Bên cạnh những lời phê phán Nguyễn Huy Thiệp, nhà sử học Tạ Ngọc Liễn viết: “mặc dầu mới xuất hiện, song anh đã sớm chứng tỏ được mình là một nhà văn có bản sắc riêng, mới mẻ, bạo dạn, s
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của Luận văn 9
6 Cấu trúc Luận văn 9
Chương 1 NGUYỄN HUY THIỆP VÀ TRƯỜNG VĂN HỌC THỜI ĐỔI MỚI 11 1.1 Khái quát về xã hội học văn học 11
1.1.1 Giới thuyết về xã hội học văn học 11
1.1.2 Các khuynh hướng nghiên cứu xã hội học văn học ở Việt Nam 14
1.2 Trường văn học và vị thế của Nguyễn Huy Thiệp trong trường văn học thời Đổi mới 17
1.2.1 Quan niệm về lý thuyết Trường văn học của P Bourdieu 17
1.2.2 Sự xuất hiện truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp trong thời kì đổi mới 21
1.2.3 Hành trình sáng tạo và đóng góp của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong trường văn học đổi mới 25
1.2.4 Vị thế của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong trường văn học 31
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CỦA CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP 37
2.1 Không gian xã hội trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 37
2.1.1 Không gian xã hội vùng miền núi – nông thôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 37
2.2 Đời sống và vị thế xã hội của các nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 46
2.2.1 Đời sống xã hội của nhân vật 46
2.2.2 Vị thế xã hội của các nhân vật 49
2.3 Những chuẩn mực mới trong xã hội thị trường 56
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 QUYỀN LỰC NIỀM TIN XÃ HỘI VÀ SỰ TÌM KIẾM TỰ CHỦ TRONG TRƯỜNG QUA TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 65
3.1 Quyền lực, xung đột niềm tin trong xã hội thời thị trường 65
3.1.1 Niềm tin, vấn đề vốn trong xã hội thị trường qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 65
3.1.2 Những mặt trái xã hội 70
3.2 Danh dự, phẩm giá của nhân vật trong truyện ngắn 74
Trang 83.3 Tìm kiếm vị thế trong trường văn chương 79
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
1.1 Mô hình trường văn học theo quan điểm của P Bourdieu 18
3.1 Sơ đồ mô hình vốn kinh tế và văn hóa trong truyện Không
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học Việt Nam từ giai đoạn 1986 trở về sau thực sự chuyển biến sâu sắc và toàn diện - văn học bước vào thời kì đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ mở ra nhiều thành tựu, triển vọng Văn học nhìn thẳng vào sự thật, những vấn đề đạo đức thế sự được các nhà văn đặc biệt quan tâm Vì thế mà người đọc được đón nhận nhiều tác phẩm văn học mang hơi hướng hoàn toàn mới mẻ cả về nội dung lẫn hình thức Hoàn cảnh lịch sử mới
đã tạo nên một thời kì văn học mới với những thay đổi rõ nét, phát triển theo hướng dân chủ Trong đó, “Tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân” là nền tảng tư tưởng
và cảm hứng chủ đạo bao trùm văn học giai đoạn này Chính sự thức tỉnh ý thức cá nhân
đã mở rộng cánh cửa cho văn học khai thác được nhiều đề tài và chủ đề mới, làm thay đổi quan niệm về con người Con người giờ đây được nhìn ở nhiều vị thế đa chiều, đó không chỉ là con người xã hội, con người lịch sử mà đó còn là con người trong quan hệ với gia đình với thiên nhiên môi trường Hơn hết, đó là con người với chính mình, với những buồn vui, sướng khổ, được mất,… Con người đi vào văn học một cách trần trụi, nhân bản và giàu tính hướng thiện Văn học Đổi mới xuất hiện nhiều tài năng với những tên tuổi Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương Các cây bút đó đã góp phần làm thay đổi diện mạo văn học, tạo được sức hấp dẫn cho văn xuôi Việt Nam đương đại Trong số đó, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nổi bật lên trở thành một hiện tượng độc đáo, có vị thế then chốt của văn học thời kì này Ông trở thành trung tâm của trường văn học đổi mới Các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã gây ra các hiệu ứng tiếp nhận khác nhau Qua tìm hiểu các bài viết, công trình nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi nhận thấy người đọc đã dùng những hệ qui chiếu khác nhau để tiếp nhận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp với trung tâm là thể loại truyện ngắn, giới phê bình không chỉ phân tích ngữ nghĩa, mà còn tranh luận gay gắt về cách đọc sáng tác của nhà văn Có rất nhiều cách đọc văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp Nhiều đặc điểm ngôn ngữ trong sáng tác của ông đã được giới phê bình phát hiện nhờ có những cách đọc tinh tế Cũng có nhiều cách đọc nhầm lẫn Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có thể hiện diện bằng cách đọc truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích, hay cách đọc lịch sử học trong các giáo khoa thư Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về Nguyễn Huy Thiệp trên nhiều phương diện khác nhau, với nhiều lí thuyết khác nhau nhưng cho đến nay, dư luận vẫn chưa hết bàn cãi, tranh luận về ông Nổi bật lên trong thế giới truyện Nguyễn Huy Thiệp
là những con người, những hành vi, lời nói, ứng xử với một kiểu xã hội đặc thù Nếu đặt ông trong trường văn học đổi mới, với những giá trị, vị thế mà ông tạo ra sẽ có những điểm nhìn riêng về ông và thế giới nghệ thuật của ông
Nói đến truyện ngắn Việt Nam đương đại, không thể không nhắc đến Nguyễn Huy
Trang 11Thiệp - người đã góp phần làm cho đời sống văn học thời kì đổi mới trở nên sôi nổi và khởi sắc hơn bao giờ hết Tràn đầy tinh thần cách tân, Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng một cách tối đa khả năng của ngôn ngữ và đặc trưng của thể loại để biểu đạt một cách cao nhất ý tưởng, tình cảm của mình Chính vì sự mới mẻ ấy mà từ khi xuất hiện đến nay, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dư luận Ý kiến về truyện ngắn của ông, dù khen hay chê, tất thảy đều mạnh mẽ, quyết liệt và thậm chí trái ngược nhau như nước với lửa Thời gian trôi qua, những xúc cảm nóng bỏng về những gì ông viết ở người đọc chuyển dần sang sự nghiền ngẫm kĩ lưỡng Nhiều người bắt đầu đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá tài năng văn chương của ông một cách khách quan hơn qua những trang viết thận trọng Sau đúng hai mươi năm xuất hiện trên văn đàn, ngày 9 tháng 7 năm 2007, đại sứ Pháp tại Việt Nam đã tổ chức trọng thể buổi lễ trao tặng huân chương Văn học nghệ thuật của Pháp cho Nguyễn Huy Thiệp Huân chương này là một phần thưởng đầy vinh
dự cho Nguyễn Huy Thiệp, điều không phải bất kì nhà văn nào cũng có thể đạt được
Nó cũng còn là một minh chứng cho tầm ảnh hưởng rộng lớn của tác phẩm văn chương của Nguyễn Huy Thiệp đối với độc giả trên thế giới
Về mặt lí thuyết vận dụng, xã hội học văn học của P Bourdieu đã có nhiều người lấy làm căn cứ thực hành đọc tác phẩm hoặc phân tích tác giả Những thuật ngữ công cụ của P Bourdieu đã có đóng góp lớn cho việc tiếp cận giá trị văn chương Mặt khác là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy chúng tôi nhận thức được về tầm quan trọng của vấn đề xã hội học trong việc tiếp nhận văn bản Với việc thực hiện đề tài này, chúng tôi
sẽ có cơ hội học tập, bổ sung và làm đầy đặn thêm kiến thức Đồng thời chúng tôi được vận dụng những tri thức lí thuyết xã hội học vào việc đổi mới phương pháp dạy học đọc
và thực hành văn bản nghệ thuật, ứng dụng vào việc diễn giải văn bản văn học trong nhà trường giúp học sinh có thêm những nhận thức riêng và khác về bản chất và các giá trị văn học
Đó là những lí do chính thôi thúc chúng tôi lựa chọn truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn xã hội học văn học theo lí thuyết của P Bourdieu làm đề tài nghiên cứu cho bản luận văn này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ cuối thập niên 80 của thế kỉ XX cho đến nay, Nguyễn Huy Thiệp đã được nghiên cứu sâu rộng trên nhiều phương diện khác nhau
Nhà sử học Tạ Ngọc Liễn, lúc thì cảnh báo: “Chúng ta phải nhắc nhở anh cần định
hướng lại một cách chín chắn hơn khi ngồi trước trang giấy, đặc biệt, cần kiểm tra lại vốn tri thức văn hoá, vốn hiểu biết lịch sử trong hành trang anh đang có nếu như anh vẫn tiếp tục các đề tài lịch sử” [50, tr.170], lúc thì chỉ trích khá gay gắt, rằng Nguyễn
Huy Thiệp là người có “nhận thức phiến diện”, “trình độ học vấn chưa đầy đủ” [50, tr
176], cách viết của ông là “xúc phạm danh dự dân tộc” Từ góc nhìn lịch sử, Tạ Ngọc Liễn yêu cầu Nguyễn Huy Thiệp: “không được hư cấu xuyên tạc một cách tuỳ tiện, giống như không ai được phá hoại các di tích lịch sử đã được xếp hạng” [50, tr.471]
Trang 12Cùng một cách nhìn thiếu thiện cảm với chùm truyện về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thúy Ái đã giật một cái “title” khá ấn tượng cho một bài viết của mình
“Viết như thế cũng là một cách bắn súng lục vào quá khứ”[50, tr.203]
Đặc biệt, nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng: trong những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, những cách tân nghệ thuật là rất cần thiết cho một khuynh hướng văn học mới Năm 2001, trong lời tựa cuốn “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” (cuốn sách tập hợp khá nhiều bài viết về Nguyễn Huy Thiệp), Phạm Xuân Nguyên khẳng định: “ một hướng kết tinh đầy ấn tượng của thời kì đổi mới văn học là sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Hiện tượng
Nguyễn Huy Thiệp – đó là thành quả của đổi mới” [50, tr.5]
Lại Nguyên Ân là một trong những người đầu tiên bênh vực Nguyễn Huy Thiệp
Phản bác lại các ý kiến phê phán đã nói ở trên, ông viết: “đọc văn phải khác với đọc lịch
sử”, và mạnh dạn đưa ra quan điểm riêng của mình: “qua những Kiếm sắc, Vàng lửa
Tôi nghĩ là anh có điểm nhấn riêng, theo kiểu văn học” [50, tr.186 - 187] Văn Tâm
khẳng định: “không thể đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (những sáng tạo thẩm mỹ)
bằng đôi mắt sử ký giáo khoa thư như nhà nghiên cứu Tạ Ngọc Liễn đã làm” [50, tr.287]
Nguyễn Văn Lưu cho rằng: Nguyễn Huy Thiệp không hề “bôi đen” hay “xuyên tạc lịch sử” Anh chỉ viết theo cách cảm, cách nghĩ của riêng mình Nguyễn Huy Thiệp chỉ mượn lịch sử để bộc lộ “thái độ đối với hiện tại” [50, tr.311] Nguyễn Văn Bổng cũng quả quyết “anh không định qua các nhân vật ấy đánh giá lại lịch sử, đánh giá lại bản thân
các nhân vật Anh chỉ mượn các nhân vật và hoàn cảnh lịch sử để nói chuyện khác” [50,
tr.148] Các ý kiến của Lê Xuân Giang, Trịnh Bá Đĩnh cũng có những phát hiện khá lí thú về hình tượng nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp, họ chứng minh rằng thông qua việc xây dựng hình tượng nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp nhằm đối thoại với bạn đọc Như vậy, trong sáng tác của mình, Nguyễn Huy Thiệp không đi chệch ra khỏi những vấn đề liên quan đến con người Và ở các tác phẩm lấy cảm hứng từ lịch sử, những gì nhà văn thể hiện cũng không nằm ngoài mục đích ấy Trước những vấn đề về đời sống xã hội
mà Nguyễn Huy Thiệp đặt ra trong các tác phẩm, Mai Ngữ khẳng định: tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đã “gây bất ngờ, sửng sốt cho người đọc, khiến mọi người phải suy
nghĩ nghiêm túc về thực trạng xã hội hiện nay, về sức mạnh và khả năng của văn học”
[50, tr.418]
Đi vào khảo sát một tác phẩm cụ thể, Vũ Đức Phúc nhận thấy: với “Tướng về hưu”, “thực trạng xã hội thể hiện qua thái độ lạnh lùng của nhà văn như một liều thuốc đắng thức tỉnh con người” Hoàng Ngọc Hiến bổ sung cho luận điểm trên bằng những nhận xét cô đọng, thấu đáo: “Dẫu là kể chuyện cổ tích, Nguyễn Huy Thiệp trước sau vẫn viết về cuộc sống ngày hôm nay” [50, tr.6] Trước những sự thật, những xấu xa được phơi bày trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Đông La thẳng thắn đánh giá: “Nguyễn Huy Thiệp đã xé toạc cái khách sáo của con người ở chốn đông đúc ấy để viết về cái lõi tâm lí, cái tâm lí thật, cái tôi của con người Từ cái cao cả đến cái thấp hèn, từ phù du
