Tại đây, các nhà sử học đã đề xuất quan niệm “đừng coi tự nhiên như là sân khấu cho vở diễn của con người, mà là một diễn viên ngang hàng trong tấn kịch ấy” [26;18]; hay các nhà tâm lý h
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
NGUYỄN THỊ HẢI HẬU
TIỂU THUYẾT ĐỖ BÍCH THÚY DƯỚI GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Đà Nẵng, năm 2023
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
NGUYỄN THỊ HẢI HẬU
TIỂU THUYẾT ĐỖ BÍCH THÚY DƯỚI GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI BÍCH HẠNH
Đà Nẵng – Năm 2023
Trang 3Toi cam doan lu�n van nay hoan toan do toi nghien cuu va thµc hi�n Cac trich
do:;in va s6 li�u su d1_1ng trong lu�n van d�u duc;rc dftn ngu6n ro rang, ngu6n tu li�u c6 d<) chinh xac cao theo ph:;im vi hi�u bi�t va nghien cuu cua toi
Tac giii lu(m van
Nguyin Thj Hiii H(iu
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử đề tài nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ DẤU ẤN SINH THÁI TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ BÍCH THÚY 7
1.1 Giới thuyết chung về phê bình sinh thái 7
1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái 7
1.1.2 Lược sử phê bình sinh thái 9
1.2 Hành trình sáng tạo và cảm quan sinh thái trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy 13
1.2.1 Hành trình sáng tạo văn chương của Đỗ Bích Thúy 13
1.2.2 Cảm quan sinh thái trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy 16
Tiểu kết chương 1 18
Chương 2 SINH THÁI TỰ NHIÊN VÀ SINH THÁI NHÂN VĂN TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ BÍCH THÚY 20
2.1 Sinh thái tự nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy 20
2.1.1 Mối quan hệ gắn kết bền chặt giữa con người và tự nhiên 20
2.1.2 Tận diệt tự nhiên, chiếm đoạt không gian hoang dã 26
2.1.3 Sự trừng phạt của tự nhiên 29
2.2 Sinh thái nhân văn trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy 33
2.2.1 Sự mai một không gian văn hóa 33
2.2.2 Cái nhìn “phản lãng mạn” trong đời sống nông thôn 38
2.2.3 “Nỗi bất an đô thị” 43
Tiểu kết chương 2 47
Chương 3 DẤU ẤN SINH THÁI TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ BÍCH THÚY - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 49
3.1 Không gian sinh thái 49
3.1.1 Không gian tự nhiên gắn liền với con người miền núi 49
3.1.2 Không gian sinh thái đô thị 52
3.2 Kiểu nhân vật nếm trải khủng hoảng sinh thái 55
3.2.1 Người nông dân dưới cái nhìn sinh thái giai cấp 55
3.2.2 Con người trước làn sóng sinh thái đô thị 59
3.2.3 Thân phận người phụ nữ từ góc nhìn nữ quyền sinh thái 61
3.3 Biểu tượng nghệ thuật 67
Trang 83.3.1 Biểu tượng cây 67
3.3.2 Biểu tượng đất 71
3.3.3 Biểu tượng nước 74
Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ những năm 70 của thế kỉ XX, trước bối cảnh khủng hoảng môi trường trên toàn cầu, nhiều ngành khoa học đã thể hiện sự quan tâm trước các vấn đề sinh thái để cảnh báo con người về những hiểm họa sẽ diễn ra Tại đây, các nhà sử học đã đề xuất quan niệm “đừng coi tự nhiên như là sân khấu cho vở diễn của con người, mà là một diễn viên ngang hàng trong tấn kịch ấy” [26;18]; hay các nhà tâm lý học thì “khám phá ra sự nối kết giữa hoàn cảnh môi trường và sức khỏe tinh thần, một số liên quan đến sự xa rời hiện tại đối với tự nhiên như căn bệnh cơ bản của tâm lí và xã hội” [26;19];… Trong khi
đó, các nhà phê bình văn học được xem là “phản ứng chậm” trước những vấn đề “nóng hổi” về môi trường Mãi đến những năm 90 của thế kỷ XX, từ Mĩ mới lan rộng ra nhiều nước ở các châu lục về hoạt động gắn kết giữa văn học với môi trường thông qua các hội nghị khoa học hàng năm Từ đây, một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới mẻ
và giàu tiềm năng đã ra đời, nhằm thể hiện sự quan tâm đến các vấn đề sinh thái, nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và chỉ ra căn nguyên nguy cơ sinh thái trong các tác phẩm văn học - đó là phê bình sinh thái
Có thể thấy không chỉ riêng các ngành khoa học nhân văn như: triết học, xã hội học, tôn giáo, lịch sử,… mà văn học cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, thắt chặt “sợi dây gắn kết” giữa văn chương với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Nhiều nhà văn đã mạnh dạn bày tỏ quan điểm và thái độ trước sự khủng hoảng của môi trường sinh thái qua các tiểu thuyết, truyện ngắn của mình Ở Việt Nam, dấu ấn sinh thái được thể hiện rõ nét qua nhiều tác phẩm, điển hình như: “Thập giá giữa rừng sâu” (Nguyễn Khắc Phê), “Sông” (Nguyễn Ngọc Tư), “Chó Bi, đời lưu lạc” (Ma Văn Kháng), “Thiên đường
ảo vọng” (Nguyễn Trí), “Trăm năm còn lại” (Trần Duy Phiên), “Bóng của cây sồi” và
“Chúa đất” (Đỗ Bích Thúy),… Nhiều nhà văn đã thể hiện cái nhìn trực quan và nhạy bén về các vấn đề mang tính thời sự như hiểm họa sinh thái đã và đang diễn ra Trong
đó, sáng tác của Đỗ Bích Thúy là minh chứng về sự bản lĩnh, trách nhiệm và sự nhạy cảm trước thời cuộc
Ví Đỗ Bích Thúy như “đóa hoa ban ở đất kinh kỳ” quả thật không sai Những trang viết của nhà văn luôn ngồn ngộn chất liệu hiện thực về đời sống của những con người thuộc nhiều sắc tộc như: Mông, Tày,… Dưới con mắt quan sát tinh tế và thấu hiểu về lẽ đời, nữ văn sĩ đã dành cái nhìn đầy trìu mến với cảnh vật thiên nhiên nơi địa đầu Tổ quốc hay cái nhìn đầy cảm thương đối với số phận cơ cực của những con người trên rẻo cao bạt ngàn đá xám Hà Giang Hầu hết trong các trang văn, Đỗ Bích Thúy dành một dung lượng lớn để xây dựng nhân vật người phụ nữ xuân sắc, có một tâm hồn đẹp nhưng phải trải qua một cuộc đời đầy thăng trầm Những người đàn bà này lúc thì man mác, u buồn, lúc thì lặng lẽ, sầu thương vì những câu chuyện tình dang dở, vì lề thói lạc hậu, vì cái nghèo đeo đẳng, đè nén nhiều kiếp người
Trang 10Có thể nói, Đỗ Bích Thúy là một cây bút giàu nội lực và cần mẫn sáng tạo nghệ thuật Trong số những gương mặt văn xuôi đương đại Việt Nam, Đỗ Bích Thúy là nhà văn trẻ nhưng gây được tiếng vang lớn với nhiều tác phẩm tiêu biểu cho mảng văn xuôi sinh thái sau năm 1975 Trong đó, vấn đề sinh thái tự nhiên, sinh thái nhân văn trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy có dấu ấn rõ nét Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu các tác phẩm của nữ văn sĩ này một cách hệ thống, như đề tài: “Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ văn hóa” hay “Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy” Tuy nhiên, dựa vào lý thuyết phê bình sinh thái để “đào sâu” vào tiểu thuyết
Đỗ Bích Thúy thì chưa có luận văn, luận án nào đề cập tới Chính bởi lý do trên, chúng
tôi đã chọn đề tài: “Tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy dưới góc nhìn phê bình sinh thái”
2 Lịch sử đề tài nghiên cứu
Các tác phẩm văn xuôi viết về đề tài miền núi chiếm một vị trí quan trọng trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam Nói như Phong Lê: “văn xuôi miền núi chiếm lĩnh được một vẻ đẹp riêng không thay thế, không ai bắt chước được” Trong số các nhà văn tham gia sáng tác về đề tài dân tộc thiểu số miền núi nói chung, mảng đề tài về dân tộc miền núi phía Bắc nói riêng, Đỗ Bích Thúy đã góp một âm sắc riêng vào bản hòa ca muôn điệu này Bởi thế, thật không quá khi nói rằng: “Đỗ Bích Thúy đã tạo nên một khuôn mặt văn chương viết về Tây Bắc không lẫn với bất kì cây bút nào , là đóa hoa văn Tây Bắc trong bàng bạc sương mù tháng Ba núi non địa đầu Tổ quốc” [39]
Hơn hai mươi năm cống hiến bút lực cho văn chương Việt Nam, Đỗ Bích Thúy đã cho ra đời 5 tiểu thuyết, trong đó, có 4 tiểu thuyết viết về đề tài dân tộc miền núi Hương
vị của đất rừng Hà Giang như thấm đẫm trên từng thớ thịt và trở thành mạch nguồn tuôn trào trong hầu hết các sáng tác của nữ văn sĩ này Sự nghiệp văn học của chị được nhiều nhà phê bình gạo cội, báo giới cũng như độc giả lưu tâm và đưa ra nhiều đánh giá về tài năng và các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy Trong bài báo “Những vùng thẩm mỹ trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy”, các tác giả cho rằng: “So với các tác giả văn xuôi miền núi đương đại, Đỗ Bích Thúy đã tìm được ‘lối riêng’ và mang đến cho văn xuôi miền núi một ‘hương vị lạ’… Núi rừng trùng trùng điệp điệp bao quanh mảnh đất Hà Giang đã phủ bóng xuống trang văn Đỗ Bích Thúy Không gian đại ngàn ấy trở thành nền cảnh
để những câu chuyện về lịch sử, văn hoá, cuộc sống, con người Hà Giang được kể một cách chân thực, tinh tế và sâu sắc” [13] Nhà văn Chu Lai khi đọc các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy cũng không ít lần phải cảm thán trước ngòi bút phác họa vẻ đẹp của cảnh sắc
và tâm hồn con người miền núi Ông đã tấm tắc khen ngợi về mạch văn của Đỗ Bích Thúy trong bài viết “Cái duyên và sức gợi của hai giọng văn trẻ”: “Đọc Thuý, người ta
có cảm giác như được ăn một món ăn lạ, được sống trong một mảnh đất lạ mà ở đó tràn ngập những cái rất riêng đậm đặc chất dân gian của hương vị núi rừng, của con suối chảy ra từ khe đá lạnh, của mây trời sánh đặc như ‘một bầy trăn trắng đang quấn quyện vào nhau’, của mùi ngải đắng,…, của những trái tim con gái vật vã, cháy bùng theo tiếng khèn gọi tình dưới thung xa, của bếp lửa nhà sàn và tiếng mõ trâu gõ vào khuya khoắt,
Trang 11của những kiếp sống nhọc nhằn và con bìm bịp say thuốc, say rượu ngủ khì bên chân chủ…” [43]
Trong bài viết “Gặp hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ” trên báo Văn nghệ trẻ (số ra ngày 11/03/2011), tác giả Điệp Anh nhận xét: “Thế mạnh của Đỗ Bích Thúy là đời sống của người dân Tây Bắc, với những không gian vừa quen vừa lạ, những phong tục tập quán đặc thù khiến người đọc luôn cảm thấy tò mò và bị cuốn hút” [4] Điều này đã góp phần chứng tỏ phần nào tài năng của Đỗ Bích Thúy trong việc tái hiện không gian sinh thái miền núi Cảm nhận đó càng thuyết phục hơn nữa khi tác giả Phạm Duy Nghĩa khẳng định trong bài viết “Văn xuôi về dân tộc và miền núi từ 1986 đến nay”: “Nhà văn
nữ người Kinh viết về miền núi hiện nay rất hiếm, tiêu biểu hơn cả là Đỗ Bích Thúy ở miền Bắc, Thu Loan ở Tây Nguyên Với tiểu thuyết ‘Bóng của cây sồi’ (2005) và tập truyện ‘Tiếng đàn môi sau bờ rào đá’ (2006), ngòi bút Đỗ Bích Thúy hướng vào những hay dở, được mất ở miền núi do tác động của kinh tế thị trường, và trong cái nhìn của người viết, sự vồ vập thái quá khi tiếp nhận cái mới ở vùng cao hay quan niệm bảo thủ muốn giữ nguyên lề thói cũ đều không phải là giải pháp tích cực cho đời sống con người miền núi” [24] Đỗ Bích Thúy đã dùng cái nhìn trực diện để tái hiện không gian sinh thái, những hủ tục, lề thói cổ xưa hay sự tác động của cơn bão kinh tế thị trường đến những con người miền núi trong tiểu thuyết “Bóng của cây sồi” Với tác phẩm này, “nhà văn nữ quân đội, ‘người con của núi’ Đỗ Bích Thúy thêm một lần nữa chứng tỏ sự hiểu biết, gắn bó của mình đối với cuộc sống của những người Tày, người Dao ở vùng cực bắc Hà Giang, nơi thượng nguồn con sông Lô huyền bí ‘tiềm ẩn trong nó một sức mạnh ghê người’” [36]
Tiểu thuyết “Chúa đất” của Đỗ Bích Thúy sau khi ra mắt độc giả cũng đã nhận được nhiều quan tâm và đánh giá về tác phẩm này Tiêu biểu là bài viết “Hành trình phản tư sự thống trị nam giới trong tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy” của Nguyễn Thùy Trang Tại đây, tác giả cho rằng: “Nhà văn đã viết về ‘Chúa đất’ bằng những trải nghiệm, dấn thân của mình Qua những mảnh đời bất hạnh của các nhân vật, Đỗ Bích Thúy đã mạnh dạn khơi mở những đam mê, ẩn ức của nữ giới Những nỗi đau của bà
Cả, khát vọng hạnh phúc của Vàng Chở, hết mình với tình yêu của Sùng Pà Xính… đều rất gần với tâm tư của người phụ nữ trong thực tế Thấm đẫm ý thức nữ quyền qua từng trang viết, Đỗ Bích Thúy nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội đến đời sống tình dục, gia đình” [42] Khác với góc độ của Nguyễn Thùy Trang, nhà văn Sương Nguyệt Minh nhận xét tiểu thuyết này dưới góc độ các tuyến nhân vật Tác giả cho rằng:
“Trong ‘Chúa đất’, có những nhân vật rất ám ảnh, tác giả đã tạo ra một thế giới nhân vật với những tính cách, cá tính riêng Bà vợ cả có một tình yêu trung thành với chúa đất, nhưng cả cuộc đời không được làm một người đàn bà đúng nghĩa… một tiểu thuyết có thể coi là thành công khi có ba nhân vật thành công, đằng này “Chúa đất” giải quyết được hết tất cả các tuyến nhân vật” [21] Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý cũng đưa ra nhận xét: “Từ một truyền thuyết về chúa đất Sùng Chúa Đà, Đỗ Bích Thúy đã dựng lên một
Trang 12tiểu thuyết vô cùng sống động với những phong tục, tập quán, tính cách, diện mạo khá
