm giống nhau: Đều xâm phạm đến hoạt động bình thường của các
cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành án Đều thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc, không có ý nghĩa trong việc định tội
- Điểm khác nhau: Chủ thể của tội Không chấp hành án là người có nghĩa vụ phải chấp hành các bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Trong khi đó chủ thể của tội Cản trở việc thi hành án là chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tư pháp hoặc trong
cơ quan hoặc tổ chức khác
Tội không chấp hành án là tội phạm có CTTP hình thức còn tội Cản trở việc thi hành án là tội phạm có cấu thành vật chất Mặt khách quan của tội Không chấp hành án chỉ đòi hỏi có dấu hiệu hành vi dưới hình thức không hành động phạm tội Đó là hành vi không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết Mặt khách quan của tội Cản trở việc thi hành án là hành vi dùng quyền uy cản trở một cách trái pháp luật việc thi hành án của cơ quan thi hành
án Hành vi cản trở ở đây có thể là hành vi cản trở việc ra quyết định thi hành
án hoặc hành vi cản trở việc thực hiện quyết định thi hành án Hành vi cản trở việc thi hành án nói trên cấu thành tội khi: Gây hậu quả nghiêm trọng, do bị cản trở mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã không được thi hành kịp thời, gây ảnh hưởng xấu trong xã hội, gây thiệt hại cho Nhà nước hoặc thiệt hại cho tổ chức, công dân
Về hình phạt thì tội Không chấp hành án chỉ quy định một khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm áp dụng đối với những trường hợp phạm tội thông thường, không có những tình tiết đặc biệt nghiêm trọng như do chống đối mà gây thương tích
Trang 33hoặc làm chết người đang làm công tác thi hành án, cũng không có hình phạt
bổ sung Trong khi đó tội Cản trở việc thi hành án quy định hai khung hình phạt như: Khung 01 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội bình thường không có những tình tiết định khung tăng nặng Khung 02 quy định hình phạt tù từ hai năm đến năm năm áp dụng đối với người phạm tội có
tổ chức hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng (tạo điều kiện cho người phải chấp hành hình phạt tù về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng trốn hoặc tiếp tục phạm tội; gây ảnh hưởng xấu đến chính trị, làm mất lòng tin của quần chúng) Ngoài ra tội Cản trở việc thi hành án còn quy định thêm hình phạt bổ sung bắt buộc đối với người phạm tội đó là: cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định trong thời hạn từ một năm đến năm năm Tội không chấp hành án thì không có hình phạt bổ sung
1.2.3 Tội không chấp hành án với tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản
* Khái niệm tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản
Niêm phong, kê biên tài sản là những biện pháp trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp nhằm đảm bảo các điều kiện cho việc giải quyết vụ
án có kết quả
Để ngăn ngừa, đấu tranh chống những hành vi xâm phạm đến sự an toàn và tuân thủ các biện pháp này, điều 310 BLHS năm 199911
đã quy định việc trừng trị bằng biện pháp hình sự những hành vi vi phạm niêm phong, kê biên tài sản
* Dấu hiệu pháp lý của tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản
- Khách thể của tội phạm
11 Điều 310 BLHS năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1 Người nào được giao giữ tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong mà có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Phá hủy niêm phong;
b) Tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc hủy hoại tài sản bị kê biên;
c) Gây hậu quả nghiêm trọng
2 Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
3 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm
Trang 34Khách thể của tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động tư pháp, nhằm bảo đảm cho các cơ quan tư pháp thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình Hành vi phạm tội còn gây tác hại trực tiếp đến uy tín cũng như việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp Đồng thời còn có thể xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân
- Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi của người phạm tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản Hành vi này luôn được thể hiện dưới hình thức hành động Nó có thể được thực hiện bằng một trong những hành vi
cụ thể sau đây:
+ Phá hủy niêm phong: Niêm phong tài sản là đóng kín tài sản lại có ghi dấu ở chổ đóng nhằm giữ nguyên hiện trạng của tài sản Pháp luật quy định việc niêm phong tài sản để ngăn ngừa những hành vi xâm phạm đối với tài sản đó, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được thuận lợi, đúng pháp luật Việc niêm phong tài sản bắt buộc phải tiến hành đối với những trường hợp tài sản bị tạm giữ là kim khí quý, đá quý, nhà ở và phải niêm phong trước mặt người có tài sản hoặc người đại diện gia đình, đại diện chính quyền và người chứng kiến Việc mở niêm phong phải theo đúng thể thức được pháp luật quy định: có mặt người đại diện cơ quan giao tài sản, người nhận bảo quản, người
có tài sản bị niêm phong và người chứng kiến Phá hủy niêm phong là bóc, xé làm rách nát giấy niêm phong, làm đứt cặp chì hoặc tuy không làm suy suyển, thay đổi, rách nát giấy niêm phong nhưng có hành động cậy phá, tháo dở hộp đựng tài sản được niêm phong làm cho niêm phong bị hư hỏng và do đó không còn cơ sở để tin cậy về tính nguyên vẹn của tài sản được niêm phong
+ Tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc hủy hoại tài sản
bị kê biên: tiêu dùng tài sản bị kê biên là hành vi đem tài sản bị kê biên dùng vào một việc nào đó làm cho tài sản ấy không còn nữa hoặc còn tài sản nhưng gái trị bị giảm sút một cách đáng kể Tuy nhiên, nếu việc dùng tài sản bị kê biên không làm thay đổi đáng kể giá trị của tài sản đó, thì chỉ áp dụng các biện pháp có tính giáo dục, không cần phải xử lý về mặt hình sự
Trang 35Chuyển nhượng tài sản bị kê biên là việc tự ý biến tài sản bị kê biên thành tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác Các hình thức chuyển nhượng tài sản bị kê biên có thể là mua bán, đổi chác, tặng, cho…
Đánh tráo tài sản bị kê biên là hành vi của người được giao bảo quản tài sản bị kê biên đem tráo tài sản đó bằng tài sản khác có giá trị thấp hơn hoặc hoàn toàn không có giá trị Trong thực tế, người đánh tráo tài sản bị kê biên
có thể chỉ là hành động bằng cách đem đổi vật xấu lấy vật tốt; họ cũng có thể dùng các mánh khóe, thủ đoạn tinh vi để đánh tráo tài sản bị kê biên như: khôi phục, tân trang làm cho tài sản đem đánh tráo giống tài sản bị kê biên về mặt hình thức
Cất giấu tài sản bị kê biên là việc chuyển tài sản đó đến một địa điểm khác nhằm làm cho các cơ quan có trách nhiệm không thể thu hồi được
Hủy hoại tài sản bị kê biên là hành vi của người được giao trách nhiệm bảo quản tài sản đó, đã có hành động làm cho tài sản bị kê biên mất hoàn toàn khả năng sử dụng, không thể khôi phục lại giá trị của tài sản
Gây hậu quả nghiêm trọng là trường hợp hậu quả phát sinh từ một hành
vi khác ngoài các hành vi nêu trên của người được giao giữ tài sản bị kê biên Hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản mà gây hậu quả nghiêm trọng như gây khó khăn trở ngại cho việc phát hiện chứng minh tội phạm và cho việc giải quyết vụ án (nếu đó là vật chứng của vụ án) hoặc cho việc bồi thường thiệt hại về mặt vật chất do tội phạm hoặc do hành vi vi phạm pháp luật gây ra cũng như cho việc thi hành án tịch thu tài sản…
Tội phạm được hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong các hành vi: phá hủy niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu , hủy hoại tài sản bị kê biên Trong một số trường hợp nhất định, tội phạm cũng được coi là hoàn thành từ thời điểm người được giao giữ tài sản gây hậu quả nghiêm trọng đối với sự toàn vẹn của tài sản như đánh mất, làm cháy, hỏng…
Lưu ý: Đối tượng tác động của tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản là những tài sản đã được niêm phong hoặc kê biên nhằm đảm bảo cho việc xử lý vụ án Những hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất
Trang 36giấu, hủy hoại tài sản chỉ cấu thành tội phạm khi tài sản đó đã bị kê biên Trường hợp một người có hành vi trái pháp luật và cho rằng tài sản của mình
có thể bị kê biên nên đã chuyển nhượng, phân tán, hủy hoại hoặc tiêu dùng tài sản để tránh việc kê biên thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này
-Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản là lỗi
cố ý trực tiếp Khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội biết rằng hành
vi của mình nguy hiểm cho xã hội, cản trở quá trình giải quyết vụ án nhưng vẫn mong muốn các hành vi đó thực hiện Động cơ và mục đích của người phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm
