Những chính sách đổi mới về lâm nghiệp bao gồm: Cải cách và thay đổi chế độ sản quyền về rừng, từ tháng 3/1981 Trung Quốc đã đề ra chính sách “tam định” nhằm xác định rõ ba vấn đề : Xác
Trang 1KHOA LÂM NGHIỆP
GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ ĐẤT LÂM NGHIỆP
TS DƯƠNG VIẾT TÌNH
HUẾ, 11-2008
Trang 2TS GVC Dương Viết Tình, Trưởng khoa Lâm nghiệp, Bộ môn Lâm sinh
Giảng dạy môn: Khoa học Đất, Quản lý đất Lâm nghiệp, Lâm nghiệp Cộng đồng Email: tinhkln@gmail.com Phone: 0903512070; 054 3529137; NR: 054 3530585
Trang 3MỞ ĐẦU
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng và kinh tế nông thôn nói chung Chính sách đất đai của Nhà nước ta trong những năm gần đây đã có tác dụng thúc đẩy các tổ chức, cá nhân sử dụng có hiệu quả, phát huy nội lực, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội Với ý nghĩa quan trọng như vậy, đất đai đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm trong việc ban hành các chủ trương chính sách nhằm phát huy tác dụng to lớn của đất đai trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
Đối với đất lâm nghiệp, rừng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, rừng là một loại tài nguyên đặc biệt có khả năng tự tái tạo, có vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái, đời sống kinh tế xã hội Vì vậy, công tác bảo vệ phát triển rừng là vấn đề có tính chiến lược gắn liền với sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế xã hội, sẽ không có một nền kinh tế bền vững nếu không quan tâm phát triển bền vững Mặc dù nước ta có tài nguyên rừng phong phú đa dạng, có nhiều loại gỗ và lâm sản có giá trị cao, từ lâu rừng đã gắn bó với cuộc sống của hàng chục triệu người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc sống ở trong rừng và gần rừng Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, vai trò của rừng đối với việc bảo vệ môi trường, cung cấp lâm sản cho nền kinh tế quốc doanh, đáp ứng các nhu cầu của con người ngày càng tăng lên Tuy nhiên, trong mấy chục năm qua (1943-1995) nước ta mất đi 5 triệu ha rừng, bình quân mỗi năm mất đi khoảng 100.000 ha [1] Sự mất rừng đã gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái, là nguyên nhân làm cho thiên tai những năm gần đây trở nên khắc nghiệt hơn: đó là lũ lụt, hạn hán,
lở đất thường xuyên xảy ra đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng kể cả người và tài sản của nhân dân
Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách nhằm bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có và đẩy mạnh các hoạt động xây dựng, phát triển vốn rừng Nông lâm nghiệp và nông thôn luôn được coi là lĩnh vực quan trọng sống còn của nền kinh tế nước ta, bởi đây là một ngành thu hút đến 70% lao động cả nước Trong tình hình đổi mới, một loạt các chính sách mới đã tạo ra tiền đề quan trọng cho việc tổ chức lại các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp Một trong những chính sách gây được sự chú ý quan tâm của mọi người dân, đặc biệt là nông dân sống ở vùng miền núi trung du, đó là chính sách giao đất, khoán rừng trong ngành lâm nghiệp Chính sách giao đất, khoán rừng với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cho mỗi mảnh đất đã có chủ quản lý, nó thực sự trở thành đòn bẩy để phát huy mọi tiềm năng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng tích cực tham gia vào việc quản lý bảo
vệ xây dựng và phát triển tài nguyên rừng
Thực tế cho thấy trong thời gian qua, chính sách giao đất, khoán rừng đã đi vào cuộc sống, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo nhân dân các dân tộc, tạo việc làm nâng cao thu nhập cho người dân Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, do những biến động về kinh tế xã hội và tình hình thực tế của mỗi địa phương, chính sách giao đất, khoán rừng có nơi có lúc chưa phát huy hết tác dụng và còn một số tồn tại Vì vậy, việc quản lý đất đai nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng nảy sinh những thách thức mới đòi hỏi công tác giao đất, khoán rừng cần được sửa đổi bổ sung
và hoàn thiện
Quá trình việc chuyển đổi quản lý rừng và đất rừng từ Nhà nước sang quản lý rừng và đất rừng có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương thể hiện trong rất nhiều các hướng dẫn và các nghiên cứu trong những năm gần đây của nhà nước ta Chủ trương này là một trong những biện pháp nhằm thúc đẩy các chính quyền địa phương phối hợp cùng với cộng đồng quản lý tốt đất lâm nghiệp trên địa bàn
Trang 4Quản lý tốt và sử dụng có hiệu quả đất lâm nghiệp là một lĩnh vực lớn đang được đầu tư nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay không những ở Việt Nam mà còn tiến hành ở nhiều nước chậm phát triển trên thế giới
Quản lý đất lâm nghiệp là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu gắn liền với quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý rừng dựa vào cộng đồng, hay nói cách khá nó là môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và quản lý nguồn tài nguyên rừng và đất rừng Hay nói cách khác quản lý đất lâm nghiệp là những hoạt động của con người và cộng đồng về quy hoạch
sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dựa trên các chính sách luật pháp của nhà nước ban hành như luật Đất đai, luật bảo vệ và phát triển rừng v.v nhằm thúc đẩy mọi thành phần kinh tế trong xã hội tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Nhằm trang bị cho sinh viên một số kiến thức và cách tiếp cận mới trong quản lý nguồn tài nguyên, chúng tôi tiến hành soạn thảo cuốn giá trình “ Quản lý đất lâm nghiệp”
Trong khuôn khổ của cuốn giáo trình “Quản lý đất lâm nghiệp” chúng tôi chi xin được khái quát hoá một số nội dung quan trọng về quản lý rừng và đất rừng đã được các tổ chức thực hiện trong thực tiễn tại các địa phương trong những năm gần đây trên quan điểm tiếp cận có sự tham gia trong quản lý nguồn tài nguyên rừng và đất rừng
Nội dung cơ bản của cuốn giáo trình này gồm 4 chương như sau:
Chương 1 Phân tích một số chính sách có liên quan đến quản lý nguồn tài nguyên rừng và
phát triển nông thôn gắn liền với quản lý rừng và đất rừng
Chương 2 Giới thiệu tiến trình quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham
gia dựa trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất cấp xã của nghị định 181
Chương 3 Giới thiệu phương pháp đánh giá đất lâm nghiệp sau khi được giao để phục vụ
cho công tác trồng rừng hoặc các phương thức sử dụng đất khác nhằm tạo ra hệ thống sử dụng đất bền vững
Chương 4 Giới thiệu một số mô hình sử dụng đất tổng hợp (đất sau khi đã mất rừng) nhằm
cải thiện sinh kế cho cộng đồng và bảo vệ được môi trường đất bền vững
Chương 5 Phương thức quản lý rừng tự nhiên (đất còn rừng tự nhiên) sau khi được giao
cho cộng đồng trên quan điểm tiếp cận đồng quản lý nguồn tài nguyên bền vững dựa vào cộng đồng cũng được đề cấp một cách tổng quát trong cuốn giáo trình này
Giáo trình Quản lý đất lâm nghiệp là một cuốn sách trình bày một khối kiến thức kết hợp giữa khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội trên lĩnh vực quản lý và sử dụng đất vì vậy khó có thể tránh khỏi những sai sót nhất định trong quá trình phân tích vấn đề Tuy nhiên hy vọng rằng thông qua thực tế giảng dạy và cập nhật thêm các thông tin hiện đang nghiên cứu, chúng tôi sẽ có một cuốn giáo trình có chất lượng tốt trong lần xuất bản tiếp theo
Xin trân trọng cảm ơn Đại học Huế và tập thể cán bộ giảng dạy Khoa lâm nghiệp đã hỗ trợ cho nhóm chúng tôi hoàn thành cuốn giáo trình này
Trang 5CHƯƠNG 1 CÁC CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
ĐẤT LÂM NGHIỆP
1.1 Hiện trạng quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp
Phát triển nông thôn (PTNT) nói chung và phát triển Lâm nghiệp xã hội (LNXH) nói riêng ở Việt Nam trước hết là việc quản lý và sử dụng đất đai - một loài tài nguyên vô cùng quý giá cho mọi sản xuất của người dân nông thôn/miền núi Nó là một yếu tố tự nhiên gắn liền với
sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn với hơn 80% dân số Việt Nam Vì vậy, tìm hiểu vấn đề quản lý tài nguyên đất lâm nghiệp là việc làm không thể thiếu được đối với các hoạt động LNXH
Với diện tích đất Việt Nam có 33.091.093 ha thì diện tích rừng, đất rừng và đất chưa sử dụng chiếm hơn 70%, trong đó đất chưa sử dụng đã chiếm tới 37,1% (khoảng 12 triệu ha) Điều này có nghĩa rằng mọi nỗ lực của những người hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp cho dù là của các nhà hoạch định chính sách/các nhà nghiên cứu đào tạo/các cán bộ hiện trường đều phải quan tâm và tìm cách góp sức mình vào việc tái tạo lại rừng trên đất trống đồi núi trọc
Theo tài liệu “Kết quả tổng điều tra nông thôn và nông nghiệp của Tổng cục Thống kê năm
1994, thì tổng diện tích đất đai của Việt Nam là 33.091.093 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 12.055.239 ha chiếm tỷ lệ 36,7% Đất chưa sử dụng là: 12.168.219 ha chiếm tỷ lệ 37,1%; trong
đó đất có khả năng nông lâm nghiệp là 7.795.909,9 ha Trong đó:
- Đất lâm nghiệp là 12.055.239 ha chiếm tỷ lệ 36,7%
- Đất chưa sử dụng là 12.168.219 ha chiếm tỷ lệ 37,1%, trong đó đất có khả năng Lâm nghiệp là 7.795.909,3 ha
Tài liệu này đã phân tích quyền sử dụng đất Lâm nghiệp theo 2 lĩnh vực: Nhà nước (4.938.359 ha) và đất giao cho hộ gia đình quản lý (840.970,5 ha) Tổng của 2 hình thức quản lý này là 5.779.329,5 ha Vậy diện tích còn lại là bao nhiêu?