rõ nét về từng nhân vật” [21]
Tác phẩm “Cánh chim kiêu hãnh” là một trong những tiểu thuyết gây được tiếng vang lớn của Đỗ Bích Thúy Bài viết “Nhà văn Đỗ Bích Thúy & 'Cánh chim kiêu hãnh': Tinh khôi đến… chói mắt”, tác giả Lãng Ma đã nhận xét: “Tiểu thuyết ‘Cánh chim kiêu hãnh’ đậm đặc vỉa tầng văn hóa Tày - Mông, xen kẽ là những trang viết thú vị về tập tục người vùng cao, về phiên chợ ở đó có những người đàn ông uống say, nằm lăn ra đất,
“đầu cắm vào gốc cây mận đang độ ra hoa trắng xóa” Với không ít đoạn văn trữ tình
mô tả những đêm trăng, sương sớm đầy quyến rũ và ám ảnh với mùi hương bạch yến, cây sổ già, cái con nước, rừng mả ở Quản Bạ, Phó Bảng, Đồng Văn…’Cánh chim kiêu hãnh’ tiếp tục mạch nguồn về đề tài dân tộc và miền núi mà nhà văn Đỗ Bích Thúy đã dày công tạo dựng nên những con người miền núi với vẻ đẹp thuần khiết và tâm hồn nhân hậu” [28] Tiểu thuyết này đã nhận được nhiều sự mến mộ của các văn nghệ sĩ Ví như nhà văn Bình Nguyên Trang từng nói: “Khi mới cầm ‘Cánh chim kiêu hãnh’ và biết
đó là một tiểu thuyết lịch sử, tôi đã có chút ngần ngại Bởi nhiều người viết dòng tác phẩm này thường quá câu nệ vào lịch sử mà quên đi chức năng văn học Nhưng khi đọc sách của Thúy, tôi đã vượt qua được định kiến cũ” [19]
Mới đây nhất, bài báo viết về đề tài “Vấn đề đô thị và thân phận người phụ nữ trong văn xuôi Đỗ Bích Thúy từ góc nhìn nữ quyền sinh thái”, tác giả Hoàng Lê Anh
Ly đã nhìn nhận trên góc độ nữ quyền sinh thái để soi chiếu mối tương quan giữa nữ giới và tự nhiên trong các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy Nhân vật nữ giới không chỉ đối mặt với những khó khăn khi tự nhiên bị tàn phá mà Đỗ Bích Thúy còn “phơi bày lớp băng chìm ẩn những bi kịch về những thân phận người phụ nữ nhược tiểu dưới sự tác động của quá trình đô thị hóa” [22;45] Lấy minh chứng từ tiểu thuyết “Bóng của cây sồi” và một số truyện ngắn khác của Đỗ Bích Thúy, tác giả Hoàng Lê Anh Ly đã cho thấy “những trang viết về miền núi của Đỗ Bích Thúy đã thấu chạm đến tư tưởng của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái khi đưa ra những cảnh báo về mặt trái những tác động của văn minh đô thị, chủ trương bảo tồn thiên tính đẹp đẽ cũng như những giá trị cốt lõi của dân tộc từ tâm thức sống hòa hợp với tự nhiên của nữ giới” [22;51]
Ngoài những bài báo đánh giá, nhận xét, hay nghiên cứu một số khía cạnh nhỏ về tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, còn có một số công trình nghiên cứu bước đầu so sánh đối chiếu với một số nhà văn khác như: Luận văn Thạc sỹ của Dương Thị Kim Thoa với
đề tài “Tiếp cận sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư từ phương diện giá trị văn học - văn hóa” (2008); luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Minh Trường về đề tài “Dân tộc miền núi phía Bắc qua tác phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Huy Thiệp” (2009); hay luận văn Thạc sỹ của tác giả Mai Thị Kim Oanh về đề tài “Dân tộc
và miền núi trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Phạm Duy Nghĩa” Bên cạnh đó, còn
có một số công trình nghiên cứu trực tiếp về các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy như: Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Hải Hà về đề tài “Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy từ góc độ
Trang 13văn hóa” (2013), hay Bùi Thị Minh Hảo với luận văn về đề tài “Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy” (2018),… Ngoài ra, ở một số luận án Tiến sĩ vận dụng hướng phê bình sinh thái để nghiên cứu các tác phẩm văn xuôi Việt Nam Trong
đó, các tác giả nhắc đến tác phẩm của Đỗ Bích Thúy để phân tích hoặc so sánh, đối chiếu, góp phần làm sáng tỏ các luận điểm đặt ra Điển hình như: luận án của Nguyễn Thùy Trang về đề tài “Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 - 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái”, luận án của Trần Thị Ánh Nguyệt với đề tài “Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái”
Nhìn chung, tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy đã được các tác giả nghiên cứu từ nhiều phương diện Mỗi tác giả góp phần khẳng định thành quả đóng góp của nữ văn sĩ này dành cho văn xuôi miền núi đương đại Tuy nhiên, tìm hiểu tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy dưới góc nhìn phê bình sinh thái vẫn chưa được đào sâu nghiên cứu Do đó, tiếp thu những nghiên cứu, đánh giá của các thế hệ đi trước, chúng tôi mong muốn tiến hành công trình nghiên cứu này để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề sinh thái trong tiểu thuyết của
Đỗ Bích Thúy
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, bao gồm:
- Tiểu thuyết “Bóng của cây sồi”,
- Tiểu thuyết “Chúa đất”,
- Tiểu thuyết “Cánh chim kiêu hãnh”
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố thể hiện dấu ấn sinh thái trong tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Bích Thúy trên các phương diện cơ bản sau: hệ sinh thái tự nhiên, con người và các hình thức nghệ thuật thể hiện dấu ấn sinh thái Từ đó, cho thấy “tiếng nói” của văn học trước các vấn đề về khủng hoảng sinh thái hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Chúng tôi tiến hành phân tích các tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy ở phương diện nội dung để khám phá dấu ấn sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn; ở phương diện nghệ thuật để phát hiện dấu ấn sinh thái trong các yếu tố như: nhân vật, điểm nhìn nghệ thuật, không gian, biểu tượng Qua quá trình phân tích, chúng tôi tổng hợp và đi đến kết luận
về những giá trị độc đáo của tác phẩm và sự đóng góp của Đỗ Bích Thúy cho nền văn xuôi đương đại Việt Nam
4.2 Phương pháp liên ngành
Phê bình sinh thái là hướng nghiên cứu liên ngành, kết hợp giữa văn học và các ngành khoa học (sinh thái học, chính trị, dân tộc học, văn hóa,…) Do đó, khi nghiên cứu một hiện tượng văn học dưới góc nhìn phê bình sinh thái, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp này để phân tích các tác phẩm, nhằm rút ra những cảnh báo về môi trường
Trang 14và ứng xử của con người với môi trường sống
4.3 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Phương pháp này giúp chúng tôi vận dụng lý thuyết thi pháp học để nhận diện dấu
ấn sinh thái trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy qua các yếu tố như: nhân vật, điểm nhìn nghệ thuật, không gian, biểu tượng
4.4 Phương pháp so sánh
Bằng cách so sánh, đối chiếu với các tác phẩm văn học khác, chúng tôi mở rộng đường biên tìm hiểu về điểm tương đồng và khác biệt về cảm quan sinh thái của các tác giả khi nhìn nhận về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Từ đó, chúng tôi có thể khẳng định vai trò của lý thuyết phê bình sinh thái trong việc thay đổi thái độ, nhận thức
và trách nhiệm của nhà văn về bảo vệ môi trường tự nhiên và ngăn chặn các nguy cơ sinh thái tiềm tàng
5 Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài “Tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy dưới góc nhìn phê bình sinh thái”, chúng tôi mong muốn đóng góp những tổng thuật liên quan đến một số nghiên cứu về
lý thuyết phê bình sinh thái Trên cơ sở đó, chúng tôi khảo sát một số tiểu thuyết của nhà văn Đỗ bích Thuý ở bình diện nội dung để có cái nhìn toàn cảnh về sinh thái tự nhiên, sinh thái nhân văn và ở bình diện nghệ thuật để cho thấy cảm quan sinh thái mà tác giả này đã xây dựng trong các tác phẩm của mình Đồng thời, minh chứng về mối liên hệ mật thiết giữa văn học với môi trường sinh thái, và cho thấy vai trò quan trọng của văn chương đối với việc cảnh tỉnh con người trước sự tàn phá và chiếm đoạt tự nhiên Thông qua luận văn này, chúng tôi hi vọng mở ra hướng tiếp cận mới về tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy ở góc nhìn phê bình sinh thái, từ đó khẳng định giá trị của các tác phẩm và sự đóng góp của Đỗ Bích thúy cho nền văn xuôi đương đại Việt Nam
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn
được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết phê bình sinh thái và dấu ấn sinh thái trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy
Chương 2: Sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy Chương 3: Dấu ấn sinh thái trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy - nhìn từ phương diện nghệ thuật
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ DẤU ẤN SINH
THÁI TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ BÍCH THÚY
1.1 Giới thuyết chung về phê bình sinh thái
1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học kỹ thuật đã tác động không nhỏ đến môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái Trước bối cảnh đó, giới học thuật hướng sự chú ý xoay quanh việc bàn luận
về thuật ngữ sinh thái học (Ecology) Từ sinh thái học (Ecology) có nguồn gốc từ tiếng
Hy Lạp, được kết hợp giữa hai danh từ là oikos (nơi ở) và logos (môn học/ nghiên cứu)
Từ đó có thể hiểu, sinh thái học là một môn học nghiên cứu về “nhà” và “nơi ở” của toàn thể sinh vật, hay nói cách khác là nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa sinh
vật với môi trường sống xung quanh Nói theo nghĩa rộng thì “sinh thái học là môn học
về tất cả các quan hệ giữa sinh vật, môi trường và các điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của chúng” Nguồn gốc ra đời thuật ngữ sinh thái học (Ecology) do nhà sinh vật học
người Đức - Ernst Haeckel lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ này trong cuốn sách “Hình
thái học sinh vật đại cương” (Generelle Morphologie der Organismen) vào năm 1866
Tại đây, ông đã định nghĩa sinh thái học là “môn học về tương quan giữa thế giới bên ngoài và các sinh vật” Ngoài ra, từ điển Oxford của Anh cũng đưa sinh thái học vào định nghĩa và thơ ca lãng mạn Anh sử dụng nó để biểu đạt tầng nghĩa sâu xa của trái đất
và “nơi ở” (okios, dwelling place) Có thể thấy, theo thời gian, sinh thái học có rất nhiều định nghĩa, nhưng chung quy lại là học thuyết nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật hay mối tương quan giữa sinh vật và nơi cư trú Mãi đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ
XX, sinh thái học phát triển mạnh mẽ, nó không chỉ thâm nhập vào lĩnh vực khoa học
tự nhiên mà còn tiến sâu vào lĩnh vực khoa học xã hội như: Văn học sinh thái (Ecoliterature), Chính trị học sinh thái (Ecological politics), Phê bình sinh thái (Ecocriticism), Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (Ecofeminism),
Nhìn nhận từ khuynh hướng phê bình văn hoá và văn học, phê bình sinh thái (Ecocriticism) tiếp thu bản chất cốt lõi của sinh thái học ứng dụng vào nghiên cứu văn học hay nói cách khác là “dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học” [27] Thuật ngữ phê bình sinh thái (Ecocriticism) được cấu thành từ tiền tố “eco” - sinh thái học và “criticism” - sự phê bình Định nghĩa về thuật ngữ này
đã có rất nhiều học giả trên thế giới đưa ra các khái niệm khác nhau Điển hình như định nghĩa của James S Hans trong công trình “(Những) giá trị của văn học (The Value(s)
of Literature)”: “Phê bình sinh thái là nghiên cứu văn học (và các ngành nghệ thuật khác)
từ bối cảnh xã hội và địa cầu Văn học không phải là một lĩnh vực tồn tại riêng và cách biệt với thế giới bên ngoài Vì vậy, nếu chúng ta nghiên cứu văn học giới hạn trong bản thân nó thì sẽ làm cản trở mối liên hệ rất quan trọng của văn học và các hệ thống khác,
Trang 16mà chính những mối liên hệ đó đã kết hợp sự biểu đạt quan niệm giá trị của chúng ta” [51;5] Hay cách lý giải về thuật ngữ phê bình sinh thái của Scott Slovic được đánh giá cao tại hội thảo khoa học liên quan đến phê bình sinh thái ở thành phố Salt Lake (Mỹ) vào năm 1994 Tại đây, ông cho rằng: “Phê bình sinh thái là chỉ hai phương diện nghiên cứu: Vừa có thể sử dụng bất kỳ một phương pháp nghệ thuật nào để nghiên cứu lối viết
tự nhiên, vừa có thể khảo sát cặn kẽ hàm nghĩa sinh thái và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong bất cứ văn bản văn học nào Điểm nóng của nghiên cứu này… phản ánh nhận thức ngày càng lớn của xã hội đương đại về tầm quan trọng và tính dễ bị tổn thương của thế giới phi nhân loại” [31]
Trong chuyên luận “Tưởng tượng về môi trường: Thoerau, lối viết tự nhiên và sự hình thành văn hoá Mỹ” (The Environmental Imagination: Thoerau, Nature Writing, and the Formation of American Culture), GS Lawrence Buell đưa ra những lý giải về phê bình sinh thái đi “từ thực tiễn của chủ nghĩa bảo vệ môi trường, tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường” [47;430] Tuy nhiên, theo cách nói của