ảo huyền đến thông thục Đó là những ao ước, khát khao, những toan tính mưu mô, kể
Trang 13cả những ham muốn bản năng Nhiều khi anh đẩy đến tận cùng khiến người đọc phải
e ngại” [50, tr.132] Bằng tấm lòng trân trọng và thấu hiểu tài năng của Nguyễn Huy
Thiệp, Hoàng Ngọc Hiến đồng cảm sâu sắc với những trăn trở, xót xa của nhà văn khi phải đặt bút phơi bày phần khuất tối trong mỗi con người “nói về sự đốn mạt, hèn kém của con người, câu văn Nguyễn Huy Thiệp thường man mác cảm giác tê tái Đằng sau cảm giác này là nỗi đau nhân tình Một nỗi đau âm thầm, lặng lẽ nhưng sâu sắc Ngòi bút trào phúng của Nguyễn Huy Thiệp vừa trào phúng vừa xót xa” [50, tr.14] Những truyện ngắn lấy cảm hứng từ huyền thoại được công luận tán thưởng hoàn toàn Nguyễn
Vy Khanh có những phát hiện về thi liệu dân gian trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp: “Nhờ thể huyền thoại, Nguyễn Huy Thiệp có những đoạn truyện như là thơ, một thứ thơ dân gian, xa chốn văn minh giả tạo và dối trá Truyện và thơ của ông hay xen
những đoạn thơ mà tác giả coi như là một phương tiện diễn tả dễ dàng hơn văn truyện”
[50, tr.380] Về chất thơ trong các truyện ngắn và việc Nguyễn Huy Thiệp hay lồng thơ vào trong mỗi sáng tác, T.N.Filimonova đã có hẳn một bài viết dài 15 trang Ở đó, nhà nghiên cứu người Nga này khẳng định: khi sử dụng thủ pháp này, Nguyễn Huy Thiệp
đã “làm cho văn của anh trở nên rất đặc biệt, dễ nhận ra” và đưa ra nhận xét “Hầu như mỗi truyện ngắn của anh đều hiện diện vết tích của các huyền thoại, truyền thuyết, dân
ca, tục ngữ yếu tố dân gian trong tác phẩm của anh là một đề tài rộng lớn” [50, tr.156] Nguyễn Huy Thiệp sử dụng các yếu tố dân gian và hiện đại hoá, cách điệu hoá chúng không gì khác hơn là để “nêu bật được những vấn đề vĩnh cửu về cái thiện và cái ác, về
số phận đang dằn vặt con người hiện đại” [50, tr.164] (Phạm Xuân Nguyên, 2001, trang 164) Về cách viết của Nguyễn Huy Thiệp, tiến sĩ sử học người Úc – Greg Lockhart đã nhận xét: “cách viết của Nguyễn Huy Thiệp là cách viết của một nghệ sĩ khách quan đứng ở ngoài truyện nhìn vào Anh ấy không bị vướng chân vào đời sống nhân vật, vừa nói về đời sống vĩ đại của vua Gia Long, vừa nói về đời sống của một đồ tể, của một bác
sĩ phá thai, thậm chí vừa nói đến một người Tây, thì số phận con người tự bộc lộ chỉ qua lời khái quát và hành động của nó” [50, tr.112] Để lí giải vì sao lại chọn dịch tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Anh, ông khẳng định: tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp không chỉ là đóng góp cho văn học Việt Nam mà “cũng là đóng góp cho văn học thế giới”, sở dĩ như vậy “chính là vì tính chất nhân bản của chúng” [50, tr.115] Một điều thật thú vị cần phải nói thêm rằng, ngay cả những người từng lên án chỉ trích gay gắt ông vẫn không thể không thừa nhận tài năng của cây bút truyện ngắn độc đáo này Bên cạnh những lời phê phán Nguyễn Huy Thiệp, nhà sử học Tạ Ngọc Liễn viết: “mặc dầu mới xuất hiện, song anh đã sớm chứng tỏ được mình là một nhà văn có bản sắc riêng,
mới mẻ, bạo dạn, súc tích gây được chú ý thật sự của độc giả” [50, tr.170]
Khuê Các (trong “Nhân đọc “Vàng Lửa” - nguồn Talawas năm 2005) [38] khẳng định: “Truyện ngắn “Vàng Lửa” của Nguyễn Huy Thiệp có ba mảng, chính xác hơn là cuộc đời của ba nhân vật: Gia Long, Nguyễn Du và Phăng Nguyễn Huy Thiệp không
hề viết tiểu sử của ba nhân vật ấy, nhưng thông qua họ, Thiệp muốn đi sâu vào các chủ
Trang 14đề: Quyền lực, quyền lợi và vai trò của trí thức nói chung và văn nghệ sĩ nói riêng trong lịch sử nhân loại” Bài “Triết lí văn chương trên trang viết Nguyễn Huy Thiệp” trên Evăn cho rằng “Bởi không như Nam Cao, cuối cuộc hành trình đó, Nguyễn Huy Thiệp không đưa ra bất kỳ một chân lý nào Cái ông đem đến cho người đọc lại là một sự hoài nghi về chân lý” [Dẫn theo 55, tr.7]
Soi sáng tác phẩm của một số nhà văn bằng lí thuyết văn học hậu hiện đại, tác giả
La Khắc Hoà khẳng định: “Có thể tìm thấy trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài những câu chuyện thể hiện tâm trạng và cảm quan hậu hiện đại” [27] Không chỉ vậy, ông còn có những phát hiện xác đáng: “Khó tìm thấy nhân vật chính diện trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài Đọc truyện ngắn, truyện dài của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp ta thường nghe thấy một giọng điệu kể chuyện lạnh lùng, khinh bạc, thậm chí tàn nhẫn “Cuộc đời vô nghĩa” là tứ truyện chi phối mạch vận động của câu chữ, hình ảnh trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp” [27]
Và hơn thế nữa, ông cho rằng, cùng với Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp là người khởi xướng ra một xu thế mới trong kĩ thuật viết truyện ngắn: “khi Nguyễn Huy Thiệp
và Phạm Thị Hoài xuất hiện, ta thấy có những dấu hiệu về một cuộc chia tay với nguyên tắc dụ ngôn cùng với những vị ngữ bất biến, quen thuộc của nó Khi sự hồ nghi tồn tại
đã thấm sâu vào cảm quan nghệ thuật, chắc chắn nhà văn sẽ tìm đến nguyên tắc lạ hoá làm nền tảng cấu trúc hình tượng” [27]
Nguyễn Thị Minh Thái cũng đánh giá rất cao thủ pháp “lạ hoá” trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp: “Tiếng Việt được viết lạ chưa từng thấy Cung cách tưởng tượng
và phản ánh hiện thực cuộc sống người Việt được “lạ hoá” một cách hiện đại cũng chưa từng thấy” “Nguyễn Huy Thiệp kể một cách trầm tĩnh, ém nhẹm một cái buồn nhân thế dưới cái nhìn “Dân chủ hoá” Dường như nhà văn này thật kinh hãi sự giáo huấn thô lậu, lộ liễu và chỉ muốn khơi dậy, đánh thức sự bất ổn trong người đọc” [63]
Một số các khoá luận, tiểu luận, luận văn tốt nghiệp đại học, sau đại học cũng chọn tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp để nghiên cứu Trong quá trình thu thập tài liệu, chúng tôi đã có trong tay một số tiểu luận, luận văn nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Tiểu luận “Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” của Trần Nhất Lý, bước đầu đưa ra những kiến giải về một số yếu tố nghệ thuật cụ thể trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp như: không gian và thời gian nghệ thuật cùng các ý kiến xung quanh truyện ngắn của ông Luận văn thạc sĩ khoa học “Chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp” [Dẫn theo 33] của Tạ Thị Hường, đi sâu vào nghiên cứu chất thơ trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng như các phương thức nghệ thuật nhà văn đã sử dụng để tạo nên chất thơ ấy [dẫn theo 76] Luận văn thạc sĩ khoa học “Yếu tố giễu nhại trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” của Bùi Ngọc Anh thì đi sâu tìm hiểu yếu tố giễu nhại
và nghệ thuật tạo nên yếu tố giễu nhại ấy [1] Luận văn thạc sĩ khoa học “Nghệ thuật
xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” Phan Thanh Bình thì đi sâu
tìm hiểu thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của
Trang 15Nguyễn Huy Thiệp [5], v.v
Các công trình nghiên cứu khoa học này đã ít nhiều đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu
và bước đầu đưa ra được những lí giải khá sâu sắc về một số phương diện cụ thể trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp Tuy nhiên, để hiểu một cách đầy đủ hơn về Nguyễn Huy Thiệp nhằm xác định các đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại, chúng
ta cần có một cái nhìn toàn diện, đa chiều hơn
Những nghiên cứu về lí thuyết Trường và vận dụng vào thực tế văn học Việt Nam
có thể kể đến các công trình sau đây:
Năm 2008, trong bài viết “Khác biệt và tương đồng, nghiên cứu xã hội học về trường hợp Trần Dần giai đoạn hòa bình lập lại”, nhà nghiên cứu Phùng Ngọc Kiên đã vận dụng lí thuyết Trường của P Bourdieu để chỉ ra những đóng góp quan trọng cho trường văn học về những giá trị thơ của Trần Dần so với những người cùng thời, nhưng phải đến giai đoạn sau Đổi mới mới được phát hiện Những điểm nhấn của Trần Dần nằm ở chỗ có ý thức tách riêng ra khỏi quy tắc thị trường phổ thông và trường chính trị
cơ bản cho sự hình thành của trường văn học” [62]
Tác giả Nguyễn Văn Thuấn, trong công trình “Du hành giữa các văn bản - Nguyễn Huy Thiệp xã hội Việt Nam sau 1975” cũng đề cập nhiều vấn đề liên quan đến nội dung
xã hội trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp Đây là công trình xuất bản từ
luận án tiến sĩ Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ lí thuyết liên văn bản Mặc dù điểm
Trang 16tựa lí thuyết của công trình này là Liên văn bản nhưng các nội dung triển khai hướng đến lí giải mối quan hệ muôn thuở giữa văn chương và chính trị, thiện và ác, nam giới
và nữ giới, v.v Đây là những gợi ý quan trọng cho chúng tôi trong luận văn này [69] Tác giả Phùng Ngọc Kiên có bài viết quan trọng từ lí thuyết xã hội học văn học về
trường hợp Nguyễn Huy Thiệp Phùng Ngọc Kiên đặt vấn đề về Ai đọc Nguyễn Huy
Thiệp? Nhà nghiên cứu đã đặt Nguyễn Huy Thiệp trong “thời kì thị trường” Đặt trong
trường tương quan giữa yếu tố thị trường, người đọc và sự tồn tại của nhà văn, sự tự chủ trong việc phát triển các yếu tố nghệ thuật luôn luôn nằm trong mối suy tư giữa nghệ thuật và đời sống Văn bản được lựa chọn xuất hiện những năm cuối 90 khi nhà văn trở thành một người viết đích thực, tương đối độc lập Việc lựa chọn này phù hợp với kiểu nhà văn thời kỳ thị trường, khi mà tiếng nói của công chúng có vai trò quan trọng duy trì sự tồn tại có ý nghĩa của nhà văn “Đối với Nguyễn Huy Thiệp, đó là khi ông đã có một giá trị tượng trưng (valeur symbolique) tương đối trên thị trường, có thể được quy đổi như một số vốn (capital) tương đối lớn trên thị trường văn hóa phẩm Dù rằng có thể Nguyễn Huy Thiệp không hoàn toàn sống bằng nhuận bút nhà văn đi nữa – điều vô cùng hiếm hoi ở những nhà văn Việt Nam sau thời kỳ Đổi Mới - không thể phủ nhận vai trò của nhuận bút đối với hành vi sáng tạo Điều đó đồng nghĩa với việc Nguyễn Huy Thiệp được đọc ở một mức độ đáng kể Nghĩa là nhà văn luôn phải đối mặt với những câu hỏi
về việc liệu mình viết có được đọc, vì thế có nghĩa là đáng để các nhà sách hay nhà xuất bản bỏ tiền để in hoặc tái bản cho tác phẩm của mình Việc in do vậy có thể giúp: nhà văn kiếm thêm tiền, và nhờ đó có thêm danh tiếng Giá trị thị trường gia tăng cho giá trị tượng trưng, để từ đó đảm bảo được một sự độc lập nhất định của tư cách nhà văn Ông
ta không buộc phải viết theo yêu cầu của thị trường, do các nhà sách kê ra Do đó, nhà văn có thể theo đuổi một số nhóm đề tài, chủ đề, nhân vật mà mình yêu thích Khi theo đuổi chúng một cách tự thân, nhà văn với tư cách một người đã có kinh nghiệm, và là một nhà văn chuyên nghiệp sẽ viết một cách kỹ càng nhất có thể Như vậy, việc xem xét loại tác phẩm này cho phép ta xác định được kiểu người đọc mà nhà văn tự tạo cho mình
và theo đuổi” [36] Có thể nói, đây là bài viết duy nhất cho đến nay đặt vấn đề nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ lí thuyết xã hội học văn học của P Bourdieu Tác giả bài viết đã vận dụng các thuật ngữ của lí thuyết xã hội học của P Bourdieu như giá trị tượng trưng, vốn tượng trưng, tính tự chủ trong trường và các thiết chế liên quan đến trường văn học như nhà xuất bản, nhà sách Tính chất tự chủ của Nguyễn Huy Thiệp thấy rõ trong hành động “ông không phải hội viên Hội Nhà văn, không tham gia vào một tổ chức hay hội đoàn văn chương Có nghĩa là trong chừng mực nhất định, theo ngôn ngữ chính thống, ông chưa phải là nhà văn Thế nhưng việc một người viết văn nhiều, có tiếng tăm đề cập tới chính những gì mình vẫn làm hàng ngày cho thấy anh ta