* Hình phạt: Điều 310 BLHS năm 1999 quy định hai khung hình phạt
+ Khung 01: Quy định hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có tình tiết tăng nặng
+ Khung 02: Quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm áp dụng đối với người phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
Đó có thể là hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản làm cho việc giải quyết vụ án bị sai lệch (vật chứng bị mất niêm phong nên không có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội); vụ án bị đình chỉ, bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hoặc dẫn đến việc không thi hành án về bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản được vì tài sản không còn, gây thiệt hại cho Nhà nước hoặc công dân
+ Hình phạt bổ sung: người phạm tội còn bị áp dụng hình phạt bổ sung: cấm đảm nhiệm những chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm
* Những điểm giống nhau và khác nhau giữa tội Không chấp hành án
và tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản
Trang 37- Điểm giống nhau: Đều xâm phạm đến hoạt động bình thường của các
cơ quan tư pháp Đều thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc, không có ý nghĩa trong việc định tội Về hành vi khách quan, đôi khi cả hai tội đều có hành vi phá hủy niêm phong, cũng như tẩu tán tài sản đã kê biên Chủ thể có khi đều là người phải thi hành
án (người phải thi hành án sau khi bị kê biên tài sản, được giao bảo quản tài sản kê biên và có hành vi phá hủy niêm phong hoặc tẩu tán tài sản kê biên)
- Điểm khác nhau:
Tội không chấp hành án là tội phạm có CTTP hình thức còn tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản có trường hợp CTTP hình thức, có trường hợp cấu thành vật chất Mặt khách quan của tội Không chấp hành án chỉ đòi hỏi có dấu hiệu hành vi dưới hình thức không hành động phạm tội Đó
là hành vi không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết Mặt khách quan của tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản là hành vi phá hủy niêm phong hoặc tiêu dùng, chuyển nhượng, cất giấu, hủy hoại tài sản kê biên (hành vi luôn thực hiện với dạng hành động) Tùy từng biện pháp đối với tài sản mà hành vi phạm tội được quy định khác nhau Đối với những tài sản (hoặc vật chứng) bị niêm phong, điều luật quy định chỉ cần có hành vi phá hủy niêm phong, không đòi hỏi có hành vi gì khác đối với tài sản (hoặc vật chứng) thì đã bị coi là có hành vi phạm tội của tội này Đối với những tài sản
bị kê biên, hành vi phạm tội của người được giao bảo quản tài sản đó có thể là: Tiêu dùng tài sản bị kê biên, chuyển nhượng tài sản bị kê biên, đánh tráo tài sản bị kê biên, cất giấu tài sản bị kê biên, hủy hoại tài sản bị kê biên Ngoài
ra, điều luật còn quy định “ gây hậu quả nghiêm trọng” là trường hợp có hành
vi phạm tội của tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản Điểm khác nhau cơ bản nhất là hành vi vi phạm trong tội Không chấp hành án chỉ giới hạn trong lĩnh vực thi hành án, còn hành vi vi phạm trong tội Vi phạm việc niêm phong kê biên tài sản là vi phạm trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án Chủ thể của tội Không chấp hành án là người có nghĩa vụ phải chấp hành các bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Trong khi đó chủ
Trang 38thể của tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản là người được cơ quan tư pháp giao bảo quản tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong; người này có thể là: chủ tài sản hoặc không phải là chủ tài sản đó; cán
bộ công tác tại các cơ quan tư pháp (như thủ kho tang vật)
Về hình phạt, tội Không chấp hành án chỉ quy định một khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm áp dụng đối với những trường hợp phạm tội thông thường, không có những tình tiết đặc biệt nghiêm trọng như do chống đối mà gây thương tích hoặc làm chết người đang làm công tác thi hành án, cũng không có hình phạt
bổ sung Trong khi đó tội Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản quy định hai khung hình phạt như: Khung cơ bản có mức phạt tù từ sáu tháng đến ba năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội thông thường Khung tăng nặng
có mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng Ngoài ra hình phạt bổ sung được áp dụng cho tội này là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