Tài liệu “Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững” (Tập1, Tuyển tập báo cáo khoa học của Chương trình Khoa học Lâm nghiệp cấp Nhà nước tại Hội nghị Khoa học về Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của nhiều tác giả, Hà Nội tháng 9/1995) đã nêu rõ hiện trạng sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam (trang 3-7) và đã đưa ra những nhận xét rất rõ ràng
Theo tài liệu này, tổng quỹ đất của Việt Nam là 33.099.093 ha, xếp thứ 55 trong số 200 nước, nhưng dân số lại xếp thứ 12 trên Thế giới, cho nên bình quân đất đai là 0,46 ha/người (bằng 1/6 mức bình quân của Thế giới) xếp thứ 120/200 nước
Trong tổng diện tích 33.099.093 ha đất thì đang sử dụng vào mục đích nông lâm nghiệp/Đất chuyên dùng/đất thổ cư là 18.881.246 ha (57,04%) còn lại đất chưa sử dụng là 42,96% (14.217.854 ha)
Riêng đất lâm nghiệp, cả nước có 9.641.100 ha, đất có rừng tự nhiên là 8.841.700 ha và rừng trồng là 799.400 ha, chiếm 57,06% Đất đang sử dụng chiếm 29,12% tổng diện tích đất tự nhiên
Điều này có thể cho thấy rằng: Việt Nam là một nước đất không rộng, người lại đông mà việc khai thác sử dụng tài nguyên đất đai còn rất hạn chế Quỹ đất còn rất nhiều, chưa được đưa vào sử dụng Tuy nhiên khi nói đến việc sử dụng đất lâm nghiệp cần nhấn mạnh sâu sắc vai trò
Trang 6của rừng trong việc bảo vệ tài nguyên đất đai và môi trường, coi việc giữ rừng/phát triển rừng như là một biện pháp quan trọng nhất của việc sử dụng đất đai hợp lý/bền vững
Quản lý đất lâm nghiệp luôn gắn với tính đặc biệt của sản xuất lâm nghiệp được thể hiện qua các khía cạnh sau đây:
- Đối tượng sản xuất lâm nghiệp là cây rừng có chu kỳ sinh trưởng và phát triển rất dài, có thể tới hàng chục có thể hàng trăm năm và sở hữu đất đai là của chung
- Địa bàn sản xuất rộng lớn, phức tạp, đi lại khó khăn, do đó việc quản lý tài nguyên cũng như áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn trở ngại
- Sản xuất lâm nghiệp không những có ý nghĩa mang lại lợi ích kinh tế, mà nó còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái
Hiện nay, quan điểm về quản lý sử dụng đất đai và tài nguyên rừng đang dần dần quán triệt trên nguyên tắc phát triển bền vững, đó là: “Sự phát triển nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến những khả năng phát triển để thoả mãn những nhu cầu thế hệ tiếp theo” [2]
Phát triển bền vững phải đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ được môi trường sống Đó không chỉ phát triển nền kinh tế - văn hoá - xã hội một cách vững chắc nhờ vào khoa học công nghệ tiên tiến, mà còn đảm bảo ổn định và cải thiện những điều kiện tự nhiên mà con người đang sống trong đó và chính sự phát triển đang dựa vào
đó để ổn định bền vững Do đó, trong mỗi điều kiện hoàn cảnh cụ thể và môi trường tài nguyên, con người phải tìm ra hướng phát triển tối ưu của mình, nhằm bảo đảm lợi ích tổng hợp trên tách
cả các mặt: kinh tế, xã hội, và môi trường sinh thái
Đất lâm nghiệp có địa hình phức tạp, đồi núi dốc là đối tượng chủ yếu trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, do đó vấn đề quan trọng trước tiên đặt ra là phải xác định được các biện pháp quản lý và sử dụng đất dốc thích hợp, hạn chế xói mòn chống thoái hoá đất, bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển lâu bền
Để đảm bảo sử dụng tài nguyên theo hướng bền vững, ở mỗi nước mỗi khu vực đều tìm tòi lựa chọn cho mình một chiến lược và chính sách quản lý thích hợp Nhìn tổng quát, có xu hướng chung là gắn liền đất đai và tài nguyên rừng với cư dân địa phương, phát triển một nền lâm nghiệp vì con người
Trong những thập kỷ qua, việc quản lý bảo vệ và xây dựng một chiến lược phát triển lâm nghiệp ở các quốc gia trên thế giới có nhiều chuyển biến, có thể tóm tắt những xu hướng trên thế giới trong những thời gian gần đây như sau:
- Chuyển từ nền lâm nghiệp khai thác lợi dụng rừng là chính sang thực hiện mục tiêu lợi dụng rừng kết hợp cả ba lợi ích: kinh tế - xã hội - môi trường sinh thái, chú trọng nhiều hơn mục tiêu phát huy tác dụng sinh thái của rừng
- Phi tập trung hoá phân cấp quản lý Nhà nước về rừng chuyển giao dần trách nhiệm quyền lực về quản lý rừng từ cấp trung ương xuống cấp địa phương và cơ sở
- Đẩy mạnh giao đất giao rừng cho các hộ nông dân và cộng đồng giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước tạo điều kiện cho việc quản lý rừng năng động hơn
- Thu hút sự tham gia của các nhóm cộng đồng dân cư được hưởng lợi từ rừng Khuyến khích họ tham gia vào công tác quản lý rừng, phát huy rừng, các chương trình lâm nghiệp cộng đồng, các khu rừng bảo tồn thiên nhiên, làng, bản
Trang 7Giao đất giao rừng cho các chủ thể địa phương là một trong những xu hướng chung của các nước trên thế giới, trong đó có nước ta Tuy nhiên ở mỗi nước, vấn đề này được triển khai thực hiện ở một mức độ khác nhau và đem lại những kết quả khác nhau
Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội, điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mà mỗi nước hình thành nên mỗi hệ thống quản lý, sử dụng đất đai khác nhau
* Ở Thái Lan, sử dụng đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ nông dân được giao đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng Người nông dân có trách nhiệm quản lý đất, không được chặt hoặc sử dụng cây rừng Người nông dân nhận đất được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đất rừng của Nhà nước ở những nơi phù hợp trồng cây nông nghiệp lưu niên, chính phủ Thái Lan hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng như đường, trạm y tế Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, đã làm tăng mức độ an toàn cho người thuê đất trong thời gian sử dụng Do vậy đã ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tư và tăng sức sản xuất của đất [3]
* Ở Nêpal Nhà nước cho phép chuyển giao một số khu rừng có diện tích lớn ở vùng núi trung du cho các cộng đồng, thông qua tổ chức chính quyền cấp cơ sở, thành lập các thành viên
uỷ ban về rừng cam kết bảo vệ các khu rừng ở địa phương [3]
* Ở Ấn Độ vào những năm 70 của thế kỷ 20 đã phát triển lâm nghiệp xã hội (LNXH), năm
1986 Ấn Độ đã hoàn thành mục tiêu phát triển LNXH ở những bang khác nhau Ấn Độ coi trọng cộng đồng như một đối tác quản lý những vùng đất rừng của chính phủ [3]
* Ở Trung Quốc: Sau 20 năm thực hiện cải cách và mở cửa lâm nghiệp Trung Quốc đã phát triển theo hướng chủ yếu sau:
Chuyển dịch từ chế độ kinh doanh lâm nghiệp chỉ dựa trên chế độ sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể sang kinh doanh lâm nghiệp dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần (Nhà nước, tập thể, cá nhân, hợp vốn kinh doanh, hợp tác )
Phát triển nhiều ngành công nghiệp chế biến lâm sản, nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên rừng, chuyển từ giai đoạn lấy gỗ làm mục đích sang coi trọng các mặt môi trường sinh thái hữu ích xã hội Những chính sách đổi mới về lâm nghiệp bao gồm: Cải cách và thay đổi chế
độ sản quyền về rừng, từ tháng 3/1981 Trung Quốc đã đề ra chính sách “tam định” nhằm xác
định rõ ba vấn đề : Xác định quyền sử dụng đất đồi núi (sơn quyền); xác định rừng (lâm quyền)
và hoạch định diện tích đất lâm nghiệp để lại cho các hộ nông dân sử dụng (tự lưu sơn) Trong đó xác định đất đồi núi là hạt nhân căn bản Trong 4 năm, đã hoàn thành cơ bản về chính sách “tam định” tiến hành cấp giấy chứng nhận lâm quyền 96,67 triệu ha đất lâm nghiệp; hơn 56 triệu hộ được giao; hơn 31,33 triệu ha được tự lưu sơn; hơn 50,66 triệu đất đồi núi đã được giao đến hộ Đến cuối 1996 đã hoàn thành cấp giấy chứng nhận lâm quyền được 192 triệu ha Trên cơ sở đó
đã phát triển nhiều hình thức trao đổi quyền sử dụng đất rừng Để khắc phục tình trạng đất đai, rừng núi bị phân tán Trung Quốc đã ban hành nhiều luật pháp, chính sách kinh tế để tạo điều kiện thực hiện tốt việc lưu chuyển và trao đổi quyền sử dụng đất lâm nghiệp [3]