có nhu cầu xem xét lại chính mình, giữ khoảng cách với chính mình Nói cách khác đó
là xu hướng phản tư nhằm đạt đến tính tự trị Nó không phù hợp khi người đọc ưa tìm kiếm mối quan hệ phụ thuộc giữa cuộc đời và văn chương” [36] Thông qua việc đọc
Trang 17văn bản Bài học tiếng Việt, tác giả bài viết chỉ ra rằng “Trong câu chuyện này, và cũng
như nhiều câu chuyện khác, Nguyễn Huy Thiệp cố tình bày ra một mâu thuẫn đầy tính tranh luận, đầy khiêu khích về vị thế nhà văn: anh ta được xã hội ngợi ca bởi suy nghĩ khác họ, và đặc biệt anh ta chỉ có giá trị khi được xã hội thượng lưu dùng làm vật trang điểm; nhưng khi trình bày điều đó thì anh ta dễ dàng bị tống ra khỏi cửa vì điều ấy đi ngược những điều được tôn xưng ở đó, vốn là một phần ở những điều anh ta nói” [36]
Về mặt giai tầng xã hội, Vũ cũng như các nhà văn khác thuộc lớp trung gian (không phải trung lưu) có tính biến hình Họ sống kham khổ (ở ngoại ô, cầu Mới), nhưng lại giao du với lớp nhà giàu sống ở khu phố buôn bán Vũ đương nhiên không thuộc về đám nhà giàu, nhưng cũng chẳng phải nhà nghèo ngoại ô Họ đi kiếm tìm một giá trị nào đó trong xã hội
Năm 2020, trong luận án tiến sĩ “Văn xuôi ở đô thị Nam bộ 1945-1954 từ góc nhìn phê bình xã hội học” của tác giả Nguyễn Thị Phương Thúy, ngoài việc vận dụng lí thuyết
xã hội học Marxist, từ quan điểm phản ánh và chức năng cải tạo hiện thực thì lí thuyết trường của P Bourdieu cũng được chú trọng hướng đến Tác giả luận án xác định “Vận dụng lý thuyết trường của Pierre Bourdieu, luận án tìm hiểu vị trí của nhà văn, tác phẩm bằng cách xem những đối tượng này là những tác nhân tạo lực, thông qua chiến lược sử dụng các loại vốn như vốn tượng trưng, vốn chính trị, vốn kinh tế Tất cả những thông tin về chiến tranh, quan hệ quốc tế, chính quyền, đảng phái, báo chí, xuất bản, khủng hoảng kinh tế, văn hoá, giải trí, tệ nạn được cung cấp và sẽ được phân tích như các trường lực và các loại vốn, từ đó giải thích sự vụt sáng và chiếm lĩnh văn đàn của một thế hệ các tác giả mới trong những năm 1945-1950, sự trở lại trong những năm 1950-
1954 của các nhà văn gạo cội và sự xuất hiện của những tác giả trẻ viết văn giải trí” [72]
Lý thuyết “Trường” của Pierre Bourdieu được hình thành từ thực tế nghiên cứu
đời sống văn học Pháp nửa cuối thế kỉ XIX Vì vậy, khi áp dụng vào nghiên cứu văn chương Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chắc chắn cần những điều chỉnh nhất định [73] Được tiếp nhận một cách khoa học, lí thuyết này
sẽ có thể là một công cụ hữu hiệu giải quyết vấn đề mà chúng tôi đặt ra trong luận văn này, đồng thời cũng có thể góp phần tìm hiểu văn chương Việt Nam đương đại, cụ thể
là góp phần lí giải vị thế xã hội của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng như các vấn đề mà truyện ngắn của ông đặt ra
Như vậy, nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn xã hội học văn học, đặc biệt là nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ lí thuyết “Trường” của Pierre Bourdieu vẫn còn là một vấn đề còn nhiều hi vọng để phân tích, đánh giá và diễn giải
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc
Trang 18nhìn xã hội học văn học” Cụ thể, các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã xuất bản
được chúng tôi nhìn nhận, đánh giá từ những gợi ý của lí thuyết xã hội học văn học của
P Bourdieu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn xã hội học văn học tập trung làm rõ trong giới hạn các phạm vi sau:
- Phạm vi nội dung: Nguyễn Huy Thiệp và trường văn học đổi mới; Trường đời
sống xã hội của các trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp; Biểu trưng về vốn, quyền lực
và niềm tin xã hội trong tuyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
- Phạm vi đối tượng khảo sát: Nghiên cứu đề tài này chúng tôi tập trung tiếp cận các “Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp”, do Nhà xuất bản Văn học, ấn hành năm
2020 (Ấn Bản kỷ niệm 70 năm ngày sinh tác giả - gồm 42 tác phẩm)
- Phạm vi lí thuyết xã hội học văn học: các vấn đề liên quan đến lí thuyết “trường văn học” của P Bourdieu
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản và đưa ra những luận điểm khái quát của luận văn
Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc tác phẩm, tìm ra nguyên tắc chi phối sự hình thành của chúng Từ đó, rút ra kết luận về nguyên tắc chi phối việc sáng tạo toàn bộ tác phẩm
Phương pháp so sánh - đối chiếu: Là phương pháp chính, nhằm làm nổi bật sự khác biệt của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp so với các nhà văn khác trên các phương diện: thế giới nhân vật Những phương pháp này sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình nghiên cứu
Lí thuyết xã hội học văn học: Lí thuyết Xã hội học văn học của P Bourdieu
5 Đóng góp của Luận văn
Luận văn nghiên cứu Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn xã hội học văn
học nhằm khẳng định nhận thức riêng về giá trị của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ
góc nhìn xã hội học văn học Từ đó để thấy rằng muốn phát triển một nền văn học không chỉ quan tâm yếu tố sáng tạo mà còn phải chú ý đến yếu tố các cách đọc tác phẩm nghệ thuật văn chương Bởi tác phẩm văn học không phải là sản phẩm cố định trên mà là quá trình tạo gắn liền với thời đại, với hoạt động tiếp nhận của người đọc Luận văn cũng là dịp để chúng tôi khẳng định những đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp trong quá trình đổi mới văn học nước nhà Sáng tác của nhà văn có tác động quan trọng đối với tư duy lí luận - phê bình văn học về góc độ lí giải tác phẩm văn học Luận văn cũng góp phần khẳng định tính khả dụng của phương pháp xã hội học văn học trong nghiên cứu văn học
6 Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai
Trang 19gồm ba chương:
Chương 1: Nguyễn Huy Thiệp và Trường văn học thời Đổi mới
Chương 2: Đời sống xã hội của các nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Chương 3: Quyền lực niềm tin xã hội và sự tìm kiếm tự chủ trong trường qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Trang 20Chương 1 NGUYỄN HUY THIỆP VÀ TRƯỜNG VĂN HỌC THỜI ĐỔI MỚI
1.1 Khái quát về xã hội học văn học
1.1.1 Giới thuyết về xã hội học văn học
Trong chương thứ 9, khi bàn về mối quan hệ giữa văn học và xã hội, hai nhà nghiên cứu R Wellek và A Warren xác nhận rằng “văn học là một thể chế của xã hội, sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt, và cũng là một tạo vật của xã hội Xét theo bản chất của mình thì cả các phương tiện văn học như tượng trưng hóa, độ lớn của tác phẩm, cũng có tính chất xã hội Chỉ có trong xã hội, những quy ước và chuẩn mực được mọi người thừa nhận mới có thể hình thành được Hơn nữa, văn học miêu tả cuộc sống, mà cuộc sống với ý nghĩa rộng của từ đó - là cuộc sống xã hội nhà văn cũng là một thành viên của xã hội như tất cả những người khác, anh ta có quan hệ với một số công chúng nhất định” [78, tr.157] Văn học đã phát triển trong một mối quan hệ chặt chẽ nhất với các hệ thống xã hội khác Theo đó, những vấn đề xuất hiện khi nghiên cứu văn học – tất
cả, chủ yếu là những vấn đề xã hội, như truyền thống và tính ước định, các chuẩn mực
và các thể loại, các biểu tượng và các huyền thoại Hoàn cảnh của văn học được định
vị trong tương quan với trật tự kinh tế, xã hội, chính trị Các nhà lí luận cũng xác định các mối quan hệ thực tế giữa văn học và xã hội, có thể phân loại trên các mức như: “Ở hàng đầu là xã hội học của các nhà văn, của nghề viết văn của các quy định trong văn học, tức là toàn bộ phạm vi các vấn đề tạo thành cơ sở kinh tế của lao động văn học: xuất xứ xã hội và vị trí trong xã hội của nhà văn, thế giới quan của anh ta, nó xác định
cả tính chất hoạt động và những lời phát biểu ngoài phạm vi văn học của anh ta Sau đó
là nội dung xã hội của chính các tác phẩm văn học, vị trí và ý nghĩa của chúng trong cuộc sống xã hội Và sau cùng là vấn đề độc giả và tác động xã hội của văn học Mặt xã hội học của nhà văn, nội dung xã hội của tác phẩm nghệ thuật và ảnh hưởng của văn học đối với xã hội – cả ba mặt này của một vấn đề bằng cách này hay cách khác đều liên quan đến vấn đề tính chất quyết định của văn học, sự phụ thuộc của văn học vào môi trường xã hội, các thay đổi trong đời sống xã hội” [78, tr.160 -161]
Đối tượng của môn xã hội học văn chương, theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Quang
“là nghiên cứu về sự kiện văn chương xét như một sự kiện xã hội Nói như vậy có nghĩa trước hết là coi văn chương như một hiện tượng xã hội trong đó có nhiều định chế và cá nhân tham gia vào việc sản xuất, phân phối, tiêu thụ và phê bình các tác phẩm Đồng thời cũng có nghĩa là quan tâm tới những dấu ấn của thời đại và đặc trưng của xã hội nằm trong các văn bản sáng tác văn chương” [57, tr.1]
Cũng như nhiều chuyên ngành xã hội học khác, môn xã hội học văn chương cũng trải qua những giai đoạn giằng xé giữa hai ngành có liên quan trực tiếp là xã hội học và văn học Do đặc trưng độc đáo của các tác phẩm văn chương, nên những công trình nghiên cứu xã hội học văn chương có lúc bị giới văn học coi là “quá xã hội học” vì họ
Trang 21thường dị ứng với những lối tiếp cận và lập luận thiên về quan điểm “tất định luận” mà
họ cho là quá máy móc và thô thiển, nhưng cũng có lúc lại bị chính giới xã hội học coi
là “quá văn học” Tuy nhiên, chính sự giao thoa giữa hai ngành xã hội học và văn học thực ra có thể mang lại nhiều thành quả đầy hứa hẹn cho tri thức học thuật [57, tr.2] Môn xã hội học văn chương chủ yếu nghiên cứu lãnh vực văn chương dưới góc độ
xã hội học (bao gồm cả những phương pháp, những kỹ thuật khảo sát và phân tích định lượng và định tính) Về lối tiếp cận và lối đặt vấn đề, đây cũng là nơi giao thoa giữa các môn xã hội học về nghệ thuật, về văn hóa, truyền thông đại chúng, xuất bản, dịch thuật Nhờ đối thoại thường xuyên với các nhà văn học sử, nên môn này cũng có những nhãn giới nghiên cứu gần gũi với xu hướng nghiên cứu về giới cũng như xu hướng nghiên cứu hậu thuộc địa [57, tr.2]
Nói một cách tổng quát, sở dĩ môn xã hội học văn chương quan tâm tới các thể loại văn chương như anh hùng ca (hay sử thi), văn chương dân gian, thơ ca, kịch hay tiểu thuyết là vì hai lẽ sau đây: một mặt, những thể loại văn chương này thường mang dấu
ấn của nền văn hóa mà trong đó chúng được sáng tác và được đọc hoặc nghe; và mặt khác, chúng kiến tạo nên những vũ trụ tưởng tượng (hay vũ trụ hư cấu) vốn tuân theo lô-gic nội tại của mình Như vậy, đối tượng của môn xã hội học văn chương là khảo sát
và nghiên cứu về cả hai khía cạnh ấy, khía cạnh xã hội và khía cạnh văn chương, cũng như các mối quan hệ đa diện giữa hai khía cạnh này
Môn xã hội học văn chương, theo Trần Hữu Quang thường có những hướng nghiên cứu quan trọng như sau [57]:
Hướng nghiên cứu đầu tiên là tìm cách tái hiện thế giới xã hội đã được trình bầy trong tác phẩm Người ta thường làm điều này chẳng hạn đối với các tiểu thuyết theo xu hướng hiện thực (của Balzac, Maupassant, Zola ở Pháp; hay Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao ở Việt Nam), hay kể cả với thể loại bi kịch cổ điển (như các vở kịch của Corneille) mà nhờ đó người ta có thể tái hiện diện mạo của một thế giới chính trị cụ thể với những xung đột, hệ thống tôn ti thứ bậc, các qui tắc, luật lệ, giá trị, những cuộc thương lượng và giằng co Lối tiếp cận này coi tác phẩm văn chương như một khối tư liệu phong phú có ý nghĩa về mặt xã hội học