GS Lawrence Buell thì ông đang định nghĩa về phê bình môi trường và thuyết phục các học giả kiên định với thuật ngữ phê bình sinh thái đổi sang phê bình môi trường Điều đặc biệt trong định nghĩa của GS Lawrence Buell luôn nhấn mạnh về vai trò của phê bình sinh thái và các nhà khoa học cần chú trọng đến nguy cơ sinh thái, hoạt động môi trường thay vì chỉ quan tâm đến mặt khoa học Có lẽ vì thế mà khuynh hướng tư tưởng tác giả hướng đến là đề cao chủ nghĩa môi trường, lấy môi trường làm trung tâm mà xa rời chủ nghĩa nhân loại
Khác với quan điểm của GS Lawrence Buell, nhà phê bình sinh thái đầu tiên của
Mỹ - GS Cheryll Glotfelty đã đưa ra định nghĩa về phê bình sinh thái trong lời giới thiệu cho “Tuyển tập phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong sinh thái học văn
học” rằng: “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi
trường tự nhiên… Toàn bộ phê bình sinh thái có chung một tiền đề cơ bản, đó chính là văn hoá nhân loại được gắn kết với thế giới vật chất và có ảnh hưởng qua lại với thế giới
đó Phê bình sinh thái lấy mối quan hệ qua lại giữa tự nhiên và văn hoá, đặc biệt là văn hoá sáng tạo về ngôn ngữ và văn hoá làm chủ đề Với tư cách là một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đứng một chân ở văn học, một chân ở Trái đất; với tư cách là một diễn ngôn lý thuyết, nó làm hài hoà mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại” [48;XIX] Rút ra từ định nghĩa này thì phê bình sinh thái cần “đứng một chân ở văn học” là nhìn nhận ở tính thẩm mỹ và tính nghệ thuật của tác phẩm văn học, còn
“một chân ở Trái đất” là đứng ở góc độ toàn bộ hệ thống sinh thái để nhìn nhận vấn đề Hơn hết, GS Cheryll Glotfelty còn nhấn mạnh rõ “phê bình sinh thái mang đến một phương pháp nghiên cứu văn học lấy trái đất làm trung tâm” [48;XVIII]
Trong nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới, các nhà khoa học
đề cập đến quan điểm của mình về khái niệm phê bình sinh thái Hầu hết các chuyên gia văn học trên thế giới và Việt Nam đều thừa nhận định nghĩa của GS Cheryll Glotfelty
Trang 17Còn theo tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy, các học giả Trung Quốc lại nghiên về định nghĩa của GS Vương Nặc Trên cơ sở tổng hợp các định nghĩa, trong cuốn “Rừng khô, suối cạn, biển độc và văn chương - Phê bình sinh thái”, tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy đã đề xuất như sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mĩ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” [38;157] Vì tính chất mở, đa chiều và liên ngành nên nhận được rất nhiều định nghĩa về phê bình sinh thái Dù rằng có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các nhà nghiên cứu đều đồng nhất quan điểm phê bình sinh thái được xây dựng dựa trên chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm tư tưởng triết học nền tảng, phán xét nguồn gốc văn hoá tư tưởng của nguy cơ sinh thái và lấy thẩm mỹ sinh thái làm nguyên tắc chỉ đạo Đây cũng chính là quan điểm của chúng tôi trong luận văn này
1.1.2 Lược sử phê bình sinh thái
Hiện nay, phê bình sinh thái đã trở thành xu hướng nghiên cứu liên ngành và ngày càng mở rộng Từ khi ra đời đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu, phê bình có liên quan đến lý thuyết và ứng dụng phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học Nhìn nhận về quá trình hoạt động và phát triển, chúng tôi phân chia phê bình sinh thái thành
ba giai đoạn: Giai đoạn manh nha (từ năm 1972 đến 1991), giai đoạn phát triển (từ năm
1992 đến 2004), giai đoạn củng cố hoàn thiện và mở rộng (từ năm 2005 đến nay)
Giai đoạn manh nha (1972-1991)
Mặc dù phê bình sinh thái đã manh nha từ trước, nhưng mãi đến năm 1972 của thế
kỷ XX, W.Meeker xuất bản cuốn sách “Hài kịch của sinh tồn: nghiên cứu sinh thái học văn học” (The Comedy of Survival: Studies in Literary Ecology) thì các nhà nghiên cứu mới bắt đầu để tâm đến mối quan hệ giữa văn hoá, văn học và môi trường Trong cuốn sách, tác giả đặc biệt chú ý đến vấn đề sinh thái trong văn học Ông soi chiếu qua một
số sáng tác của Dante Alighieri, William Shakespeare, hay soi chiếu kịch Hi Lạp cổ đại, kịch của William Shakespeare Qua đó, ông đưa ra đề xuất rằng: “Con người đang là những sinh vật thuộc về văn học duy nhất trên trái đất Nếu sự sáng tạo văn học là một đặc điểm quan trọng của loài người, nó cần được kiểm tra một cách cẩn thận và trung thực để khám phá ảnh hưởng của nó đối với hành vi của con người và môi trường tự nhiên – để xác định vai trò gì, nếu có, nó đóng vai trò trong sự bảo vệ và sự tồn tại của nhân loại, và những gì nó cho thấy một cái nhìn sâu sắc vào các mối quan hệ của con người với các loài khác và với thế giới xung quanh chúng ta” [52;3-4]
Trên cơ sở này, năm 1978, thuật ngữ “phê bình sinh thái” (Ecocriticism) lần đầu tiên được William Rueckert sử dụng với dụng ý là sự “kết hợp văn học và sinh thái học” trong tiểu luận “Văn học và Sinh thái học: Một thử nghiệm trong Phê bình sinh thái” (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism) Tại đây, tác giả đề xuất “xây dựng được một hệ thống thi pháp sinh thái” nhằm tạo sự kết nối giữa văn học và sinh thái học trong lý luận văn học hiện đại
Trang 18Đến năm 1985, khi Frederick O Waage xuất bản cuốn “Giảng dạy văn học môi trường: Tài liệu, Phương pháp và Tiềm năng” (Teaching Environmental Literature: Materials, Methods, Resources) thì lý thuyết phê bình sinh thái học mới được nhắc đến mạnh mẽ Cuốn sách này đã gợi ý cho các nhà nghiên cứu ở Mĩ mở rộng các môn học liên quan đến văn học sinh thái và tìm hiểu nghiên cứu về lĩnh vực này nhằm “thúc đẩy mọi người tăng cường quan hệ và hiểu biết sâu hơn về vấn đề môi trường trong văn học” [56]
Năm 1989, trong Đại hội “Hội văn học miền Tây” nước Mỹ năm 1989, học giả Cheryll Glotfelty công bố báo cáo “Vì một nền phê bình văn học sinh thái” (Toward an Ecological literary criticism) và học giả Glen A Love công bố báo cáo “Định giá lại tự nhiên: Vì một nền phê bình sinh thái học” (Revaluing Nature: Toward an ecological criticism) Thông qua hai báo cáo trên, các tác giả một lần nữa làm “sống dậy” lý thuyết phê bình sinh thái và khẳng định tính thiết thực của học thuyết này trong văn học Năm 1990, cuốn sách dày hơn 1000 trang - “The Norton: Cuốn sách của lối viết
tự nhiên (The Norton: book of nature writing)” của tác giả Robert Finch và John Elder
đã giới thiệu những tác phẩm viết về tự nhiên của các nhà văn Âu Mĩ từ cuối thế kỉ XVIII Cuốn sách này là nguồn tư liệu quý, góp phần mở mang sự hiểu biết cho người nghiên cứu về phê bình sinh thái
Năm 1991, các công trình nghiên cứu về “lối viết tự nhiên” và văn học viết về môi trường đã quy tụ tại hội thảo “Phê bình sinh thái: Xanh hóa nghiên cứu văn học” (Ecocriticism: The Greening of Literary Studies) do Harold Fromm chủ trì Cũng trong năm này, cuốn sách đánh dấu bước khởi đầu của phê bình sinh thái ở Anh có tựa đề
“Sinh thái học lãng mạn: Wordsworth và truyền thống môi trường” (Romantic Ecology: Wordsworth and the Environmental Tradition) của tác giả Jonathan Bate
Ở giai đoạn này, những nghiên cứu về văn học và môi trường ngày càng được quan tâm và chú ý nhiều hơn Dựa trên hướng tiếp cận liên ngành, các nhà nghiên cứu đã phát triển lý thuyết phê bình về phương diện sinh thái, nhưng các nghiên cứu còn xuất hiện đơn lẻ dưới những tên gọi khác nhau như: sinh thái học nhân văn, chủ nghĩa đồng quê, nghiên cứu liên ngành (interdisciplinary studies), chủ nghĩa địa phương (regionalism),…
Do đó, trong hai mươi năm đầu, phê bình sinh thái chỉ mới bắt đầu manh nha
Giai đoạn phát triển (từ năm 1992 đến 2004)
Phê bình sinh thái khởi nguồn ở Hoa kì và bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào những năm 90 của thế kỷ XX Đặc biệt vào năm 1992, cột mốc quan trọng tạo nên bước chuyển mình của phê bình sinh thái khi Hội nghiên cứu văn học và môi trường (The Association for the Study of literature and Environment), gọi tắt là ASLE được thành lập ở trường đại học Nevada (Mĩ) Đây là tổ chức học thuật phê bình sinh thái mang tầm quốc tế, thường xuất bản các tập san, hay tổ chức các hội thảo quốc tế, giới thiệu các thành quả phê bình sinh thái mới nhất
Năm 1993, một tạp chí mới ra đời có tên Tạp chí Nghiên cứu liên ngành Văn học
Trang 19và Môi trường (Interdisciplinary studies in literature and environment) gọi tắt là ISLE Với số lượng hàng trăm trang mỗi số, tạp chí có vai trò quan trọng trong học thuật khi tìm hiểu về lĩnh vực phê bình sinh thái Cũng trong năm đó, tác giả Kent C Ryden đã xuất bản cuốn sách “Bản đồ cảnh quan vô hình: Văn học dân gian, Văn học viết và Ý thức nơi chốn” (Mapping the Invisible Landscape: Folklore, Writing and the Sense of Place) Tại đây, Kent C Ryden đã phát hiện quan trọng trong lĩnh vực phê bình khi tìm
ra mối quan hệ biện chứng giữa vùng địa phương và sự thể hiện địa phương đó trong văn học
Năm 1994, Karl Kroeber biên soạn chuyên luận “Phê bình văn học sinh thái: tưởng tượng lãng mạn và Sinh học tư duy” (Ecological literary criticism: romantic imagining and the Biology of mind) Trong chuyên luận, tác giả đã bàn về nguyên nhân hình thành, đặc trưng và mục đích của phê bình sinh thái Năm 1995, Lawence Buell xuất bản chuyên luận “Tưởng tượng về môi trường: Thoreau, văn viết tự nhiên và sự hình thành của văn hóa Mĩ” (The Environmental Imagination: Thoreau, Nature Writing, and the Formation of American Culture) Tác giả đã nghiên cứu tác phẩm “Walden” của nhà văn Thoreau, từ đó đưa ra đề xuất về vai trò của văn học đối với môi trường
Năm 1996, cuốn “Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học” (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology) do Cheryll Glotfelty và Harold Fromm chủ biên Tác phẩm này cung cấp tổng quan từ khái niệm, nguồn gốc hình thành, quy mô phát triển và diễn giải về vai trò phê bình sinh thái quan trọng đối với nghiên cứu văn học ngày nay Cuốn sách này là công trình nghiên cứu đầu tiên về một lĩnh vực có sự tham gia đầy đủ của các ngành khoa học xã hội và
nó có thể xem là tài liệu nhập môn của phê bình sinh thái
Năm 1999, nhà nghiên cứu Michael Bennett và David W Teague đã ra mắt công trình nghiên cứu chuyên sâu về phê bình sinh thái đô thị có tên “Bản chất của các thành phố: Phê bình sinh thái và Môi trường đô thị” (The Nature of Cities: Ecocriticism and Urban Environments) Hai tác giả đã đề cập đến sự tương tác giữa văn hoá và văn học
ở chốn thị thành và ngoại ô cũng rất đa dạng, không kém gì vùng nông thôn Từ đó, các nhà nghiên cứu gửi gắm thông điệp đưa tầng lớp thị dân về đúng vị trí của họ trong việc giữ cân bằng môi sinh
Bước sang thế kỷ XXI, phê bình sinh thái ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng Hàng loạt các công trình nghiên cứu ra đời, khiến phê bình sinh thái trở thành hiện tượng
lí luận phê bình văn học – văn hóa toàn cầu Nhiều công trình phê bình sinh thái được công bố trong năm 2000 như: Cuốn “Chủ nghĩa môi trường trong văn học Mĩ” (American literary environmentalism) của David Mazel; “Bài ca trái đất” (The song of the earth) của Jonathan Bate; “Ý thức nơi chốn của Thoreau: Những tiểu luận về văn học môi trường Mĩ” (Thoreau's sense of pace: Essays in American environmental writing) của Richard J Schneider; “Tính đa ngành trong nghiên cứu văn học viết về tự nhiên” (Father afield in the study of nature – oriented literature) - của Patrick D
Trang 20Murphy;… Cũng trong giai đoạn này, một số giáo trình lý luận đã đề cập tường tận về phê bình sinh thái như: “Giới thiệu Phê bình đầu thế kỉ XXI” (Introducing Criticism at the Twenty-First Century) do Julian Wolfreys biên tập, giáo trình “Nhập môn lí thuyết: dẫn luận lí luận văn học và văn hóa” (Beginning Theory: An Introduction to Literary and Cultural Theory),… Sự ra đời của các công trình nghiên cứu đã minh chứng về tiềm năng phát triển của phê bình sinh thái trong tương lai
Giai đoạn củng cố hoàn thiện và mở rộng (2005 đến nay)
Năm 2008, cuốn sách “Đi xa để suy nghĩ: Nhập thế, xuất thế và trách nhiệm của phê bình sinh thái” (Going Away to Think: Engagement, Retreat, and Ecocritical Responsibility) do Scott Slovic xuất bản đã minh chứng về tầm quan trọng của phê bình sinh thái trong đời sống xã hội Thông qua cuốn sách, tác giả đề xuất vai trò của nhà phê bình sinh thái cần tham gia vào việc hưởng thụ tự nhiên nhưng song hành với đó là bảo
