1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng cư dân cù lao phố, biên hòa, đồng nai

145 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tôn giáo, Tín ngưỡng của cộng đồng cư dân Cù Lao Phố, Biên Hòa, Đồng Nai
Tác giả Võ Thị Tuyết Nga
Người hướng dẫn TS. Đinh Thị Dung
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Việt Nam Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 18,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại, nghiên cứu vấn đề tín ngưỡng và tôn giáo sẽ cung cấp thêm những luận cứ khoa học lý giải đặc trưng văn hóa, tộc người của vùng đất, tính đa dạng, phong phú trong tín ngưỡng và t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – ĐHQG TP HCM

KHOA VIỆT NAM HỌC

VÕ THỊ TUYẾT NGA

TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG CỦA CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN

CÙ LAO PHỐ, BIÊN HÒA, ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung nghiên cứu của đề tài chưa từng được tác giả nào công bố trước đây ở những công trình khác Nếu có vấn đề gì liên quan đến nội dung luận văn, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước cơ sở đào tạo, trước pháp luật và xã hội!

Tác giả

Võ Thị Tuyết Nga

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn với đề tài “Tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng cư dân Cù Lao Phố, Biên Hoà Đồng Nai” được hoàn thành tại trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những tác giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu của những công trình, tác phẩm, bài báo, tài liệu, cũng như những hình ảnh mà tôi đã tham khảo và sử dụng trong luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô tại Khoa Việt Nam học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh đã tận trình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm trong suốt quá trình tôi học tập tại đây, cũng như các Thầy, Cô trong hội đồng đánh giá luận văn đã cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu để tôi hoàn chỉnh luận văn của mình

Bên cạnh đó, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến các Bác, các Cô Chú, Anh Chị đang sinh sống ở Cù Lao Phố, những người đã hỗ trợ tận tình cho tôi trong suốt quá trình đi thực địa Đồng thời, tôi cũng cám ơn Bác Quản lý Đình Bình Kính, Bác Trưởng khu phố Nhị Hoà, gia đình Bác H ở khu phố Nhất Hoà, đã tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ cho tôi có được những nguồn tư liệu quan trọng để thực hiện luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn của mình là TS.Đinh Thị Dung, cô đã luôn động viên, giúp đỡ và

hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn

Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn thân thương đến gia đình, bạn bè, và đồng nghiệp, những người đã luôn bên cạnh hỗ trợ, động viên giúp tôi có thêm nhiều nghị lực để hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn tất cả!

Biên Hoà, ngày 20 tháng 9 năm 2021

Võ Thị Tuyết Nga

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 8

7 Phương pháp nghiên cứu 9

8 Bố cục luận văn 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Các khái niệm hữu quan 11

1.1.1.1 Tín ngưỡng 11

1.1.1.2 Tôn giáo 12

1.1.1.3 Cù lao 12

1.1.1.4 Văn hoá tộc người 13

1.1.2 Lý thuyết tiếp cận 14

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 15

1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên của Cù Lao Phố 15

1.2.2 Lịch sử xã hội và cư dân ở Cù Lao Phố 18

Tiểu kết chương một 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA CƯ DÂN CÙ LAO PHỐ 2.1 Thực trạng của tín ngưỡng tại gia 24

2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 24

2.1.2 Tín ngưỡng thờ thần tại gia 31

2.1.3 Tín ngưỡng thờ Phật tại gia 39

2.2 Thực trạng của tín ngưỡng cộng đồng 42

Trang 5

2.2.2 Tín ngưỡng thờ Quan Công 49

2.3 Thực trạng tôn giáo của cư dân Cù Lao Phố 54

2.3.1 Phật giáo 54

2.3.2 Công giáo 60

2.3.3 Đạo Cao đài 62

Tiểu kết chương hai 64

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ VÀ GIÁ TRỊ CỦA TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CƯ DÂN CÙ LAO PHỐ

3.1 Vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống cư dân Cù Lao Phố 65

3.1.1 Chỗ dựa tinh thần 65

3.1.2 Giáo dục đạo đức truyền thống 67

3.1.3 Mong cầu hiệu quả kinh tế 72

3.1.4 Chỗ dựa trong đời sống tâm linh của tín đồ tôn giáo 74

3.2 Giá trị của tín ngưỡng và tôn giáo ở Cù Lao Phố 84

3.2.1 Giá trị di sản của hệ thống cơ sở tín ngưỡng và tôn giáo ở Cù Lao Phố 84

3.2.2 Giá trị du lịch trong kết nối di sản với thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương 89

3.2.3 Giá trị trong bảo tồn và phát triển điểm du lịch Cù Lao Phố 91

Tiểu kết chương ba 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 105

Phụ lục 1 Biên bản phỏng vấn 105

Phụ lục 2 Văn khấn 115

Phụ lục 3 Chuyện kể nhân gian 116

Phụ lục 4 Các sinh hoạt lễ hội tại Chùa Ông 121

Phụ lục 5 Hình ảnh 123

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng, nằm tiếp giáp với nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Campuchia Đặc biệt, Việt Nam sở hữu đường biển dài với hệ thống sông ngòi dày đặc Việt Nam là cầu nối quan trọng trên phương diện địa chính trị và văn hóa trong khu vực nhờ vào vị trí là giao điểm của các nền văn hóa lớn trên thế giới Các lợi thế trên góp phần giúp Việt Nam trở thành một nơi giao lưu văn hoá của các dân tộc, các quốc gia trên thế giới, làm phong phú và đa dạng thêm nền văn hóa của Việt Nam

Trong tiến trình giao lưu văn hoá với thế giới, ngoài các tộc người tại chỗ thì còn các cuộc di dân của người Việt đến khu vực Biên Hoà, bên cạnh đó còn đón nhận các đợt di cư của người Hoa đến định cư, tạo thêm tính đa dạng văn hoá tộc người, đặc biệt là khu vực phía Nam, tập trung vào Biên Hòa, và cư trú chủ yếu ở Cù Lao Phố (Đồng Nai) Ngày nay, Biên Hòa là một thành phố loại I (2015) thuộc tỉnh Đồng Nai, cư dân cư trú chủ yếu tại khu đô thị thuộc dạng sầm uất nhất của tỉnh Vừa là đô thị loại I, Đồng Nai còn là thành phố công nghiệp với các khu công nghiệp, khu sản xuất lớn, có sức thu hút đầu tư nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi Vừa có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, giao thông đường bộ, đường thuỷ, nhất là hệ thống cảng sông lớn, giúp Đồng Nai là cầu nối quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Cù Lao Phố là đô thị cổ của vùng Biên Hòa, một trung tâm thương mại phát triển vào hàng bậc nhất của đất Nam Bộ xưa Lịch sử Việt Nam ghi nhận về một Nông Nại Đại Phố sầm uất, nơi giao thương giữa các thương thuyền nước ngoài tìm đến Sự hình thành, phát triển của Cù Lao Phố ghi nhận các cộng đồng người Việt, người Hoa di cư đến khai canh, khai khẩn cùng sinh sống, tạo nên những nét văn hóa đặc trưng của khu vực Nam Bộ (Biên Hoà) Quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá đã tạo ra được bản sắc riêng, mang đặc trưng của vùng phố thị cù lao này Có thể nói, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Cù Lao Phố khá phong phú và đa dạng, đặc biệt là trên phương diện tín ngưỡng và tôn giáo Những đặc trưng văn hoá vật chất và tinh thần của người dân Cù Lao Phố được nhiều nghiên cứu làm rõ, nhưng đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo trong đời

Trang 7

sống tinh thần của vùng đất Cù Lao Phố còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ Đây chính là khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm làm rõ hơn các đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo của lớp người di cư trước đây so sánh hiện nay đã có những thay đổi gì? Các vấn đề đó được chúng tôi ghi nhận và tiến hành thực hiện đề tài

“Tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng cư dân Cù Lao Phố, Biên Hòa, Đồng

Nai” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân khu vực Cù Lao Phố góp phần làm rõ hơn về những đặc điểm, tính đa dạng và sự thay đổi của đời sống tôn giáo, tín ngưỡng dưới các lý giải khoa học Kết quả nghiên cứu giúp chúng ta thấy được sự phong phú và đa dạng nhưng có những nét riêng trong đời sống tinh thần, vật chất của vùng đất Nam Bộ Tóm lại, nghiên cứu vấn đề tín ngưỡng và tôn giáo sẽ cung cấp thêm những luận cứ khoa học lý giải đặc trưng văn hóa, tộc người của vùng đất, tính đa dạng, phong phú trong tín ngưỡng và tôn giáo các tộc người Việt, Hoa ở Cù Lao Phố

Ý nghĩa thực tiễn

Tín ngưỡng, tôn giáo luôn gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ và lịch sử của vùng đất mới khai phá Đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp phần nghiên cứu cụ thể, chi tiết hơn vai trò của tôn giáo và tín ngưỡng trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Cù Lao Phố, thuộc thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cơ quan ban ngành; sinh viên; học viên và nhà nghiên cứu tìm hiểu về tín ngưỡng và tôn giáo của cư dân Cù Lao Phố.v.v Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cung cấp cả luận cứ cần thiết góp phần bảo tồn và phát huy được giá trị văn hóa của tín ngưỡng, tôn giáo vào đời sống đương đại

3 Mục đích nghiên cứu

Thông qua đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu sâu hơn về thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Cù Lao Phố xưa và hiện nay, nhất là khi thành phố Biên Hòa đang trong quá trình đô thị hoá Luận văn sẽ góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn các giá trị văn hóa tinh thần cũng như đời sống của người dân trong tiến trình lịch sử Bên cạnh đó chúng tôi cũng muốn khảo sát để nhận diện

Trang 8

những biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Cù lao hiện nay Lý giải những nguyên nhân và các nhân tố tác động dẫn đến sự biến đổi trong tín ngưỡng, tôn giáo đến đời sống tinh thần của các tộc người ở Cù Lao Phố

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

❖ Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu đối tượng chính là tín ngưỡng và tôn giáo của cư dân ở Cù Lao Phố, nghiên cứu chủ yếu vào thực trạng, ý nghĩa, vai trò, tác động của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống tinh thần của cư dân Cù Lao Phố, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

❖ Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: luận văn khảo sát về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của cư

dân tại Cù Lao Phố, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Nhưng tập trung chuyên sâu hơn về tín ngưỡng của cư dân nơi đây vì tín ngưỡng đã đi sâu vào đời sống của cư dân từ khi mới hình thành vùng đất

Về thời gian: luận văn nghiên cứu khảo sát giai đoạn từ năm 2000 đến

nay vì đây là thời kỳ đô thị hoá mạnh nhất trong suốt lịch sử 300 năm của vùng đất Cù Lao Phố Bên cạnh đó luận văn cũng có khảo cứu tư liệu về thời gian hình thành phát triển của vùng đất là từ thế kỷ 17 khi người Việt, người Hoa đến định

cư tại Cù Lao Phố để thấy được sự tác động của đô thị hóa làm cho đời sống mọi mặt và đặc biệt là đời sống tinh thần của người dân đã dần thay đổi

mà còn có người Việt, người Hoa, người Khmer, tổ chức phát triển thành trung tâm thương mại quốc tế, là một đại phố sớm nhất ở Nam bộ Quá trình thay đổi

Trang 9

bởi các yếu tố chính trị, đến năm 1806, vua Gia Long đặt tên Biên Hoà đầy đủ các chức năng chính trị và hành chính (Lương Văn Lựu, 1973b) Người Việt có mặt trên mảnh đất này khá sớm, sau khi mảnh đất này thuộc về Việt Nam sau cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn, trước cả người Hoa đến vùng Mỗi Xuy (Đỗ Bá Nghiệp - Huỳnh Ngọc Trảng, 1998) Người dân vùng Quảng Bình (xưa)

đã tiến vào khai điền vùng Mỗi Xuy, và Đồng Nai (Biên Hoà), dân số khoảng 200.000 ngàn dân (40.000 hộ gia đình) Bên cạnh đó, Cù Lao Phố là vùng đất gắn liền với lịch sử di dân của người Hoa, một trong hai tộc người cư trú chiếm đa số Người Hoa đã vào Nông Nại (Cù Lao Phố), thành lập xã Thanh Hà (sông nước trong), sinh sống và phát triển thịnh vượng ở đây (Lương Văn Lựu, 1971a) Tổng quan lịch sử hình thành của Đồng Nai (Biên Hoà) được Lương Văn Lựu khảo

cứu khá rõ trong cuốn Biên Hoà sử lược toàn biên dưới cách tiếp cận sử học

(1971,1972), giúp cho luận văn tiếp cận được bức tranh chung về lịch sử hình thành, đời sống của người dân tại Đồng Nai (Biên Hoà)