* Ở Philíppin từ những năm 1970 Chính phủ đã quan tâm đến phát triển LNXH Năm 1982 Chính phủ xây dựng dự án LNXH quốc gia chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho cộng đồng Một dạng hợp đồng sử dụng của cộng đồng là hợp đồng thuê quản lý rừng được ký với các
hộ gia đình, cộng đồng hoặc các nhóm Trong thời hạn thực hiện hợp đồng các chủ nhân của hợp đồng thuê quản lý rừng được phép thu hoạch, chế biến sản phẩm, bán hoặc các hình thức sử dụng khác Một dạng thứ hai của hợp đồng cộng đồng Philíppin là công nhận quyền quản lý của dân
Trang 8tộc thiểu số trên mảnh đất tổ tiên họ để lại, người dân được ký hợp đồng với Chính phủ trong 25 năm và cũng có thể kéo dài trong 25 năm tiếp theo [3]
Vấn đề giao đất giao rừng giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển có sự khác nhau rất nhiều Tại các nước phát triển dân số tăng chậm, năng suất công nghiệp, nông nghiệp lại tăng nhanh nên không có nạn thiếu đất cho nông nghiệp mà trái lại, ở các nước Tây Âu đang có vấn đề rút bớt đất nông nghiệp để trả lại cho lâm nghiệp Chế độ tư hữu ở các nước đó đã sản sinh ra một tầng lớp tiểu chủ đông đảo về rừng
* Ở Pháp rừng tư nhân chiếm khoảng 10 triệu ha, trong khi đó rừng Nhà nước chỉ chiếm khoảng 4 triệu ha Trong đó 10 triệu ha rừng tư nhân thì có một nửa thuộc về 1,5 triệu tiểu chủ đồn điền đất đai
* Ở Thuỵ Điển 25% rừng và đất rừng thuộc về Nhà nước, 25% thuộc về các Công ty lớn còn 50% thuộc về tư nhân, cá thể Ở đây vấn đề giao đất giao rừng cho nông dân không được nêu lên
* Ở Phần Lan có khoảng 2/3 tổng diện tích đất lâm nghiệp thuộc về quyền sở hữu tư nhân, khoảng 430.000 chủ rừng và mỗi chủ rừng ước tính khoảng 33ha Ở Phần Lan sở hữu cá nhân về rừng và đất rừng mang tính truyền thống [3]
1.2 Các Chính sách có liên quan đến việc sử dụng đất Lâm nghiệp
Các chính sách lâm nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý đất lâm nghiệp, đặc biệt là trách nhiệm và quyền lợi của các bên có liên quan trong quản lý tài nguyên rừng và đất rừng Tuy nhiên các chính sách luôn luôn thay đổi hoặc chỉnh sửa cho phù hợp với xu hướng phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, vì vậy chúng ta có thể chia ra các giai đoạn lịch sử để phân tích tác động của các chính sách như sau:
Thời kỳ 1968 - 1982
Đây là thời kỳ phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trên cơ sở phát triển kinh tế quốc doanh và hợp tác xã Đất nông nghiệp, lâm nghiệp được giao cho hai thành phần kinh tế cơ bản là Quốc doanh và hợp tác xã (kể cả tập đoàn sản xuất sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng), chưa giao đất cho hộ gia đình
- Các lâm trường quốc doanh (LTQD) là loại chủ rừng chủ yếu, được Nhà nước đầu tư để trồng rừng và giữ quyền sở hữu chủ yếu khoảng 70% tổng diện tích rừng trồng tập trung theo kế hoạch của Nhà nước
- Các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) thời kỳ này đã tham gia trồng khoảng 29% diện tích rừng trồng tập trung HTXNN trồng rừng chủ yếu để nhận tiền công lao động do Nhà nước trả là chính Chưa có quyền sở hữu rừng trồng và chưa quan tâm đến kết quả rừng mình gây trồng nên Tuy vậy, cũng có một số ít HTXNN sử dụng nhân lực và nguồn vốn của mình để trồng rừng, nên có quyền sở hữu một số khu rừng và đã có thu nhập từ rừng trồng do hợp tác xã đầu tư
Thời kỳ 1982 - 1992
Vào những năm đầu 1980 là thời kỳ Nhà nước đang nghiên cứu thử nghiệm cải tiến quản lý hợp tác xã Trong ngành Lâm nghiệp, Nhà nước ta đã có chính sách giao đất giao rừng cho hợp tác xã và các hộ gia đình trong hợp tác xã để sản xuất nông, lâm nghiệp, nhất là vào giai đoạn cuối của thời kỳ này, chủ trương, chính sách giao đất khoán rừng đến hộ gia đình đã cụ thể và đẩy mạnh hơn Ngày 06/11/1982 Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 184 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây, gây rừng Ban chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị số 29/CT-TƯ (12/11/1983) về việc đẩy mạnh giao đất giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo nông lâm kết hợp
Trang 9Từ sau đại hội Đảng toàn quốc khoá VI (1986) Đảng và Nhà nước chủ trương đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, phát triển kinh
tế hàng hoá gắn với kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của Nhà nước, chú trọng phát triển kinh tế hộ gia đình, coi kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế cơ bản tự chủ Thông tư liên Bộ số 01/TT/LB của Bộ lâm nghiệp và tổng cục quản lý ruộng đất ngày 6/02/1991 đã hướng dẫn việc giao rừng và đất trồng rừng cho các tổ chức, cá nhân để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp Ngày 15/9/1992 Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 327-
CT về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước, trong đó ban hành chính sách hỗ trợ 40% tổng vốn đầu tư dần cho các hộ gia đình vay theo nguyên tắc không lấy lãi Việc hoàn trả vốn vay bắt đầu từ lúc có sản phẩm Ngày 22/7/1992 Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 264/CT về chính sách đầu tư phát triển rừng Quyết định này giải quyết khó khăn về vốn cho nhân dân gây trồng cây lâm nghiệp ở vùng định canh định cư, Nhà nước hỗ trợ cho vay vốn không lấy lãi và cũng từ đây ngành lâm nghiệp đã cùng với các địa phương vận dụng và thực hiện giao đất giao rừng đến các hộ dân, công nhân trong lâm trường Vì vậy, công tác giao đất, giao rừng trong thời kỳ này đã có những tiến bộ đáng kể mang lại những khởi sắc cho nghề rừng nước ta Ở những nơi thực hiện đúng chính sách giao đất giao rừng, thì rừng đã có người làm chủ cụ thể không còn tình trạng chủ rừng chung chung mà thực chất là vô chủ Vì vậy người nông dân đã yên tâm đầu tư vào việc kinh doanh rừng và bồi bổ đất đai Nhiều nơi đã có sản phẩm hàng hoá, diện tích đất trống đồi núi trọc đã được đưa vào khai thác sử dụng ngày càng tăng, nhiều mô hình sản xuất theo phương thức nông lâm kết hợp, làm vườn rừng trang trại khá phổ biến ở nhiều địa phương Qua nhận đất nhận rừng đời sống nông dân được nâng lên khá rõ rệt Những hộ nông dân và công nhân lâm trường nhận đất, nhận rừng thu hoạch từ rừng vài chục triệu đồng hàng năm không còn là hiện tượng hiếm thấy, đó là những tiến bộ bước đầu đáng khích lệ của công tác giao đất khoán rừng trong giai đoạn này, làm tiền đề cho chuyển hướng ngành lâm nghiệp, từ lâm nghiệp quốc doanh sang lâm nghiệp xã hội ở nước
ta
Thời kỳ 1993 - 2003
Từ đầu năm 1993 Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các nghị quyết, chủ trương và chính sách nhằm thực hiện triệt để công tác giao đất giao rừng
Nghị quyết trung ương lần thứ 5 (1993) về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn,
đã nhấn mạnh: “Đổi mới cơ chế quản lý ngành lâm nghiệp, thực hiện phổ biến việc giao khoán rừng và đất rừng phù hợp với quy hoạch và phương thức phát triển từng vùng, từng loại rừng”
- Luật đất đai đã được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 và có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Đây là một sắc luật quan trọng về đất đai, cụ thể hoá điều 17, 18 hiến pháp năm
1992, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việc Quốc hội thông qua luật đất đai, vừa đảm bảo phát huy quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai, vừa phù hợp với cách vận hành mới của một nền kinh tế hàng hoá, bắt đầu tiếp cận với cơ chế thị trường hiện đại
Nghiên cứu tổng quát những sửa đổi bổ sung về chính sách đất đai thời kỳ này có thể thấy những vấn đề nổi bật cần chú ý sau đây:
+ Củng cố tăng cường sở hữu toàn dân về đất đai, tăng cường vai trò quản lý thống nhất của Nhà nước
+ Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích do Nhà nước quy định
+ Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi bị thu hồi