Hướng nghiên cứu kế tiếp là tìm cách trả lời cho một câu hỏi xã hội học chính yếu sau đây: đâu là những mối quan hệ giữa các thực tại xã hội của thời đại với các sản phẩm văn chương? Nhiều công trình đã đi theo quan điểm lý thuyết mác-xít khi nghiên cứu
về những mối quan hệ giữa các cấu trúc xã hội với các nội dung văn chương
Một hướng nghiên cứu khác là không chỉ khảo sát những mối quan hệ giữa các hình thái xã hội với nội dung văn chương, mà còn tìm hiểu mối quan hệ giữa các hình thái xã hội với các thể loại văn chương, cách lựa chọn ngôn ngữ thể hiện, và các phong cách hành văn
Một hướng nữa là nghiên cứu xã hội học về các nhà văn, vị trí xã hội cũng như vai trò thực tế của họ trong xã hội đương thời Đây cũng là một lãnh vực nghiên cứu quan
Trang 22trọng vì vị trí của các nhà văn thường thay đổi một cách lớn lao qua các thế kỷ Chẳng hạn vào thời kỳ lãng mạn của thế kỷ 19, người ta thấy xuất hiện vai trò nổi bật của giới nghệ sĩ khi họ đảm nhiệm sứ mệnh miêu tả và tố cáo thực trạng xã hội (Balzac, Zola) hay sứ mệnh hướng dẫn tư tưởng cho cả giới trí thức lẫn giới bình dân (Hugo)
Việc khảo sát về các hệ thống sản xuất và phân phối cũng là một hướng nghiên cứu đem lại nhiều kết quả đáng chú ý Mạng lưới các nhà xuất bản, các ấn phẩm, các tờ báo và tạp chí, với tất cả các chủ trương và các phương tiện tài chánh của mình, có thể tạo điều kiện, thúc đẩy, lèo lái hoặc ngăn trở việc công bố các tác phẩm văn chương Những biện pháp kiểm duyệt khác nhau cũng có thể can thiệp vào đây một cách hết sức
đa dạng, theo các tiêu chuẩn thương mại, chính trị, tôn giáo hoặc đạo đức, tùy từng trường hợp cụ thể Lãnh vực phân phối và phát hành cũng thường phải tuân theo lô-gic thương mại trong tình thế cạnh tranh giữa các nhà xuất bản, tuân theo lô-gic của những định chế chính đáng hóa, khả năng tài chánh của bộ phận quảng cáo Thông qua khái niệm “trường văn chương”, Bourdieu từng đề nghị nghiên cứu các tác giả, các nhà phê bình và các bộ máy “tấn phong” như một trường tự trị với những qui tắc chính đáng hóa
và ưu biệt hóa riêng của nó (Pierre Bourdieu, Các qui tắc của nghệ thuật) Nguồn gốc sinh thành và cấu trúc của trường văn chương
Cuối cùng là hướng nghiên cứu về độc giả, về sự lựa chọn, thị hiếu, và thói quen đọc sách báo của họ Điều này ngày nay càng quan trọng khi mà nền văn hóa đại chúng ngày càng tạo ra một không gian mông mênh cho lãnh vực sản xuất văn chương Lãnh vực xã hội học này đề cập tới những vấn đề như: cách thức tập luyện và làm quen với việc đọc sách báo văn chương, quá trình xã hội hóa thông qua việc đọc, những hiệu ứng của sự sản xuất và sự tiêu thụ các sản phẩm văn chương Lãnh vực nghiên cứu này cũng quan tâm tới hiệu ứng xã hội của các thể loại văn chương, các lối văn phong, các chủ đề hư cấu, cũng như quan tâm tới vai trò quan trọng của các phương tiện truyền thông đại chúng trong khâu lựa chọn và khâu phân phối các sản phẩm văn chương [57, tr.4] Giữa văn chương và xã hội học, người ta thấy từng có những mối liên hệ xung khắc hay cạnh tranh nhau, nhưng cũng thường trao đổi và thâm nhập hòa lẫn vào nhau [57, tr.4]
Văn chương thường quan tâm tới đời sống xã hội dưới nhiều góc cạnh đa dạng Với những bức tranh xã hội sống động và sắc sảo như của Balzac hay Flaubert, truyền thống hiện thực trong văn chương Pháp ngay từ cuối thế kỷ 18 đã đi vào mô tả nền phong hóa của những tầng lớp xã hội khác nhau (từ quí tộc đến tiện dân và tư sản), những nhóm nghề nghiệp (nhà báo, giới y tế, giới chứng khoán ), những định chế như hôn nhân, gia đình, nhà trường, hay những sự biến đổi của xã hội và những hiện tượng
di động xã hội [57, tr.5]
Như vậy, văn chương là một nỗ lực của con người “nhằm hiểu được kinh nghiệm
xã hội của mình” Nếu văn chương mô tả những kinh nghiệm xã hội đặc thù, không mang tính chất đại diện cho toàn bộ từng tầng lớp hay toàn bộ xã hội, thì có thể nói môn
Trang 23xã hội học văn chương thường quan tâm tới những xu thế tổng quát của quá trình phát triển văn chương hơn là tới từng tác giả cụ thể Việc phân tích những tác giả cụ thể nào
đó có thể giúp chúng ta hiểu biết về những kinh nghiệm xã hội đặc thù của họ, nhưng việc khảo cứu về những nguồn gốc xã hội của xu hướng hiện thực và xu hướng hiện đại trong văn chương chẳng hạn lại có thể cho phép chúng ta đi đến những kết luận tổng quát hơn
Nếu văn học có thể tận dụng được lối tiếp cận xã hội học để hiểu sâu hơn vào nội dung văn bản văn chương, thì ngược lại, xét về phía xã hội học, ngành này cũng có thể đạt được nhiều cái lợi khi nghiên cứu về văn chương Điểm thứ nhất, xã hội học không thể tự cho mình cái độc quyền tìm ra sự thật của xã hội; văn chương có một khả năng to lớn là giúp cho nhà xã hội học trở nên nhạy cảm hơn đối với xã hội nói chung và những phản ứng của các cá nhân trong xã hội nói riêng Thứ hai, “trí tưởng tượng văn chương” (literary imagination) là một điều hết sức đáng trân trọng, bởi lẽ nó có khả năng khảo sát và đi vào chiều sâu những cảm nghĩ và xúc cảm thực tế của các cá nhân Thứ ba, nếu bằng chứng văn chương được sử dụng một cách đúng đắn (tức là được sử dụng như một
“vật sở chỉ xã hội” chứ không phải như một “vật phản ánh xã hội”), thì nhiều khi nó đem lại những thông tin sắc sảo về những vấn đề cụ thể nào đó mà người ta không thể tìm được qua bất cứ kênh nào khác Và cuối cùng, điểm thứ tư, bằng chứng mà văn chương cung cấp có thể mang lại một lối lý giải hết sức tổng hợp và toàn diện: những cuốn tiểu thuyết mà trong đó nhà văn Conrad khảo sát những thân phận cá nhân đơn độc thường kết thúc bằng cái chết có lẽ mang lại cho chúng ta một cách nhìn sâu sắc và trọn vẹn hơn về thực tại cảm xúc của con người so với những công trình xã hội học của Durkheim về hiện tượng tự tử hay về tình trạng “phi chuẩn mực” hay mất phương hướng của cá nhân trong xã hội [57, tr.6]
Ngược với giả định cho rằng tác phẩm nghệ thuật hoàn toàn độc lập với xã hội và không hề chịu sự chi phối hay tác động gì bởi xã hội (như quan niệm lãng mạn coi nghệ
sĩ là “người sáng tạo” thuần túy), và cũng trái với lối tiếp cận duy hình thức (formalism) hoặc lối tiếp cận duy văn bản, môn xã hội học văn chương quan niệm rằng văn chương
là một hoạt động xã hội luôn luôn phụ thuộc vào những hoàn cảnh sản xuất tác phẩm và tiêu thụ tác phẩm, đồng thời cũng thường gắn liền với những giá trị, với một thế giới quan hay nhân sinh quan nhất định nào đó Do vậy, khi khảo cứu về mối quan hệ giữa văn bản với bối cảnh xã hội, môn này thường bao hàm cả hai vế: phân tích nội tại và phân tích ngoại tại Việc phân tích nội tại tập trung vào cấu trúc của tác phẩm Còn việc phân tích ngoại tại thì chú trọng tới bối cảnh xã hội và chức năng xã hội của tác phẩm
1.1.2 Các khuynh hướng nghiên cứu xã hội học văn học ở Việt Nam
Trước khi ra đời môn xã hội học văn chương, cũng đã có không ít tác giả và công trình đề cập tới những ý tưởng liên quan tới ảnh hưởng xã hội của văn chương cũng như mối quan hệ giữa văn chương với xã hội
Lý thuyết này được hình thành từ thực tế nghiên cứu đời sống văn học Pháp nửa
Trang 24cuối thế kỉ XIX Vì vậy, khi áp dụng vào thực tế văn chương Việt Nam, chắc chắn cần những điều chỉnh nhất định Được tiếp nhận một cách khoa học, lí thuyết này sẽ có thể
là một công cụ hữu hiệu giải quyết vấn đề mà chúng tôi đặt ra, đồng thời cũng có thể góp phần tìm hiểu văn chương Việt Nam đương đại, cụ thể là góp phần lí giải vị thế xã hội mà văn chương đã có và đang có
Ba thập niên đầu tiên của thế kỉ XX là một giai đoạn đặc biệt của lịch sử văn học Việt Nam: giai đoạn diễn ra quá trình chuyển đổi loại hình từ một nền văn học Trung đại, song ngữ Hán – Nôm, cấu trúc theo mô hình văn học Trung Quốc sang nền văn học Hiện đại, đơn ngữ Quốc ngữ, cấu trúc theo mô hình văn học Tây phương Nói cách khác, đây là giai đoạn tái cấu trúc và hình thành nên văn học hiện đại ở Việt Nam Trên thực
tế, đây cũng là giai đoạn có sự ảnh hưởng của lí thuyết Marxist, xã hội học Marxist, lí luận phản ảnh, cụ thể là những công trình phê bình của Nguyễn Bách Khoa, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều, v.v
Khuynh hướng tả thực cũng từng xuất hiện một cách sôi động trong văn chương Việt Nam vào những thập niên 1930 và 1940 Do “cái chân tướng của ngoại cảnh và của nội giới có thiên hình vạn trạng”, theo nhận xét của Dương Quảng Hàm, nên chủ đề của các nhà văn tả thực cũng hết sức phong phú, như mô tả sinh hoạt của các tầng lớp bình
dân, lao động (Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan; Tôi kéo xe của Tam Lang; hay Lầm
than của Lan Khai tả cuộc đời của giới phu mỏ), những “mặt trái của xã hội ăn chơi,
trụy lạc” (như Giông tố của Vũ Trọng Phụng; Hà Nội lầm than của Trọng Lang tả sinh hoạt của gái giang hồ và giới làng chơi, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng tả cuộc đời của dân ăn cắp), hoặc tả cảnh vật, phong tục và sinh hoạt thôn quê (Cậu bé nhà quê của Nguyễn Lân; Cô Dung của Lan Khai) [57, tr.5] Văn chương, theo John Hall, phải nói lên sự thật
của quá trình trải nghiệm xã hội, mặc dù sự thật này nhiều khi quá rắc rối nên không dễ
mà trình bầy được một cách rạch ròi, tách bạch Hall cho rằng nói đến “sự thật” ở đây thực ra có nghĩa là nói đến những nỗ lực khám phá hoặc làm sáng tỏ ý nghĩa của kinh nghiệm xã hội [57, tr.5]
Ở Việt Nam, từ những năm giữa thế kỉ XX, việc vận dụng phương pháp luận xã hội học mới để viết lịch sử văn học Việt Nam đã được quan tâm sớm Các công trình
như Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn; Sơ thảo lịch sử văn
học Việt Nam của nhóm “Văn sử địa”, bộ Lịch sử văn học của Đại học sư phạm, v.v
Những công trình trên được biên soạn theo quan điểm xét văn học trong bối cảnh lịch
sử, xã hội, ý thức được vai trò sáng tạo lịch sử của nhân dân,tác động của đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa nhân đạo vô sản, cuộc đấu tranh chống áp bức, đòi dân chủ, giải phóng, đòi quyền sống…, các cuốn văn học sử mới có nội dung dày dặn, phong phú, thể hiện
rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và đời sống xã hội, nội dung và hình thức, quy luật phát triển, sự phân kì và giải thích hiện tượng văn học khác hẳn các sách lịch sử văn học trước năm 1945 như các cuốn của các ông Dương Quảng Hàm (1941), Nguyễn Đổng Chi (1942), của các ông Nguyễn Tường Phượng, Bùi Hữu Sũng (1952), của
Trang 25Nghiêm Toản (1949) trong thời kì 1945 – 1954
Một trong những tiến trình đặc biệt đó là việc văn học dần dần trở thành một môi trường sinh hoạt tinh thần độc lập một cách tương đối (thoát dần khỏi sự chi phối của quyền lực và chính trị, như trong giai đoạn Trung đại), với các kiểu nhà văn chuyên nghiệp Nó bắt đầu tìm kiếm tính độc lập, vạch ra những ranh giới với các hình thái tinh thần khác, và xác lập một "luật chơi" riêng với những giá trị đặc thù, những kiểu quan
hệ của các nhân vật tham gia vào "cuộc chơi" này Do đó, ba thập niên đầu thế kỉ XX ở Việt Nam chính là giai đoạn hình thành một trường văn học (le champ littéraire) - theo ngôn ngữ của nhà xã hội học Pháp Pierre Bourdieu
Ở Việt Nam, có thể nói người đầu tiên giới thiệu xã hội học văn học là nhà nghiên
cứu Phương Lựu Năm 1999, trong cuốn sách Mười trường phái lý luận phê bình văn
học phương Tây đương đại, ông đã dành 20 trang cho một trong mười trường phái đó
có tên là Xã hội học văn học Cho rằng xã hội học văn học là một trong ba khuynh hướng
nghiên cứu quan hệ giữa văn học và xã hội và cách tiếp cận văn học bằng những kiến thức và phương pháp của chuyên ngành xã hội học, tác giả Phương Lựu đã chia xã hội
học văn học thành vĩ mô và vi mô [44, tr.157]