Trịnh Hoài Đức đã ghi nhận đời sống của người dân tại vùng đất Biên Hoà, còn được gọi là Trấn Biên Hoà vào năm 1808, đặc biệt là sự thay đổi tên gọi chức năng, xã phường (Trịnh Hoài Đức, 1972); phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa của người Hoa cùng với các cơ sở tín ngưỡng của họ ở Đồng Nai - Gia Định được ghi lại khá rõ nét Nghiên cứu này giúp cho luận văn có được các cứ liệu lịch sử về sự hình thành và phát triển của người Hoa, cũng như tôn giáo - tín ngưỡng của họ

Giai đoạn đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu Cù Lao Phố và xứ Đồng Nai bắt đầu phát triển theo hướng học thuật của Phương Tây, Cù Lao Phố đã được

Trương Vĩnh Ký đề cập đến ở mục Cù lao của tỉnh Biên Hòa trong quyển Petit

cours de géographie de la Basse Cochinchine Trong công trình Tự vị tiếng Việt miền Nam được xuất bản trước năm 1975, Vương Hồng Sển cũng đã giải thích về

địa danh Cù Lao Phố Tuy nhiên, tài liệu nghiên cứu về tín ngưỡng và tôn giáo

của cư dân Cù Lao Phố mà cụ thể là người Hoa ở Cù Lao Phố nói riêng và tỉnh Đồng Nai nói chung còn hạn chế, phần nhiều là tài liệu nghiên cứu về lịch sử di dân và đời sống kinh tế xã hội của người Hoa, chỉ có một vài tài liệu đề cập đến

tín ngưỡng, tôn giáo Trước năm 1975, Lương Văn Lựu đã biên soạn bộ Biên

Hòa sử lược toàn biên gồm 5 quyển (đã xuất bản 2 quyển) nội dung giới thiệu về

Trang 10

vùng đất và con người Biên Hòa - Đồng Nai sau ba thế kỷ hình thành, đặc biệt tài

liệu đánh máy (quyển 5) chưa xuất bản 300 năm người Việt gốc Hoa Đây là một

trong những nguồn tài liệu quý hiếm viết về quá trình nhập cư và phát triển của cộng đồng người Hoa đến Biên Hòa- Đồng Nai trước năm 1954

Với công trình Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển

(1998) nhân Lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai được xuất bản dưới dạng địa chí, khái quát lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai suốt 300 năm qua Công trình tập trung vào khảo tả văn hóa - xã hội, giới thiệu về lịch sử di dân, sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai từ năm 1679 (khi Trần Thượng Xuyên cùng nhóm di thần nhà Minh từ Trung Quốc sang xin thần phục Nam triều) Cụ thể việc chúa Nguyễn cho khai khẩn vùng đất Đông Phố - Biên Hòa lúc ấy còn hoang sơ cho đến một Biên Hòa - Đồng Nai hiện đại, phát triển nhanh chóng, trù phú ở miền Nam Dữ kiện của công trình chủ yếu mang tính khảo tả lịch sử, văn hoá, thiếu đi các luận cứ khoa học cần thiết chứng minh lịch sử hình thành, phát triển, đặc biệt là những biến đổi bởi các tác nhân gây ra Hơn nữa, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo thay đổi rất nhanh chóng nhưng chưa được làm rõ, đấy chính là khoảng trống mà luận văn sẽ

chú trọng Năm 2001, bộ Địa chí Đồng Nai ra đời với 5 tập (bao gồm các lĩnh

vực từ tổng quan, địa lý, lịch sử, kinh tế đến văn hóa, xã hội), Cù Lao Phố cũng được nhắc đến trong tập địa chí này như một phố thị đầu tiên của vùng đất Nam

Bộ Bộ địa chí tập trung khảo tả các nội dung Văn hoá - Xã hội đã đề cập về sinh

hoạt văn hóa của các tộc người đang sinh sống trên địa bàn tỉnh trong đó có cộng đồng người Việt, người Hoa và các tộc người bản địa ở Đồng Nai Bộ địa chí này cung cấp nhiều dữ liệu cần thiết cho luận văn nhằm bổ sung các cứ liệu lịch sử cho việc hồi cố về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của cư dân Cù Lao Phố

- Các nghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố Đồng

Nai

Tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố có tính đa dạng, đan xen ở trong không gian cư trú hẹp của người Việt và người Hoa, nhưng không có xung đột, có tính tương thích và tiếp biến lẫn nhau Với nguồn gốc và đặc điểm của các loại hình tín ngưỡng dân gian người Việt ở Đồng Nai vì vậy cũng có được sự đa dạng, dung hợp với các tôn giáo – tín ngưỡng bản địa của cư dân tại chỗ định cư trước

Trang 11

đó Khảo cứu của Lương Văn Lựu (1971, 1972) trình bày khá rõ Hệ thống đền miếu, đình, chùa, cổ mộ, phong tục tập quán, đặc biệt là tôn giáo - tín ngưỡng

được miêu tả khái quát trong cuốn Biên Hoà sử lược toàn biên Năm 1998, Bảo tàng Đồng Nai cho xuất bản cuốn Cù Lao Phố: lịch sử và văn hoá đề cập đến vấn

đề tín ngưỡng (gồm cả tôn giáo) như: thờ cúng tổ tiên, tôn thờ các gia thần, thực hiện các nghi lễ vòng đời, thờ thành hoàng, tiền hiền-hậu hiền, các bậc tiền bối hữu công, thờ Bạch Mã thái giám, Thổ thần, Thần hổ; với tôn giáo tập trung vào đạo Phật Đặc biệt, người Việt trên tinh thần “nhập gia tuỳ tục” đã tiếp biến, dung hợp các tín ngưỡng bản địa vào trong đời sống tôn giáo - tín ngưỡng của mình Đây là kết quả khảo sát tư liệu thực địa, mang lại nhiều cứ liệu cho luận văn xác định được đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ở đây Với việc khảo tả khá chi tiết tín ngưỡng người dân Cù Lao Phố, mang đến bức tranh khá toàn diện

về đời sống tôn giáo - tín ngưỡng của người dân, nhưng khoảng trống nhằm lý giải một số vấn đề thay đổi lối sinh hoạt tôn giáo - tín ngưỡng chưa được giải thích rõ, chưa kể các tôn giáo khác chưa được quan tâm khảo cứu Luận văn có nhiệm vụ làm rõ hơn sự thay đổi này trong quá trình khảo sát thực địa tại Cù Lao Phố (Biên Hoà)

Không chỉ người Việt, người Hoa cũng thể hiện tính dung hợp tín ngưỡng, tôn giáo rất nhanh với người Việt và cư dân tại chỗ, chưa kể họ đã tạo được ảnh hưởng nhất định bởi sức mạnh thương mại vốn có của mình Các yếu tố trên

được Huỳnh Văn Tới đề cập đến trong luận án Những sinh hoạt văn hóa - tín

ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai (1996) Đây là nghiên cứu mang

tính khoa học, dưới góc tiếp cận dân tộc học tác giả đã làm rõ được các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo của Đồng Nai, trong đó nhấn mạnh đến các tín ngưỡng, tôn giáo của người Hoa dung hợp với người Việt Tuy nhiên, việc nghiên cứu riêng cho địa bàn Cù Lao Phố chưa được khảo sát toàn bộ, hơn nữa

so với giai đoạn hiện nay thì việc biến đổi của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đã thay đổi rất nhiều, cần bổ sung nghiên cứu thêm Văn hóa tôn giáo - tín ngưỡng ở

Đồng Nai, đặc biệt là Cù Lao Phố được khảo tả trong bộ Địa chí Đồng Nai

(2001), chỉ ra sự xuất hiện, vai trò của Phật giáo Bắc tông, Nam tông Kinh cùng các nghi lễ liên quan đến văn hóa tín ngưỡng của người Hoa như lễ cầu an, cầu siêu, các nghi lễ theo phong tục tang ma của họ khá đa dạng Tuy nhiên, đây là

Trang 12

công trình địa chí mang tính khảo tả là chủ yếu, cung cấp được tính lịch sử, hoạt động và phát triển nhưng lại không cung cấp được các luận cứ khoa học nhằm lý giải tiến trình trên

Riêng về tín ngưỡng, tôn giáo người Hoa ở Đông Nam Bộ, trong đó phần Đồng Nai được làm rõ quá trình giao lưu văn hóa về tín ngưỡng giữa hai tộc người Hoa nhập cư và người Việt đến cư trú trước người Hoa (Huỳnh Văn Tới, 2002) Nghiên cứu này đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho luận văn có thể

sử dụng, bổ sung thêm nhằm chứng minh quá trình hình thành và biến đổi của tín ngưỡng, tôn giáo của Cù Lao Phố Đặc biệt, kết quả của hai đợt khảo sát đã được

tổng kết trong công trình biên khảo Khảo sát cơ sở tín ngưỡng và lễ hội của

người Hoa ở Đồng Nai (2001, 2002) của Sở Văn hóa Thông tin và Bảo tàng tỉnh

Đồng Nai giúp luận văn có thêm các luận cứ mang tính khái quát toàn bộ vùng Đồng Nai, nhằm so sánh các minh chứng cho tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố Phải nói đây là nguồn tư liệu khảo sát thực địa về lễ hội, nên phần tín ngưỡng, tôn giáo có phần hạn chế Tuy nhiên, nghiên cứu này có tính hữu ích cho chúng tôi về tín ngưỡng, tôn giáo khi cung cấp nhiều dữ liệu thực địa ở Cù Lao Phố

Bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo người Hoa được làm rõ nét hơn qua nghiên

cứu Văn hóa Đồng Nai (2005) của tác giả Huỳnh Văn Tới và Phan Đình Dũng

Công trình đã cung cấp cho luận văn một cái nhìn khái quát bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng người Hoa tại tỉnh Đồng Nai, đồng thời có những thông tin chính xác về hoạt động tín ngưỡng của người Hoa tại Cù Lao Phố xưa và nay

Tóm lại, đây là các công trình cung cấp các luận cứ khoa học quan trọng cho luận văn trong quá trình phân tích so sánh Qua đó đưa ra được những kết luận phù hợp với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Cù Lao Phố hiện nay

- Các nghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo của luận văn

Luận văn còn sử dụng các giáo trình văn hoá học, nhân học, dân tộc học, lịch sử để có tiền đề cơ bản làm rõ bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố Đối với phần lý thuyết, các công trình liên quan, cung cấp lý thuyết cơ bản cũng

như lý giải sự đa dạng văn hoá và biến đổi tôn giáo- tín ngưỡng như: Lý luận về

tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam của Đặng Nghiêm Vạn (2001); Các

Trang 13

hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng của X.A Tokarev (1994); The Anthropology of religion của Fiona Bowie (2001) cung cấp dữ liệu một cách

đầy đủ và hệ thống hóa hình thái tôn giáo sơ khai là Shaman giáo Các tác phẩm

như: The tapestry of culture của A Rosman (1939) và P.G Rabel; Cultural

Anthropology của Marvin Harris (1997), thể hiện các lý thuyết về sự giao lưu văn

hóa trong tín ngưỡng, tôn giáo.v.v

Đặc biệt để áp dụng nghiên cứu đến biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay tại Cù Lao Phố và củng cố thêm các luận cứ khoa học đặt ra, luận văn chủ yếu sử

dụng các luận cứ từ cuốn sách Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa

tư bản của Max Weber (2008) Kiến giải của Max Weber giúp luận văn có cái

nhìn thiết thực về sức mạnh phát triển kinh tế từ cộng đồng tôn giáo Với sự xuất

hiện của tôn giáo mới, luận văn dựa vào sự kiến giải của Tôn giáo mới: nhận

thức và thực tế do Trương Văn Chung (2018) chủ biên giúp luận văn giải đáp

được các tôn giáo mới xuất hiện trong bức tranh tổng thể về biến đổi tôn giáo tại

Cù Lao Phố Trên phương diện lý thuyết nghiên cứu và nghiên cứu so sánh, các công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi có một nguồn dữ liệu quan trọng để hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học

6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu

6.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân Cù Lao Phố như thế nào?

- Tín ngưỡng, tôn giáo có vai trò và giá trị như thế nào trong đời sống tinh thần tâm linh của cư dân Cù Lao Phố?