Trang 10+ Các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất đã được xác định tạo cơ sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về sản xuất kinh doanh trên đất được giao
Tiếp theo đó Chính phủ đã ban hành Nghị định 64-CP (1993) về giao đất nông nghiệp, Nghị định 02/CP (1994) về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông lâm nghiệp Quyết định số 202/TTg (1994) về khoán quản lý bảo vệ rừng, ngành lâm nghiệp đã có thông tư số 06-LN/KL(1994) về giao đất lâm nghiệp Nghị định số 01/CP (01/11/1995) về giao khoán và sử dụng vào mục đích nông lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, trong các doanh nghiệp Nhà nước Quyết định 661/QĐ - TTg (29/7/1998) về chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Nghị định số 163/CP (16/11/1999) thay thế cho Nghị định 02/CP về giao đất cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Người dân được nhận đất lâm nghiệp có quyền sử dụng, thừa kế chuyển nhượng, thế chấp và chuyển đổi quyền sử dụng đất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật, hạn mức giao đất cho thuê đất cho hộ gia đình cá nhân do Uỷ ban nhân dân (UBND) Tỉnh quyết định nhưng không vượt quá 30 ha Thời hạn giao đất cho thuê đất cho tổ chức hộ gia đình cá nhân là
50 năm, hết thời hạn này nếu tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vẫn có nhu cầu sử dụng đất đúng mục đích, thì được nhà nước giao tiếp, nếu các loài cây trên 50 năm thì sau 50 năm Nhà nước sẽ giao tiếp đến khi thu hoạch sản phẩm chính
Thời kỳ 2003 đến nay
Trên quan điểm tiếp cận quản lý nguồn tài nguyên có sự tham gia, đặc biệt quản lý nguồn tài nguyên dựa vào cộng đồng Đối với ngành lâm nghiệp trong chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001-2010, Bộ NN & PTNT đã đề ra các giải pháp về cơ chế chính sách; trong đó có một số điểm liên quan đến phát triển LNXH như sau:
Xác định rõ quyền sử dụng đất đai và tài nguyên rừng cho các Tổng công ty, Công ty lâm nghiệp, các lâm trường quốc doanh, các thành phần kinh tế khác và các hộ gia đình để ổn định sản xuất lâu dài
Từng bước tiến hành giao đất và phát triển rừng cộng đồng trên cơ sở nghiên cứu cơ chế
và ban hành các quy định cụ thể trong việc bảo vệ, phát triển, sử dụng và kinh doanh các loại hình rừng này
Trong phần đất lâm nghiệp giao cho từng gia đình, thúc đẩy phát triển nông lâm kết hợp, góp phần xoá đói giảm nghèo
Mở rộng và củng cố quyền của người được giao đất, thuê đất cũng như làm rõ và đơn giản hoá thủ tục để có thể thực hiện các quyền của người sử dụng
Định hướng của chính sách lâm nghiệp cũng đã được đề cập trong giai đoạn này nhằm cung cấp các hướng dẫn cho ngành lâm nghiệp trong một thời gian dài về quản lý và sử dụng tài nguyên rừng quốc gia và các hướng dẫn luật pháp về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường
Trong 19 triệu ha đất rừng: hơn 13 triệu ha đã bị bị tàn phá, đang bị bỏ hoá, đất đai bị xói mòn và không sản xuất được Nguyên nhân: sự gia tăng dân số đã gây nên áp lực lớn đến tài nguyên rừng, khai thác gỗ bất hợp pháp, canh tác nương rẫy, khai thác gỗ củi đã góp phần cho việc suy giảm diện tích rừng khoảng 200.000 ha trong một năm Mặt khác công nghiệp chế biến
gỗ chưa được phát triển mạnh, sản phẩm chế biến giá trị thấp chưa chiếm lĩnh được thị trường xuất khẩu
Trang 11 Việc bảo vệ các diện tích rừng hiện có thông qua trồng rừng, sản xuất nông lâm kết hợp
và các chương trình trồng các cây khác là nhiệm vụ chính của quốc gia để tiếp tục phát triển kinh
tế và bảo vệ môi trường
Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp năm 2001 (FSSP) đã xây dựng một khung logic để
hỗ trợ phát triển lâm nghiệp trong những năm đến, có 9 kết quả chính đã được dự kiến; trong đó
có kết quả mong đợi thứ hai liên quan đến phát triển cơ chế chính sách liên quan đến lâm nghiệp
là “Có khuôn khổ chính sách, pháp luật và thể chế để làm hài hoà các chính sách của quốc gia- tỉnh về đất rừng và sử dụng tài nguyên” Một số chỉ thị quan trọng trong phát triển chính sách đã được cam kết như là:
Khái niệm “lâm nghiệp nhân dân” được làm rõ và đưa vào tất cả các văn bản chính sách
liên quan
Chính sách lâm nghiệp cộng đồng được ban hành năm 2003
Đến năm 2004 các chính sách hưởng lợi được cải cách
Nhìn chung trong giai đoạn này, nhà nước đã đầu tư nguồn lực để bàn hành và sửa đổi nhiều chính sách liên quan đến quản lý nguồn tài nguyên rừng và đất rừng như Luật đất đai, Luật quản lý bảo vệ và phát triển rừng Quy chế (08) quản lý 3 loại rừng Nghị định 178 về chế độ hưởng lợi của người dân khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng Nghị định 163 về giao khoán đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và các tổ chức Mặt khác trong quá trình tiếp cận, nhiều hoạt động đã chú trọng đến sự tham gia của cộng đồng trong quản lý nguồn tài nguyên hoặc quản lý nguồn tài nguyên dựa vào cộng đồng như QHSD đất và giao đất Lâm nghiệp dựa có sự tham gia, quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Những nghị quyết, quyết định và chỉ thị trên đây đã đánh dấu sự thay đổi cơ bản trong chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta, công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế hộ gia đình, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo bình đẳng quyền và nghĩa
vụ trước pháp luật, bảo hộ quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ gia đình, cá nhân trên diện tích đất lâm nghiệp được giao Đây chính là động lực trực tiếp kích thích người dân yên tâm nhận đất nhận rừng để sản xuất kinh doanh, kinh tế hộ gia đình có điều kiện phát triển hơn Mỗi người dân nói chung, đặc biệt là nông dân miền núi, rất phấn khởi thực hiện chính sách này Chủ trương giao đất lâm nghiệp của Đảng Nhà nước đến nay đã đi vào cuộc sống của người dân miền núi bao đời nay gắn bó với rừng
Giao đất lâm nghiệp ở nước ta được hình thành như là một cấu thành quá trình đổi mới kinh
tế hiện nay Muốn quản lý bảo vệ và phát triển rừng thì mỗi khu rừng phải có chủ rừng, và chủ rừng phải có lợi ích thực sự từ rừng và nghề rừng
Thực tế cho thấy: thông qua kết quả giao đất giao rừng cho ở nhiều địa phương trong cả nước đã thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc tăng độ che phủ của rừng, tạo các vùng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây nguyên liệu tập trung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân trong vùng, điển hình làm tốt như các tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Thanh Hoá,
1.3 Phân tích về một số điểm trong các chính sách liên quan
Từ sau khi có Luật đất đai năm 1993, luật phát triển bảo vệ rừng và một số chính sách mang tính pháp lý đã thực sự thu hút sự quan tâm của mọi thành phần kinh tế Nó đã đề cập và đưa ra những qui định, quyết định cần thiết, hợp ý dân trong thời kỳ đổi mới
Trang 12Các chính sách của nhà nước ta đã chú trọng đến quyền lợi của người dân và sự tham gia của người dân trong việc sử dụng đất ngày càng được tăng cường Có thể hệ thống hoá việc mô tả các tài liệu bằng sơ đồ theo dòng thời gian như sau:
Đất đai thuộc
Nhà nước quản lý độc
quyền
Đất đai do Nhà nước và tổ chức cộng đồng (HTX) quản lý/sử dụng
Đất đai do tổ chức (Nhà nước, cộng đồng)/hộ gia đình/cá nhân quản lý sử dụng Trước năm
1968
Từ năm
1968-1983
Từ năm 1983 đến nay
Sự tham gia (tăng)
Về phương pháp luận của các tài liệu: Sử dụng phương pháp thống kê và phân tích số liệu, đồng thời dẫn ra các chính sách cụ thể để người đọc có cơ hội đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên quan đến từng loại chính sách
Tuy nhiên một số tồn tại đã bộc lộ trong quá trình thực hiện chính sách như:
Chính sách giao đất cho người dân đã có, nhưng tại sao thực hiện lại không có hiệu quả và còn nhiều vướng mắc Giữa chính sách và thực hiện có gì là bất cập? Vì sao việc cấp giấy phép
về quyền sử dụng đất lại khó khăn đến vậy?