1.2.4 Tội không chấp hành án với tội Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
* Khái niệm tội Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng:
Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng12
là hành vi của người
có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật
mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
* Dấu hiệu pháp lý của tội Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
- Khách thể của tội phạm
Tội phạm xâm hại quyền được người khác nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật Đó là quyền bảo đảm cho sự phát triển bình thường về thể chất
12
Điều 152 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình
có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm
Trang 39và tinh thần của người được cấp dưỡng trong đời sống hàng ngày Tội phạm này trực tiếp xâm phạm đến nghĩa vụ cấp dưỡng theo pháp luật mà người có nghĩa vụ cấp dưỡng cố tình không thực hiện mặc dù người đó có khả năng thực hiện nghĩa vụ đó
- Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đòi hỏi có những dấu hiệu sau:
+ Người phạm tội có nghĩa vụ pháp lý phải cấp dưỡng cho người khác Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ của người phải đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình
Theo quy định tại các điều từ Điều 50 đến Điều 60 chương 6 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa:
vợ và chồng; cha, mẹ và con; ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; anh chị em với nhau
+ Người phạm tội phải có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng Theo hướng dẫn hiện hành thì có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa
vụ cấp dưỡng là trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng có tiền, tài sản hoặc thu nhập có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình với mức sống trung bình ở địa phương13
+ Người phạm tội đã có hành vi cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cho người mà mình có trách nhiệm cấp dưỡng
Hành vi từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng được hiểu là kiên quyết không chịu làm các nghĩa vụ phát sinh từ quy định của pháp luật, biểu hiện như cố tình không chịu góp tiền, tài sản để cấp dưỡng trong khi có khả năng thực tế thực hiện nghĩa vụ đó
Trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng được hiểu là hành vi tìm mọi cách lảng tránh nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật biểu hiện bằng việc bỏ
đi nơi khác và cố ý giấu địa chỉ hoặc cố tình dây dưa không chịu cấp dưỡng
13 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25 tháng 9 năm 2001 về việc
áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của BLHS năm 1999
Trang 40Hành vi cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng phải thỏa mãn một trong hai dấu hiệu sau đây mới cấu thành tội phạm:
Một là; đã gây hậu quả nghiêm trọng: Đó là hậu quả xấu bất lợi cho người được cấp dưỡng phát sinh do không nhận được sự cấp dưỡng của người phạm tội như lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe do ốm đau, bệnh tật hoặc trẻ em bị thất học hoặc trở thành người sống lang thang, phạm pháp v.v
Hai là; hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện khi đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này trước
đó
Lưu ý: Người có hành vi trốn tránh hoặc từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng
mà đã có bản án của Tòa án buộc người đó phải cấp dưỡng, thì bị truy cứu TNHS theo Điều 304 BLHS về tội Không chấp hành án Trong trường hợp người trực tiếp nuôi dưỡng nạn nhân mà không cho ăn, để phải chịu đói rét, đối xử tàn tệ…thì bị truy cứu TNHS theo Điều 151 BLHS về tội Ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình Việc từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng không thuộc hai trường hợp nêu trên, thì bị truy cứu TNHS theo Điều 152 BLHS về tội Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực TNHS và thỏa mãn đồng thời hai điều kiện, đó là:
+ Người phạm tội phải có nghĩa vụ cấp dưỡng theo pháp luật, như: Bố
mẹ đối với con nhỏ, con cái đối với cha mẹ già yếu, không nơi nương tựa…
+ Người đó phải có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
- Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm này được thực hiện do lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, trái với đạo đức xã hội nhưng vẫn từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng của mình