6.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Sự hiện diện của các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố xuất phát

từ nhu cầu tâm linh của các nhóm cộng đồng người Việt, người Hoa di cư đến đây Họ có nhu cầu tìm kiếm một chỗ dựa tinh thần trên bước đường lập nghiệp trên vùng đất mới đã khiến cho họ đặt niềm tin sâu sắc vào các thần linh trong tín ngưỡng dân gian và Phật giáo Bắc tông

- Quá trình đô thị hóa với tốc độ nhanh chóng, và diễn trình lịch sử hiện tại của

Cù Lao Phố tác động trực tiếp đến cộng đồng cư dân đang sinh sống tại đây

Sự tác động này đã làm biến đổi ít nhiều đến hệ thống tín ngưỡng và tôn giáo

Trang 14

của cư dân Cù Lao Phố, qua đó đã làm thay đổi nhận thức và đời sống văn hóa tinh thần của họ Thời đại bối cảnh lịch sử xã hội thay đổi sẽ dẫn đến thay đổi văn hoá, vì vậy giả thuyết nghiên cứu của chúng tôi sẽ đặt xu hướng biến đổi văn hóa như một kết quả tất yếu của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đô thị hóa

7 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu định tính trong khoa học xã hội với các công cụ như thực địa (Field Work), quan sát tham dự (Participant Observation), phỏng vấn sâu (In-depth Interview), chụp ảnh, ghi âm… nhằm mô tả, diễn giải, giải thích đối tượng nghiên cứu

* Quan sát tham dự (Participant Observation): chúng tôi sử dụng công cụ này trong các chuyến đi thực địa tại 7 địa điểm đền, đình, chùa, miếu, nhà thờ và thánh thất tại phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Chúng tôi cùng tham dự vào sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, sự kiện văn hóa của cộng đồng, đặc biệt là giai đoạn tổ chức các lễ hội lớn như Kỳ yên, Phật đản, lễ Xá tội vong nhân, và lễ cúng Ông tại Thất phủ cổ miếu của người Hoa

* Phỏng vấn sâu (In-depth Interview): là công cụ dùng để tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa và diễn biến của các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, những biến đổi văn hóa trong đời sống tinh thần của người dân Cù Lao Phố hiện nay Chúng tôi lựa chọn phỏng vấn khoảng 10 thông tín viên dựa trên ba nhóm đối tượng như: nhóm một là những thông tin tín viên là những người lãnh đạo cộng đồng, trưởng ban quản lý đền, miếu, đình và trụ trì các ngôi tự viện cổ tại phường Hiệp Hòa; nhóm thứ hai là người dân tham dự các lễ nghi và thực hành tín ngưỡng tôn giáo tại địa phương; nhóm thứ ba là các nhà quản lý văn hóa, quản lý các cơ quan hành chính tại phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa Nhưng thực tế trong quá trình thực hiện, do tình hình của dịch bệnh Covid 19 trong suốt hai năm nay, đã làm cho chúng tôi gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận trực tiếp với các thông tín viên và những người dân sinh sống tại Cù Lao Phố

* Phân tích, tổng hợp tư liệu điền dã (data analyzed method): Từ nguồn tư liệu sơ cấp mà chúng tôi thu thập được qua các cuộc phỏng vấn trực tiếp, kết hợp với nguồn tài liệu thứ cấp như sách, báo, tạp chí khoa học, báo cáo… chúng tôi sẽ

Trang 15

dung luận văn Chúng tôi đảm bảo tính khách quan của kết quả nghiên cứu, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn cho nội dung luận văn

8 Bố cục của luận văn

Luận văn, ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn Trình bày tổng quan địa bàn nghiên cứu và thành phần cư dân tại Cù Lao Phố

Chương 2: Thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân Cù Lao Phố

Nhằm nêu ra những thực trạng nổi bật của tín ngưỡng và tôn giáo ở Cù Lao Phố như một nét đặc sắc của vùng đất, một thành tố bản sắc vùng tạo nên sự

đa dạng của Việt Nam trong đời sống tín ngưỡng và tôn giáo

Chương 3: Vai trò và giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống cư dân Cù

Lao Phố

Nghiên cứu vai trò, giá trị tín ngưỡng và tôn giáo trong đời sống cư dân

Cù Lao Phố; so sánh rút ra những giá trị văn hoá qua các loại hình tín ngưỡng tôn giáo bằng các hoạt động thực hành của cộng đồng; từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo ở Cù Lao Phố

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA

BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm hữu quan

Nhóm thứ hai, có quan điểm đồng nhất tôn giáo với tín ngưỡng, họ gộp chung hai khái niệm này làm một gọi là tôn giáo tín ngưỡng hoặc tín ngưỡng tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo dân tộc, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới…(Đặng Nghiêm Vạn, 1998,tr.11-36)

Nhóm thứ ba, xem tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin, đức tin, là một nhân tố góp vào tạo thành tôn giáo (Nguyễn Đăng Duy, 2001,tr.20)

Theo Đặng Nghiêm Vạn, thuật ngữ tín ngưỡng có hai nghĩa, một là tự do

tín ngưỡng và hai là niềm tin tôn giáo Theo nghĩa một thì tín ngưỡng có một phần nằm ngoài tôn giáo, còn theo nghĩa hai thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo (Đặng Nghiêm Vạn, 2003, tr.76) Thực tế, hiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng,

có người cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng là hai khái niệm khác nhau, lại có người bảo chúng giống nhau như tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới; có người nói tín ngưỡng bao gồm tôn giáo, rồi cũng có ý kiến ngược lại rằng tôn giáo bao gồm cả tín ngưỡng như thờ cây đa, thờ tổ tiên Thậm chí cũng có người có quan điểm phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng cho rằng tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo (Ngô Đức Thịnh, 2012,tr.11) Trước vấn đề tồn tại nhiều cách hiểu và quan niệm khác nhau, để có định hướng thống nhất trong luận văn,

Trang 17

nghiên cứu của luận văn, cho rằng: “tín ngưỡng là sự sùng bái các hiện tượng tự

nhiên, nhưng chưa có giáo lý thành văn, không có giáo đường quy mô, nghi lễ đơn giản, nhân sự bán chuyên nghiệp hoặc không có, tổ chức lỏng lẻo Còn tôn giáo là sự sùng bái những đối tượng được thần thánh hóa cao độ, với một hệ thống giáo lý rõ ràng, nghi thức hoàn chỉnh và một tổ chức chặt chẽ” (Trần

Ngọc Thêm, 2013, tr.566-567)

1.1.1.2 Tôn giáo

Tôn giáo theo thuật ngữ tiếng Anh gọi là religion xuất phát từ tiếng Latinh

là legere, relegere có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên Khái niệm tôn giáo được nhắc đến trong giới khoa học Phương Tây, sớm nhất khoảng từ thế kỷ XVIII - XIX Một số quan điểm tôn giáo của các nhà nghiên cứu từ khi tôn giáo trở thành một đối tượng của khoa học Tiêu biểu như Edward Burnett Taylor

trong tác phẩm nổi tiếng Văn hóa Nguyên thuỷ, ông cho rằng (theo nghĩa hẹp) tôn

giáo là niềm tin đối với một đấng tối cao, thờ cúng các thần tượng, có tập tục

hiến tế, hay có các giáo thuyết hoặc nghi thức nào đó tương đối phổ biến Còn

với L Feuerbach thì cho rằng tôn giáo là sự khám phá những gì cất giấu trong

con người, là sự thừa nhận những tư tưởng thân thiết nhất của con người, công khai nhất những tình cảm bí mật của con người Đối với C Mác thì nhấn mạnh

tôn giáo là sự quy định cuộc sống con người bởi ý thức về một mối liên hệ, gắn

tinh thần con người với năng lực huyền bí mà con người thừa nhận (Đặng Nghiêm Vạn, 2003, tr.50-54)

Mỗi nhà nghiên cứu, tùy vào góc độ khoa học mà có một quan điểm riêng của mình về khái niệm tôn giáo Theo nghĩa rộng hay hẹp thì khái niệm tôn giáo phải hàm chứa hai phạm trù: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của các vật thể vô hình Tôn giáo là sản phẩm sáng tạo của con người nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xã hội tạo nên những chuẩn mực để xây dựng niềm tin của con

người trong mối quan hệ giữa cái thiêng và cái tục, giữa vật chất với tinh thần

1.1.1.3 Khái niệm cù lao

Theo Từ điển Từ điển Tiếng Việt, cù lao là phần đất nổi giữa sông1 Tuy nhiên cũng có trường hợp hòn đảo nổi lên trên biển cũng được gọi là cù lao như

1 Nguồn: https://vi.vdict.pro/vi-vi/c%C3%B9+lao , 24/3/2020

Trang 18

Cù lao Chàm (Quảng Nam), Cù lao Ré (Quảng Ngãi) … Còn theo Học giả An

Chi, chữ “cù lao” là “chỉ một doi đất nổi lên ở giữa sông” là một khái niệm về địa

lý tự nhiên, bắt nguồn từ tiếng Mã Lai, pulau, có nghĩa là “đảo”, mà phương Tây thường phiên âm thành poulo, còn tiếng Việt thì lại phiên thành… cù lao2 Về phương thức xác định đặc điểm của một cù lao, người dân ở tỉnh Đồng Nai có quan điểm tương tự như các vùng khác ở Nam Bộ, đối với họ là cù lao là phần đất nổi lên trên sông có kích thước lớn, có thể dùng làm chỗ cư trú và mưu sinh

có nhiều người dân Còn nếu là một phần đất nhỏ nổi lên trên sông thì người dân chỉ gọi là cồn chứ không phải cù lao Gần vị trí Cù Lao Phố khi xưa có một hòn đảo nhỏ nổi trên sông Đồng Nai, người dân gọi là cồn Gáo Nay cồn này không còn, đã bị chìm xuống sông Đồng Nai

Từ chữ cù lao chỉ phần đất có diện tích lớn nhô lên trên sông, người dân Nam Bộ có xu hướng biến nó thành địa danh khi cho thêm tên vào phía sau của

nó như Cù Lao Phố, Cù Lao Dài, Cù Lao Giêng, Cù Lao ông Hổ…

1.1.1.4 Văn hoá tộc người

Theo Vương Xuân Tình và Vũ Đình Mười, tộc người (ethnicity) hay nhóm tộc người (ethnic group) là các thuật ngữ chỉ được sử dụng phổ biến ở Bắc

Mỹ và châu Âu khoảng từ những năm 1960, để thay cho các thuật ngữ bộ tộc (tribe), chủng tộc (race) được dùng trước đó (Nguyễn Văn Sửu (cb) 2020, tr 99) Còn theo Phạm Hữu Dật thì tộc người là một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử, mang ba tiêu chuẩn chủ yếu sau đây: cùng chung tiếng nói; cùng có chung một ý thức tự giác tộc người biểu hiện ở tên tự gọi chung; có những yếu tố văn hóa thống nhất (Phạm Hữu Dật 1998, tr.456)

Định nghĩa về văn hóa, Trần Ngọc Thêm cho rằng, “văn hóa là một hệ

thống hữu cơ các giá trị vật chất là tinh thần cho con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội” (Trần Ngọc Thêm 1999, tr 10) Từ định nghĩa này, chúng

tôi đã sử dụng vào việc xác lập khái niệm văn hóa tộc người ở Cù Lao Phố mà cụ thể là người Việt và người Hoa Từ đó, chúng tôi đưa ra khái niệm như sau: văn hóa tộc người là toàn bộ hệ thống giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mang tính đặc thù tộc người, gắn bó với quá trình lịch sử, sinh tồn và phát triển của một tộc

Trang 19

người Văn hóa tộc người có chức năng gắn kết cộng đồng những con người cùng chung môt tộc người, xác lập vai trò, trách nhiệm của mỗi cá thể trong cộng đồng và đồng thời thể hiện tính khu biệt giữa tộc người này với tộc người khác

Văn hóa tộc người là một bộ phận quan trọng để hình thành nên văn hóa vùng và văn hóa dân tộc Cụ thể như văn hóa của bốn tộc người, Việt, Hoa, Chăm và Khmer góp phần hình thành nên nét đặc sắc của vùng văn hóa Nam Bộ Văn hóa của người Việt và người Hoa ở Cù Lao Phố góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa Việt Nam và tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa nước nhà qua tiến trình dung hợp văn hóa

1.1.2 Lý thuyết tiếp cận

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tiếp cận chủ yếu ở góc độ tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với tiến trình phát triển của một vùng đất và văn hoá của tộc người sinh sống tại vùng đất đó Dựa vào những lý thuyết nghiên cứu của chuyên ngành Nhân học, Văn hóa học và Khu vực học để xem xét các hiện tượng xâm nhập, giao lưu tiếp biến văn hóa của một cộng đồng người thông qua điểm nghiên cứu là một vùng cù lao Cụ thể là các lý thuyết sau:

Lý thuyết chức năng: trường phái chức năng có hai nhánh chính: chức

năng về tâm lý (theo quan điểm của B Malinowski) và chức năng xã hội (theo quan điểm của Emile Durkheim và Radcliffe-Brown) Ngay từ thế kỷ XIX, một

số nhà xã hội học cổ điển đã khởi xướng lên thuyết chức năng luận Tuy nhiên sang đầu thế kỷ XX, với những đóng góp của mình, Emile Durkheim (1858 - 1917) vẫn được xem là người đầu tiên xây dựng khái niệm chức năng một cách

có hệ thống và áp dụng vào nghiên cứu khoa học chặt chẽ đối với đời sống xã

hội Tác phẩm Những hình thái sơ đẳng của đời sống tôn giáo (Les formes

élémentaires de la vie religieuse) của Durkheim (được trích dẫn bởi Alan

Barnard, 2014) là minh chứng cụ thể nhất về việc phân tích chức năng như một công cụ xã hội học Trong công trình này, ông nghiên cứu chức năng của tôn giáo đối với xã hội Theo ông, sự tồn tại của tôn giáo trong xã hội chứng tỏ nó có một chức năng - góp phần duy trì sự thống nhất đạo đức trong xã hội: …trong các nghi lễ, con người sùng kính chính xã hội, vì trật tự vũ trụ luận được xây dựng trên trật tự xã hội Các nghi lễ giúp củng cố trật tự đó trong tâm trí những người tham dự nghi lễ (Alan Barnard, 2014, tr.97) Lý thuyết này được chúng tôi

Trang 20

vận dụng để tìm hiểu vị trí, vai trò, chức năng của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống tinh thần của người dân ở Cù Lao Phố

Lý thuyết về giao lưu - tiếp biến văn hóa: Giao lưu - tiếp biến văn hóa

(acculturation) là một khái niệm được các nhà nhân học Phương Tây đặt ra vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi tiến hành nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa của các nhóm di dân người Châu Âu đến Mỹ với các nhóm dân tộc thiểu số sống lâu đời trên đất Mỹ Trong quá trình định cư trên đất Mỹ, nhóm cư dân da trắng đến từ châu Âu đã có những tác động làm cho văn hóa của các cư dân da màu bản địa thay đổi theo chiều hướng mà các nhà khoa học gọi là đồng hóa văn hóa (cultural assimilation) cư dân bản địa Kroeber (1948) đã đề cập đến vấn đề này

trong công trình Anthropology: Race, Language, Psychology, Prehistory Theo

đó, kết quả của quá trình giao lưu - tiếp biến sẽ khiến một nền văn hóa bị hút vào trong nền văn hóa khác, hoặc bị thay đổi, hoặc cả hai cùng thay đổi Vận dụng lý thuyết giao lưu - tiếp biến văn hóa vào luận văn này nhằm giải thích nguyên nhân của những biến đổi trong tín ngưỡng, tôn giáo của người Hoa, người Việt ở Cù Lao Phố Nhất là khi những đặc trưng trong tín ngưỡng của người Hoa tại Cù Lao Phố trước đây đã dần biến đổi khi cộng đồng người Hoa này đã di cư đến vùng đất khác sinh sống

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên của Cù Lao Phố

Cù lao Phố là tên gọi dân gian của một cù lao nằm trên sông Đồng Nai, ngày nay địa danh này thuộc đơn vị hành chính của phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tác nhân quan trọng kiến tạo nên Cù Lao Phố xuất phát từ sông Đồng Nai Dòng chính ở thượng nguồn còn gọi là sông Đa Dâng, xuất phát từ cao nguyên Lâm Viên, uốn khúc chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam xuyên qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh với chiều dài trên 437 km và lưu vực 38.600 km Đến phường Uyên Hưng thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương thì sông Đồng Nai chảy theo hướng Bắc - Nam ôm lấy cù lao Tân Uyên và Cù Lao Phố

Xét về vị trí địa lý Cù lao Phố nằm trải dài trên trục tọa độ từ 10°56′5″ kinh tuyến Bắc đến 106°49′46″ kinh tuyến Đông, thuộc về phía Đông - Nam của thành phố Biên Hòa, tên hành chính hiện nay là phường Hiệp Hòa với tổng diện

Trang 21

tích là 697 ha Khi xưa, Cù lao Phố còn được gọi là Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Nông Nại Đại Phố, là nơi phát triển sầm uất của cộng đồng người Minh Hương trước khi vùng đất này trở thành đơn vị hành chính chính thức của Đàng Trong năm 1698 Hiện nay, phường Hiệp Hòa đã được quy hoạch để trở thành một thành phố mở rộng của Biên Hòa Với vị trí thuận lợi của một phường cù lao, được bao bọc bởi dòng sông Đồng Nai, nằm về hướng Đông Bắc của thành phố Biên Hòa Phường nằm cách trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 1km và cách khoảng 2km về phía thượng nguồn Trên bản đồ của thành phố Biên Hòa, địa giới hành chính phường Hiệp Hòa do đặc điểm của một phường cù lao nên tất

cả các mặt đều tiếp giáp với sông Đồng Nai Phía Đông giáp phường An Bình; phía Đông Bắc giáp các phường Tam Hiệp, Tân Mai; phía Tây giáp phường Bửu Hòa; phía Nam giáp phường Tân Vạn; phía Bắc giáp phường Thống Nhất và phía Tây Bắc giáp phường Quyết Thắng [Hình 1.1]

Qua không ảnh, phường Hiệp Hòa có hình dáng của một cù lao hình chiếc chuông nằm giữa hai nhánh sông Đồng Nai Dân số 15.468 người (năm 2018), trong đó, người Việt chiếm 12.326 người, người Hoa có 67 người và người Khmer có 19 người Mật độ dân số 2.219 người/km² Hệ thống hành chính của phường Hiệp Hòa hiện nay được chia thành ba khu phố: Nhất Hoà, Nhị Hoà, Tam Hòa với 55 tổ nhân dân Bao gồm Khu phố Nhất Hòa: chia ra 22 tổ nhân dân; Khu phố Nhị Hòa: chia ra 24 tổ nhân dân và Khu phố Tam Hòa: chia ra 09

tổ nhân dân Từ trung tâm thành phố Biên Hòa, muốn đến phường Hiệp Hòa phải

đi theo con đường Cách mạng tháng Tám, qua cầu Rạch Cát Từ thành phố Hồ Chí Minh muốn xuống phường Hiệp Hòa phải đi theo Xa lộ Hà Nội, đến cầu Đồng Nai rẽ trái hướng về ngã ba Tân Vạn, phường Bửu Hòa qua cầu Ghềnh (Cầu Gành) là đến ngay trung tâm của phường Hiệp Hòa (Cù Lao Phố) [Hình 1.2]

Theo dòng lịch sử, phường Hiệp Hòa trước đây là một thương cảng nổi tiếng ở vùng đất Nam Bộ từ thế kỷ XVII - XVIII Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau đã có một số thay đổi về hành chính của vùng đất cù lao Hiệp Hòa này như sau: năm 1928 trên cơ sở hợp nhất ba làng Nhất Hòa, Nhị Hòa, Tam Hòa (với 11 thôn cũ) thành xã Hiệp Hòa thuộc quận Châu Thành, tỉnh Biên Hòa Năm 1948 đến 1964, xã Hiệp Hòa thuộc huyện Vĩnh Cửu Từ năm 1965 đến 1975, xã Hiệp

Trang 22

Hòa thuộc thị xã Biên Hòa Năm 1976 đến năm 2019, xã Hiệp Hòa trực thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Từ năm 2019 đến nay, do chương trình phát triển đô thị hóa, xã Hiệp Hòa được nâng cấp hành chính thành phường Hiệp Hòa

Việc quy hoạch chỉnh trang đô thị cũng được tiến hành theo từng giai đoạn hiện nay đề án quy hoạch của UBND thành phố Biên Hòa đã được thực hiện, giao cho đơn vị tư vấn là Công ty kiến trúc ATA (trụ sở tại TP Hồ Chí Minh), phường Hiệp Hòa có tổng diện tích gần 700 ha, gồm diện tích đất và mặt nước Việc lập quy hoạch xây dựng tỷ lệ 1/5.000 được thực hiện đối với phần diện tích đất gần 550 ha của phường Trong phương án quy hoạch chung được đơn vị tư vấn đưa ra, phường Hiệp Hòa sẽ được bố trí thành ba khu vực chính gồm: khu phía Bắc thuộc địa phận Khu phố Nhất Hòa sẽ phát triển thành vùng lõi trung tâm với các công trình văn hóa, thương mại, nhà ở kết hợp với việc chỉnh trang các khu dân cư hiện hữu; khu phía Tây - Nam thuộc địa phận Khu phố Nhị Hoà sẽ tiến hành chỉnh trang khu dân cư hiện hữu và phát triển thêm khu dân cư mới; khu vực phía Đông - Nam, diện tích chủ yếu sẽ dành phát triển công viên cây xanh và một phần đất dịch vụ công cộng dọc đường Đặng Văn Trơn Ngoài

ra, đơn vị tư vấn cũng đề xuất hai phương án tổ chức kiến trúc, cảnh quan đối với phường Hiệp Hòa So với quy hoạch chung được điều chỉnh năm 2018, đơn vị tư vấn đã đề xuất thay đổi diện tích đất quy hoạch theo mục đích sử dụng Cụ thể, đất dành cho khu chức năng trung tâm văn hóa - lịch sử giảm 12 -15 ha, đất công viên cây xanh giảm 66 ha, đất công cộng dịch vụ đô thị giảm 2 ha Ngược lại, đề xuất tăng diện tích đất khu ở thêm khoảng 60 ha, đất khu hiện hữu chỉnh trang tăng 5 ha và đất giao thông tăng 9 ha

Hiện nay tại phường Hiệp Hoà có tổng cộng năm cây cầu và một bến phá, kết nối giữa nơi đây và các vùng xung quanh, bao gồm: hai cây cầu do Pháp xây dựng năm 1904 là cầu Ghềnh 1 bắc sang phường Bửu Hoà và cầu Ghềnh 2 bắc sang thành phố Biên Hoà (còn gọi là cầu Rạch Cát); cầu Hiệp Hoà xây dựng năm

2012 do UBND TP Biên Hòa xây dựng bắc sang trung tâm thành phố Biên Hòa; cầu Bửu Hoà xây dựng năm 2013 do kinh phí Trung ương đầu tư bắc sang phường Bửu Hoà; cầu An Hảo xây dựng năm 2015 bắc sang phường An Bình và bến phà Đò Kho đi sang phường Tam Hiệp

Trang 23

Là một vùng đất có bề dày lịch sử nên phường Hiệp Hòa cũng sở hữu rất nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, di tích lịch sử - văn hóa; trong đó có có 11 ngôi đình, ngôi chùa thuộc các hệ phái Phật giáo Bắc tông và hai tịnh xá thuộc hệ phái Phật giáo Khất sĩ Đặc biệt, phường Hiệp Hòa cũng là địa bàn có bốn di tích lịch

sử được xếp hạng cấp Quốc gia và cấp Tỉnh Bao gồm chùa Đại Giác - một trong

ba ngôi chùa cổ được khai phá sớm ở Đồng Nai - gắn liền với những chuyện tích dân gian vùng Cù Lao Phố, được xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 1990 Di tích đình Bình Kính - nơi thờ Thượng đẳng thần Nguyễn Hữu Cảnh - người có công hành chính hóa vùng đất Nam Bộ vào lãnh thổ nước Việt Nam năm 1698 được xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 1991 Chùa Ông (còn gọi là Thất phủ cổ miếu) – nơi thờ Quan Thánh, một trong những ngôi chùa cổ của cộng đồng người Hòa trên đất Nam Bộ được xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 2001 Đình Bình Quan - di tích kiến trúc, gắn liền với phong trào đấu tranh cách mạng của quân dân Biên Hòa, xếp hạng di tích cấp Tỉnh năm 2004

Ngoài ra, tiêu chí của một phường hiện đại cũng đã được thể hiện qua hệ thống giáo dục của địa phương, trên địa bàn phường Hiệp Hoà hiện có trường Mầm non Hiệp Hoà, Tiểu học Hiệp Hoà, Trung học cơ sở Hiệp Hoà và trường Trung học phổ thông Nam Hà

1.2.2 Lịch sử xã hội và cư dân ở Cù Lao Phố

Lịch sử di dân của người Việt vào vùng đất Nam Bộ bắt đầu từ thế kỷ XVII Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai lúc bấy giờ đã có người Việt đến cư trú, họ khẩn hoang lập làng định cư rải rác từ Mỗi Xuy (Bà Rịa) đến Nhơn Trạch, Long Thành, Biên Hòa… và tại Cù Lao Phố Lớp người Việt đến sớm nhất, đa số có

nguồn gốc từ Trung bộ "Lúc bấy giờ, tại xứ Nông Nại đã có số ít người Việt đến

từ Đàng Ngoài, do công chúa Ngọc Vạn (con gái Sãi Vương) gá hôn với vua Chân Lạp Chey Chetta II, mở đường Nam tiến từ năm 1623, cho vào ở với Lạp man và thổ Châu Mạ, rải rác theo rừng thưa chồi rậm, đầm ao sình lầy, sống mộc mạc, gần như du mục, bằng cách bắn chim săn thú, trồng rẫy tỉa lúa, hầm than, nuôi tằm hoặc giăng câu bủa lưới, theo ven sông Phước Long" (Trịnh Hoài