vệ và nuôi dưỡng tự nhiên Cuốn sách này không đơn thuần chỉ là học thuật, mà còn khai mở cho việc nghiên cứu phê bình sinh thái từ góc độ trải nghiệm của nhà nghiên cứu
Năm 2011, tác phẩm “Tinh thần phê bình sinh thái: Văn học, sự phức tạp của tiến hóa và Jung” (The Ecocritical Psyche: Literature, Evolutionary Complexity and Jung)
là bước đột phá của phê bình sinh thái do giáo sư Susan Rowland dành nhiều tâm huyết
để viết Đây là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu phê bình sinh thái dựa trên sự kết hợp liên ngành với lí thuyết tiến hóa của Shakespeare và Jane Austen, với tâm lý học của Jung Năm 2013, tại cột mốc kỉ niệm hai mươi năm thành lập Hiệp hội nghiên cứu về Văn học và Môi trường (ASLE), cuốn “Sổ tay Oxford về Phê bình sinh thái” (The Oxford handbook of Ecocriticism) do Greg Garrard biên tập đã được xuất bản Điểm nổi bật của công trình này là tập hợp tất cả các bài nghiên cứu xoay quanh lý thuyết phê bình sinh thái của các tác giả như: Sigmund Freud, David Harvey, Gaston Bachelard, Roland Barthes, Ferdinand de Saussure, Raymond Williams, Wolfgang Iser, Fredric Jameson,… Cuốn sách này đã đánh dấu giai đoạn phát triển vượt trội của phong trào phê bình sinh thái
Năm 2014, các nhà lý luận hàng đầu về văn hoá và môi trường ở các nước từ Nam
Á đến Mĩ Latin đã có sự đóng góp không hề nhỏ trong cuốn sách “Mơ hồ sinh thái, Cộng đồng và Phát triển: Hướng tới một Phê bình sinh thái Chính trị” (Ecoambiguity, Community, and Development: Toward a Politicized Ecocriticism) do Scott Sloviic, S Rangarajan và V Sarveswaran biên tập Mười hai chương trong cuốn sách có sự liên kết mật thiết để cùng làm sáng tỏ mối tương quan giữa vấn đề nhân quyền và sự suy thoái của tự nhiên
Từ các công trình nghiên cứu về phê bình sinh thái mà chúng tôi đã tiếp cận, có thể thấy rằng đây là vấn đề khiến cho không ít các nhà nghiên cứu văn hoá, văn học trên khắp thế giới quan tâm Khởi nguồn ở Anh và Mĩ, lý thuyết phê bình sinh thái càng trở nên hấp dẫn và mở rộng nghiên cứu ra toàn cầu Qua nhiều giai đoạn từ manh nha hình
Trang 21thành đến giai đoạn phát triển bùng nổ và đang dần định hình hoàn thiện hơn, phê bình sinh thái đã có những bước chuyển hướng mới mẻ trong nghiên cứu, mở rộng liên kết với các vấn đề về giai cấp, giới, chủng tộc, và hơn hết là nhấn mạnh đến góc nhìn liên văn hoá,… Từ đó cho thấy, tương lai của phê bình sinh thái là một hướng nghiên cứu phát triển mang tính toàn cầu hoá
1.2 Hành trình sáng tạo và cảm quan sinh thái trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy
1.2.1 Hành trình sáng tạo văn chương của Đỗ Bích Thúy
Người được mệnh danh là “nàng thơ” ở mảnh đất kinh kỳ, không ai khác chính là nhà văn Đỗ Bích Thúy Người nghệ sĩ này sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Vị Xuyên - một huyện xa xôi ở Hà Giang Tuy nhiên bố Đỗ Bích Thuý là người Nam Định, làm nhiệm vụ lái xe, kéo pháo ở Điện Biên Phủ Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, ông chuyển sang nghề lái xe chở gỗ cho các lâm trường Và rồi, cả gia đình di cư từ huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định đến với vùng cao nguyên đá Hà Giang để lập nghiệp Sự thay đổi tình cờ nhưng đã trở thành cầu nối dẫn dắt Đỗ Bích Thúy bén duyên với làng văn Việt Nam
Gắn bó máu thịt với mảnh đất Hà Giang, Đỗ Bích Thúy am hiểu tường tận những nét văn hóa đặc sắc, phong tục tập quán mang đặc trưng riêng của đồng bào dân tộc thiểu số Những nương ngô, những đồi hoa tam giác mạch trải dài, những núi đá sừng sững, hay vẻ đẹp chất phác, mộc mạc của đồng bào người Mông, người Tày cùng những tập tục độc đáo được tái hiện trên các trang viết của Đỗ Bích Thúy từ khi cô bắt đầu chạm ngõ làng văn Nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn từng nhận xét: “Nhờ đắm mình trong đời sống, hiểu cặn kẽ mọi ngóc ngách từ cảnh sắc, phong tục, tập quán, đến đời sống tính cách, tâm hồn và văn hóa của người dân vùng cao, với con mắt của người dưới xuôi, Đỗ Bích Thúy phát hiện được nhiều vẻ đẹp mà có khi chính
người vùng cao không nhìn ra được ” [6] Người đọc sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi nhà
văn viết về phong tục tập quán vùng cao nhưng không đơn thuần là yếu tố kiến tạo nên đặc trưng văn hóa mà còn là yếu tố tác động đến đời sống tinh thần và ảnh hưởng đến
số phận nhân vật trong các tác phẩm Tại đây, độc giả có thêm góc nhìn đa chiều về hiện thực cuộc sống miền núi ngày nay Và chính điều này cũng đã tạo nên màu sắc riêng biệt trong văn xuôi Đỗ Bích Thúy
Đỗ Bích Thúy bày tỏ cơ duyên khi tiếp cận đúng với đề tài sở trường của mình:
“Hạnh phúc nhất đối với một người cầm bút là được cày xới trên thửa ruộng rất ít người
đã bước qua Chọn viết về đề tài miền núi là may mắn trời cho Và tôi đã chọn đúng ngay từ đầu Tôi không phiêu lưu và mất thời gian vào những đề tài khác mà có thể chẳng có thành quả” [2]] Có lẽ chính vì mối thâm tình giữa cô với mảnh đất ruột thịt
Hà Giang đã trở thành mạch nguồn cảm xúc để Đỗ Bích Thúy tiếp cận và phản ánh hiện thực cuộc sống cũng như số phận con người nơi rẻo cao xa thẳm vời vợi Mảng đề tài miền núi tuy không mới mẻ nhưng đây là vùng văn hóa màu mỡ để cô phát triển thuận lợi trên con đường văn chương Nếu không bắt đầu từ Hà Giang - quê hương thứ hai đã
Trang 22bảo bọc tuổi thơ và nuôi nấng cô trưởng thành thì sẽ khó có một Đỗ Bích Thúy với bút lực dồi dào như dòng sông Nho Quế chảy mãi không cạn
Nữ văn sĩ này từng theo học ngành Tài chính Kế toán sau đó về Hà Giang làm việc Đầu tiên là làm ở Hội Văn nghệ tỉnh rồi chuyển qua làm phóng viên của Báo Hà Giang Những tưởng Đỗ Bích Thúy sẽ an phận với nghề báo nhưng rồi tình yêu văn chương đã thôi thúc cô rẽ hướng, tìm đến với mảng văn xuôi Việt Nam hiện đại Từ vốn sống phong phú cùng sức viết bền bỉ và sự nỗ lực sáng tạo không ngừng nghỉ, Đỗ Bích Thúy đã “thai nghén” nên nhiều tác phẩm ấn tượng Cột mốc đánh dấu cho sự khởi đầu
sự nghiệp văn chương của mình bắt nguồn từ cuộc thi truyện ngắn trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1988 - 1989 với chùm truyện ngắn “Sau những mùa trăng” - “Ngải đắng
ở trên núi” - “Đêm cá nổi” giành giải Nhất chung cuộc Cô sở hữu gia tài đồ sộ với 23 đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, tản văn Ở mỗi thể loại, Đỗ Bích Thuý gặt hái được nhiều thành công nhất định, trong đó, tiêu biểu là truyện ngắn và tiểu thuyết đã giúp tác giả khẳng định tên tuổi và phong cách nghệ thuật trong làng văn học đương đại Việt Nam Một số tác phẩm truyện được chuyển thể thành phim gây được tiếng vang lớn như: “Lặng yên dưới vực sâu”, “Người yêu ơi”,
“Chúa đất”, hay truyện ngắn “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá” chuyển thể thành phim
“Chuyện của Pao”
Ở thể loại tiểu thuyết, ngòi bút của Đỗ Bích Thúy đã dẫn dắt người đọc về với không gian núi rừng thiên nhiên, cao nguyên đá sừng sững cùng lối viết giản dị, giàu cảm xúc Cô đã cho ra mắt 6 tiểu thuyết ghi dấu sự trưởng thành trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Đầu tiên là tiểu thuyết “Bóng của cây sồi” (2005) kể về cuộc sống, phong tục tập quán và những trăn trở, giằng xé của người Dao, người Tày Những trang viết của Đỗ Bích Thuý luôn ngồn ngộn chất liệu hiện thực về đời sống của những con người thuộc nhiều sắc tộc Và tiểu thuyết này là một điển hình về một Lao Chải đang trên đà rũ bỏ ràng buộc của lề thói cũ, mang đến một màu sắc mới, một ánh sáng văn minh, tiên tiến hơn cho người dân bản làng Đến năm 2013, Đỗ Bích Thúy xuất bản tiểu thuyết “Cánh chim kiêu hãnh” - cuốn sách đầu tiên của cô về lịch sử Lý giải về điều này, cô cho biết: “Từ khi cầm bút đến nay tôi hầu như viết về một Hà Giang với những đặc sắc về văn hóa, chưa đề cập đến lịch sử, đặc biệt là giai đoạn chống Pháp, chống Nhật, tiễu phỉ Đây là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử của Hà Giang Nếu
bỏ qua nó, thì tức là tôi mới chỉ lướt đi được trên bề mặt của dòng sông mà bỏ qua những gập ghềnh dưới đáy sông Đó chính là lý do mà tôi buộc phải viết về nó” [40] Bối cảnh tiểu thuyết là những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và nhân vật chính là Mai - điển hình của mẫu phụ nữ vùng cao mang vẻ đẹp thuần khiết, đôn hậu, luôn sống
vì người khác Ở đó là Mai, là Chúng, là Sinh, là hiện thân của số phận những con người miền núi bị o ép, áp bức dưới chế độ thực dân phong kiến nhưng họ luôn luôn đặt trọn niềm tin vào cách mạng, vào Đảng Không dừng chân mãi ở mảnh đất Hà Giang,
cô hướng ngòi bút của mình về với Hà Nội qua tiểu thuyết “Cửa hiệu giặt là” Bằng sự
Trang 23quan sát tinh tế, giàu trực cảm, nhà văn đã ghi lại những lát cắt về cuộc sống Hà thành của những người dân nơi góc phố nhỏ Tác phẩm được xem là bức tranh xã hội Việt Nam thu nhỏ thời kỳ đô thị hóa, ở đó, tất cả mọi người đều bình đẳng, không phân biệt tuổi tác, địa vị, tầng lớp mà những con người ấy sống với nhau bằng sự chia sẻ và cảm thông
Tiểu thuyết gây được tiếng vang lớn trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy phải kể đến “Chúa đất” (2015) và “Lặng yên dưới vực sâu” (2017) Tác phẩm “Chúa đất” lấy cảm hứng từ truyền thuyết về chúa đất Sùng Chúa Đà và cây cột đá hành hình
ở vùng Đường Thượng (Hà Giang) Tác giả đã xoáy sâu vào câu chuyện về một chúa đất bạo tàn, hung ác, nắm quyền sinh sát và phải rơi vào bi kịch “không thể làm đàn ông” Tiểu thuyết này được tạo nên bởi những mảnh ghép sinh động về cảnh sắc thiên nhiên, phong tục tập quán và hơn hết là thân phận người, đặc biệt là những người phụ
nữ Mông đằng sau hàng rào dinh thự Bên cạnh đó, tiểu thuyết “Lặng yên dưới vực sâu” cũng để lại ấn tượng sâu sắc với bạn đọc về câu chuyện tình giữa những chàng trai, cô gái Mông trên mảnh đất U Khố Sủ Đỗ Bích Thúy xây dựng mâu thuẫn truyện dựa trên tục lệ bắt vợ của người miền cao Súa, Chía, Vừ, Phống, Xí đều mang những nét tính cách riêng nhưng chính họ lại rơi vào bi kịch tình yêu và không có mối tình nào có kết quả tốt đẹp Từ câu chuyện của tiểu thuyết, Đỗ Bích Thúy càng thành công hơn nữa khi tác phẩm được chuyển thể thành phim truyền hình Nếu “Lặng yên dưới vực sâu” xoáy vào những đau đớn, tuyệt vọng của cuộc hôn nhân không hạnh phúc thì tiểu thuyết
“Người yêu ơi” (2021) mang đến một chuyện tình tay ba của Quả, Say, Sò đầy buồn bã Tiểu thuyết khép lại với cái kết mở và để lại một khoảng lặng mệnh mông cho người đọc suy tưởng
Bên cạnh thể loại tiểu thuyết, Đỗ Bích Thúy còn “trình làng” không ít các tác phẩm truyện ngắn đặc sắc Cô bước vào địa hạt văn chương với truyện ngắn “Chuỗi hạt cườm
màu xám” in trên báo Tiền Phong năm 1994 và đạt giải thưởng Tác phẩm tuổi xanh Chỉ
ít lâu sau, tên tuổi Đỗ Bích Thúy càng ghi danh đậm nét ở mảng văn xuôi miền núi khi đạt giải Nhất cuộc thi sáng tác truyện ngắn do tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức với các tác phẩm: “Đêm cá nổi”, “Sau những mùa trăng”, “Ngải đắng ở trên núi” Ngoài ra,
Đỗ Bích Thúy còn ra mắt độc giả một số tập truyện ngắn tiêu biểu Điển hình như tập truyện “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá” (2005) với 21 truyện ngắn đặc sắc Các tác phẩm trong tập truyện này đều sử dụng phông nền của cảnh quan thiên nhiên Tây Bắc để làm nổi bật vẻ đẹp của tình người, tình đời Bằng bút lực dồi dào, liên tiếp những truyện ngắn được khai thác dưới khía cạnh văn hóa sắc tộc, số phận và khát vọng của những người con núi rừng Hà Giang như: tập truyện “Mèo đen” (2011) với 6 truyện ngắn và 1 truyện dài hay tập truyện “Đàn bà đẹp” (2013) với 12 truyện ngắn Ngoài truyện ngắn,
Đỗ Bích Thúy viết rất nhiều tản văn Điển hình như tập tản văn “Trên căn gác áp mái” (2011) với 31 bài viết mang phong vị quê hương Hà Giang và phác họa những suy ngẫm
về nhiều khía cạnh trong cuộc sống Hay tập “Đến độ hoa vàng” (2013) có 33 tản văn
Trang 24với những quan sát tinh tế, tỉ mỉ về hương sắc thiên nhiên, con người ở đại ngàn Tây Bắc
Nhìn chung, đề tài miền núi là mảnh đất màu mỡ nhưng không phải nhà văn nào cũng dám lựa chọn Đỗ Bích Thúy thì khác, miền quê hương rẻo cao xa vời vợi lại trở thành mạch nguồn trong hầu hết các sáng tác Đọc các truyện ngắn, tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy hiếm có một cái kết tròn chĩnh và mẫu số chung trong hầu hết tác phẩm đều mang màu sắc u buồn Bởi lẽ, tác giả quan niệm “bản thân cuộc sống không tròn trịa và văn chương là cuộc sống Sự tròn trĩnh hay khuyết thiếu trong văn chương đều nằm ở ý định chủ quan của nhà văn Tôi luôn kỳ vọng những cuốn sách của mình có sức ám ảnh đối với bạn đọc” [8 Chính điều này làm nên tên tuổi của Đỗ Bích Thúy trong làng văn học đương đại Việt Nam