Việc Nhà nước “cho thuê đất” mà đối tượng được thuê là tổ chức/hộ gia đình/cá nhân trong nước và ngoài nước đồng thời lại xác lập quyền cho thuê/chuyển đổi/chuyển nhượng quyền sử dụng đất Liệu có kẽ hở trong chính sách hay không? Có cần thêm những qui định cụ thể cho điều này?
Trong 2 Nghị định 01/CP (giao khoán đất lâm nghiệp của các lâm trường cho các hộ gia đình), Nghị định 02/CP (giao đất Lâm nghiệp lâu dài cho các tổ chức và cá nhân) thì đã có tiêu chí để đưa ra khái niệm đất nông nghiệp? và đất lâm nghiệp? Hơn nữa có thể cùng 1 nơi vừa là đất nông nghiệp, vừa là đất lâm nghiệp (ví dụ vùng đất cát: trồng rừng, trồng cây nông nghiệp? Đất để tiến hành sản xuất Nông Lâm kết hợp)
Hệ thống giải pháp nào? Chính sách hỗ trợ nào để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng đất
có sự tham gia
Chủ trương giao đất lâm nghiệp khoán rừng đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện từ năm 1968, qua mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước lại có những điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho phù hợp với thực tế Vì vậy, việc giao đất, khoán rừng trong từng giai đoạn cũng có sự khác nhau về phạm vi, quy mô, mức độ và kết quả đạt được Nhìn tổng quát kết quả về hoạt động giao đất lâm nghiệp ở nước ta đã đạt được thành quả nhất định qua các giai đoạn sau:
Từ 1968-1992: Những chính sách xây dựng nhằm hoàn thiện quan hệ sản xuất ở miền núi
có nhiều mặt không phù hợp, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp lâm nghiệp làm rập khuôn như đồng bằng là không phù hợp với tích chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi Khoán 10 đối với đồng bào miền núi được hiểu như là sự giải thể hợp tác xã nông nghiệp, các hộ gia đình nhận lại ruộng đất, rừng của mình trước khi vào hợp tác xã tình trạng này dẫn đến tranh chấp đất đai giữa các cộng đồng dân cư trong thôn bản, giữa dân địa phương với dân miền xuôi lên xây dựng kinh tế mới tuy nhiên hiệu quả chính sách giao đất giao rừng trong thời kỳ này chưa cao nhưng chính sách giao đất giao rừng đã khuyến khích tạo động lực phát triển nông lâm
Trang 13nghiệp ở miền núi, bước đầu đã hình thành nên thị trường ở trung du, ở miền núi đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa chính sách giao đất lâm nghiệp còn nhiều hạn chế
Qua thực tế cho thấy ở nhiều nơi sau khi tập thể, hộ gia đình, cá nhân nhận rừng mà tổ chức kinh doanh đã có thu nhập từ rừng đáng kể, do xác định được cơ cấy cây trồng thích hợp với điều kiện khí hậu đất đai ở nhiều địa phương: Quế Quảng Nam, Quảng Ninh
Qua 24 năm thực hiện giao đất giao rừng (1968-1992) đã giao được tổng số trên 11 triệu
ha trong đó 5,8 triệu ha giao cho quốc doanh; 1,3 triệu ha giao cho hộ gia đình; 3,7 triệu ha giao cho hợp tác xã nông nghiệp trên thực tế mới sử dụng 30% diện tích giao số còn lại vẫn không được khai thác bảo vệ vẫn còn hoang hoá, thực trạng này chứng tỏ chủ trương giao đất giao rừng trong giai đoạn này chưa tạo điều kiện tích cực trong việc quản lý bảo vệ rừng và phát triển tài nguyên rừng Nguyên nhân của những hạn chế đó:
- Đời sống nhân dân còn quá nghèo lại thiếu sự hỗ trợ của Nhà nước, nên sản xuất kinh doanh lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn, mặt khác nghề rừng đối với miền núi chủ yếu là hái lượm
và khai thác những sản phẩm sẵn có để giải quyết đời sống hàng ngày, cho nên khi giao đất giao rừng họ lại tự do khai thác nhiều hơn làm cho rừng bị nghèo kiệt
- Thị trường ở miền núi chưa phát triển, nên chưa kích thích được quá trình sản xuất kinh doanh trên phần đất được giao
- Tập quán canh tác còn lạc hậu, chưa chuyển giao được phương thức canh tác tiên tiến trên đất dốc cho người dân miền núi, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật để thực hiện điều đó vẫn còn hạn chế
- Việc thực hiện giao đất giao rừng đến các hộ dân cư được các ngành chức năng, chính quyền địa phương thực hiện nghiêm túc, như còn giao để lấy thành tích, mà không tính đến khả năng của người nhận đất, chưa có sự thống nhất về nội dung, kỹ thuật biện pháp giao rừng từ trung ương đến địa phương trong phạm vi cả nước đã dẫn đến nhiều cách hiểu, cách vận dụng, cách làm khác nhau Vì vậy chưa tạo được yên tâm cho người dân đầu tư sản xuất trên rừng đất rừng được nhà nước giao Do vậy giao đất giao rừng trong thời kỳ này chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, sau đó phải giao đi giao lại, hậu quả dẫn đến mất rừng
Từ 1993- 2003: Đây là giai đoạn có những thay đổi cơ bản trong quản lý sử dụng rừng và
đất rừng ở Việt Nam, đó là sự ra đời của Luật đất đai, Nghị định 02/CP, nghị định 01/CP, Nghị định 163/CP công tác giao đất lâm nghiệp đã được thực hiện theo những nguyên tắc và quy định mới
Theo số liệu tổng hợp của Cục kiểm lâm, đến cuối năm 1999 cả nước giao được 8.786.572
ha đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đạt 59% tổng diện tích quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp, bao gồm:
Trong quy hoạch đất lâm nghiệp 3 loại rừng theo mục đích sử dụng:
+ Rừng đặc dụng 2.119.547 ha đã giao được 972.375 ha chiếm 46%
+ Rừng phòng hộ với diện tích quy hoạch 6,8 triệu ha, đã giao được 3.196.343 ha chiếm 47%
+ Rừng sản xuất 9,6 triệu ha, đã giao với diện tích 4.617.872 ha chiếm 48%
Trong đó giao cho 27.312 tổ chức, với diện tích 6.179.913 ha, giao 452.168 hộ gia đình, cá nhân với diện tích là 2.606.659 ha
Cấp giấy quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 1.368 tổ chức, 200.168 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích là 1.173 ha mới chiếm 13% tổng diện tích đã giao
Trang 14Nói chung kết quả giao đất lâm nghiệp trên đã cho rừng có chủ thực sự, tạo ra nhiều loại hình sở hữu rừng (rừng Nhà nước, rừng tập thể, rừng cộng đồng và rừng hộ gia đình ) tạo điều kiện khai thác tiềm năng đất đai, lao động, nguồn vốn tại chỗ Cùng với các chính sách tích cực khác của Nhà nước trong thời gian qua đã làm cho độ che phủ của rừng tăng lên nhanh chóng, từ năm 1992 đến năm 1999 độ che phủ của rừng tăng từ 28% lên 33,31% Đã hình thành hàng ngàn trang trại nông lâm nghiệp, mô hình kinh tế hộ gia đình có hiệu quả kinh tế cao, hạn chế tình trạng phá rừng làm nương rẫy, rừng được bảo vệ tốt hơn vì đã có người làm chủ thực sự Trồng rừng được đảm bảo với tỷ lệ thành rừng cao, tạo công ăn việc làm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân, một bộ phân dân cư đã giàu lên từ nghề rừng, mở ra hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ ở nhiều nơi, góp phần xoá đói giảm nghèo, từng bước góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn
Tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp, bên cạnh những kết quả đạt được còn một số hạn chế trên một số mặt sau đây:
Ở một số địa phương thực hiện giao đất khi chưa có quy hoạch sử dụng đất, thực hiện không đúng quy trình giao đất lâm nghiệp, không giao đúng đối tượng, thậm chí một số nơi trong quá trình thực hiện còn nhầm lẫn giữa giao đất theo Nghị định 02/CP và khoán theo Nghị định 01/CP Giao sai thẩm quyền, một số lâm trường cũng đứng ra giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, giao cả vào rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu và rất xung yếu Trong quá trình giao đất không coi trọng việc bàn giao ranh giới ngoài thực địa, dẫn đến tình trạng sau khi giao nhiều
hộ gia đình, cá nhân không xác định được ranh giới đất của mình ở ngoài thực địa