Đức, 1969, tr.5)

Tuy nhiên, sự xuất hiện của lưu dân người Hoa ở Cù Lao Phố theo ghi nhận của lịch sử, khởi đầu từ năm 1679, được sự chấp thuận của chúa Nguyễn,

Trang 24

đoàn tướng binh di thần nhà Minh là Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đem theo 3.000 người đi trên 50 chiếc thuyền vào Đàng Trong, sau đó định cư tại Bàn Lân (cù lao Phố - Biên Hòa) (Trịnh Hoài Đức, 1969, tr.8-10) Trần Thượng Xuyên (tức Trần Thắng Tài) nguyên là Tổng Binh trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm và phó tướng là Trần An Bình cùng với tướng Dương Ngạn Địch, nguyên

là Tổng Binh trấn thủ các địa phương thủy lục ở Long Môn tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) cùng với phó tướng là Hoàng Tấn Đây là nhóm người Hán trung thành với nhà Minh, không chịu thần phục nhà Mãn Thanh nên đã nổi dậy phất

cờ "bài Mãn, phục Minh" nhưng bất thành nên trốn chạy xuống phía Nam xin nhập cư vào đất Đàng Trong

Nhóm người này được chúa Nguyễn chấp nhận cho vào khai khẩn xứ Đồng Nai hoang vu, cho các tướng lãnh y chức cũ, phong thêm quan tước mới

Họ được các tướng Vân Trình, Văn Chiêu hướng dẫn; binh thuyền tướng sĩ Long Môn của Dương Ngạn Địch, tiến vào cửa Lôi Lạp, theo cửa Đại, cửa Tiểu, đến định cư ở Mỹ Tho Còn binh tướng sĩ Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình tiến vào cửa biển Cần Giờ rồi lên định cư ở Bàn Lân, xứ Đồng Nai (vùng Biên Hòa ngày nay) (Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, 1998,tr.86)

Nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên chỉ huy đến sinh sống ở xứ Bàn Lân (tức Biên Hòa ngày nay) Trần Thượng Xuyên thấy địa hình này có ưu thế cho việc phát triển nông nghiệp, lại thuận tiện giao thông thủy, bộ; có lợi cho việc buôn bán nên đã xây dựng nơi đây thành một thương cảng Đường xá ở Cù Lao Phố được mở mang, phố xá được tạo dựng, chợ búa được thành lập, hàng hóa dồi dào, thường xuyên có nhiều tàu nước ngoài đến buôn bán

Buổi đầu định cư ở Bàn Lân (Biên Hòa), người Hoa khai phá rừng, chặt đốn cây, khai thông nguồn nước, mở mang đường sá, bắt đầu tạo lập cuộc sống mới Họ thấy cù lao Phố là địa bàn thuận lợi cho việc buôn bán và giao thương hàng hóa vì đây là một cù lao đất đai phì nhiêu ở hạ nguồn sông Đồng Nai, tàu thuyền ra vào rất dễ dàng, thuận lợi cho cư trú, canh tác và giao thông Những người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đã xây dựng Cù Lao Phố trở thành trung tâm thương mại gọi là Nông Nại Đại Phố, một trong những thương cảng lớn nhất miền Đông Nam Bộ lúc bấy giờ, thu hút các thương nhân từ Trung Hoa và các

Trang 25

nước khác đến Hình thức buôn bán ở cù lao Phố là xuất nhập khẩu, có nhiều kho hàng hóa dự trữ Trịnh Hoài Đức đã mô tả về quang cảnh buôn bán sầm uất tại cù

lao Phố như sau: "Xưa nay thuyền buôn đến đây hạ neo xong thì lên bờ thuê phố

ở, rồi đến nhà chủ mua hàng, lại đấy kê khai những hàng hóa trong thuyền và khuân cất lên, thương lượng giá cả; chủ mua hàng định giá mua bao tất cả những hàng hóa tốt xấu, không bỏ sót lại thứ gì Đến ngày trương buồm trở về, gọi là hồi - đường, chủ thuyền có yêu cầu mua giúp vật gì, thì người ấy cũng chiếu y ước - đơn mua dùm chở đến trước ký giao hẹn, hai bên chủ khách chiếu tính hóa - đơn thanh toán rồi cùng nhau đờn ca vui chơi, đã được nước ngọt tắm rửa sạch sẽ, lại không lo sợ trùng - hà ăn lủng ván thuyền, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi" (Trịnh Hoài Đức, 1972,tr.22)

Cảnh phồn vinh, sầm uất của Cảng thị Cù Lao Phố cũng đã được sách: mô

tả như sau: “Nông Nại đại phố ở đầu phía Tây Cù lao Đại phố được kiến thiết

phố xá, mái ngói tường vôi, lầu cao quán rộng, dọc theo bờ sông liền lạc tới năm dặm Chia vạch làm ba đường phố: đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, phố nhỏ lót đá xanh, đường rộng bằng phẳng”’ hay “phố chợ thương mại, giao thông với người Tàu, người Nhật Bản, Tây Dương, Đồ Bà (Java) Kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đều neo liên tiếp nhau,

ấy là một chỗ đại đô hội ” (Đại Nam nhất thống chí, 1969, tr.25) Cù lao Phố trở

thành một trung tâm thương mại và giao dịch vào loại nhất của Nam Bộ vào thời bấy giờ nhờ có ưu thế của một cảng sông sâu trong nội địa, đầu mối tập trung nhiều loại hàng hoá Vùng Cù Lao Phố cũng là nơi hình thành sớm các ngành nghề thủ công: dệt chiếu, làm tơ lụa, làm gốm, mộc, đúc đồng, làm pháo hay chăn nuôi tằm, trồng mía, nấu đường Ngoài nguồn hàng cung cấp tại chỗ, thương cảng Cù Lao Phố còn tiếp nhận các nguồn hàng hóa từ nơi khác trên vùng Đồng Nai lúc bấy giờ như Phước Thiền, Bến Gỗ, Bến Cá

Trong hoạt động thương mại, giao dịch của Cù Lao Phố, vai trò của các thương nhân người Hoa đã chiếm vị trí quan trọng, chi phối hầu hết các mặt hàng nhập và xuất khẩu và quan trọng hơn hết là có chỗ tồn trữ hàng hóa và địa bàn phân phối hàng hóa Nguồn xuất khẩu chính ở thương cảng Cù Lao Phố là lúa gạo; kế đến là gỗ quý dùng để đóng tàu thuyền, xây dựng nhà cửa, đình chùa; hàng lâm sản như ngà voi, sừng tê giác, gạc nai, sáp ong, mật ong; hàng nông sản

Trang 26

như trà, đường mía, chuối, xoài; hải sản như tôm càng, cá, sò huyết, cua…; các loại hàng thủ công mỹ nghệ bằng vàng bạc, đồ gốm, chiếu… những mặt hàng này rất được các chủ hàng ưa chuộng Nguồn hàng nhập khẩu vào Cù Lao Phố phổ biến là hàng sứ Trung Quốc (đặc biệt đồ sứ đời Thanh), tơ lụa, vải bố, thuốc bắc, các loại dược phẩm, đồng đúc chuông, gạch ngói trang trí, vật liệu xây dựng chùa miếu, các loại nhang đèn, giấy tiền, vàng bạc…

Các tàu buôn đến Cù Lao Phố chủ yếu từ Phương Tây, Nhật Bản, Mã Lai, Trung Hoa… trong đó tàu buôn của thương nhân Trung Hoa đóng vai trò quan

trọng vào thế kỷ XVIII: "Khách hàng chính của cù lao Phố cũng như của các

thương cảng Đàng Ngoài và Đàng Trong là người Trung Hoa Trong điều kiện

mà giao dịch buôn bán giữa hai nước là nếp cũ từ lâu đời, thì các thương nhân Hoa kiều có vai trò quan trọng trong lĩnh vực kinh tế ở các địa điểm giao lưu, trong đó có cù lao Phố được coi như một cảng trên sông" (Ban chỉ đạo lễ kỷ

niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai, 1998, tr.86)

Nông Nại Đại phố hình thành như một cảng sâu trong nội địa (cách biển khoảng 100 km) nhờ đặc điểm địa lý tối ưu và yêu cầu thực tế, trong đó có vai trò trọng yếu của thương nhân người Hoa thời kỳ đầu khai phá Nền kinh tế hàng hoá ở cù lao Phố mạnh nhất trong thời gian từ cuối thế kỷ XVII (sau năm 1698)

đến khoảng thời gian từ năm 1738- 1775 Theo Sơn Nam thì sau 97 năm thịnh

vượng, Cù Lao Phố bắt đầu suy tàn bởi hai sự kiện lớn:

Năm 1747, vì thấy Cù Lao Phố giàu có, phát triển mạnh mẽ nên Lý Văn Quang (tự xưng là Giản Phố Đại vương), là một trong những khách thương người Phúc Kiến đến Cù Lao buôn bán, đã nổi lòng tham cầm đầu bạo loạn đánh dinh Trấn Biên và giết chết Nguyễn Cư Cẩn (là người cai quản dinh lúc bấy giờ) Sau khi được cấp báo, chúa Vũ vương đã sai Tống Phước Đại đem binh cứu viện và đánh tan đạo quân của Lý Văn Quang Tuy dẹp được loạn nhưng Cù Lao Phố đã chịu nhiều thiệt hại nặng nề (Sơn Nam, 1994)

Năm 1776, Cù Lao Phố lại một lần nữa bị tàn phá do cuộc nội chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh, sau cuộc nội chiến chợ búa, phố xá đã bị tàn phá nặng nề, những thương gia người Hoa di chuyển xuống vùng Chợ Lớn để sinh sống và lập các cơ sở thương mại mới (nay là Quận 5, Quận 6 thuộc TP.HCM) (Sơn Nam, 1994)

Trang 27

Kể từ hai sự kiện trên, Cù Lao Phố đã đánh mất vai trò là trung tâm thương mại của Đàng Trong, mà thay vào đó là sự phát triển của Chợ Lớn và Mỹ Tho Sau này, có nhiều nhóm người Hoa thuộc các bang Hải Nam, Triều Châu, Quảng Đông rải rác di cư sang Việt Nam, số đông định cư tại Nam Kỳ, họ tổ chức xã hội theo từng bang Họ là những thương nhân, thợ thủ công truyền thống

và chủ yếu là những người lao động đi tìm đất sống bởi tình hình khủng hoảng kinh tế và chính trị ở Trung Quốc Họ di dân đến lập nghiệp tập trung tại các thị

tứ, thị trấn ở Sài Gòn và các tỉnh trong đó có Đồng Nai (tỉnh Biên Hòa) Các biến động do chiến tranh giữa quân của Nguyễn Huệ và Gia Long khiến người dân tứ tán nhưng không ai quay lại Cù Lao Phố nữa Kết quả thống kê dân số hiện nay, chỉ có 67 người Hoa sinh sống ở phường Hiệp Hòa và họ là những người mới đến cư trú sau này

Trang 28

Tiểu kết chương một

Cù Lao Phố là một vùng đất gắn liền với lịch sử mở cõi về Phương Nam của dân tộc Việt Nam Quá trình dung hợp văn hóa và tộc người đã cho phép cộng đồng người Hoa cùng hòa hợp với người Việt tạo nên nền văn hóa hỗn dung tại vùng đất Cù Lao Phố Trong chương một này để làm tiền đề cơ sở cho

sự phát triển của chương hai và chương ba, chúng tôi đã vận dụng các lý thuyết, thuật ngữ, khái niệm là cơ sở khoa học, là công cụ để nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo, đời sống tinh thần và di sản của các tộc người Hoa, Việt trên vùng đất Cù Lao Phố Nội dung chương một cũng nhằm khảo cứu các đặc điểm địa lý, tự nhiên, lịch sử vùng đất, nguồn gốc con người và các thành tựu văn hóa đã đạt trong tiến trình phát triển của vùng đất Cù Lao Phố, nay là phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Với lịch sử 300 năm của một vùng đất cổ, cư dân Cù Lao Phố vẫn còn lưu giữ những tín ngưỡng và tôn giáo truyền thống gắn liền với quá trình phát triển của cộng đồng các tộc người Việt, Hoa Tinh thần uống nước nhớ nguồn đã thể hiện qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong phạm vi gia đình và thờ Thành hoàng Bổn cảnh trong phạm vi cộng đồng, còn trong tôn giáo thì có thờ Phật và các tôn giáo mới Cuộc sống ở mỗi thời kỳ lịch sử đều có sự phức tạp của vấn đề xã hội

và môi trường sinh thái, tinh thần nương tựa vào thế giới siêu hình được phát huy như một niềm tin về sức mạnh của tự nhiên mang đến cho con người cuộc sống sung túc và an lành, hạnh phúc trong tâm hồn hướng thiện sẽ được làm rõ hơn ở chương hai