Ứng dụng lí thuyết Trường của P Bourdieu, tác giả Nguyễn Phương Ngọc lưu ý những vấn đề quan trọng khi nghiên cứu trường văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX như: 1/ Thành lập danh sách các nhà văn, bao gồm tất cả những người có tác phẩm in trên báo hoặc thành sách và được người đương thời công nhận là nhà văn; sưu tầm các thông tin về con người và tác phẩm các nhà văn đó; 2/ thành lập danh sách và sưu tầm các thông tin về các nhóm tập thể (nhóm văn học, cộng tác viên tạp chí, nhà xuất bản, ban kịch, hội văn hóa, v.v.); 3/ tìm hiểu các thể chế văn học chính thống và phi chính thống (giải thưởng, mục phê bình trên báo, sách phê bình, v.v.); 4/ tìm hiểu các vị thế trong trường văn học và quan hệ giữa các vị thế đó với nhau vào các thời điểm lịch sử
cụ thể; 5/ tìm hiểu các tác giả nữ và vị thế của họ đối với các tác giả nam; 6/ tìm hiểu các vận động trong trường (đi từ vị thế thấp lên cao, từ vị thế cao xuống thấp hay ra khỏi không gian văn học) và lí do cho phép các vận động đó [73, tr.148-149] Cũng cùng hướng tương tự, tác giả Phùng Ngọc Kiên vận dụng lí thuyết trường vào nghiên cứu các hoạt động văn học giai đoạn hòa bình lập lại (1954 -1958) Đặc thù của hoạt động văn học nghệ thuật giai đoạn này được tác giả chỉ ra rằng “trường nghệ thuật, và hẹp hơn, tạm giới hạn ở trường thứ cấp văn học, của giai đoạn hòa bình lặp lại bao gồm hai thế
hệ Thế hệ thứ nhất tập hợp các nghệ sĩ tiền chiến đã thành danh đi theo kháng chiến với quyết tâm tự cải tạo mình: Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, v.v Thế hệ thứ hai bao gồm những nghệ sĩ bắt đầu trưởng thành trong kháng chiến: Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Cung, Phùng Quán, Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, v.v.” [73, tr.161]
Qua một số thông tin trên, chúng ta có thể thấy rằng xã hội học văn học là một ngành nghiên cứu đặc thù liên quan đến hai chuyên ngành văn học và xã hội học, nó
Trang 26nghiên cứu đến các vấn đề liên quan đến quan hệ đời sống xã hội và đời sống văn học, gồm các vấn đề thuộc bên trong và bên ngoài tác phẩm Đây là một hướng lí thuyết góp phần soi sáng nhiều vấn đề của văn học, đặc biệt là văn học Việt Nam hiện đại, khi thiết chế này đang trên đường hội nhập và hướng đến tính chất chuyên môn hóa và hội nhập
sâu rộng
1.2 Trường văn học và vị thế của Nguyễn Huy Thiệp trong trường văn học thời Đổi mới
1.2.1 Quan niệm về lý thuyết Trường văn học của P Bourdieu
Lý thuyết trường hay trường quyền lực văn học ra đời góp phần canh tân những tiếp cận văn chương vượt ra khỏi những cách tiếp cận của hệ tư tưởng Marxisme và của thực chứng luận, để hướng đến việc giải thích thế giới văn chương như một vũ trụ đặc thù có những quy tắc riêng của nó Pierre Bourdieu là người khai sinh ra khái niệm trường (có những trường khác nhau như kinh tế, chính trị hay quyền lực, tôn giáo, văn học, văn hóa…) Khái niệm trường được Pierre Bourdieu định nghĩa như là “không gian
xã hội mà trong đó các tác nhân tham gia sản sinh ra các tác phẩm văn hóa được xác định vị trí”, và trường văn học cũng như các trường khác “ là một trường lực tác động đến tất cả những ai dấn thân vào đó, và theo cách thức khác biệt nhau tùy thuộc vào vị trí họ nắm giữ […], đồng thời cũng là một trường tranh đấu nhằm duy trì hoặc chuyển
hóa chính trường lực ấy” [Dẫn theo 59, tr.70] Lý thuyết trường của Pierre Bourdieu
trong lĩnh vực văn chương dựa trên hai nguyên tắc chính sau: văn chương không phải là một hoạt động nằm ngoài sự chi phối của xã hội; tuy vậy, văn chương cũng không thể
bị qui giản vào những sự định đoạt về mặt xã hội, kinh tế hay chính trị [dẫn theo 57, tr.14] Trong các xã hội phát triển, các lãnh vực đa dạng trong đời sống như nghệ thuật, khoa học, tôn giáo, kinh tế, luật pháp, chính trị, v.v luôn luôn có xu hướng trở thành những tiểu vũ trụ biệt lập nhau, trong đó mỗi tiểu vũ trụ đều có những qui tắc, luật lệ và hình thái quyền lực riêng biệt – Bourdieu gọi đấy là các “trường”
Trang 27Hình 1.1: Mô hình trường văn học theo quan điểm của P Bourdieu
Nguồn: [58, tr 79]
Trong lĩnh vực văn chương, theo Bourdieu, “trường” văn chương chính là không gian của những khả thể mà nhà văn có thể chọn lựa trong dòng đời của mình (chẳng hạn, chọn câu vần hay câu thơ tự do, chọn người kể chuyện là người trong cuộc hay người ngoài cuộc, chọn văn phong gián tiếp hay văn phong trực tiếp, v.v.) Nhà văn
Trường văn học
Tiểu trường sản xuất
hẹp (cực tự chủ) rộng (cực thương mại) Tiểu trường sản xuất
Không gian
sản xuất
Không gian Tiếp nhận
Không gian sản xuất
Không gian Tiếp nhận
Cùng kiểu phân loại nhưng với
ưu thế của vốn kinh tế
và những tiêu chí định lượng để đánh giá
Cùng kiểu phân loại và phân mục nhưng với
ưu thế của những tiêu chí định lượng để đánh giá
Những phân mục theo phẩm trật thể loại
và những đặc điểm chủ đề và hình thức
Những phân mục theo quan điểm ý
hệ và thẩm mĩ
Những khác biệt hoá về
vị thế được xác định
Không gian tác phẩm
Không gian nhật báo
và ấn phẩm định kì
Không gian các nhà phê bình
Không gian độc giả
Trang 28thường được coi là mặc nhiên chấp nhận những luật chơi đang có hiệu lực trong trường văn chương đương thời Việc chọn lựa yếu tố thẩm mỹ văn chương cũng tùy thuộc vào
vị trí mà mỗi nhà văn đang chiếm giữ trong trường này Những vị trí này được xác định tùy theo khối lượng và thành phần của vốn biểu tượng cụ thể mà nhà văn đang có, nghĩa
là phụ thuộc vào mức độ và loại hình mà nhà văn được công nhận với tư cách là nhà văn Sự công nhận về mặt biểu tượng (bởi đồng nghiệp hay bởi các nhà phê bình) không nhất thiết luôn luôn đi đôi với những sự thành công về mặt vật chất (số lượng tác phẩm bán được, hay sự tôn phong trên bình diện định chế), và ngược lại Như vậy, chúng ta
có thể thấy một sự tương đồng cấu trúc giữa vị trí của nhà văn với sự chọn lựa lập trường của anh ta/chị ta [dẫn theo 57, tr.16]
Chính tình hình phân bố vốn một cách chênh lệch đã định hình nên cấu trúc các vị
trí khác nhau trong trường văn chương Những nhà văn có tên tuổi thường giữ vị trí thống trị và do đó có thể áp đặt quan niệm văn chương của họ lên những người khác; còn những nhà văn ở vào vị trí bị trị thường là những người mới gia nhập hoặc những nhà văn nằm ở ngoài lề Tuy nhiên, do tính đặc thù của trường văn chương nên sự phân
ly giữa người “thống trị” với kẻ “bị trị”, giữa người đã thành danh với kẻ ngoài rìa, hay giữa người cũ với người mới, thường mang những sắc thái đặc biệt tùy theo những phương thức tích lũy vốn biểu tượng hết sức đặc thù trong thế giới văn chương Thí dụ,
kể cả sau khi trường phái lãng mạn đã xác lập được xu thế áp đảo của mình rồi, thì những người theo trào lưu tiền phong (chẳng hạn phái siêu thực) vẫn có thể tự khẳng định vị trí của mình bằng cách chối bỏ các quan niệm thống soái của giới văn chương đương thời [dẫn theo 57, tr.17]
Cấu trúc của trường văn chương còn được định hình bởi sự đối lập giữa các lực tự
trị với các lực ngoại trị Những người bênh vực cho nguyên tắc tự trị của phán đoán
thẩm mỹ trong thế giới văn chương thường luôn phải chống lại những sức tác động hoặc
áp đặt về mặt đạo đức, chính trị hay kinh tế đến từ bên ngoài thế giới văn chương Những
sự chống đối này có thể mang những hình thái khác nhau, tùy theo những cấu hình xã hội-lịch sử cụ thể - chẳng hạn, quan điểm tự trị có lúc thì được hiện thân trong lập trường nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng cũng có lúc lại chọn một lập trường dấn thân [57, tr 17]
Hình 1.2 Cấu trúc trường văn học Nguồn: [58, tr 83-84]
Cấu trúc trường văn học
Khước từ yếu tố kinh tế để tìm kiếm một loại
vốn tượng trưng
Phụ thuộc vào yếu tố kinh tế để tìm kiếm một loại vốn kinh tế
Từ chối mọi hình thức cổ võ ồn ào (quan hệ
công chúng, những thổ lộ tâm sự, hội thảo)
Vận dụng mọi kĩ thuật cổ võ, quảng cáo, nghiên cứu thị trường, in ấn, bìa sách lòe loẹt, v.v
Chu trình sản xuất kéo dài, không có thị Chu trình sản xuất ngắn, hạn chế tối thiểu rủi
Trang 29trường hiện tại, chấp nhận rủi ro ro, thu lợi nhuận nhanh chóng và sản phẩm
nhanh chóng bị lỗi thời Đối tượng nhắm tới: các nhà sản xuất/ các
nhà văn, những người cùng lãnh vực, những
bộ phận trí thức của tầng lớp ưu việt
Đối tượng nhắm tới: “công chúng”, những bộ phận không phải là trí thức của tầng lớp ưu việt (công chúng học thức) và những tầng lớp
xã hội khác
Những mong đợi: Sự thừa nhận từ đồng
nghiệp, thành công muộn và bền vững –
mang tính kinh điển
Những mong đợi: thành công tức thời và nhất thời – sách bán chạy
Tạo ra đòi hỏi của mình, phản kháng và phá
hủy những chuẩn mực hiện hành, tìm kiếm
hình thể mới
Thích ứng vào đòi hỏi tiền hữu, tuân thủ những chuẩn mực đang thống trị: chủ đề, khuôn mẫu, lối viết; sản phẩm tầm thường về mặt xã hội, phá bỏ những sự phân chia Tìm kiếm một sự nắm giữ quyền lực của tính
chính đáng về khía cạnh văn hóa
Lệ thuộc vào các cơ quan tại chỗ; hoặc cũng
có sự từ chối lệ thuộc Tự đảm bảo tính chính đáng của mình
Tác giả muốn là người tự do, có nguồn cảm
hứng, cách tân
Tác giả lệ thuộc vào người nắm giữ phương tiện sản xuất và phát hành, lệ thuộc vào những mong đợi của công chúng
Người xuất bản thể hiện như một người phát
hiện táo bạo
Người xuất bản thể hiện như một doanh nhân
Nhà phê bình hoài nghi về sự thành công Nhà phê bình tạo ra từ sự thành công giá trị
của mình
Trên đây là một số điểm liên quan đến khả năng vận dụng lý thuyết “trường” của Bourdieu vào việc phân tích nhà văn và thế giới văn chương Tuy nhiên, lý thuyết
“trường” này cũng từng được chính Bourdieu áp dụng vào việc phân tích bản thân một
tác phẩm văn chương Trong phần đầu của cuốn Các qui tắc của nghệ thuật, Bourdieu
đã phân tích các nhân vật trong tác phẩm Giáo dục tình cảm (1869) của nhà văn Gustave
Flaubert theo quan điểm lý thuyết ấy Bourdieu viết như sau: “Như vậy, khi Flaubert
xây dựng hai cực của trường quyền lực xét như một môi trường thực thụ hiểu theo nghĩa
của Newton, trong đó các lực xã hội, gồm các lực hút và lực đẩy, diễn ra dưới dạng các động cơ tâm lý như tình yêu hoặc tham vọng, Flaubert đã thiết lập các điều kiện cho một thứ thí nghiệm xã hội học: năm chàng thanh niên, trong đó có nhân vật chính Frédéric, tạm thời tập hợp thành một nhóm bởi họ đều là sinh viên, sẽ được phóng vào không gian
ấy, giống như những hạt được phóng vào trong một trường lực, và các quĩ đạo của những hạt này sẽ được qui định bởi mối quan hệ giữa các lực đang hiện diện trong trường và bởi chính lực quán tính của mỗi hạt Lực quán tính này, một mặt, nằm trong những thiên hướng bắt nguồn từ nguồn gốc [xã hội] và quĩ đạo của mỗi hạt [tức của mỗi người sinh viên] - những thiên hướng [hay tâm thế] này có xu hướng tồn tại dai dẳng và đi theo một
Trang 30quĩ đạo có nhiều khả năng xảy ra Và mặt khác, lực quán tính này nằm trong những loại vốn mà họ [tức các sinh viên này] thừa hưởng - những loại vốn này góp phần xác định những khả thể và những bất khả thể mà trường ấn định cho họ” Về những điều “khả thể” và “bất khả thể” này, Bourdieu ghi chú thêm như sau: “Trong thực tế, tương lai xuất hiện như một mớ quĩ đạo có thể xảy ra dưới những dạng không đồng đều, giữa một giới hạn cao - chẳng hạn, đối với Frédéric, đó là chuyện trở thành bộ trưởng và người yêu của bà Dambreuse, và một giới hạn thấp - chẳng hạn, cũng trong trường hợp Frédéric, đó là chuyện trở thành một nhân viên thư ký cho một văn phòng luật sư và cưới cô Roque” [dẫn theo 57, tr.17-18]
Trong tài liệu quan trọng nhất liên quan đến lí thuyết Trường của P Bourdieu là
Quy tắc của nghệ thuật – Sự sinh thành và cấu trúc của trường văn chương, ông cho
rằng, có ba trạng thái của trường, bao gồm quá trình tìm kiếm tự chủ, sự nổi lên của một cấu trúc đôi, nhấn mạnh đến sự xác lập của những yếu tố bên trong văn học và cuối cùng