1.2.2 Cảm quan sinh thái trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy
Thuật ngữ cảm quan có thể hiểu là “nhận thức, cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan” [29;139] Tuy nhiên, nhiều tác giả lại có cách định nghĩa khác về thuật ngữ này
Ví như trong bài viết “Cảm quan và cảm quan nghệ thuật”, tác giả Nguyễn Thị Tuyết lý giải rằng: “Đó là loại nhận thức đặc biệt, nhận thức không phải bằng suy lý, lôgic, bằng khái niệm mà bằng cảm giác, cảm tính hiểu theo nghĩa rất rộng, có tính trực cảm, trực giác, được phát tiết từ vô thức” [44] Có thể hiểu, cảm quan là những đánh giá chủ quan trên cơ sở nhận thức và cảm nhận của cá nhân đó Khái niệm cảm quan được sử dụng ở rất nhiều lĩnh vực như: văn học, triết học, tâm lý học, Đối với mảng văn học, khái niệm cảm quan được chuyển đổi thành cảm quan nghệ thuật và vận dụng nhuần nhuyễn vào quá trình nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học Nhiều tác giả vận dụng từ khoá
“cảm quan” khi nhìn nhận các đối tượng, như: Trần Việt Hà với bài “Cảm quan hậu hiện đại về nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà”; Chu Lai có bài “Viết bằng cảm quan
người lính”; bài viết “Cảm quan sinh thái văn hóa Tây Nguyên trong thơ Bùi Minh Vũ”
của Trần Hoài Anh; Dương Thu Hằng với bài “Cảm quan sinh thái trong tiểu thuyết Hồ Thủy Giang nhìn từ tác phẩm ‘Mắt rừng’ và ‘Phố núi’”, Điều này cho thấy khái niệm cảm quan nghệ thuật chú trọng vào sự đánh giá chủ quan của nhà nghiên cứu về một mảng hiện thực đời sống, phương diện nghệ thuật hay khuynh hướng sáng tác, được
đề cập trong tác phẩm Điển hình như khuynh hướng văn học sinh thái, cụ thể là ở khía cạnh cảm quan sinh thái Cảm quan sinh thái luôn gắn liền với cách cảm nhận, đánh giá chủ quan của nhà văn về các vấn đề sinh thái môi trường, sau đó bộc lộ thành quan điểm sáng tác riêng được thể hiện thông qua các sáng tạo nghệ thuật của chính họ
Cảm quan sinh thái trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thuý biểu hiện qua cái nhìn về sinh thái tự nhiên và không gian sinh tồn Hầu như các tiểu thuyết của nữ văn sĩ đều mang hơi thở của mảnh đất Hà Giang nguyên sơ và trong trẻo Bởi lẽ cây bút giàu nội lực này có mối tương quan mật thiết với thung lũng ở “cây số 7 Vị Xuyên” Nơi đây chính là quê hương thứ hai đã nuôi dưỡng tâm hồn và trí tuệ nhà văn từ thuở thơ bé đến khi trưởng thành Gắn bó máu thịt với “người đồng mình”, cô không chỉ hít thở chung
Trang 25bầu khí quyển trong lành, uống chung dòng nước mát lạnh từ mạch nguồn thượng lưu, cùng nhau sinh hoạt bên những kênh rạch chảy từ sông Lô, sông Nho Quế, mà còn tắm mình trong hai vùng văn hoá Mông - Tày, thấm nhuần những phong tục tập quán đặc sắc Không những thế, năm năm làm việc ở toà soạn báo Hà Giang, Đỗ Bích Thuý đã đặt chân đến nhiều bản làng heo hút hay vùng biên giới xa xôi, hẻo lánh, được trải nghiệm cuộc sống và hơn hết là thấu hiểu cảnh đời của người dân bản Tất cả những điều đó đã làm nên một góc nhìn riêng, cảm nhận riêng của Đỗ Bích Thuý về cảnh quan thiên nhiên và môi trường sống gắn liền với người dân bản khi sáng tác các tác phẩm văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng
Đầu tiên, cảm quan sinh thái về tự nhiên bắt nguồn từ lý thuyết phê bình sinh thái khi dịch chuyển điểm nhìn từ “con người làm trung tâm” sang “trái đất làm trung tâm” Lúc này, con người cần xác nhận quan hệ với tự nhiên, không còn là chủ, là trung tâm
mà thay vào đó là mối quan hệ cộng sinh - con người hoà hợp với tự nhiên Như trong tiểu thuyết “Bóng của cây sồi”, con người gắn bó với tự nhiên, nương tựa vào tự nhiên
để sinh tồn Biết bao người Tày, người Dao sinh sống giữa không gian núi rừng, cùng tắm táp từ nước đầu nguồn sông Lô, cùng ăn hạt ngô, hạt gạo, củ sắn của đất Lao Chải, thậm chí còn sống trong bóng mát của những cây sồi Dòng sông Lô trong trang văn của
Đỗ Bích Thuý hiện lên với không gian rợn ngợp, mênh mông cùng những đường lượn uốn quanh Dòng sông này miệt mài chảy hàng ngàn năm giữa bạt ngàn núi đá Nó không chỉ đơn thuần là dòng chảy tự nhiên để cung cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu, trồng trọt của người dân mà nó còn hiện lên như một dòng thiêng mà người Lao Chải luôn tôn thờ Những người đàn ông vùng cao từ khi là một đứa trẻ đã phải ném xuống dòng chảy xiết biết bao lần để cứng cáp và khoẻ mạnh như con trăn trên rừng hay con cá nheo dưới nước Không những thế, mỗi con người sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Lao Chải đều gắn liền với những cây sồi Con người khoẻ mạnh thì cây sồi xanh tốt, con người già yếu, chết đi thì cây sồi cũng rụng lá, gãy cành Có thể thấy, tự nhiên như máu chảy trong huyết quản của con người ở mảnh đất ấy
Bên cạnh đó, văn xuôi sinh thái sau 1986 không còn nhìn nhận tự nhiên như là nền cảnh, là cái cớ mà chúng như một cá thể riêng biệt, có sinh mệnh độc lập, có cá tính, có
số phận và biết lắng nghe tâm hồn Chính vì vậy khi viết về loài vật, nhiều nhà văn đã
“nhìn đời sống qua con mắt của chính loài vật, như bản chất tự nhiên, hoang dã của nó, bên ngoài mọi tình cảm cao thượng, trong sáng của con người; ngoài cả những ý định
áp chế của con người” [26] Và Đỗ Bích Thuý cũng không ngoại lệ, cô lắng nghe tiếng nói tự nhiên bằng giác quan nhạy bén của mình và thấu hiểu tâm tư, tình cảm của loài vật bằng cả tấm lòng Như trong tiểu thuyết “Chúa đất”, Sùng Cắt và con chó vàng là hai “cận vệ” trung tín của Chúa Đất và bà Cả, đều mang nét tính cách riêng, số phận riêng Nếu như Sùng Cắt từ bỏ bầu trời để trở thành cái bóng của Sùng Chúa Đà thì con vàng đã từ bỏ tiếng gọi của đồng loại để phụng sự cho bà Cả Sùng Cắt yêu thích cái đẹp, nhất là đàn bà đẹp và ghét con chó vàng của bà Cả Sùng Cắt có cá tính riêng nhưng
Trang 26nó cũng là một con chim giàu tình cảm Nó thấu hiểu được sự ra đi của bà Cả là mãi mãi nên đã “bay theo bà Cả ra tận bờ sông, lượn mấy vòng như từ biệt” Hay khi đứng trước cái chết, Sùng Cắt điên cuồng lao vào ngọn lửa đang cháy ngùn ngụt để tìm mọi cách cứu Chúa Đất Và chẳng thể nào khác, nó sẵn sàng chết trong đống lửa cùng Sùng Chúa
Đà mà không hề oán thán hay ân hận Con chó vàng của bà Cả cũng không phải ngoại
lệ Hình ảnh chó vàng như một con người, với cái lưng ấm áp, “lúc nào cũng thật vững chãi, đề bà tựa vào” Thậm chí, nó còn cảm nhận được nỗi đau xé lòng, phải “ngửa cổ tru lên” khi chứng kiến bà Cả gieo mình Còn đó là con chó của Chúng trong “Cánh chim kiêu hãnh” hay con ngỗng của Mai trong tiểu thuyết “Bóng của cây sồi”, chúng đều có một sinh mệnh riêng, đều trung thành, quấn quýt và thấu hiểu tâm tư tình cảm của chủ
Thứ hai, cảm quan sinh thái về môi trường sống xuất phát từ quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và kéo theo đó là vô vàn hệ luỵ ảnh hưởng đến tự nhiên Đô thị hoá là quá trình tất yếu của xã hội hiện đại nhưng mặt trái của quá trình đó lại khiến con người trở nên ưu tư, day dứt Trong tiểu thuyết “Bóng của cây sồi”, quá trình đô thị hoá đang dần dần xâm lấn, ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường, tài nguyên thiên nhiên và sự cân bằng sinh thái Con người chạy theo ma lực đồng tiền, sẵn sàng bức tử những cánh rừng, san bằng những quả đồi Tài nguyên đất cứ thế bị khai thác cạn kiệt, suy giảm diện tích sông suối và cây xanh che phủ thay vào đó là con đường trải nhựa, những ngôi nhà đất lợp mái ngói đỏ, nền nhà láng xi măng Rồi dự án xây đập thuỷ lợi, người ta tính toán mua điện phục vụ cho thị trấn mới, cho các thiết bị máy móc như máy xay sát, băng nghe đài,… tất cả đã tác động lên nếp sống, nếp nghĩ của người dân Lao Chải Không phủ nhận những lợi ích của sự phát triển văn minh đô thị, nhưng sự lột xác nào cũng có cái giá phải trả Nó làm cho không gian xanh bị thu hẹp, đập thuỷ điện cắt ngang dòng suối làm vụ lúa mất mùa, nảy sinh nhiều tệ nạn, hình thành lối sống thực dụng làm rạn nứt nếp nghĩ và nét đẹp văn hoá truyền thống Thiên nhiên nuôi dưỡng, bảo bọc con người nhưng con người lại coi tự nhiên là một món hời, sẵn sàng rời bỏ tự nhiên, rời bỏ chiều sâu giá trị tinh thần của không gian sống
Nhạy cảm và lo âu trước sự bức tử tự nhiên, sự mai một của không gian văn hoá
và sự xâm lấn của cơ chế thị trường, Đỗ Bích Thuý đã bộc lộ suy tư và gửi gắm nỗi niềm thông qua các trang tiểu thuyết viết về vùng cao Hà Giang Tại đây, các tác phẩm đã phản ánh những bình diện sinh thái cơ bản như: xác lập mối quan hệ từ gắn bó hài hoà sang xung đột giữa con người với tự nhiên, kiến lập cảm quan đạo đức sinh thái, đề xuất con người phải biết lắng nghe, đồng cảm và xoa dịu những thương tổn của tự nhiên Dưới cảm quan sinh thái, những trang viết của Đỗ Bích Thuý là kết tinh cho tất thảy trăn trở về mảnh đất Hà Giang và cũng gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự tha hoá, sói mòn nhân tính ấy
Tiểu kết chương 1
Trang 27Manh nha vào những năm 70 của thế kỉ XX, đến mãi đến giữa những năm 90, phê bình sinh thái mới trở thành một khuynh hướng nghiên cứu văn học ở Mỹ, sau đó lan ra nhiều nước khác trên thế giới Phê bình sinh thái ra đời với sứ mệnh chỉ ra căn nguyên văn hoá tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Với tư tưởng “sinh thái trung tâm luận” làm nòng cốt, thẩm mĩ sinh thái làm nguyên tắc chỉ đạo cùng với đối tượng nghiên cứu riêng, phê bình sinh thái thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng gắn kết văn học với các vấn đề nhức nhối trên toàn cầu Tiếp cận lý thuyết phê bình sinh thái, chúng tôi tiến hành hệ thống lại các cơ sở lý luận về nguồn gốc tên gọi, định nghĩa, lịch sử hình thành Trên cơ sở đó, ứng dụng lý thuyết phê bình sinh thái vào nghiên cứu các tiểu thuyết của Đỗ Bích Thuý trên hai bình diện: nội dung và nghệ thuật
Trang 28Chương 2 SINH THÁI TỰ NHIÊN VÀ SINH THÁI NHÂN VĂN TRONG
TIỂU THUYẾT ĐỖ BÍCH THÚY
2.1 Sinh thái tự nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy
Phê bình sinh thái đã thay đổi điểm nhìn từ tư tưởng “con người là trung tâm” sang
tư tưởng “sinh thái trung tâm” Từ đó không ít các sáng tác văn học đã lấy “chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở tư tưởng, lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để khảo sát và biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và truy tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái” [37] Nhiều nhà văn đã vận dụng “cảm quan nhìn lại” của phê bình sinh thái để nhận thức rõ nét về mối quan hệ cộng sinh giữa con người và tự nhiên, đồng thời truy tìm nguồn gốc dẫn đến các tổn thương sinh thái
Từ góc độ sinh thái tự nhiên, người viết làm rõ tư tưởng “sinh thái trung tâm” trong các tiểu thuyết của Đỗ Bích Thuý thông qua các bình diện như: mối quan hệ gắn kết giữa con người và tự nhiên, sự chiếm đoạt không gian hoang dã và sự trừng phạt của tự nhiên
2.1.1 Mối quan hệ gắn kết bền chặt giữa con người và tự nhiên
Trong văn học trước năm 1975, tự nhiên xuất hiện với dạng thức đầu tiên là nhân cách hoá tự nhiên, thứ hai là phương tiện để biểu hiện tâm trạng, tính cách của con người Ở cả hai dạng thức này, tự nhiên chỉ tồn tại như là nền cảnh để nói về con người
và mấu chốt là lấy con người làm trung tâm để biểu hiện, đánh giá về tự nhiên Tuy nhiên, văn xuôi sau 1986 đã có sự cách biệt về điểm nhìn và thay đổi quan niệm về tự nhiên Trong đó, nhà văn Đỗ Bích Thuý đã nhìn nhận tự nhiên và con người trong mối quan hệ gắn bó hài hoà
Tự nhiên chính là nguồn sống để con người có thể nương tựa Trong tiểu thuyết
Đỗ Bích Thuý, con người sống chan hoà với tự nhiên, xem tự nhiên là “hơi thở”, là
“mạch sống” trong những ngày khai hoang lập địa Người dân sống trên rẻo cao bạt ngàn đá xám, họ quen với cuộc sống tự cung tự cấp và nguồn lương thực chính là ngô, lúa và sau đó là các loại cây hoa màu thích ứng với thời tiết khắc nghiệt như đậu tương, rau cải Bởi vậy, hình ảnh nương ngô cứ lặp đi lặp lại trong hầu hết các tác phẩm:
“Nương ngô cách nhà một đoạn không xa lắm Từ đây nhìn về làng có thể thấy rõ những mái nhà màu xám nấp dưới những gốc cây cổ thụ Mai buộc lại xà cạp rồi len vào giữa những hốc ngô đang cần làm cỏ, vun gốc” [21;22] Những hạt ngô giống chắc mẩy gieo trồng hay những cây ngô với tàu lá xanh mơn mởn đều qua bàn tay cần mẫn đào hốc,