Trang 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

CỦA CƯ DÂN CÙ LAO PHỐ

2.1 Thực trạng của tín ngưỡng tại gia

Mang đặc điểm chung của người Việt Nam Bộ, cư dân ở Cù Lao Phố rất xem trọng tín ngưỡng thờ cúng tại gia Có nhiều loại hình tín ngưỡng được người dân thờ cúng như thờ cúng tổ tiên, thờ thiên hay thờ trời, thờ ông Địa, ông thần Tài, thổ công, thổ thần, ông Tà, Táo Quân, thờ Phật, thờ cúng liên quan đến các loại hình dịch vụ kinh doanh Trong số đó, theo chúng tôi quan sát được, phong tục thờ cúng tổ tiên ở Cù Lao Phố là phổ biến nhất Hầu như chiếm số lượng phổ quát nhất vì hầu như nhà nào cũng lập bàn thờ tổ tiên, ông bà, phong tục này đã luôn gắn liền với truyền thống dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay

2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Phong tục thờ cúng tổ tiên hay còn gọi là đạo thờ cúng ông bà ở người Việt Nam được xem là một hình thái tôn giáo dân gian thể hiện lòng tưởng nhớ đến các bậc sinh thành, ông bà tổ tiên khi xưa Cư dân Cù Lao Phố cũng như người Việt ở Nam Bộ trong gia đình đều lập bàn thờ cúng tổ tiên Đối với những

hộ gia đình đứng đầu một dòng họ hay một chi họ thì việc thờ cúng được thể hiện

số lượng bàn thờ trong gia đình, thờ cúng những người qua đời trong nhiều thời đại khác Những người đã khuất từ xa xưa trong dòng họ thì gọi chung là Cửu Huyền Thất Tổ thờ chung trên một bàn thờ Bàn thờ này thường được bố trí phía bên trái của gian nhà theo hướng từ trong nhìn ra Những người mới qua đời trong thời gian mà con cháu còn nhớ được thời gian sinh sống của họ như ông bà, cha mẹ, anh em, thân tộc thì thờ bên phải Bàn thờ ở giữa nhà dùng để thờ Phật Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình do điều kiện không gian chật hẹp nên đã bố trí bàn thờ thành ba cấp theo hướng từ cao xuống thấp Bậc trên cùng là thờ Phật, bậc thấp hơn thờ tổ tiên, ông bà; bậc dưới cùng là thờ cha mẹ, anh em, người thân trong gia đình mới mất

Những gia đình sinh sống lâu đời ở Cù Lao Phố sở hữu được những căn nhà rộng hay nhà ông bà khi xưa giàu có để lại thì việc bố trí bàn thờ rất quy cách dựa trên quan niệm thứ bậc của dòng tộc và yếu tố phong thủy Những gia đình nào điều kiện kinh tế khó khăn hơn thì bố trí thờ cúng thu hẹp lại nhằm nhường chỗ cho không gian sống của các thành viên trong gia đình Một số gia

Trang 30

đình giàu có hiện nay có xu hướng tin phong thủy mặc dù trước đây họ vốn không quan tâm Do đó, khi bố trí thờ cúng tổ tiên, họ tin vào năng lực siêu nhiên của thế giới tâm linh tác động đến đời sống của gia đình Niềm tin này đã dẫn theo nhiều nghi lễ diễn ra trong quá trình lập bàn thờ, thờ cúng người đã khuất

Hiện nay, qua quá trình đi thực địa tại địa phương, chúng tôi đã quan sát thấy có những hành vi được thay đổi trong sinh hoạt tín ngưỡng của người dân nơi đây như: có những gia đình kiêng kỵ rút chân nhang ra khỏi bát hương đã đầy

mà phải cắm hương chồng lên để tạo nên ba tầng chân nhang khi đến thời gian cuối năm rồi mới rút ra Nhưng có gia đình lại rút chân nhang ra khỏi bát hương khi đã đầy, chỉ chừa lại 1 đến 3 cây trong bát, sau đó đốt chân nhang cũ đi để có chỗ trống mà cắm nhang mới vào Trước đây, người dân còn ảnh hưởng văn hoá Nam Bộ chung, nên việc rút chân nhang ra khỏi bát chỉ được thực hiện vào cuối năm (khoảng 23 tháng Chạp), với quan niệm trong năm bát hương lúc nào cũng phải đầy ắp thì mới có được nhiều may mắn; chân nhang càng nhiều càng thể hiện được sự thành tâm của gia chủ Nhưng về sau này, với điều kiện sống, thói quen thay đổi, các tục lễ xưa đã được đơn giản hoá một số khâu, việc chân nhang quá nhiều trong bát gây ra những vấn đề về cháy nổ, nên nhiều hộ gia đình đã rút bớt chân nhang để giảm thiểu hiểm hoạ hoả hoạn Những truyền thống xưa theo thời gian đã được biến đổi cho phù hợp hơn lối sống hiện tại, những luật lệ cũng không còn cứng nhắc mà được tiến hành tuỳ theo từng gia đình

Tập tục thờ cúng tổ tiên xưa kia nhằm thể hiện nghĩa cử “uống nước nhớ nguồn”, là sự biết ơn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ và các bậc tổ tiên xưa, nay đã chịu nhiều biến đổi với quan niệm, con cháu thịnh hay suy tất cả là nhờ thờ cúng tổ tiên Việc phát triển đô thị đã có ảnh hưởng đến những biến đổi văn hóa trong việc thờ cúng tại gia Đối với nhiều gia đình làm ăn kinh doanh, họ tin vào phong thuỷ, vì vậy họ quan niệm rằng kinh tế thịnh vượng hay sa sút là xuất phát từ quá trình thờ cúng Từ đó phát sinh ra các xu hướng thay đổi cách thờ, cải sửa mồ mả ông bà, tổ tiên, thay đổi các nghi lễ cúng tế theo hướng dẫn của thầy phong thủy để được cải đổi số mệnh của người sống nhằm làm giàu nhanh hơn, nhưng đây cũng chỉ là theo tục truyền khẩu của những người dân sống trong vùng dựa theo những gì họ thấy được chứ cũng không có bằng chứng nào lý giải được những việc này

Trang 31

Đối với các hộ gia đình vẫn duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo truyền thống thì việc bố trí bàn thờ vẫn như cư dân các địa phương khác ở vùng Nam

Bộ Theo tập quán truyền thống, trung tâm của bàn thờ sẽ bố trí di ảnh của người được thờ cúng, hai bên bố trí đông bình tây quả, bát hương ở giữa nằm chính diện với di ảnh Trên bàn thờ sắp ngăn nắp hoa quả, lễ vật dùng tế, kinh Phật, chuông mõ Hiện nay do xu hướng phong thủy nên phần nhiều các gia đình cúng

tế tổ tiên hàng ngày bằng những lễ vật tươi như trái cây, hoa tươi Người dân không thích cúng tế những loại vật thể như hoa làm bằng vải ny-lon, trái cây nhựa và các loại đồ khô Việc cúng tế các vật phẩm tươi được cho là giúp công việc làm ăn của con cháu được thuận lợi, theo quan niệm của phong thuỷ thì đồ tươi mang sức mạnh dương khí cúng cho người âm sẽ được họ biết đến như tấm lòng tưởng nhớ cao nhất của người còn sống trên dương gian Người âm vì vậy

mà hỗ trợ cho con cháu nhiều hơn, dồn hết âm đức của họ để cứu giúp con cháu

Các gia đình theo phương thức thờ cúng truyền thống của cư dân Nam Bộ thì trang trí phía sau bàn thờ một bộ tranh kiếng hay còn gọi là tranh thờ hay tranh vãng sanh Tranh vẽ này có nhiều loại, có bức vẽ phong cảnh giống như tranh thủy mặc, nhưng thợ vẽ là người Việt nên nét vẽ mang phong cách Việt Nam Bức tranh vẽ cảnh núi sông, rừng cây, thác nước, rồi bên cạnh có ngôi nhà Ngụ ý nói ông bà, tổ tiên nhờ ăn hiền ở lành khi còn sống, lại thêm con cháu làm việc phúc đức ở dương gian mà lại cúng tế ông bà thường xuyên nên chắc phải sanh vào cõi lành, hưởng phúc bất tử và đời sống an lạc như bức tranh kiếng đã

vẽ Bên cạnh đó, cũng có tranh vãng sanh vẽ hình Phật, với tâm linh tin tưởng vào người thân đã mất sẽ được đi đến cõi cực lạc, được Trời Phật che chở sau khi qua đời Tranh vãng sanh bố trí phía sau bàn thờ cũng là một phương thức an định lòng người trong thờ cúng tổ tiên Con cháu không cần suy nghĩ ông bà, cha

mẹ, tổ tiên của mình sẽ đi về đâu sau khi họ qua đời Thực tế ai cũng biết không thể lý giải được hoàn toàn câu hỏi về cái chết của con người nhưng khi đến bàn thờ thắp nhang, con cháu sẽ dễ cảm nhận qua hình ảnh về cõi thiêng mà ông bà mình đang sống, tâm lý phấn chấn mà làm việc siêng năng hơn Kinh tế gia đình

vì vậy mà phát triển theo tinh thần làm việc của con người

Quy lại một năm như vậy thành tựu kinh tế cũng sẽ nhiều lên, đám giỗ hay Tết Nguyên Đán là dịp để con cháu tỏ lòng tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên Có

Trang 32

những gia đình giàu có, làm đám giỗ suốt hai, ba ngày liền, thỉnh tăng ni bên Phật giáo tụng kinh cầu siêu, cầu an cho người đã mất, đặt mâm cỗ tràn đầy thức

ăn để đãi khách Khách mời phần nhiều là đối tác làm ăn, người có địa vị trong

xã hội và họ hàng trong thân tộc Mọi người tham dự chúc tụng, tôn vinh gia chủ nhờ hồng phúc tổ tiên mà làm ăn thịnh vượng Những gia đình như vậy xu hướng thờ cúng tổ tiên cũng gắn liền với công việc làm ăn của họ Tín ngưỡng và kinh

tế luôn được họ đặt trong mối quan hệ tương tác Làm kinh tế càng phát đạt thì việc cúng tế càng to hơn như một phương thức bố cáo về thành tựu của một gia đình với cộng đồng Tuy nhiên, ở Cù Lao Phố cũng có các gia đình không có điều kiện kinh tế, thì việc cúng tế ông bà, tổ tiên diễn ra trong điều kiện cho phép của họ Các gia đình vẫn giữ phong tục thờ cúng phải gắn liền với nghi thức cúng

tế bằng lễ vật nhưng việc cúng tế của họ nằm trong phạm vi gia đình Đôi khi một đám giỗ được tổ chức mà gia chủ không mời hàng xóm mà chỉ giới hạn người tham dự là những thành viên trong gia đình, theo quan niệm ai còn tưởng nhớ đến tổ tiên thì về tham dự Cũng do điều kiện sống ở đô thị, mỗi người đều

có công ăn việc làm, thời gian luôn gắn liền với hoạt động mưu sinh kiếm sống, nên việc thu xếp thời gian đối với họ gặp nhiều khó khăn như bận họp cơ quan, không có người thay thế trong dây chuyền sản xuất, chủ không cho nghỉ…nên các gia đình tổ chức đám giỗ luôn cân nhắc việc mời khách Cho nên quan điểm

ai nhớ thì về cúng ông bà cũng là một phương cách duy trì mối quan hệ nhưng không dùng sợi dây lễ nghĩa để buộc chặt các thành viên trong dòng họ phải về

dự lễ

Theo phong tục trước đây, khi đến lễ giỗ thì việc cúng kiếng sẽ diễn ra trong hai ngày, cúng giỗ ngày sống tức là lễ tiên thường vào chiều hôm trước, nguyên xưa chỉ cúng vào buổi chiều vì thường buổi sáng gia chủ bận rộn và phải

ra khấn ở mộ, yết cáo với thổ thần, long mạch xin phép cho gia tiên về nhà dự lễ giỗ; sang ngày tiếp theo thì mới là giỗ chính, gia chủ sẽ mời khách khứa, bà con,

họ hàng đến dự giỗ Nhưng ngày nay, do bận rộn công việc và do sự thay đổi của từng địa phương, từng nhà, mà việc cúng giỗ có thể tiến hành vào sáng hoặc chiều tuỳ theo sự sắp xếp của gia chủ