Việc xác định giúp các hộ gia đình hướng sử dụng đất sau khi được giao còn hạn chế, chung chung, thiếu cụ thể, dẫn đến tình trạng sau khi giao đất hộ gia đình không xác định được mục tiêu sản xuất cũng như xác định được cây trồng sao cho phù hợp với điều kiện lập địa ở địa phương
1.4 Định hướng của chính sách lâm nghiệp
1.4.1 Mục đích của chính sách lâm nghiệp quốc gia
Chính sách lâm nghiệp quốc gia nhằm mục đích:
Bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên rừng và đất rừng hiện tại và tương lai một cách bền vững trên cơ sở đáp ứng các nhu cầu của quốc gia về sản phẩm và bảo vệ môi trường
Nâng cao sản lượng và cải tiến khai thác, vận xuất, vận chuyển, chế biến, hệ thống thị trường các sản phẩm từ rừng để giảm lãng phí, nâng cao lợi ích kinh tế, xã hội và xuất khẩu
Nâng cao sự tham gia của người dân và có sự cam kết của tất cả các thành phần kinh tế (nhà nước, hợp tác xã, hộ gia đình, công ty tư nhân, và cá nhân) trong bảo vệ, sản xuất và sử dụng hợp lý các sản phẩm rừng và các lợi ích về môi trường
Góp phần cải tiến điều kiện sống và thu nhập của người dân nông thôn và đặc biệt là người dân và các cộng đồng dân tộc miền núi
Mục đích cuối cùng là các chính sách lâm nghiệp được chấp nhận bởi người dân và các cơ quan nhà nước sẽ chia sẻ quyền và trách nhiệm đối với các khu rừng sản xuất và phòng hộ Với mỗi vùng kinh tế cần tạo ra cơ hội để có được sự tham gia một cách đầy đủ trong phân chia lợi ích của các sản phẩm và môi trường từ tài sản rừng quốc gia
1.4.2 Các mục tiêu và chiến lược của chính sách lâm nghiệp quốc gia
Mục tiêu 1: Xây dựng lâm phận quốc gia gồm có rừng và đất rừng, nuôi dưỡng và quản lý
chúng phù hợp với mục đích xã hội và môi trường của quốc gia, tuân theo các chính sách lâm nghiệp và Luật bảo vệ và phát triển rừng
Trang 15Mục tiêu 2: Xây dựng kế hoạch bảo vệ và quản lý rừng cho các nguồn tài nguyên rừng
quốc gia, và đáp ứng được nhu cầu lập kế hoạch và quản lý cho từng địa phương
Mục tiêu 3: Có sự cam kết tuân theo các chính sách lâm nghiệp, luật và các quy chế của tất
cả các thành phần xã hội trong các hoạt động quản lý tài nguyên rừng
Mục tiêu 4: Cải tiến việc khai thác sản, vận chuyển, chế biến và thị trường các sản phẩm từ
rừng để giảm sự lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng trong nước, nhập và xuất khẩu
Mục tiêu 5: Xây dựng các cơ chế hành chính, tổ chức để thực hiện bảo vệ môi trường và
phát triển ngành lâm nghiệp bền vững
Mục tiêu 6: Thực hiện và duy trì một mức tài chính và đầu tư thích đáng cho ngành lâm
nghiệp từ nguồn nhà nước và tư nhân để hoàn thành mục đích và các mục tiêu của chính sách lâm nghiệp quốc gia
Mục tiêu 7: Ưu tiên cao về bảo vệ môi trường trong quản lý tất cả các loại rừng và đất rừng Mục tiêu 8: Hợp tác giữa các ngành để cải tiến điều kiện sống của người dân sống trong và
gần rừng nhà nước, đặc biệt là ở các vùng miền núi
1.5 Một số chính sách quan trọng liên quan đến quản lý đất lâm nghiệp
1.5.1 Luật Đất đai
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, hộ gia đình và các nhân sử dụng ổn định lâu dài (điều 1)
Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người làm nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp có đất sản xuất (điều 2)
Người sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ, cải tạo, bồi bổ và sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả (điều 4)
Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, đất được phân thành các loại sau đây (điều 11): Đất nông nghiệp/ Đất lâm nghiệp/ Đất khu dân cư nông thôn/ Đất đô thị/ Đất chuyên dùng/ Đất chưa
sử dụng
Thời hạn giao đất sử dụng ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp là 50 năm (điều 20)
Người sử dụng đất có những quyền sau đây (điều 73):
1 Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2 Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao
3 Được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật (thừa kế, thế chấp, cho thuê, chuyển nhượng, chuyển đổi)
4 Hưởng các lợi ích do công trình công cộng về bảo vệ, cải tạo đất mang lại
5 Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo và bồi bổ đất
6 Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; được bồi thường thiệt hại về đất đai khi bị thu hồi
Người sử dụng đất có những nghĩa vụ sau đây (điều 79):
Sử dụng đất đúng mục đích đúng ranh giới và các yêu cầu khác đã được quy định khi giao đất
Thực hiện các biện pháp để bảo vệ và làm tăng khả năng sinh lợi của đất
Trang 16Tuân theo những quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh
Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi
Nhận xét chung: Từ khi ra đời đến nay luật đất đai đã được sửa đổi qua nhiều năm (1983,
1989, 1993, 1998, 2004) với mục tiêu là thích nghi/phù hợp với sự quản lý đất đai và phát triển của xã hội, đồng thời tăng sự tham gia của các bên có liên quan trong quản lý đất đai
1.5.2 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
Luật bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội thông qua năm 1991 Một số nội dung liên quan đến các hoạt động LNXH như sau:
Nhà nước thống nhất quản lý rừng và đất trồng rừng Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân (chủ rừng) để bảo vệ, phát triển và sử dụng ổn định lâu dài theo quy hoạch,
kế hoạch của nhà nước (điều 2)
Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân làm các loại sau đây (điều 6): Rừng phòng hộ/ Rừng đặc dụng/ Rừng sản xuất
Việc quyết định giao rừng, đất trồng rừng phải căn cứ vào điều 10
Quy hoạch và kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng rừng, đất trồng rừng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng, đất trồng rừng được giao, được thừa kế, chuyển nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác theo quy định của pháp luật
Được hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước
Chủ rừng có những nghĩa vụ sau đây (điều 41):
Sử dụng rừng, đất trồng rừng đúng mục đích, đúng ranh giới đã quy định trong quyết định giao rừng, đất trồng rừng và theo quy chế quản lý, sử dụng đối với từng loại rừng
Chấp hành quy định của pháp luật về quản lý bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng đất trồng rừng
Điều quan trọng của luật bảo vệ phát triển rừng được sửa đổi năm 2005 là đã đề cập đến rừng cộng đồng và giao rừng cho cộng đồng quản lý, đây là một chủ trương quan trọng về xã hội hoá ngành lâm nghiệp nhằm tăng hiệu quả quản lý rừng và đất rừng
1.5.3 Quyết định 178/2001/QĐ-TTg
Quyết định 178/2001/QĐ-TTg đã đề cập đến quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp Đây là một quyết định mang đến lợi ích cho người dân tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Phân chia sản phẩm chính
Căn cứ
Trang 17- Gỗ: UBND tỉnh quy định, nhưng phải tuân theo khung tỷ lệ được quy định tại các điều 5,
6, 7, 8, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20 của QĐ 178/2001/QĐ-TTg
- Sản phẩm hàng năm: UBND tỉnh quy định mức hưởng lợi
- Lâm sản để phân chia là khối lượng lâm sản thực tế khai thác và tập trung tại bãi giao
(hoặc kho) lâm sản
- Bãi giao (hoặc kho) lâm sản là địa điểm tập trung lâm sản sau khai thác và vận xuất UBND tỉnh
quy định địa điểm bãi giao
Hình thức phân chia
- Hình thức I (áp dụng đối với hộ gia đình được giao rừng và đất lâm nghiệp): Hộ gia đình
được hưởng toàn bộ số lâm sản tại bãi giao và phải nộp vào ngân sách nhà nước khoản tiền tương ứng với số lâm sản được phân chia và các khoản thuế theo quy định hiện hành