là hình thành các tài sản tượng trưng, khẳng định giá trị và vị thế mới được xác lập của chủ thể nhà văn, người nghệ sĩ [8] Tác giả Pierre Mounier cũng xác nhận rằng, trường
“trước hết là một trường lực, là đối tượng của một cuộc đấu tranh giữa tất cả những người tham gia vào trường đó để chiếm lĩnh và giành lấy sự chính đáng; tiếp đó, trong tính đặc thù, nó không thể tách rời khái niệm tập tính; và sau cùng, nếu mỗi trường đều
có nét đặc thù để không thể bị đồng hóa với một trường khác, vẫn có những quy luật chung có hiệu lực với tất cả các trường và không phụ thuộc vào nội dung của từng trường
mà vào những mối quan hệ được xây dựng giữa các vị trí trong từng trường” “mặt khác, không phải hoạt động xã hội nào cũng tạo ra một trường Chỉ có trường khi những
cá nhân hoạt động trong cùng một lĩnh vực cạnh tranh với nhau để chiếm một vị trí thống trị trong trường Nói cách khác, họ phải có những lợi ích chung và họ phải đấu tranh với nhau để chiếm hữu một loại vốn đặc thù trong trường” [56, tr.78-79] Như vậy, trường là một thuật ngữ đặc thù trong quan điểm xã hội học văn học của P Bourdieu Ở đây, nếu xét một tác giả hay một trào lưu, một thể loại nào đó cũng cần phải đặt những vấn đề trên trong tương quan bên ngoài và tương quan bên trong Mỗi tương quan như vậy nếu đạt được sự vượt trội, có giá trị riêng, đạt được sự tự trị trong trường thì sẽ tạo
ra một trường mới
1.2.2 Sự xuất hiện truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp trong thời kì đổi mới
Từ sau 1975, văn học Việt Nam thực sự chuyển biến sâu sắc và toàn diện - văn học bước vào thời kì đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ mở ra nhiều thành tựu và triển vọng Văn học nhìn thẳng vào sự thật, những vấn đề đạo đức thế sự được các nhà văn đặc biệt quan tâm Đặc biệt từ năm 1986, cả nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Văn học cũng “trở mình” để phù hợp với đòi hỏi của thời đại Đổi mới văn học là phù hợp với quy luật khách quan và nguyện vọng của văn nghệ sĩ Vì thế mà người đọc được đón nhận nhiều tác phẩm văn học mang hơi hướng hoàn toàn mới mẻ
cả về nội dung lẫn hình thức Văn học đổi mới xuất hiện nhiều tài năng với những tên
Trang 31tuổi Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương Các cây bút đó đã góp phần làm thay đổi diện mạo văn học, tạo được sức hấp dẫn cho văn xuôi Việt Nam
Có thể nhận thấy văn học Việt Nam từ sau 1975 đã tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử và xã hội khác biệt rõ rệt với thời kì chiến tranh Cùng với những khó khăn chồng chất của thời hậu chiến và những chuyển biến về mặt xã hội, văn hóa tư tưởng, xã hội và con người Việt Nam phải tự hình thành từng bước các tiêu chí giá trị mới Bởi nay hòa bình trở lại con người trở về với cuộc sống bình thường, trở về với đời thường phồn tạp, muôn vẻ lẫn lộn tốt xấu, trắng đen, bi hài Các giá trị xã hội, đạo đức trước đây bền vững là thế nay nhiều điều đã không còn thích hợp Trong khi đó các giá trị chuẩn mực mới thì chưa thực sự hình thành Công cuộc đổi mới văn học được diễn ra sổi nổi và mạnh mẽ thể hiện trước tiên ở sự vận động theo hướng dân chủ hóa của văn học Bước vào thời kì đổi mới, văn học được nhận thức rõ hơn trong bản chất văn hóa và tính nhân văn của nó Văn học " thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mĩ có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ
công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội " (Nghị quyết 05, Bộ Chính trị
Trung ương Đảng (Khóa VI) Xu hướng dân chủ từ sau 1975, đặc biệt 1986 tạo nên cho văn học kiểu nhà văn mới Họ sáng tạo nhân danh kinh nghiệm cá nhân với ý thức cá tính cao độ Viết tác phẩm, tác giả không đứng cao hơn độc giả để phán truyền mà đối thoại với người đọc, chia sẻ và kiếm tìm những cách cắt nghĩa mới để sinh thể nghệ thuật của mình luôn sống Với nguyên tắc “tôn trọng sự thật”, văn học thời kì này xem
sự thật như linh hồn của nghệ thuật chân chính, hướng đến phanh phui các mặt trái của
xã hội, của lòng người Điều nổi bật văn học thời kì này đã đi sâu vào số phận của mỗi
cá nhân, mỗi gia đình, mỗi làng quê, phản ánh sâu sắc những tổn thất cả về vật chất lẫn tinh thần mà con người phải chịu dù chiến tranh đã đi qua Từ sau 1975, văn học đã có
sự đổi mới sâu sắc trong quan niệm phản ánh hiện thực Ta có thể thấy điều này trong
sự đổi mới về đề tài, nội dung, chủ đề của các tác phẩm Sau chiến tranh, cuộc sống hòa bình bắt đầu với bao vấn đề mới mẻ nhưng cũng đầy bức xúc thời hậu chiến Điều này
đã mở ra một hướng đi mới cho văn học Phạm vi hiện thực được mở ra toàn diện hơn
và cũng chân thực hơn Những mảng đề tài phong phú từ hiện thực chính trị tới cuộc sống đời tư, từ sinh mệnh lớn lao của cả cộng đồng tới số phận từng cá nhân cùng bao vấn đề bề bộn, phức tạp của đời thường đã đem lại cho văn học thời hậu chiến một gương mặt mới mẻ, chân thực, đậm chất nhân văn và thật sự gần gũi với con người Giờ đây, sự nhận thức về con người cá nhân, về mối quan hệ giữa người với người trong cộng đồng trở thành tâm điểm của sự chú ý, đó cũng là điểm nhìn mới cho sự nhận thức hiện thực trong văn học Đặc biệt hơn nữa với sự xuất hiện của một loạt cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn diện mạo của văn xuôi nước nhà Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh… đã mang lại cho văn xuôi những sắc thái mới mẻ Đọc những cây bút này có người chê người trách, có người khen người phản kháng, có
Trang 32tranh luận bàn cãi, có thảo luận thống xuôi giai đoạn này Thời gian này có những tác
phẩm nổi bật như: Cha và con (Nguyễn Khải), Ngôi nhà trên cát (Dương Thu Hương),
Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường),… Nguyễn Minh Châu cũng
hướng ngòi bút của mình về cuộc sống hàng ngày, về số phận cá nhân trong cộng đồng Sau 1985, số phận con người, những trăn trở đời tư được Nguyễn Minh Châu khám phá
rõ nét hơn Có thể thấy các nhà văn không chỉ dừng lại ở phản ánh mà còn nghiền ngẫm hiện thực Trước đây, hoàn cảnh chiến tranh không cho phép họ khám phá tận cùng sự phức tạp, bề bộn, ngổn ngang của đời sống Giờ đây, do yêu cầu của thời đại, do nhu cầu tự thân của hoạt động sáng tạo, hiện thực đời sống đi vào văn chương vẹn nguyên
sự đa chiều của nó, được soi sáng, cày xới cả những phần khuất lấp, mờ tối
Cùng với những biến đổi trong quan niệm văn học, quan niệm về nhà văn thì mối quan hệ giữa văn học và công chúng, nhà văn và độc giả cũng có những thay đổi theo hướng dân chủ Cụ thể nhà văn không còn là người phát ngôn cho ý thức cộng đồng mà chủ yếu giữ vai trò là người đối thoại, đưa ra những nhận xét đề nghị với người đọc để cùng tìm kiếm suy nghĩ có thể tranh luận Vì thế người đọc ngày nay không thể là một độc giả thụ động Mối quan hệ nhà văn - bạn đọc đã trở nên bình đẳng và dân chủ hơn, người đọc được tôn trọng nhưng cũng vì thế mà cũng phải tự nâng mình lên và thay đổi chính mình để trở thành chủ thể tiếp nhận sáng tạo Vấn đề về mối quan hệ giữa văn học
và cuộc sống cũng là một vấn đề quan trọng trong văn học Đổi mới Nhà văn không thể nhìn cuộc đời bằng con mắt hời hợt, phiến diện, một chiều Không thể chỉ ca tụng cái đẹp đẽ nhìn thấy bên ngoài mà làm ngơ hoặc bỏ qua những chai sần của cuộc sống Có những vấn đề nhìn bên ngoài tưởng xấu xí nhưng bên trong lại rất đẹp Và có những điều vẻ ngoài đẹp lung linh huyền ảo nhưng đằng sau nó lại không hề như vậy
Một trong những đặc điểm nổi bật của văn học đổi mới phải kể đến đó là sự thức tỉnh ý thức cá nhân và tinh thần nhân bản Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã
mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới, làm đổi thay về quan niệm con người Con người vừa là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề
xã hội Văn học sau 1975 hướng đến khám phá và tạo dựng con người thế sự - đời tư, con người cá nhân với những phức tạp và bí ẩn của nó Điều dễ nhận ra là trong phần lớn các tác phẩm văn học thời kì đổi mới, con người không còn là nhất phiến mà là con người đa diện, đa trị, lưỡng phân, trong con người đan cài chen lẫn, giao tranh bóng tối
và ánh sáng, rồng phượng và rắn rết, thiên thần và quỷ sứ Vì lẽ đó mà văn xuôi thời
kì này ít có những nhân vật đẹp đẽ, hoàn hảo hơn Nói đúng hơn nó bị lấn át, bị lộ diện bởi những nhân vật đời thường, phàm tục, có tốt có xấu, có hay có dở, có đúng có sai,
có cao thượng nhưng cũng có những tủn mủn, nhỏ nhen, thấp hèn Chẳng hạn, đó là kiểu
nửa người nửa quỷ trong Không có vua, Chảy đi sông ơi, Giọt máu của Nguyễn Huy Thiệp Trong Đất xóm chùa của Đoàn Lê; đó là những con người thèm khát danh vọng
và quyền lực, sẵn sàng chà đạp lên đạo lí trong Bến không chồng của Dương Hướng,
Trang 33Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường; đó là những con người tầm
thường, tẻ nhạt, tham lam, xấu tính, không ý thức được về nghĩa lí của kiếp người trong
Đứa ăn cắp, Mẹ con chị Hằng của Nguyễn Minh Châu, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài;
đó cũng là những con người méo mó, lệch lạc nhân tính, trái tim xơ cứng, vô cảm, lạnh
lùng vì những quan điểm giáo điều hay những niềm tin mù quáng trong Đám cưới không
có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Mùa trái cóc ở miền Nam của Nguyễn Minh Châu,
Con người bị biến dạng bởi sức hút của đồng tiền, bởi dục vọng sôi sục, bởi đớn hèn khiếp sợ quyền lực, con người sẵn sàng chà đạp lên nhau Quan niệm “con người đời thường”, “con người phàm tục”, “không hoàn hảo” giống như một sự đối thoại đối lập với quá khứ, đồng thời cũng giống như hệ giá trị mới để đánh giá con người: hệ giá trị nhân bản Lịch sử văn học là lịch sử của những quan niệm khác nhau về con người Văn học chiến tranh đã tạo dựng thành công kiểu con người sử thi, biểu trưng cho cộng đồng Cuộc kháng chiến đã đem lại cho con người vẻ đẹp lí tưởng mà nói như A.Niculin, nhân vật được "tắm rửa sạch sẽ và bao bọc trong bầu không khí vô trùng" (nhân vật của Nguyễn Minh Châu) Nhân vật luôn trùng khít với địa vị xã hội của mình và luôn ở trạng thái đơn trị, nhất phiến
Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, cô đơn là một trong những chủ
đề kiêng kị, bị đa số các nhà văn né tránh Bởi khi tồn tại với tư cách con người tập thể, nhân vật sẽ được bủa vây xung quanh là bạn bè, đồng đội, dân tộc, đất nước… họ không có không gian để quan tâm đến đời sống riêng tư của mình và do đó, không cảm thấy cô đơn Nhưng văn học sau 1975, với sự xuất hiện của con người cá thể, sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân, con người thường xuyên đối diện với chính mình Thêm vào
đó, bước vào thời kỳ mở cửa, nhiều giá trị đạo đức, xã hội bị đảo lộn so với thời chiến Con người dễ bị ngợp, dễ cảm thấy cô đơn trong cái môi trường sống nhộn nhạo của chính mình Cô đơn là trạng thái biểu hiện nỗi đau sâu sắc nhất, là tột cùng của sự bơ
vơ, trống trải, cô đơn cũng chính là một dạng bi kịch nhân sinh Sự cô đơn của con người được khai thác ở những khía cạnh như: Con người cô đơn vì lạc thời; Cô đơn như một trạng thái tâm lý của con người thời hiện đại Bên cạnh đó không bằng lòng với cách tái hiện hiện thực bằng những con người bình thường, các tác giả văn học hậu hiện đại còn tìm cách “lạ hóa” nhân vật bằng cách tạo ra kiểu nhân vật giả cổ tích, giả huyền thoại, giả lịch sử Với lối viết mô phỏng các tích truyện có sẵn trong dân gian, nhà văn tìm cách kết nối không khí hiện đại và hiện thực cuộc sống vào tác phẩm Ngoài ra việc các nhân vật dị biệt xuất hiện ngày càng nhiều trong văn học thời kỳ Đổi mới cho thấy: Nhà văn đã nhìn cuộc sống trong tính toàn vẹn, quan tâm đến nhiều loại nhân vật khác nhau chứ không bằng lòng với những nhân vật quá sạch sẽ; Thông qua loại nhân vật này, nhà văn muốn biểu đạt quan niệm riêng của họ về một thế giới chưa hoàn thiện… Ở thời kì này, các nhà văn cũng chú ý đến sự chi phối mạnh mẽ của đồng tiền đối với những giá trị đạo đức, trong thời kì nền kinh tế thị trường nó càng có cơ hội để bộc lộ sức mạnh của mình, nó tác động sâu sắc đến tất cả mọi lĩnh vực, tất cả các mối quan hệ, kể cả