Phỏng vấn ông A sinh sống tại phường Hiệp Hòa, ông cho rằng:

Trang 33

“Bây giờ Cù Lao Phố là đô thị rồi nên không còn là vùng nông thôn nữa,

mà phát triển đô thị là quy luật tất yếu thôi vì nó nằm sát thành phố Biên Hòa rồi còn gì nữa mà giữ nếp sống nông thôn Bà con dòng họ sống ở vùng đô thị, ai cũng phải tìm công ăn việc làm cho mình Người trẻ bây giờ phải đi làm việc Làm việc thì phải có kỷ luật, chấp hành quy cách cơ quan Đám giỗ mình mời họ thì làm khó cho họ vì họ phải xin nghỉ Nếu

họ không đến dự thì mình cũng phiền lòng vì mình chuẩn bị đồ ăn, thức uống tính theo số người tham dự mà họ không đến thì mình phải ngồi mà

ăn cho hết Thành ra để tránh phiền lòng nhau, thì mình mở rộng ai đến được thì đến Đến thắp nhang tưởng nhớ ông bà rồi thì có gì ăn nấy Có người vì vậy cũng không chịu đến, bảo là mình không mời họ sẽ không đến nhưng mà cũng có người đến, ai đến là người thật lòng với gia đình mình và trong lòng họ có ông bà Gia chủ mình cũng đâu có thời gian tiếp khách, phải lo cúng tế, cầu kinh cho ông bà Tuy nhiên, bà con, dòng họ

mà có lòng thành thì họ vui lắm, họ vô phụ mình cúng tế Cứ như vậy, riết rồi sẽ thành thói quen của đám giỗ vùng đô thị Bây giờ, người dân ở trong khu này thường tổ chức đám giỗ kiểu như vậy Ban đầu bà con, dòng họ có người nói ra nói vào, lâu dần thành việc ai làm nấy ăn cũng xong một đám giỗ cho ông bà3”

Xu hướng làm đám giỗ theo cuộc sống đô thị đang dần phổ biến trong các gia đình lao động ở Cù Lao Phố Nó tương thích với cuộc sống đô thị bận rộn khi

mà quỹ thời gian đang dần trở nên khan hiếm do tác động của công việc mưu sinh, kiếm sống của người dân đang dần trở nên quan trọng Về mặt ý thức kết nối truyền thống, người dân vẫn thể hiện lòng tưởng nhớ tổ tiên nhưng cuộc sống

đô thị cho phép họ thực hiện cúng tế một cách linh hoạt Hiện tượng, nhiều gia đình tổ chức lễ giỗ cho người thân đã khuất vào chiều tối đang diễn ra phổ biến tại những đô thị hiện nay, và Cù Lao phố cũng là một đại diện điển hình Buổi tối

là thời gian lúc mọi người trong gia đình kết thúc công việc mưu sinh, bà con lối xóm và họ hàng cũng thu xếp được thời gian đến tham dự Các đám giỗ buổi tối dần trở nên nhộn nhịp với các hoạt động ca hát bằng nhạc sóng hoặc Karaoke Từ

3 Phỏng vấn ông Nguyễn Văn A, 56 tuổi, cư ngụ tại phường Hiệp Hòa, Cù Lao Phố Lúc 8h00, ngày 25 tháng 06 năm 2020

Trang 34

đó nghi thức cúng tế cũng dần bị xem nhẹ, mỗi người đi dự đám giỗ mang theo một phần quà cúng là hương hoa, hay bánh trái Đa phần cánh đàn ông chở theo một thùng bia thì cũng được xem là quà đám giỗ rồi

Ở Cù Lao Phố, dù các gia đình có điều kiện kinh tế giàu hay nghèo, người dân vẫn còn giữ tập tục liên quan đến mối quan hệ láng giềng và dòng tộc Ngoại trừ đám cưới, đám giỗ không ai nhận tiền từ bà con, dòng họ chứ huống chi bà con lối xóm Gia chủ tự xem việc làm đám giỗ là việc riêng của chính gia đình

họ, ai thờ ông bà, tổ tiên thì phải tổ chức đám giỗ Phỏng vấn ông A ở phường Hiệp Hòa được ông cho biết ý kiến về việc tại sao đám giỗ không nên nhận tiền Ông nói như sau: “chi phí làm đám giỗ cho ông bà, người thân mình phải tự lo, lấy tiền của người khác sẽ bị cộng đồng chê cười Họ cho rằng nhà của người đó

cả năm có cái giỗ mà cũng làm không nổi, còn làm ăn gì được nữa, thứ đó ông bà bắt cho nghèo mạt rệp Vì vậy, nói chung đi nữa dù sống ở đô thị nhưng ai cũng

sợ miệng đời thế gian nên phải tránh”

Từ lý do dư luận mà đám giỗ người dân không lấy tiền hay kêu gọi họ hàng đóng góp Tuy nhiên, trong phương thức giao tiếp và tính lịch sự của con người trong xã hội đô thị cũng được thấy rõ bằng việc khi khách đến nhà gia chủ

dự đám giỗ phải mang quà theo để cúng người đã khuất Đồng thời cũng là một nghi thức tưởng nhớ đến người đã mất Cánh đàn ông biết rằng đã đến đám giỗ thì phải nhậu cho nên để tránh gánh nặng kinh tế cho gia chủ họ sẽ chở theo một thùng bia khi dự đám giỗ Cuối cùng thì đám giỗ ở Cù Lao Phố hiện nay đã là một cuộc vui, dù quy mô kinh tế của một gia đình như thế nào đi nữa khi tổ chức đám giỗ người dân phần nhiều chú ý đến vấn đề sum họp và vui chơi với nhau là quan trọng nhất Các nghi thức cúng tế vẫn được thực hiện nhưng chủ yếu là thắp nhang tưởng nhớ ông bà, có gia đình khấn nhiều nhưng cũng có gia đình chủ yếu

là một nén nhang tưởng nhớ sau đó dành thời gian tiếp khách và thực hiện sinh hoạt vui chơi bằng hoạt động ăn uống, ca hát

Đô thị hóa cũng kéo theo nhiều biến đổi trong nghi thức an táng, thờ cúng

tổ tiên Khi xưa vùng Cù Lao Phố có nhiều nghĩa trang hay mồ mả chôn cất trong các phần đất mà người chết là gia chủ Cụ thể nhất là tại phường Hiệp Hòa vẫn còn lại một khu nghĩa địa rộng lớn nằm bao quanh chùa Chúc Thọ với số lượng

mồ mả bạt ngàn không thể thống kê hết Ông K, trưởng Ban quản lý đình thần

Trang 35

Nguyễn Hữu Cảnh (Đình Bình Kính) là người sống lâu năm tại Cù Lao Phố cho rằng:

“Hồi xưa khi còn chiến tranh, chùa Chúc Thọ không có người trông coi

Đất xung quanh chùa là đất hoang Chiến tranh mà, người dân cù lao chết nhiều vô kể, đủ thứ mọi cái chết Vùng Cù Lao Phố bị ngăn cách bởi con sông Đồng Nai bao quanh nên người dân đâu còn cách nào khác phải chôn tại chỗ thôi Không phải là người dân có ý chiếm đất chùa làm

mồ mả Vì cư dân ở đây đa phần theo đạo Phật và cũng theo đạo lý nữa,

ai lại chiếm đất chùa mà chôn cất người thân Nguyên nhân là thế này, người dân tin vào đạo Phật nghĩ rằng chôn ở chùa thì vong linh người chết sẽ theo Phật mà tu hành, vãng sanh vào cõi Tây phương Một người chôn xong người thân thấy êm thắm, dân chúng Cù Lao Phố bắt chước chôn theo thành ra giờ đây thành khu nghĩa địa nhiều mồ mả là vậy Phần nhiều là chôn khi xưa4

Khảo sát của chúng tôi tại Cù Lao Phố cho thấy trước đây Cù Lao Phố đất rộng người thưa Hơn nữa cư dân ở Biên Hòa, Bình Dương ít ai chịu sang cù lao

mà sinh sống vì không có việc gì làm để sinh sống, ngoại trừ đánh bắt cá trên sông Đồng Nai và trồng rẫy Quỹ đất ở Cù Lao Phố còn nhiều nên địa táng là phương thức tang ma chủ yếu trong tín ngưỡng thờ cúng ông bà của người dân nơi đây Những gia đình có người thân được chôn cất trong nghĩa trang chùa Chúc Thọ hay các nghĩa trang nằm rải rác trên cù lao, hàng năm vào dịp trước Tết Nguyên Đán họ thường làm lễ tảo mộ Thời gian này khoảng từ ngày 23 đến ngày 27 tháng Chạp âm lịch, các gia đình ra nghĩa trang quét dọn mồ mả, làm vệ sinh cây cỏ, rác công nghiệp Sau đó họ về nhà làm mâm cỗ cúng tế mời ông bà, người thân về nhà ăn Tết với con cháu

Tuy nhiên, thời gian thay đổi nên quỹ đất trên cù lao cũng không còn nhiều như khi xưa nữa Cù lao giờ được quy hoạch thành khu đô thị và du lịch với vị trí hạn hẹp về diện tích tất nhiên sẽ không có chỗ dành cho khu vực nghĩa trang Trường hợp nếu có quy hoạch nghĩa trang thì đất ở đây cũng tăng giá cao, người dân lao động cũng không đủ điều kiện tài chính mua đất chôn người thân

4 Phỏng vấn ông Trần Văn K, 60 tuổi trưởng Ban quản lý đình thần Nguyễn Hữu Cảnh, phường Hiệp Hòa, Cù Lao Phố Lúc 10h00, ngày 25 tháng 06 năm 2020

Trang 36

Ngày nay, hình thức táng người mất chủ yếu là hỏa táng Sau khi hỏa thiêu người chết, người dân gửi di cốt người mất vào nhà cốt ở các chùa Cù Lao Phố là địa bàn có 7 ngôi chùa vì vậy người dân có thể gửi vào chùa nào cũng được tùy theo ước nguyện của người mất và sinh hoạt Phật giáo của các hộ gia đình Khi di cốt được gửi vào chùa thì phần nhiều các nghi lễ sau đám tang đều tổ chức tại chùa Ngày rằm hay các ngày lễ lớn thân nhân của người mất đến chùa thăm hủ cốt của người thân, hành lễ chiêm bái Phật đà và tụng kinh cầu siêu cho người mất Những gia đình gửi tro cốt người thân vào chùa thì không còn nghi thức đi tảo

mộ nữa Hủ cốt để trong chùa lâu dần, nhà chùa cũng khuyến khích Phật tử làm

lễ xả vong để rải tro cốt xuống sông xem như người chết đã quá vãng về cảnh giới khác với trần gian rồi Những nghi thức này đã cho thấy được sự biến đổi trong hình thức an táng người đã mất của người dân Cù lao

2.1.2 Tín ngưỡng thờ thần tại gia

- Tín ngưỡng thờ trời

Đối với cư dân Cù Lao Phố, trời là vị thần có quyền năng trong thế giới tự nhiên Họ không có xu hướng lý giải theo nguồn gốc tín ngưỡng thờ trời xuất phát từ Đạo giáo, là hình tượng của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, tức là vị vua cai quản Tam giới trong Đạo giáo Trung Hoa Phỏng vấn của chúng tôi thấy phần lớn người dân ở phường Hiệp Hòa cho rằng trời không phải là Ngọc Hoàng Thượng Đế, một vị thần tối cao trong Đạo giáo Trung Hoa Họ cho rằng họ chịu ảnh hưởng Đạo Phật, thờ cúng ông bà chứ không biết gì về Đạo giáo và càng không phải là tín đồ của Đạo giáo Trong văn hoá Việt Nam từ xa xưa đã có rất nhiều ca dao, tục ngữ nói về Ông Trời, tín ngưỡng thờ Trời, theo quan điểm của

Mục Sư Ngô Việt Tân trong “Ông Trời trong văn hoá Việt Nam” có nói “Trời là

ý niệm “Trời” vốn đã hiện hữu trong tâm thức của người Việt xưa từ thuở nguyên sơ, trước khi những tôn giáo khác du nhập vào Việt Nam Người Việt nhân cách hóa vị thần không biết ấy và xưng gọi là: “Ông Trời” Trong tâm thức người Việt, từ ngữ “trời” là một từ rất thông dụng Từ ngữ này có thể là một khoảng không gian bao phủ trên trái đất, đồng thời cũng là Đấng Thần linh Toàn năng, quyền phép vô biên và là Đấng tạo hóa sáng tạo ra vũ trụ, cùng với loài

Trang 37

người Khi nghe tiếng chim hót, người ta liên tưởng đến con người chắc hẳn cũng phải do Đấng tạo hóa ấy tạo dựng nên…”5