bỏ phân, chăm chút của những người phụ nữ Mông, Tày Sống dựa vào thiên nhiên, tiêu thụ thiên nhiên nên con người khai thác tự nhiên để sinh tồn: “Vàng đang gùi đất từ dưới thung lũng lên núi đổ vào hốc đá, giúp Xính gieo ngô Năm nay thời tiết tốt, có một ít mưa, đất ẩm, mềm, ngô sẽ lên rất nhanh Mỗi nương ngô đều chỉ được thu về một nửa, một nửa nộp cho nhà chúa đất, thế nên phải chăm thật tốt để cây ngô thật khỏe, bắp ngô thật to, nhiều hạt Không thì sẽ bị đói” [34;106] Họ không chỉ chăm chút từng cây ngô
Trang 29với mong muốn có được cuộc sống no đủ mà còn gắn bó với đất đai, sông nước để gieo trồng cây lúa Người Tày, người Dao trong tiểu thuyết “Bóng của cây sồi” từ lúc sinh
ra, lớn lên đều nhờ vào cây ngô, nhờ vào nền nông nghiệp trồng lúa nước ruộng bậc thang Hình ảnh ruộng lúa nước đi liền với cuộc đời bà Mẩy từ lúc mới về làm dâu: “Lúa
đã gặt rồi, rơm chất thành đống, ủ vào đấy đến mùa sau thổi ra, trộn lẫn với bùn là cấy được Trên mặt ruộng bắt đầu nứt thành từng rãnh nhằng nhịt chỉ còn hàng hàng gốc rạ cao chừng gang tay Bốn mươi năm về làm dâu họ Nông là bốn mươi vụ lúa bà dầm chân xuống mảnh ruộng này Ruộng gần nhà, rảnh rỗi lúc nào là đảo ra, xem nước nôi sâu bọ, nên vụ nào cũng thu được nhiều lúa nếp nhất từ chỗ này Nếp cấy gần nhà, ấm hơi người nên hạt mọng mười như một, đồ xôi, làm bánh dày trong lễ cơm mới đều lấy
ở đây” [35;171] Hình ảnh đôi vợ chồng cùng nhau cày cấy trên mảnh ruộng đã trở thành một phần ký ức đẹp trong tâm trí bà: “Ông cày, bà vạc bờ, ông bừa, bà dắt đàn trâu dẫm ruộng, rồi cùng nhổ nắm mạ đầu tiên cắm xuống Bốn mươi năm là bốn mươi vụ lúa,
từ lúc cái lưng rộng như tấm phản của ông đập vào mắt bà, cho đến lúc dần dần còng xuống, bà nhớ từng vụ một Ông cũng như bà, quý mảnh ruộng này nhất, nhớ từng chỗ vẹo ở bốn góc bờ Vạc rồi lại đắp, bờ ruộng không bé đi mà mỗi năm to ra một tí Đến tháng lúa trổ bông, mùi thơm ngọt ngào ùa vào trong nhà từ nửa đêm tới sáng, ngửi mùi sữa non thao thức không ngủ được” [35;171] Gắn bó, giao hoà cùng với tự nhiên nên từng nếp sống, nếp nghĩ và nếp sinh hoạt của đồng bào vùng cao Hà Giang đều có bóng hình của tự nhiên chi phối: “Người Lao Chải mỗi ngày ngửi mùi khói quẩn lên từ những gốc cây to cháy trong bếp, mỗi ngày đều uống nước từ trong khe núi chảy ra theo máng vầu, mỗi ngày đều ăn những hạt gạo lấy từ ruộng đồng, ăn ngô gùi từ nương về, lạc bước
ra ngoài chỉ một ngày đã thấy như lênh đênh trên mặt nước mênh mông không thấy bờ” [35;221] Biết bao mảnh đời đã bám đất bám ruộng để mưu sinh như già làng ở Lao Chải “sức lực đã dồn cho trời cho đất, đổi lấy hạt ngô hạt lúa” cho đến khi “không đứng dậy được nữa” mới giã từ nương rẫy Ngay cả trước khi nhắm mắt xuôi tay vẫn không thôi nhớ về mùi thơm ngai ngái của bùn đất, của ruộng nương nên phải “bốc cho ông một nắm bùn, ở góc ruộng rộng nhất, chỗ ông hay ngồi phệt xuống nghỉ giữa chừng, mang vào cho ông Bà tất tả chạy ra, kịp bốc một nắm, ghé sát mũi ông, cho ông hít hà vài hơi rồi đi” [35;172] Có thể thấy cội rễ văn hoá của người Việt xuất phát từ nền văn minh nông nghiệp nên dù cuộc sống có đủ đầy đến đâu, có văn minh đến đâu thì trong tâm thức của vợ chồng bà Mẩy nói riêng và những người con của mảnh đất Lao Chải nói chung đều nhung nhớ khôn nguôi về một vùng quê mình từng có
Con người lấy tự nhiên làm lẽ sống nên tự nhiên như máu chảy trong huyết quản của những người dân vùng cao Mảnh đất Lao chải với sự trù phú vốn có mà tự nhiên ban tặng vẫn luôn sẵn sàng đón nhận những ai bế tắc mưu sinh Người Dao di cư đến nhiều vùng đất mới để khai hoang, trồng trọt cho đến khi hết “giá trị lợi dụng” thì lại rũ
bỏ và rời đi Tuy nhiên, từ khi đặt chân đến Lao Chải, người Dao bắt đầu từ bỏ thói quen chặt phá rừng, học hỏi người Tày cách trồng lúa, trồng ngô “Người Tày trồng lúa nước
Trang 30trong ruộng bậc thang, chỉ trồng lúa thôi cũng tạm đủ ăn Nhưng người Tày không cho phá rừng, phá rừng là phá luôn nguồn nước chảy đầu nguồn về Lao Chải Không có nước ngập chân ruộng thì cây lúa không mọc được” [35;16-17] Hay gia đình ông Hưởng
là người Kinh vì không còn đất ở xóm khai hoang nên nương náu nhờ Lao Chải để làm
ăn sinh sống Mảnh đất Lao Chải chẳng chối từ bất kỳ ai, bất cứ hoàn cảnh nào và sẵn sàng bao bọc bao phận nghèo khổ đến mưu sinh, lập nghiệp Bên cạnh đó, tự nhiên còn tạo điều kiện thuận lợi để con người canh tác, trồng trọt hoa màu,… Những đứa con gái Tày mới lớn còn “tìm cách gieo trồng lấy một khoảnh làm vốn riêng, đến cuối năm có một món tiền đi chợ mua sắm Bố mẹ cho cũng không lấy, thích tự mình làm ra để còn khoe với bạn bè Con Nhi bảo sang bên kia sông, bản Dao Nùng Áng ít người mà nương lại nhiều, đất cũng tốt, dùng không hết họ cho mượn, đến mùa thu hoạch trả lại họ một
ít, bù vào chỗ đất bạc màu” [35;120] Hay rừng vầu tươi tốt của nhà Ké Sành “đến mùa
là măng đội đất nhô lên dày như nấm… đến mùa măng ông Tần vẫn để mặc cho cả làng, nhà nào thích ăn măng cứ việc lên rừng mà đào” [35;66] ấy thế lại khiến ông đổi đời
“mấy năm nay giàu lên nhờ bán vầu cho người Kinh dưới Phú Thọ ngược sông Lô đánh
bè về xuôi Rừng vầu mấy chục năm tuổi, đất dưới gốc vầu tơi ngập bàn chân, mỗi năm mang về cho nhà này hàng tấn thóc tính bằng tiền” [35;65] Có thể thấy, tự nhiên trong trang văn của Đỗ Bích Thuý như là chốn nương tựa để bao phận người thoát khỏi khổ cực, nghèo đói và bao dung cho những cảnh đời không quê hương
Tự nhiên không dừng lại là “mạch sống” mà còn là cái bóng chở che con người từ khi lọt lòng đến lúc già nua, là nơi con người gửi gắm bao nỗi niềm Trong tiểu thuyết
“Bóng của cây sồi”, nhà văn đã lấy hình ảnh của thiên nhiên - cây sồi để tượng trưng cho mỗi người đàn ông trong làng Khi một bé trai chào đời, nếu nó cất tiếng khóc to
mà cả làng nghe thấy thì ông nội sẽ nói rằng: “Mày là một cây sồi khỏe” [35;5] Còn khi một người đàn ông mất đi, đâu đó sẽ có một cây sồi trút lá, dần khô khốc và thối rữa trong lòng đất Cuộc đời của già làng Lao Chải từ lúc sinh ra đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng gắn liền với bóng dáng của cây sồi: “Cây sồi này ông nội đã trồng xuống đúng ngày bà nội sinh ra bố Phù Cây sồi bằng tuổi bố nhưng càng ngày càng nhiều lá xanh, không như bố Phù, mỗi lúc một nhiều tóc bạc, râu bạc Tám mươi năm nay không thiên tai, bệnh tật nào bắt được ông Phù phải nằm một chỗ nên cây sồi lúc nào cũng xanh tốt Bây giờ ông Phủ không dậy được thì cây sồi cũng ốm theo ông” [35;33] Cây sồi bắt đầu có sự sống từ khi là đứa trẻ lọt lòng, cây sồi dần cao lớn khi đứa trẻ trở thành chàng thiếu niên, cây sồi tươi tốt khi con người khoẻ mạnh và gắn liền với từng giai đoạn trong cuộc đời, đến khi cây sồi rụng lá, khô héo cũng là lúc con người sắp lìa xa cuộc đời Thời gian qua đi, con người dù có trưởng thành đi chăng nữa cũng không thể vượt qua cái bóng của cây sồi: “Ngay cả anh, người đàn ông duy nhất của dòng họ, cũng không qua được nó, không vượt qua được cái ranh giới mà bóng của cây sồi in xuống vùng thung lũng rộng không đầy một sải chim bay này” [35;5-6] Người đàn ông Lao Chải gắn liền với bóng dáng của cây sồi, hay nói cách khác là con người gắn bó máu thịt với
Trang 31tự nhiên từ lúc sinh ra đến khi chết đi Cái bóng ấy chính là mạch nối giữa quá khứ với hiện tại, giữa định kiến cộng đồng với tình yêu cá nhân, giữa hủ tục cha ông với lối sống tân tiến Bên cạnh bóng dáng của cây sồi, những người đàn ông vùng cao còn gắn mình với sông nước Dòng sông Lô mênh mông, rợn ngợp với những đường lượn quanh co hay những xoáy nước “sắc lẹm” đã tôi luyện sự dẻo dai, kiên cường và bản lĩnh của con người: “Phù đã trưởng thành bên dòng sông này, sức vóc dẻo dai như bao đứa trai làng trong làng, quen với đêm tối, thân thuộc với rừng già, thú dữ, và coi những trận cuồng phong ngoài sông Lô mùa lũ chỉ là trò đùa của đất trời” [35;102] Từ khi còn là đứa trẻ
đã phải trải qua biết bao lần ném xuống dòng chảy của sông Lô để rồi lớn lên khoẻ mạnh như con trăn, con cá nheo: “Sống bên dòng sông này, những đàn ông như Phù, để được lớn lên khỏe mạnh cứng cáp như con trăn trên rừng, như cá nheo dưới nước đều đã từng trải qua những lần bị ném xuống dòng nước chảy xiết Phù, mười tuổi, bị già làng ném lần thứ ba thì đã chổng lên được hai cái mông đen thui, bé tí như vịt mò ăn ngoài sông, thêm vài lần nữa đã thành một con rái cá” [35;100-101] Tự nhiên chở che con người từ lúc lọt lòng, rèn dũa bản lĩnh kiên cường lúc trưởng thành và gắn bó với con người đến khi lìa đời Không dễ để có thể tách rời những gì lưu giữ trong kí ức con người mà không gắn liền với bất cứ hình ảnh nào của tự nhiên Trước mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên, nhà văn Đỗ Bích Thuý đã đặt nhân vật của mình trước thiên nhiên
để tìm lại khoảng lặng cho tâm hồn, tìm lại khoảng ký ức đẹp đẽ ngày xưa hay chút ủi
an trước những thay đổi, xáo trộn của cuộc sống Bà cả trong tiểu thuyết “Chúa đất”, trước khi giã từ sự sống, bà đã trở về bên vườn cải, nâng niu những bông cải vàng ướt đẫm sương đêm như nâng niu mảng ký ức của những ngày tháng tươi trẻ nhất khi gặp Sùng Chúa Đà: “Đây là nơi duy nhất không trồng anh túc mà để trồng cải Những luống cải cao ngang đâu người, lá cải vừa to vừa dày, một lá đủ nấu một nồi canh Hoa cải vàng óng, ong đậu trĩu cành hút mật” [34;272] Hay trong tiểu thuyết “Bóng của cây sồi”, cây sồi dường như trở thành người bạn tâm giao với Phù Mỗi lúc buồn bã, tuyệt vọng, nơi mà Phù muốn đến chính là gốc cây sồi: “Từ ngày bố mất, Phù hay ra gốc cây sồi, dựa lưng vào nó mỗi khi có chuyện gì đó mà tự Phù không giải quyết được” [35;69] Chàng trai với nút thắt mối tơ lòng hay những lo toan, trăn trở vụn vặt trong cuộc sống chỉ biết quay về với tự nhiên, ngồi dưới gốc sồi và lặng ngắm dòng nước chảy trôi đi mọi phiền lo, sầu não: “Có những vết đứt trong lòng Phù đã được năm tháng, mùa màng,
lo toan làm cho thành sẹo, mờ đi rồi nhưng thỉnh thoảng đường chỉ vẫn siết vào đấy Mỗi lúc như thế Phù lại ra ngồi dưới gốc cây sồi mục ruỗng, nhìn dòng nước trôi đi trên những viên đá cuội óng ánh Dòng nước cứ chảy mãi, năm này qua năm khác không mệt mỏi, nhiều chuyện xảy ra dưới bóng cây sồi này cũng dần thành chuyện cũ” [35;15] Có thể thấy, con người và tự nhiên cùng tồn tại trong mối quan hệ cộng sinh, gắn bó hoà hợp với nhau Bởi thế trong văn xuôi của Đỗ Bích Thuý, thế giới tự nhiên như một chốn nương náu và nuôi dưỡng con người, như người bạn tâm giao đồng hành và chở che cho những người con vùng cao nguyên đá Hà Giang
Trang 32Ngoài ra, văn xuôi sinh thái đã từ bỏ cái nhìn mang tính ẩn dụ về tự nhiên, nhìn nhận tự nhiên như một bản thể, có sinh mệnh độc lập, có cá tính, có tâm hồn và có địa
vị Đọc tiểu thuyết của Đỗ Bích Thuý, loài vật được khắc hoạ bằng những chi tiết riêng biệt, có đặc điểm nhận diện đặc trưng, có tính cách riêng và đặc biệt, biết lắng nghe tâm
tư của con người Sùng Cắt - con chim quý của Sùng Chúa Đà trong tiểu thuyết “Chúa đất” có sở thích là thích gái đẹp “thấy gái đẹp nó hay trêu Thình lình nó từ trên cao lao vút xuống, dùng mỏ quắp lấy một góc khăn vấn đầu của người ta, lôi tuột ra” [34;285]
Và nó còn có cá tính riêng, Sùng Cắt trông “thật là hiền, như không bao giờ biết tấn công đồng loại” [34;33], tuy phát huy bản năng săn bắt nhưng “nó không thèm ăn Cái loại vừa bé vừa tanh không phải món của nó Nó bắt chơi thế thôi, luyện chân luyện cánh luyện mỏ là chính Sùng Cắt ghê gớm thế, giống chủ của nó, chả sợ ai, nhưng Sùng Cắt có một kẻ thù, đấy là con chó vàng già nua của bà Cả” [34;33-34] Không chỉ vậy, loài vật còn có tình cảm sâu nặng và thấu hiểu những tâm tư, suy nghĩ của con người Khi con người có cái nhìn bình đẳng với tạo vật, coi vạn vật trên thế gian đều có sinh mệnh độc lập thì giữa con người và tạo vật sẽ có sự gắn kết Điển hình như cái tên Sùng Cắt để đặt cho con chim mà chúa đất đã nuôi dưỡng hơn mười năm Chúa đất đặt tên con chim theo họ của mình và xem nó như một bản thể người Chúa đất coi trọng Sùng Cắt như người “cận vệ thân tín” thì Sùng Cắt cũng thấu hiểu tâm tư, nỗi lòng của chúa đất Nó hiểu Sùng Chúa Đà yêu thương và chiều chuộng Vàng Chở đến nhường nào, nên khi Vàng Chở mắc sai lầm, bị hành hình treo trên cột đá, dù ghét Chở đến đâu, nó cũng không lao vào cấu xé nàng: “Sùng Cắt như không nhìn thấy Chở Sùng Cắt không động đến một sợi tóc của Chở” [34;79] Và thậm chí, Sùng Cắt sẵn sàng từ bỏ bản năng săn mồi, từ bỏ kiếp sống hoang dã và cả bầu trời rộng lớn ngoài kia chỉ để sát cánh cùng chúa đất Nó sẵn sàng chấp nhận cái chết, không dè chừng mà lao thẳng vào đám cháy