Trang 34những mối quan hệ truyền thống và thiêng liêng là tình cha con, tình vợ chồng và cả tình yêu…
Đồng tiền làm băng hoại những giá trị đạo đức vốn đã trở thành truyền thống hết sức tốt đẹp và đáng tự hào của dân tộc, nó làm con người trở nên tha hóa, thậm chí là
mất nhân tính Ta có thể thấy rõ điều này qua các tác phẩm: Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Mùa trái cóc ở miền Nam (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma
Văn Kháng)… Như vậy xu hướng dân chủ hóa và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã đưa tới
sự phát triển phong phú sôi nổi đa dạng phức tạp hướng tới tính hiện đại của văn học sau 1975 Sự đa dạng và phong phú được thể hiện trên nhiều bình diện của văn học; đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại nhiều tìm tòi về thủ pháp nghệ thuật đa dạng về phong cách và khuynh hướng thẩm mĩ Nhưng sự phong phú đa dạng cũng đi liền với tính phức tạp và không ổn định Trong xu hướng hội nhập, sự giao lưu với đời sống văn hóa và văn học thế giới, văn học đã ngày càng gia tăng tính hiện đại
Cuối cùng nói về văn học sau 1975 phải nói đến những đổi mới về thể loại và thủ pháp biểu hiện Sự đổi mới sâu sắc nhất của văn học sau 1975 ở phương diện trần thuật chính là đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật Hiệu quả của việc trần thuật từ nhiều điểm nhìn đã tạo nên hệ thống các giá trị khác nhau về con người và hiện tượng Thực ra, việc
di chuyển điểm nhìn từ tác giả đến người kể chuyện và nhân vật đã có trong văn xuôi Nam Cao và Nguyên Hồng song hiệu quả là nhằm tái hiện thế giới nội tâm Với văn học thời đổi mới, mục đích sâu xa là nhằm soi chiếu hiện thực từ nhiều chiều, nhiều góc độ Giọng điệu trần thuật cũng xuất phát từ yêu cầu chiến tranh, văn học là phương tiện cổ
vũ, tuyên truyền cách mạng Bởi thế, giọng điệu chủ đạo của văn học thời kì này nhất quán ở sắc thái ngợi ca, trang nghiêm và đầy lạc quan Trong khi đó, văn học sau 1975
đã chuyển từ đơn sang đa giọng Nhu cầu khẳng định cá tính, nhận thức và khám phá tận cùng các đối tượng nghệ thuật đã làm nảy sinh các giọng điệu: hoài nghi, chất vấn, chiêm nghiệm, triết lí, giễu nhại Chính chất liệu đa giọng điệu này
Có thể nói rằng, quá trình đổi mới của văn học sau 1975 diễn ra khá toàn diện
và sâu sắc từ nhà văn đến công chúng, từ bản chất văn học đến tư cách nghệ sĩ, từ tư tưởng đến thi pháp
1.2.3 Hành trình sáng tạo và đóng góp của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong trường văn học đổi mới
Nói về văn học Việt Nam, không thể không nhắc tới “ông vua truyện ngắn” Nguyễn Huy Thiệp - một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam thời kì đổi mới Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950 tại huyện Thanh Trì, Hà Nội Ông xuất hiện khá muộn trên văn đàn Việt Nam với vài truyện ngắn đăng trên báo Văn nghệ năm 1986 Các sáng tác của ông hội tụ rõ nét tính liên tục và tính đứt đoạn của lịch sử văn học dân tộc Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã nhận định rằng, một mình Nguyễn Huy Thiệp không làm nên được diện mạo của nền văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, nhưng một mình ông lại có thể đào xới lên nhiều vấn đề thuộc về bản chất văn học, tạo
Trang 35nên sức bật khỏi ảnh hưởng văn học trước 1975, từ đó đưa văn học Việt Nam sau 1975
đi xa hơn, vững vàng hơn trên hành trình đổi mới văn học dân tộc, hòa nhập vào biển cả văn học hiện đại của thế giới
Sau khi Nguyễn Huy Thiệp mất, người ta nhận ra một khoảng trống vắng khó thay thế của bức tranh văn học Việt Nam đương đại Bắt đầu viết văn vào giữa những năm
tám mươi thế kỉ XX, bước vào làng văn bằng những truyện ngắn mới lạ như Chút thoáng
Xuân Hương, Huyền thoại phố phường và làm rung chuyển văn đàn với Tướng về hưu (1987) và một số truyện ngắn sau đó, Nguyễn Huy Thiệp đã thổi vào nền văn xuôi
Việt Nam một luồng gió lạ, mới mẻ, hấp dẫn Có nhiều ý kiến khen chê khác nhau, thậm chí đối lập gay gắt, nhưng dù khen hay chê, yêu hay ghét ông thì họ đều phải thừa nhận tài năng đặc biệt của ông Nguyễn Huy Thiệp mới mẻ từ cách tiếp cận hiện thực, cách nhìn về con người, cách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Ông là một tài năng, nhưng cũng phải nói là một tài năng “gặp thời” Không có bối cảnh đổi mới do Đảng ta phát động năm 1986, không có không khí hồ hởi, nhập cuộc của đông đảo các nhà văn lúc ấy thì không thể có Nguyễn Huy Thiệp Và ở chiều ngược lại, Nguyễn Huy Thiệp cũng góp phần tích cực thúc đẩy công cuộc đổi mới văn chương nói chung, đổi mới văn xuôi nói riêng
Trong một bài phỏng vấn, Nguyễn Huy Thiệp tâm sự: “Trong đời văn, tôi cũng tìm hiểu về các văn sĩ trong lịch sử, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm Tôi nhận ra một điều, cái xuất xứ của nhà văn quan trọng lắm Mình phải làm sao có mặt đúng lúc, chứ sớm hơn hoặc muộn hơn thì có tài giỏi đến đâu, nhiệt huyết lớn lao đến đâu mà nó lỡ trớn thì cũng bại Nhiều khi trong viết lách cũng thế, đôi khi tôi cũng lặng
im, để tác phẩm của mình vào ngăn kéo” [54] Nhưng nhìn chung, trong 30 năm đổi mới, đường văn của tôi khá thông đồng bén giọt Có thể nói tôi xuất hiện đúng lúc, đúng năm bắt đầu Đổi mới 1986 Mọi người vẫn gọi Nguyễn Huy Thiệp là “cập thời vũ” (mưa
đúng lúc) Truyện ngắn Tướng về hưu ra sớm thì cũng hỏng mà ra muộn thì cũng vớ
vẩn Đấy, tôi được cái thời” Nói về hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp không phải là xu hướng phổ quát và tất cả của đổi mới nhưng nó là dòng mạch xuất hiện đồng thời với đổi mới”
[21] Gặp thời, văn chương Nguyễn Huy Thiệp thăng hoa, trở thành “hiện tượng”, được
tôn vinh trong nước và được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài Nhưng cũng chỉ mấy năm sau, sáng tác của anh chững lại, một số tác phẩm vừa ra đời nhanh chóng bị rơi vào quên lãng Ở đây không phải chỉ là sự xuống sức của nhà văn sau mấy năm như con tằm rút ruột nhả tơ Ở đây còn có cả không khí thời cuộc đang dần thay đổi Cái háo hức của buổi đầu đổi mới không còn như trước nữa, tâm thế “nhìn thẳng sự thật, nói rõ sự thật” trong văn chương dường như vẫn chưa đủ mà cần có thêm những bổ sung khác Độc giả, sau khi háo hức với những tác phẩm thể hiện cái u ám của xã hội, sự tha hóa cùng cực của con người, lúc này còn mong muốn có thêm nhiều trang văn hướng về cái tốt đẹp, cái thiên lương của con người đang có nguy cơ bị tàn phá bởi cơn lốc của kinh tế
Trang 36thị trường Và nói như Nam Cao, sẽ lại có những “ngôi sao mới” đến để thay thế những tài năng đã làm trọn vai trò của nó Lịch sử văn học luôn luôn là con đường thay thế và tiếp nối như thế
Nguyễn Huy Thiệp trở thành một “hiện tượng” chính là ông đã mang một làn gió
mới cho đời sống văn học, có ý nghĩa như một động lực góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Những ý kiến khen, chê khác nhau về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp không phải là hạn chế, đó là biểu hiện của một không khí dân chủ trong sáng tác, phê bình, tiếp nhận văn học
Ngoài truyện ngắn, ông còn viết tiểu thuyết (3 tiểu thuyết), kịch (10 vở kịch), thơ (chưa xuất bản tập nào, nhưng xuất hiện khá nhiều trong các truyện ngắn của ông) và tiểu luận phê bình đăng trên nhiều báo, tạp chí trong nước Ông xuất hiện khá muộn trên
văn đàn Việt Nam với tập truyện ngắn đầu tay Những ngọn gió Hua Tát, đăng trên Báo
Văn nghệ năm 1986 Lúc bấy giờ, tác giả đã gây cho người đọc một sự ngạc nhiên đến
ngỡ ngàng trước sự trình làng của một cây bút đã vào tuổi tứ tuần Và khi tác phẩm thứ
hai Tướng về hưu ra đời sau đó một năm (tháng 6 năm 1987), Nguyễn Huy Thiệp được
biết đến như là một “hiện tượng văn học” và làn sóng dư luận trở nên xôn xao Đặc biệt
không lâu sau đó chùm truyện Kiếm sắc – Vàng lửa – Phẩm tiết ra mắt bạn đọc (tháng
4 năm 1988) đã thực sự tạo nên bầu không khí phê bình, tranh luận hết sức sôi nổi, với nhiều ý kiến đối lập gay gắt
Với sự cách tân mới lạ, vừa xuất hiện trên văn đàn Việt Nam, tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp vừa ra đời đã trở thành “mắt bão”, trở thành cái mà người ta thường gọi là
“trường văn trận bút” Và ông nhanh chóng trở thành hiện tượng “lạ”, hiện tượng độc đáo – hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp Phạm Xuân Nguyên gọi ông là hiện tượng hai lần
lạ “nội dung lạ, hình thức lạ” Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thường có dung lượng nhỏ, ngắn gọn nhưng lại đề cập đến rất nhiều vấn đề phức tạp của cuộc sống hiện đại, mà vấn đề nào cũng được đẩy lên đến tột cùng, để rồi trở thành một thứ “hóa chất” gây “phản ứng” tranh luận Với lối chuyện kể đa thanh, lời văn giễu nhại, cấu trúc tỉnh lược tới mức tối đa, giọng điệu lạnh lùng, tưng tửng,… Nguyễn Huy Thiệp đã phơi bày trần trụi tất cả những hiện thực của xã hội thời hiện đại Các truyện ngắn của ông chứa đựng nhiều tầng sâu đa nghĩa, vì vậy nó tạo ra nhiều cách đọc, cách hiểu khác nhau và không dễ gì nắm bắt Chính vì điều này mà người ta không ngớt tranh cãi về tác phẩm của ông, nhưng chung quy lại chỉ là ở “cách đọc” Là một cây bút nhạy cảm, Nguyễn Huy Thiệp luôn lật ngược vấn đề, thoát ra ngoài những chuẩn mực thông thường và xác định cái giá trị nhân thế bằng những tưởng tượng phong phú, xen vào các huyền thoại, các biểu tượng, các yếu tố dân gian, các câu thơ trữ tình Tất cả nhào nặn, tái tạo một cách hợp lý bằng nghệ thuật sử dụng ngôn từ “ít lời nhiều ý”, truyện ngắn của ông đã đạt đến một tầm cao tư tưởng Bằng nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ một cách ngầm ẩn, tác giả vừa nói lên được con người xã hội, vừa nói được con người nhân tính Sự hỗn độn trong thế giới nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Huy Thiệp đã giúp người đọc hình
Trang 37dung sâu sắc hơn chân dung cuộc sống trong tính đa dạng và trọn vẹn của nó Nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Huy Thiệp không chỉ vạch ra hiện thực bằng cái nhìn rất thực, nhiều khi đến “ghê tởm” mà qua đó tác giả thức tỉnh con người, giúp mọi người nhìn lại mình
và sống tốt hơn Có thể nói rằng, Nguyễn Huy Thiệp bằng tài năng của mình đã giúp văn học nước nhà tiến bộ được một bước mới, “tiếp cận được một lý thuyết quan trọng của nhân loại cuối thế kỷ XX: lý thuyết đọc” như trong lời giới thiệu “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” của Phạm Xuân Nguyên [50, tr 4]
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Thiệp bắt đầu khá muộn với các truyện ngắn đăng trên báo Văn Nghệ Tuy nhiên chỉ một vài năm sau đó, cả làng văn học trong lẫn ngoài nước xôn xao những cuộc tranh luận về các tác phẩm của ông Với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, 4 tiểu thuyết cùng nhiều tiểu luận, phê bình văn học gây chú ý, Nguyễn Huy Thiệp được xem là một "hiện tượng hiếm" của văn đàn Việt Nam Các thể loại của ông đa dạng từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến cả kịch mang hơi hướng huyền thoại, cổ tích và những góc nhìn táo bạo và đa chiều về làng quê, người lao động
Tên tuổi của ông gắn liền với các truyện ngắn như: Tướng về hưu, Muối của rừng,