Ngày nay, trong phạm vi gia đình, việc thờ trời của người dân ở Cù Lao Phố được hiểu là tôn trọng cái thiêng, quyền năng của tự nhiên, vũ trụ ảnh hưởng đến không gian sinh tồn của con người Ông trời hay ông Thiên được cho là vị thần ở trong không gian, ở trên trời nên hộ trì cho những ai thờ cúng ông bên ngoài kiến trúc của ngôi nhà Ông trời có quyền năng hộ trì cho con người trong không gian, bốn phương tám hướng, tức là trong không gian của khuôn viên nhà

ở của người dân Còn bên trong ngôi nhà lại có chức năng thờ cúng liên quan đến các vị thần khác Với cách suy nghĩ như vậy cho thấy tín ngưỡng thờ trời của người dân Cù Lao Phố không liên quan gì đến Ngọc Hoàng Thượng Đế Phương thức thờ trời của cư dân Cù Lao Phố thường gắn với thờ đất Đất được hình thành trong văn hoá Hùng Vương, là một cặp đối lập với Trời nhưng thúc đẩy sự sinh sôi phát triển Trời đất kết hợp mang ý nghĩa âm dương, nhằm hướng đến sự cầu mong mọi việc đều suông sẻ, đầu xuôi đuôi lọt, vạn sự hanh thông trong cuộc sống

Các gia đình thờ trời lập một bàn thờ hay còn gọi là bàn thiên ngay trên sân nhà, ở vị trí chính tâm ngay bàn thờ Phật nằm ở giữa nhà hướng ra Tuy vậy, cũng có nhà không có sân thì lập bàn thiên tại ban công hay trên sân thượng của ngôi nhà [Hình 7.3] Bàn thiên đơn giản bao gồm một cây bằng xi – măng chôn xuống đất, bên trên đặt một tấm phảng cũng đúc bằng xi-măng Bên mặt phẳng của tấm phẳng, người dân đặt một bát hương ở trung tâm, bên trái đặt một chiếc bình dùng để cắm hoa tươi, bên phải đặt một đĩa trái cây, ở giữa đặt bát chung nước Tuy nhiên có nhà còn đặt thêm trên bàn thiên hai hũ gạo và muối Tập tục này mang ý nghĩa là cầu mong no đủ cho gia đình nhưng cũng có ý nghĩa khác là dùng bố thí cho ma quỷ ở ngoài ngôi nhà khi đói có thể đến bàn thiên lấy gạo muối mà ăn, không cần vào nhà phá phách gia chủ Bên dưới bàn thiên có bàn thờ thờ địa gọi là thờ đất, cách bày trí cũng giống như bàn thiên bên trên Hai bàn thờ thiên và địa gắn liền với nhau nhưng bàn thiên đóng vai trò chính nên cư dân

Cù Lao Phố có thói quen chỉ gọi là bàn thiên, nhưng hiểu là phải thờ cả thiên và địa Tập quán dân gian ở Cù Lao Phố cho rằng việc lập bàn thiên với hai vị trí

5 https://conduongvinhphuc.com/2-ong-troi-trong-van-hoa-viet-nam/

Trang 38

thiên và địa mang ý nghĩa con người phải tôn trọng tự nhiên, vạn vật do cha trời,

mẹ đất sinh ra Tất cả nhằm thể hiện lòng tôn trọng của con người với thiên nhiên với quan điểm con người sống trên thế gian biết kính trọng trên dưới, cái trước cái sau

Trong tín ngưỡng thờ trời (bao gồm cả đất), người dân Cù Lao Phố đều thắp nhang hàng đêm, cứ khi đêm đến khoảng sáu rưỡi tối thì người dân thắp nhang các bàn thờ trong gia đình, trong đó có bàn thiên Tại bàn thiên, người dân thường cắm hai cây nhang tại hai bát hương, trên và dưới sau khi lạy bốn hướng bày tỏ lòng kính trọng bốn phương và lạy ba lạy trước bàn thiên để chiêm bái trời Tuy nhiên, để tránh mất thời gian thì người dân chỉ xá ba xá và xá bốn hướng Ngoài nghi lễ hàng đêm là thắp hương, tục thờ cúng ông thiên cũng tương tự như thờ Phật trong gia đình Ngày 30, mồng Một, mười bốn, rằm hàng tháng theo âm lịch đều cúng nước, dâng hương hoa trên bàn thiên, cùng thời điểm đó, người dân Cù Lao Phố cũng thực hiện nghi lễ tại các bàn thờ Phật trong gia đình

- Thờ ông Địa và thần Tài

Tục thờ ông Địa và thần Tài trong các gia đình cư dân Cù Lao Phố là tín ngưỡng thờ thần phổ biến nhất Khảo sát tại khu phố Hòa Hiệp, phường Hiệp Hòa cho thấy gần như nhà nào cũng có bàn thờ ông Địa Việc thờ cúng này mang

ý nghĩa thương mại nhằm cầu mua may bán đắt nhưng cũng mang ý nghĩa khác

là cầu mong may mắn trong gia đình, nhất là vấn đề kinh tế của chủ hộ Hầu hết nhà nào cũng lập bàn thờ ông Địa, ông thần Tài, không thấy có hiện tượng thờ riêng lẻ từng vị thần một Nguyên nhân là hai vị thần này đã trở thành một cặp đôi với nhau Việc thỉnh tượng về thờ tại gia từ các cửa hàng bán tượng và pháp khí cũng sẽ được chủ cửa hàng hướng dẫn về phương thức thờ cúng, bố trí bàn thờ cho nên người dân sẽ thỉnh luôn cả tượng ông Địa, thần Tài, bàn thờ, linh vật

và các loại pháp khí khác dùng cho việc thờ cúng

Chữ Địa mang ý nghĩa là đất, vì vậy mà đa số các nhà nghiên cứu cho rằng ông Địa là thần đất, tức thổ công, thổ thần hay thổ địa Tuy nhiên, việc thờ cúng ông Địa của cư dân Cù Lao Phố cũng như ở các địa phương ở vùng Nam

Bộ nói chung tín ngưỡng ông Địa được biến đổi thành một dạng tín ngưỡng kinh

tế hay thương mại Việc thờ ông Địa không mang ý nghĩa là thờ thổ công, thổ

Trang 39

thần nữa mà là vị thần hộ trì may mắn trong kinh doanh (Huỳnh Ngọc Trảng,

2021, tr.40) Ông Địa với hình tướng mập mạp thể hiện cho sự sung túc mà trong cuộc sống của con người chỉ có giàu có mới sinh ra sung túc được Hình tướng này mang ý nghĩa là của cải sinh ra của cải, tiền sinh ra tiền, tức là ai thờ thì sẽ mau chóng giàu sang phú quý Ông Địa với khuôn mặt vui tươi, miệng luôn mỉm cười tay cầm quạt thể hiện sự thong thả, vô tư của một đàn ông hạnh phúc với cuộc sống và công việc Sự thể hiện mang ý nghĩa chào mời khách hàng, tiếp đón khách hàng, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi, ân cần tiếp đón, gia chủ giàu

có, khách hàng hài lòng Ông Địa thường ngồi tựa lưng vào linh vật là con hổ mang ý nghĩa là con hộ trì, trấn giữ nhà yên cửa ấm, ma quỷ kinh sợ Ý muốn nói, gia chủ niềm nở ân cần là phương thức giao tiếp lịch sự nhất trong kinh doanh buôn bán nhưng phường vô lại đến quấy phá thì hãy xem chừng, nhà buôn, người làm kinh doanh cũng không phải kẻ tầm thường mà ức hiếp Họ cũng có mãnh hổ hộ trì, yêu ma không làm sao mà quấy phá nổi

Ông Địa luôn được phối thờ chung với thần Tài Tất nhiên, cư dân ở Cù Lao Phố đa phần là người Việt, họ biết rõ tín ngưỡng thần Tài xuất phát từ Trung Hoa do cộng đồng người Hoa mang đến Nam Bộ (Huỳnh Ngọc Trảng 2021, tr.45) Nhưng việc phối thờ như vậy đã được Việt hóa nên đã trở thành loại hình tín ngưỡng của cư dân người Việt Nam Bộ và vùng Cù Lao Phố nói riêng Thần Tài được thể hiện trong hình tướng của một cụ già, đội mão, râu dài, râu tóc đều bạc phơi, Thần Tài được hiểu là người giữ tiền tài của gia đình, xem như vị thần

có chức năng tính toán, giữ tiền, trong khi ông Địa là mang may mắn, tiền của đến cho gia chủ Nghiên cứu thực địa của chúng tôi cho thấy người dân tin rằng ông Địa mới là vị thần mang tài lộc, may mắn cho gia chủ, còn thần Tài được tin

là vị thần phụ trợ cho ông Địa Hầu hết người có thờ ông Địa đều cho rằng ông Địa là người mang tài lộc may mắn trong kinh doanh cho gia chủ nhưng tính tình ông vô tư, vô lo, vì vậy mà ông không thể giữ tiền bạc cho gia chủ được vì ông không biết tính toán thiệt hơn Ông mang đến cho gia chủ nhiều tiền của nhưng ông không giữ lại cho gia chủ thứ gì, do vậy mà phải thờ thần Tài chung với ông,

hỗ trợ ông Địa giữ lại tiền của cho gia chủ Tín ngưỡng ông Địa của cư dân Cù Lao Phố cũng giống các vùng khác ở Nam Bộ, người ta cho phép đánh cắp ông Địa về nhà mình để thờ Ông Địa là vị thần duy nhất trong tín ngưỡng dân gian

Trang 40

Nam Bộ cho phép đánh cắp về thờ mà không bị thần linh trừng phạt tội ăn cắp

Cư dân Cù Lao Phố cho rằng ông Địa thể hiện đúng bản chất con người Nam Bộ, tính tình hòa nhã, vô tư, không quan tâm nhiều đến sự đời Ai thờ cúng ông thì ông ở lại với người đó, chứ không bắt tội ăn cắp tượng của người dân Từ tín ngưỡng ăn cắp ông Địa về thờ làm cho các hộ kinh doanh thuận lợi ở Cù Lao Phố thường phải giấu ông Địa rất kỹ hoặc làm hàng rào sắt xung quanh bàn thờ ông Địa, do sợ người khác đánh cắp ông Địa về thờ thì may mắn của gia đình họ sẽ bị ông Địa chuyển sang gia đình khác

Ngày xưa, dân gian thờ thần Tài thì trong tâm có lòng kính ngưỡng đối với Trời Đất, con người là sinh mệnh nhỏ nhoi mà tạo hóa, vũ trụ thì mênh mông, cho nên phải sống làm sao cho hợp với đạo của Trời Đất, như thế mới có thể gặp may mắn, có tài lộc Thần Tài được phối thờ chung với ông Địa thường

có linh vật là Thiềm thừ đi kèm Thiềm thừ là con cóc ba chân, miệng ngậm đồng tiền vàng, ngồi đối diện với thần Tài, miệng ngậm tiền vàng hướng về thần Tài với ý nghĩa mang tiền bên ngoài vào cho thần Tài Tín ngưỡng về Thiềm thừ có điểm tương đồng với Tỳ Hưu như nó lại xuất phát từ con vật có thật là con cóc nên người dân nghĩ đây là linh vật có thật của vùng Cù Lao Phố Quan sát của chúng tôi cho thấy điểm thiên hóa cho linh vật này là Thiềm thừ là con cóc ba chân, chiếc thứ ba nằm ở phần mông Điều này đồng nghĩa với việc nó là linh vật không có hậu môn giống như Tỳ Hưu, nghĩa là của cải không mất đi vì thân thể của linh vật chỉ có đường vô mà không có đường ra Thiềm Thừ được tin là mang vàng bạc, châu báu đến cho thần Tài giữ, vì vậy mà gia chủ thờ cúng tín ngưỡng này sẽ được thịnh vượng về đời sống kinh tế Mặc dù theo truyền thuyết của người Hoa, Thiềm thừ là yêu tinh, có ý nghĩa không đẹp, nhưng theo quá trình biến đổi của lịch sử và bối cảnh của từng vùng, với sự hiện diện của người Hoa

và sự giao hoá với tộc người khác đã dần dẫn đến sự thay đổi trong nhận thức về linh vật này

Việc thờ ông Địa không có quy định rõ ràng về ngày vía và lễ vật dâng cúng Thờ ông Địa chỉ cúng khi lời khấn nguyện được hoàn thành, hoặc gia chủ cúng nải chuối xiêm, ly cà phê, gói thuốc lá mỗi buổi sáng để cầu xin ông Địa linh nghiệm, phù hộ mua may bán đắt Nói chung việc cúng kiếng cho ông Địa dựa theo đời sống của người bình dân, ăn cái gì, uống cái gì thì cúng cái đó Ông

Ngày đăng: 29/06/2023, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w