để cứu chúa đất: “Sùng Cắt hét lên oác oác như muốn vỡ cả ức, ra sức dùng mỏ để mổ, dùng móng để cào, hòng đánh thức chúa đất Lửa đang táp mỗi lúc một gần Những cái
xà nhà trên cao cũng đã bén lửa và đang từ từ sập xuống Chúa đất, cuối cùng cũng không phải chết một mình Ít nhất có một kẻ trung thành sẵn sàng xả thân chết cùng Đấy là Sùng Cắt” [34;291] Nếu Sùng Cắt là cận vệ trung thành nhất của Sùng Chúa Đà trên hành trình cai trị đầy rẫy sự cô độc thì con chó Vàng lẽo đẽo theo sau bà Cả là người bạn tâm giao mà bà tin tưởng và sẻ chia trong suốt quãng đời làm vợ đầy tủi nhục Nhân vật bà Cả hay Sùng Chúa Đà đều bị đẩy vào sự cô đơn theo những cách khác nhau, họ không chia sẻ với cứ ai và họ tìm đến loài vật để vơi bớt nỗi trống trải mênh mông: “Bà thấy cái lưng chó thật ấm áp, thật vững vàng Cây có thể đổ vì gió bão, nhà có thể đổ vì mục ruỗng, nhưng cái lưng chó già này thì lúc nào cũng thật vững chãi, để bà tựa vào” [34;158] Đứng từ điểm nhìn này, ta cảm nhận thế giới đang có sự cách tân, con người xoá bỏ cái nhìn về “kiểu mẫu muôn loài” mà thay vào đó là cái nhìn bình đẳng với tạo vật, coi vạn vật như một bản thể có sinh mệnh Trong tiểu thuyết “Chúa đất”, con Vàng sẵn sàng khước từ bản năng sinh sản của giống loài, chấp nhận sống đơn độc cùng bà
Trang 33Cả cho đến khi già nua: “nó cun cút chạy về thật, để mặc con chó đực đứng giữa vườn tru lên ấm ức Từ đấy nó không bỏ bà theo trai nữa Nó thành một con chó cái già, xấu,
cô độc, không con cái” [34;119] Ở đây, ta bắt gặp triết lý sinh thái của Đỗ Bích Thuý trong cái nhìn bình đẳng với tạo vật, đó là loài vật cũng có cảm nhận đời sống theo cách riêng của nó, có một cảm quan đặc biệt, biết lắng nghe và thấu hiểu: “bà đi vắng mà nó không đi theo thì bà không cần đóng cửa buồng Nó sẽ nằm ở đấy, cho dù không được
ăn được uống, cho đến lúc bà về Nếu chúa đất chỉ tin mỗi mình bà trong dinh thự này, thì bà cũng chỉ tin mỗi con chó Chỉ có nó luôn bảo vệ bà, không bao giờ phản bội” [34;146] Hay những lúc “bà thức trắng, ngồi trong buồng nhìn qua ô cửa nhỏ tí, đợi xem đứa gái vừa được gọi lên buồng chúa đất khi nào quay về, thì nó cũng thức cùng với bà, đầu gối lên chân bà Chỉ khi nào bà ngủ nó mới ngủ” [34;118] Cả một tuổi xuân tươi trẻ của bà Cả bị “cầm tù” trong chốn địa ngục trần gian, bị biến thành nô lệ trong những trận cuồng dâm quái đản của chúa đất,… Đời bà triền miền trong sự ghen tuông, mệt mỏi, sầu muộn,… và “chỉ có duy nhất một con chó già hiểu bà” Ánh mắt nó “lúc nào cũng đầy yêu thương, tin cậy, trung thành” và cũng ánh mắt đó đã chảy từng dòng nước mắt trước sự ra đi của bà: “con chó già ngửa cổ tru lên thảm thiết Nước mắt chảy
ra thành dòng trên mặt nó… Con chó nằm ra đất, úp cằm lên đôi giày mà bà Cả để lại
Nó sẽ nằm ở đấy, không ai bắt đi đâu được, không mưa gió nào khiến nó bỏ chạy được
Nó nằm, để đợi đến lúc đi cùng với bà Cả” [34;274] Không chỉ cảm thấu sự cô đơn và nỗi niềm buồn tủi của bà Cả trong chính cuộc hôn nhân với chúa đất mà con Vàng còn đau đớn tột cùng vì quyết định của bà Cả tự kết liễu đời mình ở một khúc sông Nỗi đau này không chỉ dừng lại ở con Vàng mà trước đó, khi bà Cả rời bỏ dinh thự, Sùng Cắt cũng mang tâm trạng buồn bã đến tiễn đưa: “Tít trên bầu trời cao, một cánh chim là là lượn theo bà với con chó Sải cánh dài của nó in bóng xuống đường lổn nhổn đá Bà dừng lại, ngẩng lên Là Sùng Cắt Nó kêu mấy tiếng oác oác buồn thảm” [34;271] Hình ảnh con chó trung thành, mang tình cảm sâu nặng với con người còn được tái hiện trong tiểu thuyết “Cánh chim kiêu hãnh” Con chó của Chúng mang trong mình cảm xúc riêng, suy nghĩ riêng và một sinh mệnh độc lập Nó cảm thấu bằng logic riêng của vạn vật và đồng cảm, xót thương với bao nỗi niềm riêng của con người Khi chủ nhân của nó hoạt động cho Việt Minh và bị bọn thực dân Pháp giết, nó buồn bã tột cùng và nằm phủ phục trước ngôi nhà mồ mới vừa lợp xong: “Nó nghếch mõm kê lên vách nhà mồ, mắt nhắm tịt Nó cũng đã nằm suốt năm ngày trời dưới chân cái sào có treo đầu của Chúng, cả đêm lẫn ngày, Mai đã phải nhờ một đứa bé hàng ngày mang cho nó một âu cơm, một âu nước Thân hình gầy rộc, lông rụng từng mảng, đôi mắt kiệt quệ và tuyệt đối câm lặng
Nó nằm ở đó, như thế đã chọn cho mình một cái đích đến” [33;51-52] Cứ thế, nó bằng lòng đối diện với cái chết để được làm bạn đồng hành cùng với Chúng: “con chó vàng
đã nằm ở đó, không bao giờ dậy nữa Mấy ngày sau Mai phải đào cho nó một cái huyệt ngay cạnh nhà mồ của chồng” [33;52]
Bằng cảm quan sinh thái, nhà văn phá vỡ các ước lệ về tự nhiên, thay vào đó là
Trang 34nhìn nhận tự nhiên tồn tại tự trị bên ngoài con người Tuy phê bình sinh thái dịch chuyển điểm nhìn sang “trái đất làm trung tâm” và tự nhiên mang trong mình sinh mệnh độc lập nhưng điều này không phải hạ thấp con người mà đề xuất tư tưởng con người cộng sinh hài hoà với tự nhiên Bởi lẽ, thế giới như một chỉnh thể sinh thái phụ thuộc lẫn nhau và vạn vật từ con người đến tự nhiên đều có vai trò quan trọng trong chỉnh thể đó Trong các tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, tự nhiên và con người là hai thực thể gắn kết với nhau trong mối quan hệ phức tạp Tự nhiên là nguồn sống, là chốn nương tựa cho mảnh đời không quê hương, là cái bóng chở che cho con người Hơn hết, tự nhiên như những tạo vật có linh hồn, biết đồng cảm, thấu hiểu và sẻ chia có thể giúp con người quay trở về tâm thức sống hoà hợp
2.1.2 Tận diệt tự nhiên, chiếm đoạt không gian hoang dã
Đọc tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy dưới góc nhìn phê bình sinh thái mới có thể thấy được tư tưởng sùng thượng con người một cách thâm căn cố đế đã gây ra vô vàn hệ lụy
Từ tâm thức “nhân loại trung tâm”, con người trỗi dậy khát khao chinh phục, xâm phạm
và thống trị tự nhiên với niềm hân hoan, khoái lạc Chối từ tự nhiên là chối từ cội nguồn sinh dưỡng, con người cứ thế hành xử thiếu trách nhiệm và khai thác tận diệt tự nhiên đến cạn kiệt
Phê bình sinh thái chỉ ra căn nguyên của những thảm hoạ môi trường hiện nay, nó gắn liền với ý thức của con người Tự nhiên không tồn tại vĩnh hằng, nó cũng có sinh mệnh độc lập và luôn tác động qua lại giữa các thực thể trong quần xã sinh vật, trong
đó, con người là một sinh vật bậc cao và tiến bộ hơn cả Trong quá trình cải tạo cuộc sống của mình, con người đã tác động không nhỏ vào hệ sinh thái tự nhiên như: khai phá đất rừng, chặt phá hoa màu, cắt đứt mạch suối, giết hại động vật,… Người đọc có thể bắt gặp hình ảnh người Dao di dân khai hoang mở cõi để trồng lúa, trồng ngô: “Người Dao ở Lao Chải nói, các cụ tổ ngày xưa sống trên núi cao, phát rừng làm nương, trỉa ngô trỉa lúa Nơi nào đất tốt thì làm hai ba vụ, nơi nào đất xấu, làm một vụ đã bạc trắng
ra thì thu hoạch xong là bỏ đi nơi khác Cả bản đi Đi mãi, đến chỗ nào có đất mới, rừng chưa có người chặt thì dừng lại” [35;16] Cứ thế người đi đến đâu, rừng dần lùi sâu đến
đó, mặc sức để con người mở rộng canh tác Người Dao phá rừng, chặt cây để trồng trọt kiếm sống Sau một vài vụ mùa, đất đai trở nên cằn cỗi vì thiếu sự chăm sóc, họ lại rời
bỏ đất đai, rời bỏ mảnh rừng đó để đến nơi khác Lối sống này bắt nguồn từ tư duy chiếm đoạt, sở hữu ích kỉ từ thời các cụ tổ và con người cứ trượt dài trên con đường chinh phục, đối xử bất công với tự nhiên mà không học cách hợp tác, cùng phát triển bền vững
Sở dĩ, con người có thể bất chấp mọi hậu quả để bức tử nhiều cánh rừng là vì nhu cầu không có điểm dừng Người bán đất, bán rừng đầu tiên trong tiểu thuyết “Bóng của cây sồi” chính là ông Phín: “một quả đồi thấp, lâu nay vẫn trồng chè, ngay sát đường ô tô qua lại Quả đồi ấy ông Phín bán được một khoản tiền, tính ra trâu trưởng thành phải được mười một, mười hai con” [35;152] Chính vì lòng tham không đáy, mê muội trước thế lực của đồng tiền nên ông không ngần ngại đánh đổi đồi chè để thoả mãn nhu cầu
Trang 35bản thân Những chiếc xe máy ủi tân tiến - sản phẩm của khoa học kỹ thuật đã san bằng
cả một cánh đồi: “Cái máy ủi đỏ như cua rang gầm rú cùng cái xe ben đổ đất ra hủm sâu bên kia đường suốt một tuần lễ thì xong Quả đồi bị san phẳng, thay vào đó là một miếng đất vuông vắn, bằng phẳng, đỏ ối” [35;152-153] Phát súng đầu tiên cho hành động chiếm đoạt và xâm lấn không gian xanh là ông Phín, tiếp theo đó là những gia đình ở lao Chải có đất đai ngoài mặt đường ô tô, họ đều đem bán để kiếm lời: “Mấy chục nhà
có đất ngoài mặt đường, cả ruộng, cả đồi núi, cả hùm sâu, đều sôi sùng sục lên Một vài người nữa về làng hỏi mua đất, lại một vài người nữa bán, trong làng lại càng như có một đám cháy đang lan rộng ra, không sao dập được Rồi những nhà bán đất về sau cứ
tự ý tăng giá lên, đến nhà thứ năm, thứ sáu thì một quả đồi tương đương với quả đồi ông Phín bán đầu tiên phải đổi ra được hai mươi, hơn hai mươi con trâu, chứ không phải mười con nữa” [35;154] Và Ké Sành cũng không ngoại lệ Dục vọng thường không có điểm dừng cho nên Cường đã thuyết phục Ké Sành chuyển các ngôi mộ ở rừng mả vào rừng vầu và bán cánh rừng mả ấy với giá trị bằng “năm mươi con trâu đen trũi, to lừng lững che khuất cả hai mắt” [35;159] Đứng trước sự cám dỗ của đồng tiền, không ít người dân Lao Chải đã từ bỏ đất đai vì cái lợi trước mắt, sẵn sàng tận diệt nhiều cánh rừng để thỏa mãn lợi ích bản thân Phải chăng trước ma lực của đồng tiền, con người không thể kìm hãm được bước tiến của bản năng?
Không thể không nhắc đến căn nguyên dẫn đến nguy cơ sinh thái là sự dịch chuyển môi trường sống từ nông thôn ra thành thị Với quan niệm chiếm lĩnh tự nhiên, con người đã tự điều chỉnh phương thức sống và quan niệm tư tưởng ngày càng đối chọi với
tự nhiên Con người tham vọng đổi đời, thoát nghèo bằng cách khai phá tự nhiên nhưng
tự nhiên lại hữu hạn Gia đình ông Hưởng từng bám víu lấy mảnh đất Lao Chải để sinh sống, từng sống dưới bóng mát của những cây sồi cao lớn và từng tắm mình dưới nguồn nước mát lành của sông Lô Nhưng chính vì ham muốn quá nhiều, họ mới vô tư khai thác tự nhiên Ông Hưởng thuê đất ruộng của gia đình Cường để xây lò gạch, bao nhiêu đất ruộng đều bị đào xới mang đi Khi lò gạch dựng lên thì cây cối hoa màu của bà con
bị thiêu rụi: “mấy tàu chuối héo người ta mang ra, làm chứng cho việc khói gạch gây hại đến cây cối hoa màu” [35;82] Thậm chí, “mấy bụi chuối nhà tao cháy hết lá từ tháng trước giờ chưa mọc lại”, “cam cũng cháy ngọn nữa, không giữ được quả đâu Bảo làm kinh tế hàng hoá mà quả rụng hết thì lấy gì bán?” [35;83] Trong tiểu thuyết “Bóng của cây sồi”, con người quên đi vị trí của mình trong hệ sinh thái, không ngừng bóc lột tự nhiên một cách bạo tàn mà không mảy may nghĩ đến sự phát triển bền vững của tự nhiên
Có lẽ, chính cách hành xử tàn ác này đã làm tự nhiên ngày càng cằn cỗi
K.Thornber từng nhận định: “Một số nhà phê bình sinh thái cũng xem khoa học và công nghệ như những căn nguyên sâu xa của khủng hoảng sinh thái, vừa hạ bệ tự nhiên xuống như một đối tượng nghiên cứu và điều khiển bởi một người quan sát bên ngoài, vừa khuếch đại khả năng của con người làm phá hủy tự nhiên” [53] Con người đã lợi dụng những sản phẩm kỹ thuật ưu việt của Khoa học - Công nghệ để phục vụ cho mưu
Trang 36cầu ích kỉ, tham vọng vô tận của mình Chính quyền địa phương đã sử dụng máy ủi san bằng quả đồi để xây trụ sở uỷ ban xã hay sẵn sàng cắt đứt những mảnh ruộng để xây đường ô tô: “Khu đất đặt trụ sở uỷ ban xã hình như được san ủi từ một quả đồi thấp vì
từ phía nào đi đến cũng gặp dốc thoai thoải… Sau lưng trụ sở là ruộng bậc thang, chạy vào tận chân núi, trước mặt trụ sở cũng là ruộng bậc thang, chạy ra sông Đường ô tô chạy ngang, ngoằn ngoèo cắt đứt từng mảnh ruộng” [35;97] Những con suối ngày ngày chảy qua bản làng để người dân lấy nước sinh hoạt, giặt giũ hay cho gia súc uống thì nay, đập thuỷ lợi được dựng lên, cắt ngang dòng suối mà “khi nước bị ngăn lại sẽ không còn chỗ cho đàn bà giặt giũ, cho trâu bò uống” [35;149] Hơn hết, nếu “đập thuỷ lợi mà được xây lên thì cái đầm sẽ mất đi… Người ta sẽ xây đập cao bảy mét, trong đó ba mét
để đựng nước” [35;150] Sự can thiệp của quá trình đô thị hóa và sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã đem đến cho con người rất nhiều lợi ích nhưng đồng thời cũng đẩy con người đứng trước cuộc đối đầu với tự nhiên Có thể, con người nhận thức bản thân là một cá thể bé nhỏ của vũ trụ nên khi trải nghiệm cảm giác chiếm đoạt
tự nhiên, con người mới thỏa mãn lòng tham khôn cùng của mình?