B = Tg - Tth - Tns
Tns = Kls x Gc x Tlx
Tth = Kls x Gg x Ttg
Trong đó: B: Khoản tiền hộ gia đình được hưởng
Tg: Số tiền bán gỗ tại bãi giao
Tth: Thuế tài nguyên
Tns: Tiền nộp ngân sách
Kls: Khối lượng LS khai thác tại bãi giao
Gc: Giá cây đứng Gg: Giá gỗ tại bãi giao
Tlx: Tỷ lệ nộp NS xã Ttg: Tỷ lệ nộp thuế tài nguyên
Đối với hộ gia đình nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
- Hình thức II: Bên giao khoán (hoặc hộ gia đình) nhận toàn bộ số lâm sản tại bãi giao, trả
cho hộ gia đình (hoặc bên giao khoán) bằng tiền tương ứng với số lâm sản mà họ được hưởng, và phải chịu trách nhiệm nộp thuế
- Hình thức III: Mỗi bên nhận sản phẩm phân chia tại bãi giao theo tỷ lệ quy định và chịu
trách nhiệm nộp thuế tương ứng với phần lâm sản được hưởng
Quản lý và chi phí khai thác lâm sản
Hộ gia đình được giao hoặc nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp khi được phép khai thác chính được tự tổ chức hoặc thuê khai thác
Hộ gia đình được giao rừng và đất lâm nghiệp phải chịu toàn bộ chi phí liên quan đến khai thác lâm sản
Hộ gia đình nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp chỉ chịu chi phí liên quan đến khai thác lâm sản mà hộ gia đình được hưởng
Quản lý và sử dụng các sản phẩm được phân chia
Hộ gia đình
Doanh nghiệp Nhà nước
BQL rừng phòng hộ; BQL rừng đặc dụng
Xã
Trang 18Cấp phát kinh phí trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng: Kinh phí ngân sách theo Thông tư số
43/2002/TT-BTC ngày 7/5/2002 của Bộ tài chính về hướng dẫn quản lý, cấp phát vốn ngân sách cho Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
1.5 4 Các chính sách khác
Qui định 1171 - QĐ về qui chế quản lý các loại rừng: Sản xuất, phòng hộ, đặc dụng ngày 30/12/1986 Theo Qui định này rừng và đất rừng ở Việt Nam được thống nhất chia làm 3 loại: Sản xuất, phòng hộ và đặc dụng Trong quy định này ghi rõ cơ chế quản lý, quy hoạch 3 loại rừng, chức năng nhiệm vụ của từng loại rừng trong phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường
ở địa phương và trong cả nước
Nghị định 02/CP về giao đất Lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng vào mục đích Lâm nghiệp, ban hành ngày 15/1/1994 Đây là nghị định đầu tiên của Chính phủ hướng dẫn giao đất lâm nghiệp đến nhiều thành phần kinh tế khác nhau, trong đó hộ gia đình, cá nhân cũng được tham gia nhận đất để tổ chức sản xuất lâm nghiệp Đến năm 1999, Chính phủ đã ban hành nghị định 163/CP, mở rộng việc giao rừng và đất rừng, quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người nhận đất, nhận rừng
Nghị định 01/CP về giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước ban hành ngày 4/1/1995
Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 16/1/1999 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp
Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Đây là nghị định tiếp theo nghị định 02, với tên gọi đất lâm nghiệp: Rừng tự nhiên, rừng trồng, đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp
Quyết định số 202/TTg ngày 2-5-1994 về quy định khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng Các hộ gia đình nhận khoán rừng được hưởng công khoán, tận thu sản phẩm phụ, lựa chọn hình thức nhận khoán, kết hợp sản xuất nông nghiệp khi rừng chưa khép tán, được mua gỗ làm nhà
Ngoài ra còn có một số nghị định 01; 02 CP/2000 về giao khoán và giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức và hộ gia đình; Quy chế 08 về quản lý 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất)
đã có tác dụng quản lý tốt tài nguyên rừng và đất rừng
1.5.5 Chính sách có liên quan đến đầu tư và tín dụng
Chỉ thị số 202-CT về việc cho vay vốn sản xuất nông lâm ngư nghiệp đến hộ gia đình ngày 28/6/1991
Quyết định 264/HĐBT ngày 22-7-1992 về chính sách đầu tư và phát triển rừng Quyết định này giải quyết những khó khăn về vốn cho nhân dân gây trồng cây lâm nghiệp ở vùng định canh định cư, Nhà nước hỗ trợ cho vay vốn không tính lãi
Nghị định số 14/CP về chính sách cho hộ vay vốn để sản xuất nông lâm ngư nghiệp ngày 2/3/1993
Chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn số 67/1999/QĐ-TTg ban hành ngày 1/4/1999 Nội dung của quyết định này gồm một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển Nông nghiệp và nông thôn như:
Nguồn vốn:
Trang 19Nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm:
+ Vốn của ngân hàng huy động
+ Vốn ngân sách Nhà nước
+ Vốn vay của các tổ chức tài chính quốc tế và nước ngoài
Nguồn vốn huy động cho phát triển nông nghiệp và nông thôn chủ yếu dựa vào các hình thức sau:
Đẩy mạnh huy động tiền tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, phát hành trái phiếu, trái phiếu ngân hàng thương mại kể cả bằng đồng Việt Nam, bằng ngoại tệ, bằng vàng khi cần thiết Từng bước đa dạng hoá vốn trung hạn, dài hạn để bảo đảm cho các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn trong từng thời kỳ
1.5.6 Chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế xã hội nông thôn
Ngày 6/3/1968 Hội đồng Chính phủ đã ra nghị quyết 38 về công tác định canh định cư kết hợp với hợp tác nông nghiệp ở miền núi
Ban chấp hành Trung Ương Đảng ra chỉ thị 29/CT-TW ngày 12/11/1983 về việc đẩy mạnh giao đất giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo hướng nông lâm kết hợp
Chỉ thị 100 (1981), Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988) về đổi mới tổ chức quản lý Lâm nghiệp đã thúc đẩy các Lâm trường quốc doanh áp dụng chế độ khoán sản phẩm đến các hộ gia đình công nhân viên Quyết định số 72- HBĐT về chủ trương chính sách cụ thể phát triển kinh tế
xã hội miền núi ngày 13/3/1990
Thông tư liên bộ số 01/TT/LB của bộ Lâm nghiệp và Tổng cục quản lý ruộng đất ngày 6/12/1991 đã hướng dẫn việc giao rừng và đất để trồng rừng cho các tổ chức và cá nhân để sử dụng vào mục đích Lâm nghiệp Ngày 6/11/1992 Hội đồng bộ trưởng ra quyết định số 184 về việc đẩy mạnh giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây gây rừng
Nghị định số 13- CP về công tác khuyến nông ngày 2/3/1993 Chỉ thị 525- TTg về chủ trương biện pháp phát triển kinh tế xã hội miền núi ngày 2/11/1993 Ngày 16/3/1995 Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chương trình khuyến lâm từ năm 1995-2000, thông qua công tác này nâng cao dân trí để các hộ tự giác tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật, biết quản lý và tiêu thụ sản phẩm của gia đình
Nghị định 178 năm 2002 của Chính phủ về phân chia lợi ích cho người nhân đất, nhận rừng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 661/QĐ-TTg ngày 29/07/1998 về mục tiêu, nhiệm
vụ, chính sách và tổ chức thực hiện chương trình 5 triệu ha rừng
Đánh giá chung: Chính sách là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình sử
dụng và quản lý tốt đất lâm nghiệp Có thể phân chính sách thành 2 nhóm chính: 1) nhóm chính sách tác động trực tiếp vào quản lý tài nguyên rừng và đất rừng và 2) nhóm chích sách tác động vào phát triển nông thôn/các cộng đồng sống gần rừng
Trong quá trình thực thi các chính sách trực tiếp và gián tiếp đều bộc lộ các điểm mạnh và điểm yếu, vì vậy hoạt động đánh giá tác động của các chính sách là rất cần thiết cho từng giai đoạn phát triển để từng bước cải tiến chính sách cho phù hợp
CÂU HỎI KIỂM TRA CÂU 1 Anh hay chị hãy phân tích các giai đoạn lịch sử và các chính sách trong quản lý đất lâm
nghiệp của nước ta?