Không có vua, Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, Thương nhớ đồng quê, Sang sông… và bộ ba truyện ngắn lịch sử gồm: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết… Ba cuốn
tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã được xuất bản gồm: Tiểu long nữ, Gạ
tình lấy điểm, Tuổi 20 yêu dấu Các tác phẩm Tướng về hưu, Thương nhớ đồng quê của
ông đã được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh và cũng đã gây tiếng vang… Truyện ngắn của ông cũng được dịch sang nhiều ngôn ngữ như: Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia Nguyễn Huy Thiệp cũng là một trong 50 tác giả
có các tác phẩm, cụm tác phẩm xuất sắc được đề nghị xét tặng Giải thưởng Nhà nước trong lĩnh vực Văn học nghệ thuật 2021 Hai tác phẩm được đề nghị xét giải của ông là
truyện ngắn Tướng về hưu và Những ngọn gió Hua Tát
Sinh thời, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp khiêm tốn tự nhận ông “là một dạng ăn may, may mắn gặp thời” nhưng ông rất xác tín về “phẩm chất của một nhà văn” Tác giả của
Tướng về hưu dẫn lại “lời của các cụ ngày xưa” mà ông tâm ý chính là lời nói của nhà
bác học Lê Quý Đôn (1726-1784): “Văn học không phải trò chơi, là câu chuyện phiếm Muốn văn hay phải hiểu biết và từng trải nhiều Văn chương chữ nghĩa không phải là lời nói suông Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có núi sông kỳ
lạ của thiên hạ thì không thể làm văn được” Đánh giá về vai trò của Nguyễn Huy Thiệp trong văn chương Việt Nam từ 1975-1991, nhà phê bình La Khắc Hòa nhận định:
“Nguyễn Minh Châu mở đường đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 với truyện
ngắn Bức tranh Còn Nguyễn Huy Thiệp là người đầu tiên tạo ra bước ngoặt quan trọng của đổi mới”
Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã nhận định rằng, một mình Nguyễn Huy Thiệp không làm nên được diện mạo của nền văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, nhưng một mình ông lại có thể đào xới lên nhiều vấn đề thuộc về bản chất văn học, tạo nên sức bật
Trang 38khỏi ảnh hưởng văn học trước 1975, từ đó đưa văn học Việt Nam sau 1975 đi xa hơn, vững vàng hơn trên hành trình đổi mới văn học dân tộc, hòa nhập vào biển cả văn học hiện đại của thế giới Có sự nghiệp văn chương đồ sộ, được xem là “của hiếm”, là “hiện tượng độc đáo” (thậm chí đến mức gây tranh cãi) với các thể loại sáng tác gồm truyện ngắn, kịch, tiểu luận, phê bình văn học, song nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thành công nhất là truyện ngắn
Thấm đượm trên ngòi bút sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là tư tưởng triết học tự nhiên, một thứ triết học nguyên sơ, bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực sâu xa của nền văn hóa cổ Đông Nam Á Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp một mặt là sự tiếp nối, bảo lưu nguồn mạch văn học dân gian, mặt khác lại tiếp thu tính hiện đại, đánh dấu bước ngoặt của văn học Việt Nam thời đổi mới, khai phá những chủ đề như cái phi lý, sự cô đơn, tha hóa của xã hội,…, hòa vào dòng chảy của Chủ nghĩa hiện đại trong văn học thế giới thế kỉ XX Bằng ngòi bút đầy bản lĩnh và tài năng sáng tạo, Nguyễn Huy Thiệp đã làm một cuộc cách mạng trong tư duy nghệ thuật so với truyền thống Những tác phẩm của ông mang lại cho độc giả một cảm giác vừa thân quen, vừa lạ lẫm, vừa truyền thống, vừa hiện đại Nét cá tính và phóng khoáng, không bị gò bó bởi khuôn mẫu đã khiến cho văn chương của ông có sức hút một cách kỳ lạ khó có thể diễn tả Trong các tác phẩm
nổi tiếng của ông, nổi bật nhất với Tướng về hưu (phổ biến lần đầu vào tháng 6-1987
trên Báo Văn nghệ - lúc bấy giờ Nguyễn Huy Thiệp còn là nhân viên Công ty Sách - thiết bị trường học thuộc Bộ Giáo dục và “chưa có tên tuổi gì ở trên văn đàn” như ông
tự nhận)
Với tác phẩm Tướng về hưu, điều độc đáo mà bao nhà nghiên cứu phê bình văn
học, giới mộ điệu văn chương và công chúng thưởng thức từng bình phẩm, tranh luận suốt hơn 30 năm qua đó chính là câu chuyện, dòng văn độc đáo, khó ai bắt chước trên một cốt truyện lẫn nhân vật bình thường Thật vậy, những câu đơn với giọng kể chắt lọc, súc tích của ông đi sâu vào tâm trí người đọc dẫu cho nó có chua chát hay nhẹ nhàng Hiện thực cuộc sống, số phận con người trong xã hội sau chiến tranh từ đó được phản ánh rất mạnh mẽ bằng thủ pháp văn chương rất riêng của Nguyễn Huy Thiệp Không có cái gì là đơn giản, một chiều trong thế giới nhân vật trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhận định: “Nếu có một thứ “quả bóng vàng” (hay là “cây bút vàng”) dành để tặng cho các cây bút xuất sắc hằng năm, thì trong năm 1987 - và cả nửa đầu năm 1988 - người xứng đáng được giải trong
văn xuôi ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp Nhắc tới anh, người ta nhớ Tướng về hưu gây xôn xao một dạo, bởi cách viết rạch ròi, trần trụi; nhớ Muối của rừng tưởng như không đâu, hóa ra lại đượm nhiều ngụ ý âm thầm; nhớ Một thoáng Xuân Hương lịch duyệt mang đậm phong vị kẻ sĩ Bắc Hà; nhớ Con gái thuỷ thần lẫn lộn hư thực, và liều lĩnh đến tùy tiện” [51]
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ những người nghèo khổ, hay những người mang hình dạng kì dị tuy mang dáng dấp cổ tích, nhưng lại chất
Trang 39chứa những cảm giác thời hiện đại Họ luôn luôn dấn thân trên con đường đi tìm hạnh phúc, đi tìm cái Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối, để rồi nhận được những bài học cay đắng, xót xa Với tuyên ngôn “Tôi căm ghét sâu sắc những kết thúc có hậu”, những truyện ngắn “giả cổ tích”, “giả truyền kỳ” của Nguyễn Huy Thiệp hầu hết đều kết thúc không
có hậu Nó mở ra những dự cảm, những cảm xúc tái tê đằng sau khối cô văn lạnh lùng của một cây bút tỉnh táo, sắc nhạy, khiến cho người đọc cứ thế ngấm dần, ngấm dần và xoáy theo luồng xúc cảm cùng những nhân vật
Với giọng văn “lạnh”, tác giả đã thể hiện một thái độ dửng dưng tuyệt đối đối với nội dung tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm Qua giọng văn ấy, thế giới nhân vật, nội dung câu chuyện luôn hiện ra một chất trung thực, khách quan trước mắt người đọc Người đọc được tách biệt hoàn toàn so với thiên kiến của tác giả Độc giả được tự do
phán xét nhân vật theo chủ kiến của mình Trong nhiều truyện ngắn (Không có vua,
Những bài học nông thôn, Tướng về hưu…) tác giả cũng nhập vào vai người kể chuyện
(nhân vật xưng “tôi”) nhưng vẫn cố ý tách ra khỏi câu chuyện để đảm bảo tính khách quan
Để tạo ra được giọng văn “lạnh”, Nguyễn Huy Thiệp dùng nhiều câu trần thuật ngắn gọn, súc tích, mang đậm tính liệt kê Nguyễn Huy Thiệp rất chuộng dùng câu đơn Đối với loại câu đơn có xuất hiện thành phần phụ thì thành phần phụ thường được tách
ra bằng dấu phẩy Riêng câu ghép, các vế cũng được tách ra rạch ròi Điển hình: “Cha tôi tên Thuấn, con trưởng họ Nguyễn Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học Ông nội tôi
có hai vợ Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông nội tôi phải tục huyền Bà
hai làm nghề nhuộm vải…” (Tướng về hưu); hay: “Cấn là con trưởng Dưới Cấn có bốn
em trai, chênh nhau một, hai tuổi Đoài là công chức ngành giáo dục, Khiêm là nhân viên lò mổ thuộc Công ty thực phẩm, Khảm là sinh viên đại học Tốn, con út, bị bệnh
thần kinh, người teo tóp, dị dạng Nhà lão Kiền sáu người Toàn đàn ông” (Không có
vua) Những câu văn sắc lạnh dửng dưng như thế có mặt khắp các trang văn của
Nguyễn Huy Thiệp Nó tạo cho tác giả một nét riêng độc đáo về phong cách
Có thể thấy, hầu hết những truyện ngắn của ông đều chứa đựng một hoặc vài lời triết lý cá nhân về văn chương Điều đó chứng tỏ, Nguyễn Huy Thiệp là người hay trăn trở về văn chương và ý nghĩa của nó Những triết lý đó, được phát biểu gián tiếp qua các nhân vật, qua tình huống truyện hoặc đôi khi phát biểu một cách trực tiếp Trước đây, Nam Cao cũng thường thể hiện những quan niệm của mình trên trang viết của mình Nhưng với Nguyễn Huy Thiệp, văn chương không đơn giản và rành mạch như Nam Cao Cái nhìn của ông về văn chương có gì đó rất phức tạp - phức tạp như chính cuộc
đời, khi thì “văn chương là thứ bỉ ổi nhất” (Chút thoáng Xuân Hương), khi thì “văn chương có cái gì từa tựa lẽ phải” (Giọt máu), khi thì: “văn chương có nhiều thứ lắm Có
thứ văn chương hành nghề kiếm sống, có thứ văn chương sửa mình, có thứ văn chương
trốn đời, trốn việc Lại có thứ văn chương làm loạn” (Giọt máu) Những triết lý đó đã
Trang 40phá vỡ cái khuôn mẫu, từ đó chính ông đã dùng ngòi bút và con mắt tinh tường của mình khiến huyền thoại hóa giải huyền thoại, dùng cổ tích để hóa giải cổ tích Tinh thần “tự phê”, “tự nghiệm”, ý thức phản tỉnh và tra vấn đã làm nên sức mạnh và giá trị của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Cái Tâm của nhà văn, không gì khác hơn, chính là sự thức nhận về sứ mệnh “khơi gợi chân lý”, tra vấn nhân tâm của người nghệ sĩ Đồng thời, tinh thần nghệ thuật hiện đại cũng không cho phép một sự ban phát chân lý cuối cùng, một tư thế độc thoại giữa nhà văn và bạn đọc Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang màu sắc dân chủ và hiện đại bởi đó là những tác phẩm “mở”, ở đó, cả người viết và người đọc đều được đẩy vào một cuộc đối thoại lớn và nhà văn “để ngỏ cuộc đối thoại
đó mà không đánh dấu chấm hết”
Những triết lý đó đã phá vỡ cái khuôn mẫu, từ đó chính ông đã dùng ngòi bút và con mắt tinh tường của mình khiến huyền thoại hóa giải huyền thoại, dùng cổ tích để hóa giải cổ tích Tinh thần “tự phê”, “tự nghiệm”, ý thức phản tỉnh và tra vấn đã làm nên sức mạnh và giá trị của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Cái tâm của nhà văn, không gì khác hơn, chính là sự thức nhận về sứ mệnh “khơi gợi chân lý”, tra vấn nhân tâm của người nghệ sĩ Đồng thời, tinh thần nghệ thuật hiện đại cũng không cho phép một sự ban phát chân lý cuối cùng, một tư thế độc thoại giữa nhà văn và bạn đọc Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang màu sắc dân chủ và hiện đại bởi đó là những tác phẩm “mở”,
ở đó, cả người viết và người đọc đều được đẩy vào một cuộc đối thoại lớn và nhà văn “để ngỏ cuộc đối thoại đó mà không đánh dấu chấm hết”
Ông thể hiện những quan niệm văn chương qua con mắt của những nhà chính trị, Nguyễn Huy Thiệp không hề có ý muốn đối lập chính trị với văn chương Thật ra, Nguyễn Huy Thiệp luôn ý thức văn học phục vụ chính trị Nhưng phục vụ chính trị không đơn thuần là là truyền bá những tư tưởng chính trị Với Nguyễn Huy Thiệp, ý nghĩa cao nhất của văn học đối với chính trị là ở chỗ: Văn học giữ gìn lương tri cho chính trị Văn chương mà Nguyễn Huy Thiệp đã lựa chọn là thứ văn chương dấn thân Dấn thân cả hai chiều - nhà văn dấn thân và chính người đọc cũng phải dấn thân Còn theo nhà phê bình Văn Giá: “trước Nguyễn Huy Thiệp, văn học Việt Nam khác Từ Nguyễn Huy Thiệp trở đi, văn học Việt Nam khác Ông đã cắm một dấu mốc rất ghê gớm và quan trọng vào đời sống văn học Việt Nam Trong đổi mới, có những đổi mới
từ từ, từ người này đến người kia Nhưng Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện năm 1987, đã gây nên một dấu ấn đậm nét Ông tạo ra một cảm quan, cái nhìn mới về đời sống, dẫn đến một hướng viết mới, một ngôn ngữ mới, một cách biểu đạt mới trong văn xuôi Việt Nam hiện đại Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có sứ mệnh đổi mới văn học; và ông đã hoàn
thành xuất sắc sứ mệnh của mình” [50]
1.2.4 Vị thế của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong trường văn học
Nguyễn Huy Thiệp từng nói: “Tôi thuộc thế hệ nhà văn sau chiến tranh, sau 75 Trước đó, cá nhân thực tế không được quyền nói đến trong văn học, chính trị bao trùm tất cả Nhưng đến thế hệ tôi, vấn đề cá nhân đã trổi dậy, tạo nên một giai đoạn mới Điều