Qua những trang văn viết về sự tàn sát tự nhiên, tác giả đã bộc lộ nỗi lo âu về nhân tính của con người: vô cảm với muôn loài, giết loài vật một cách thản nhiên Tiểu thuyết
Đỗ Bích Thúy đã chỉ ra hành động phi nhân nhất của con người, họ cho rằng tự nhiên
có nghĩa vụ phải phục vụ cho đời sống nhân loại Trong hành trình tận diệt tự nhiên, con người vô tư săn bắn động vật, bất chấp mọi hậu quả Như hành động săn bắn man rợ, dồn đuổi heo rừng đến bước đường cùng: “con lợn rừng đã trúng đạn của một phường săn nào đấy, và bị dồn đuổi ra khỏi rừng già” [35;256] Tàn sát loài vật trong niềm khoái cảm chinh phục, dĩ nhiên họ sẽ không bao giờ hiểu được nỗi đau đớn mà loài vật trải qua Vốn dĩ, loài vật cũng có sinh mệnh, có số phận, có tâm hồn, tình cảm và có tính cách riêng Nhất là những loài vật có trí khôn, có sự hiểu biết và tình cảm sâu nặng với con người như con chó Vàng của bà Cả trong tiểu thuyết “Chúa đất” hay con chó của Chúng trong tiểu thuyết “Cánh chim kiêu hãnh” đều thể hiện một tính cách ngoan cường, trung thành, biết lắng nghe và có tình cảm đặc biệt với chủ nhân của mình Tuy nhiên, những người dân bản Lao Chải trong tiểu thuyết “Bóng của cây sồi” thì xem việc nuôi chó cũng như nuôi những con gia súc trong nhà, chỉ để giết thịt, đem bán và phục vụ nhu cầu ăn uống: “Gì chứ chó thì ở đây nhiều vô cùng Người làng nuôi chó như nuôi
gà nuôi vịt, nhất là từ hồi ngỗng chết dịch cả loạt thì nhà nào cũng kiếm con chó về thay thế Chó cái đẻ ra bao nhiêu chó con nuôi bấy nhiêu, chó nằm một đống to lù lù với nhau dưới chân cầu thang, đi đâu cũng đi cả đàn, con to con bé đếm không hết” [35;204] Hay nhân vật Cường với sự vô cảm trước loài vật, anh ta thản nhiên xuống tay giết chó, “có ngày phải mổ tới hai ba con mới đủ bán” [35;206] Dường như công việc này đã quá quen thuộc và món thịt chó trở thành sở trường nấu nướng của Cường: “Giống chó bé người, chân dài, thịt chắc, đông ăn ít, gầy đi một tí nhưng vẫn ngon lắm, nhất là đã qua tay Cường Cộng thêm chai rượu trong vắt, thơm lừng dựng bên cạnh thì ai mà đi qua
Trang 37được” [35;205] Những vị thực khách điềm nhiên ăn đủ các món được chế biến từ thịt chó Họ khiến người đọc cảm thấy kinh sợ với bản tính hoang dã của con người: “Cái đầu chó thui, với cả một khúc đuôi cong cong treo lủng lẳng trước cửa quán Cường, chai rượu thơm phức chưa uống đã thấy nong nóng trong cổ cứ hiện lên mồn một” [35;206] Chính con người đang chĩa súng vào những loài vật gần gũi, thân thiết với loài người Nhi - vợ Cường từ một người không biết ăn thịt chó, bản thân e dè và sợ hãi trước hành động mổ xẻ, phanh thây chó của chồng: “Vợ Cường hồi trước không biết ăn thịt chó
Nó sợ, con chó thân thiết với người là thế mà hôm trước hôm sau đã thành đĩa lớn đĩa
bé, cái đầu chặt rời ra rồi vẫn nhe răng như tức giận muốn cắn” [35;230]… đến việc ăn thịt chó cả tháng sau khi sinh xong đứa thứ ba: “suốt một tháng ăn toàn chân chó hầm, đứa con tròn căng, đứa mẹ cũng tròn căng ra theo” [35;230] Tuy Nhi ý thức được nỗi
sợ hãi trước cái chết của loài vật nhưng cũng không ngăn nổi bản thân trước hành động
ép buộc phải ăn thịt chó của Cường Điều này cho thấy xung đột giữa con người với tự nhiên được hình thành một cách có ý thức Và con người đang dần mất đi khả năng thấu hiểu và chối bỏ giao cảm với muôn loài, họ cứ thế trượt dài đến con đường tha hoá Tiểu thuyết của Đỗ Bích thuý đã cho thấy hành động thiếu nhân tính của con người trước tự nhiên Bắt nguồn từ tâm thức “nhân loại trung tâm”, con người không ngừng bức tử những cánh rừng, san bằng các quả đồi, chiếm đoạt và lạm dụng tự nhiên bằng nhiều cách thức, thậm chí huỷ hoại tự nhiên một cách tàn nhẫn Trong mối tương quan này, thái độ con người đối với tự nhiên là thái độ của kẻ thống trị, tự đề cao bản ngã nhưng tuyệt nhiên không xem tự nhiên là đối tượng cộng hưởng mà chỉ muốn tận diệt Khi con người khăng khăng phá vỡ hệ sinh thái, bất tuân tự nhiên và làm trái đạo lý, ắt
sẽ nhận quả báo khôn lường Có thể nói, phê bình sinh thái đã chỉ ra căn nguyên của vấn nạn sinh thái hiện nay xuất phát từ tham vọng làm chủ, từ tư tưởng thống trị tự nhiên của con người Khi ứng xử với tự nhiên, con người tự cho mình cái quyền chiếm đoạt, khai thác tận diệt và cư xử thiếu trách nhiệm Đương nhiên, điều này dẫn đến việc con người phải nhận lãnh hậu quả nặng nề trước thiên tai hạn hán, ngập lụt, mất cân bằng sinh thái,… Phê bình sinh thái đã lên tiếng phản đối những suy nghĩ và hành động lệch lạc đối với tự nhiên, ẩn chứa trong đó còn là hồi chuông cảnh tỉnh về sự tha hoá đạo đức, thái độ lãnh cảm của của con người Vậy nên, con người cần biết kính sợ và tôn trọng
tự nhiên, cần ý thức về thân phận “nạn nhân” trước sự biến đổi của tự nhiên
2.1.3 Sự trừng phạt của tự nhiên
Vốn dĩ Việt Nam là một nước nông nghiệp nên cuộc sống của con người phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Không thể phủ nhận những gì mà tự nhiên mang lại, đó là nguồn nước mát lành, thổ nhưỡng phì nhiêu, bầu không khí thoáng đãng, tài nguyên phong phú,… Tự nhiên hào phóng dành tặng cho con người, còn con người đáp trả bằng cách bức tử tự nhiên Bằng cách lạm dụng các sản phẩm khoa học kỹ thuật hiện đại, con người bóc lột tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu ích kỉ của bản thân Tuy nhiên, nguyên tắc cốt lõi của sinh thái học là tôn trọng sinh mạng tự nhiên và tự nhiên cũng có quyền
Trang 38phát triển song song với lợi ích thực dụng của con người Nếu con người cứ trượt dài trên con dốc chinh phục, áp bức tự nhiên thì chỉnh thể sinh thái của tạo hoá sẽ bị huỷ hoại, kéo theo đó là sự sống của con người bị đe doạ
Hạn hán, mất mùa có lẽ là nỗi kinh hoàng của con người Người miền núi Tây Bắc sống trên đá, hạn hán khiến đất đai cằn cỗi, cây trồng khô héo: “Lúa đã bắt đầu bén rễ rồi mà nước trời vẫn chưa chịu về, để lâu ít ngày nữa là vàng cả gốc lẫn ngọn thôi nhưng hình như trong làng chẳng ai lo đến chuyện ấy Trưởng thôn quyết định huy động mọi người đi đào mương Phải dẫn nước từ trong khe núi ra vì suối cũng cạn rồi, năm sáu cái guồng đành để mốc trắng ra đấy” [35;145] Ở mảnh đất Lao Chải, hạn hán là nỗi lo khiếp sợ vì nắng, gió, khô hanh liên tục kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người Tày, người Dao Lúa “chết đứng” giữa ruộng, con người thì gồng mình với “ngàn
lẻ một” nỗi lo mùa nắng hạn Nhiều con suối dẫn vào làng đều khô khốc, thiếu đi nước tưới tiêu cho cây trồng, cạn kiệt nước sinh hoạt, người dân phải đi thật xa để lấy nước
từ khe núi về bản Hạn hán tác động đến các loài thực vật, động vật, làm giảm chất lượng nước và không khí Không những vậy, hạn hán tác động đến năng suất cây trồng, giảm sản lượng hoa màu, chủ yếu là sản lượng cây lương thực: “Mất mùa, thóc nếp thóc tẻ đều ít, không biết năm nay ăn tết thế nào” [35;168] Và đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật Nước được coi là một trong những yếu tố cấu thành sự cân bằng sinh thái tự nhiên và thiếu nước sẽ dẫn đến hạn hán, mất mùa: “Vụ lúa vừa rồi người Lao Chải chỉ thu về được một nửa số thóc so với mọi năm, nhà nào nhiều lắm cũng chỉ được hai phần ba là cùng Cứ cái đà này, đến lúc có đập, thêm được một vụ lúa nữa cũng chẳng hơn gì trước đây” [35;167] Con người đang dần phải trả giá cho những việc mà họ đã gây ra cho tự nhiên
Trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, người nông dân hàng ngày phải đối mặt với mảnh ruộng, nương ngô, con suối, nên cảm nhận rất cụ thể sự khắc nghiệt của tự nhiên như: hạn hán, lũ lụt, núi lở, rét buốt, Như lời cảnh báo của Nguyễn Ngọc Tư: “Con người trừng trị thiên nhiên bằng cách hạ nhục, hủy hoại nó, còn thiên nhiên trả thù bằng cách: Nó biến mất” [43;153] Sự biến mất của tự nhiên tươi đẹp, thay vào đó là những thảm họa thiên nhiên khôn lường Mùa lũ ập đến: “nước đục ngầu, những súc gỗ mục vài vòng tay ôm dập dềnh trôi về từ thượng nguồn, đen ngòm, lừ lừ không né tránh bất
cứ vật gì chúng gặp trên mặt nước” [35;98] Hết nắng hạn rồi đến mưa lũ, người dân miền núi phải đối diện với nguy cơ sạt lở đất đá, hoa màu mất trắng hoặc bị vùi lấp trong đất đá Những cơn mưa dầm dề, tối tăm mặt mũi, nước từ thượng nguồn đổ về “đen ngòm” còn lũ trên sông thì cuồn cuộn dâng lên Thời tiết khắc nghiệt đến mức: “Những cơn mưa dầm chưa dứt thì gió lạnh đã kéo về Thung lũng Lao Chải đang bắt đầu những ngày khó chịu nhất trong năm” [35;197] Người dân trồng trọt “đứng ngồi không yên” khi phải đối mặt với nguy cơ thất bát vì ruộng bậc thang nẻ toác, luống mạ khô hạn, cây cối trơ trụi lá: “Rừng đại ngàn chuyển từ một màu xanh sẫm sang úa vàng rồi lốm đốm trắng bạc, cuối cùng là thi nhau trút lá Nước trong khe núi chảy ra cũng đẫm mùi lá
Trang 39rừng, đun sôi vẫn không thể bay hết Ruộng bậc thang nứt nẻ, trống trơn, gió mạnh đuổi nhau, tẽ những gốc rạ khô khốc kêu loạt xoạt Sông Lô cạn dần” [35;197-198] Không khí lạnh tràn về, nhiệt độ giảm sâu, tình trạng rét đậm rét hại kéo dài nhiều ngày gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, đến quá trình sinh trưởng và phát triển của hoa màu
và vật nuôi: “Trong vườn chỉ trồng được rau cải Một ngày ăn rau cải chưa thấy chán, nhưng hai ngày, ba ngày, cả tuần, cả tháng, bữa nào cũng rau cải xanh cả mâm thì người
dễ tính nhất cũng rùng mình Rồi ngán ngẩm vì thứ rau xanh mượt này sẽ còn kéo dài mãi, có khi hết mùa xuân mới thôi” [35;197] Cái rét ở vùng cao thấu xương, thấu thịt khiến cây cối chết khô vì rét Người dân lao Chải chỉ có thể trồng rau cải để ăn cứu đói cho qua ngày Không chỉ ảnh hưởng đến trồng trọt mà trong chăn nuôi cũng thiệt hại nặng nề: “Người thiếu rau, ăn bù cơm cũng được, nhưng trâu bò dê thì khốn khổ vì không có cỏ Nhiều nhà để dành rơm khô cho bò nhai đỡ đói, chỉ một tháng sau khi có sương muối, đàn gia súc đã phơi hết cả xương sườn, lông dựng đứng lên” [35;197] Rét buốt và sương muối trở thành nỗi ám ảnh của người dân lao Chải Sương muối không mặn nhưng khiến nhiều cây cối “cháy” lá, thối nhũn Không ít nhà nông ở vùng cao nguyên đá Hà Giang điêu đứng khi hoa màu hư hại, vật nuôi gầy gò Thậm chí, khi cuộc sống dần đô thị hóa, những tưởng đập thủy lợi được xây lên sẽ hỗ trợ rất lớn trong hoạt động nông nghiệp Nhưng dường như, những hoạt động của văn minh đô thị phải trả giá bằng việc đánh đổi những ruộng lúa trù mật: “Cây mạ gieo muộn, mãi mới mọc, gầy gò
xơ xác như tăm, cắm xuống bùn rồi đợi mãi chưa thấy xanh trở lại, mặc dù đập đã xây xong, nước dâng lên thành một mặt hồ rộng mênh mông, theo kênh dẫn chảy xuống tất
cả các thửa ruộng bậc thang, nước đầy ứ, ngọt lịm, trong veo” [35;267] Ngẫm nghĩ lại những ưu ái của tự nhiên đang dần vụt mất, còn đâu những ngày mưa thuận gió hòa, nhiều trang văn của Đỗ Bích Thúy nhuốm dư âm của thiên tai và biến đổi khí hậu Quả thực sống trong nỗi bất an trước sự khắc nghiệt của tự nhiên đã đẩy người nông dân và người nghèo đi đến tận cùng của cái nghèo, cái đói
Phải biết kính sợ, tôn trọng sinh mệnh của tự nhiên nếu không con người sẽ bị trừng phạt và trả giá đắt cho những hành động của mình Tiểu thuyết “Bóng của cây sồi”
đã cảnh báo sự trả thù của tự nhiên khi con người vượt quá mọi giới hạn Cái giá mà con người phải nếm trải chính là tính mạng của mình Ké Sành tham lam đến nỗi bị che mắt bởi “năm mươi con trâu đen trũi, to lừng lững” [35;159] Ông đồng ý cho Cường bốc
mồ mả tổ tiên dòng họ di dời từ rừng mả vào rừng vầu để bán đất kiếm lời Đặt tiền bạc, vật chất lên trên sự sống còn của tự nhiên, lên trên mồ mả tổ tiên, bất chấp cả những hiểm họa phía trước, Ké Sành đã có tầm nhìn thiển cận để rồi phải nhận quả báo: “đêm đêm tiếng gà từ trong rừng mả vẫn vọng đến tai ông, ngày một nhiều Dù cho thằng Cường có đập chết con gà đen ấy thật thì cũng vẫn còn lại tám con khác, đã vào rừng là không bao giờ trở ra nữa, cũng không bao giờ chết được Ông càng cố ngủ cho quên đi thì tiếng gáy nửa giống tiếng chim lợn nửa như tiếng tắc kè càng vọng đến rõ hơn” [35;188.] Tiếng gà vang vọng từ rừng mả, ám ảnh trong từng giấc ngủ khiến cho một
Trang 40người vốn dĩ “đang khoẻ mạnh, da đỏ hồng hào, tiếng nói sang sảng thế, tự dưng chết không vì bệnh tật, hẳn chỉ vì mắc phải tội tày đình là chuyển rừng mả, nên bị trời phạt đấy thôi” [35;190] Bởi việc mua bán đất rừng ở Lao Chải diễn ra sôi nổi nên cánh rừng
mả của Ké Sành nằm ngay quốc lộ cũng bị đầu độc, bức tử Từ xưa đến nay, với người dân bản Lao Chải, chưa một ai dám quật mồ, quật mả của tổ tiên để di dời vì tư lợi cá nhân Riêng chỉ có Ké Sành và Cường mới có thể đồng thuận cho hành động táo bạo ấy
Để rồi ông vừa phải trả giá bằng cái chết tức tưởi, vừa phải mang danh ô nhục: “Để bằng
ấy tiền vào túi mỗi người, chồng bà đã đánh đổi cả cuộc đời lẫn danh dự trưởng họ mới
có được” [35;190] Bi kịch của Ké Sành là hậu quả tất yếu cho những suy nghĩ và hành động ngu xuẩn của bản thân
Cường - một tên ranh mãnh, xảo quyệt đã góp sức không nhỏ trong việc bức tử rừng mả Tội ác của Cường là đào xới nhà mồ, bán rừng mả để lấy tiền trục lợi Với người Tày, chốn an nghỉ của người chết là một nơi rất linh thiêng, không ai dám xâm phạm Nhưng với Cường lại khác, nó không chỉ đào mồ, gian dối trong bốc mộ mà còn cướp đi sinh mạng của nhiều loài vật khi mở quán bán thịt chó Mảnh đất có linh hồn, loài vật có sinh mạng, đều có con mắt biết yêu thương và trừng phạt Quả báo đến sớm khi nó ứng lên người thằng Trài - đứa con trai út của Cường: “Thằng bé nằm trên những gốc rạ đang hoai mục, quần áo, đầu tóc lấm bùn bê bết, mặt quay nghiêng, cổ thủng một
lỗ bằng nắm tay, hai chân co lại, một cánh tay đặt trên ngực, tay kia dang ra, cụt mất bàn tay Chỗ đứt, cả thịt, cả xương, lùng nhùng trong máu đỏ bầm một khúc Máu loang ra thành một vùng quanh chỗ nó nằm” [35;255] Thằng bé bị một con lợn rừng phát điên lên cắn chết Cái chết đầy đau đớn, tuyệt vọng và thương tâm Bản chất dã thú của con lợn trỗi lên, nó đau với vết thương mà một phường săn đã gây ra nên không ngừng phát điên, lao vào cắn xé người: “Con lợn rừng đã trúng đạn của một phường săn nào đấy,
và bị dồn đuổi ra khỏi rừng già Sự hung tợn cộng với say máu, giận dữ đã làm nó phát điên, nên khi nhìn thấy bóng người là lao tới trả thù” [35;256] Nó lao vào con người cắn, xé một cách dã man nhằm thoả mãn bản chất thú dữ và phần để trả thù con người
đã nhẫn tâm ra tay bắn nó Con lợn rừng cũng có sinh mạng, nhưng tại sao con người lại nhẫn tâm làm tổn thương loài vật vô tội? Thằng bé sau khi bị cắn đã mất đi một bàn tay, dường như, heo rừng đã cắn phăng bàn tay ấy như đang đòi lại công bằng cho nỗi đau nó trải qua: “Một bàn tay thằng bé bị mất, có người cho rằng, trong lúc hấp hối, thằng bé vẫn còn cố giơ tay quờ quạng như muốn xua con lợn đi nên bị nó cắn đứt, lại
có người bảo, vì con lợn bị trúng đạn, đã mất một chân trước, nên nó đòi lại bằng bàn tay người ” [35;256] Tự nhiên chỉ đang đòi lại những gì thuộc về tự nhiên và điều này thể hiện rõ nét ở bóng dáng con lợn rừng Sự trả thù con người một cách dữ tợn khiến Cường không khỏi bàng hoàng, hoảng hốt và giật mình ngẫm lại quả báo trên người thân cho những kẻ nhẫn tâm tận diệt tự nhiên, tước đoạt quyền được sống của loài vật Cường không thôi nỗi ám ảnh triền miên trước cái chết thiếu mất đi bàn tay của đứa con:
“nhiều đêm liền, hình ảnh bộ hài cốt thiếu mất bàn tay trong rừng mả cũ liên tục hiện về