CÂU 2 Anh hay chị hãy phân tích Mục đích và các mục tiêu và chiến lược của chính sách lâm
nghiệp quốc gia?
Trang 20CHƯƠNG 2 QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP
CÓ SỰ THAM GIA
2.1 Thực trạng công tác quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
Đất lâm nghiệp và đất có khả năng lâm nghiệp chiếm một tỷ trọng lớn (2/3) của diện tích đất tự nhiên trong toàn quốc Tuy nhiên, việc quản lý và sử dụng còn gặp nhiều khó khăn, vì vậy nạn phá rừng đã làm suy kiệt các nguồn tài nguyên rừng và gây ra những vấn đề xói mòn và phá
vỡ các vùng rừng đầu nguồn tự nhiên Lâm nghiệp là một lĩnh vực tạo cơ hội cho nhiều hộ gia đình đa dạng hoá về nguồn thu nhập Kinh nghiệm tại Việt Nam cho thấy một tiền đề thiết yếu cho việc tái sinh rừng là việc giao đất cho các hộ dân và cộng đồng tham gia quản lý Kinh nghiệm này được phản ánh trong các chủ trương và chương trình quốc gia như chương trình trồng mới 5 triệu hécta rừng và các chương trình quản lý nguồn tài nguyên dựa vào cộng đồng Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp phải xúc tiến trước khi giao đất cho các hộ, các nhóm
hộ, cộng đồng hoặc các doanh nghiệp quản lý Quy hoạch sử dụng đất bền vững phải được tiến hành theo các nhu cầu địa phương đối với các điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội Việc này sẽ mang lại sự quản lý và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tái tạo lại những vùng rừng bị cạn kiệt Sự tham gia của người dân trong việc lập qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp là cần thiết nhằm đảm bảo người dân nhận thức rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình trong việc quản lý, bảo vệ và sử dụng đất lâm nghiệp, đất có khả năng lâm nghiệp và rừng Công tác quy hoạch sử dụng đất nói chung và quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp đã có từ lâu, tuy nhiên công tác quy hoạch đất có nhiều cấp độ khác nhau như quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch cấp vùng sinh thái, quy hoạch cấp tỉnh hoặc huyện Tuỳ theo cấp độ mà chúng ta sử dụng các phương pháp tiếp cận khác nhau như tiếp ngành hay liên ngành cũng như tiếp cận có sự tham gia với nhiều mức độ khác nhau
Do đặc thù của ngành lâm nghiệp và đất lâm nghiệp như đã đề cập ở chương mở đầu là địa hình phức tạp, che khuất nhiều do tài nguyên rừng, vùng sâu vùng xa, vì vậy việc quy hoạch để giao đất đòi hỏi phải chi tiết và có sự tham gia của cộng đồng là rất cần thiết Chính vì vậy để giao đất và giao rừng cho cộng đồng quản lý trong tài liệu này chúng tôi tập trung đề cập đến phương pháp quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp có sự tham gia ở cấp xã
Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia (GĐLNCSTG) ở cấp xã dựa trên nền tảng của quy hoạch sử dụng đất cấp xã theo nghị định 181, nó là một bước thiết yếu để
hỗ trợ các hoạt động lâm nghiệp bền vững Xây dựng tiến trình GĐLNCSTG tại các xã nhằm hỗ trợ cho các huyện, xã thực hiện tốt công tác giao đất đến tận người dân
Trình tự nội dung lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết cấp xã theo nghị định 181
1 Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương
1.1 Các thông tin
1.2 Thông tin về quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
1.3 Thu thập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, BĐ địa chính cấp xã
2 Đánh giá tình hình sử dụng đất và biến động sử dụng đất của xã 10 năm trước
3 Đánh giá tiềm năng đất đai và sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với xu hướng phát triển Theo khoản 3 mục I phần II của NĐ 181
Trang 214 Đánh giá kết quả thực hiện QHSĐ chi tiết kỳ trước của xã thực hiện theo khoản 4 mục I phần II của thông tư này
5 Đánh giá kết quả thực hiện KHSĐ kỳ trước của xã thực hiện theo khoản 5 mục I phần II của thông tư này
6 Xác định phương hướng mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch
6.1 Tổng hợp và dự báo nhu cầu sử dụng đất của tổ chức hộ gia đình, các nhân tại địa phương
6.2 Xác định khả năng đáp ứng về số lượng, chất lượng đất đai cho nhu cầu sử dụng đất đã được xác định tại điểm 6.1 khoản này
6.3 Trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất và khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng đất xác định
phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch
7 Xây dựng các phương án quy hoạch sử dụng đất chi tiết
8.2 Đánh giá việc giải quyết quỹ nhà ở
8.3 Đánh giá trỉnh trang khu dân cư
8.4 Đánh giá việc bảo tồn khu di tích
9 Lựa chọn phương án hợp lý về QHSĐ chi tiết
10 Phân kỳ QHSD đất
11 Xây dựng bản đồ QHSD đất chi tiết
12 Lập kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu
13 Xác định các biện pháp bảo vệ, cải tạo đất, bảo vệ môi trường
14 Xác định các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đầu kỳ
Trên nền tảng của nghị định 181 của luật đất đai và với cách tiếp cận là tăng sự tham gia của các bên có liên quan trong tiến trình quy hoạch sử dụng đất, vì vậy tiến trình quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã có sự tham gia sẽ bao gồm 8 bước cơ bản như sau:
1 Thành lập các Ban chỉ đạo tỉnh, huyện và xã và tổ công tác cấp huyện về GĐLNCSTG cho hai xã thử nghiệm thuộc hai huyện
2 Chuẩn bị kỹ thuật và thu thập thông tin, tài liệu và bản đồ
3 Điều tra, khảo sát thực địa để thu thập dữ liệu và xây dựng các bản đồ về hiện trạng sử dụng đất của hai xã thử nghiệm (cùng với các hộ dân địa phương theo phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia)
4 Lập qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp và phương án về giao đất lâm nghiệp cho hai xã thử nghiệm (cùng với các hộ dân địa phương theo phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia)
5 Đo vẽ, giao đất lâm nghiệp trên thực địa (với các hộ, nhóm hộ)
Trang 226 Thẩm định và phê duyệt các kết quả, lập hồ sơ địa chính, viết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp
7 Tổng hợp hồ sơ địa chính, quyết toán chi phí và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp
8 Tổng kết đánh giá về GĐLNCSTG có sự tham gia để có được các bài học kinh nghiệm là một việc làm thường xuyên để từ đó hoàn chỉnh bản qui trình hướng dẫn GĐLNCSTG có sự tham gia cho phù hợp với từng điều kiện cụ thể của các địa phương nhằm quản lý tốt nguồn tài nguyên rừng và đất rừng
2.2 Các nguyên tắc chung của quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia
2.2.1 Sự tuân thủ theo các quy định của tỉnh và của nhà nước
Quy trình GĐLNCSTG được thực hiện trong khuôn khổ hành chính và pháp luật của Chính phủ nhà nước Việt Nam:
Luật đất đai sửa đổi áp dụng từ 1/7/2004, Nghị định Số 181/2004/NĐ-CP được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 29 tháng 10 năm 2004 và Thông tư số 30 /TT-BTN và MT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên Môi trường về thi hành luật đất đai
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, các văn bản hướng dẫn thực hiện luật: Nghị Định số 163-
CP ngày 16/11/1999 của chính phủ, Quyết định số 661-QĐ/TTg ngày 29/6/1998, Chỉ thị số /CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch HĐBT (nay là thủ tướng chính phủ), Chỉ thị số 245-/TTg ngày 22/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 178/2001 /QĐ - TTg.ngày 12/11/2001, Quyết định số 04/2004/QĐ-BNN ngày 2 tháng 2 năm 2004 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
364-Quy trình GĐLNCSTG được thực hiện trong khuôn khổ hành chính và pháp luật hiện thời của UBND các tỉnh và các quyết định và chiến lược có liên quan về phát triển lâm nghiệp của địa phương
Quá trình GĐLNCSTG dựa trên cơ sở tiềm năng của những vùng đất lâm nghiệp và đất chưa sử dụng cho các hộ, nhóm hộ và các tổ chức và tuỳ thuộc theo loại đất, các cơ hội về quản
lý, sử dụng đất và sự phê duyệt của cấp có thẩm quyền
2.2.2 Uỷ ban nhân dân xã được xem là Đơn vị GĐLNCSTG
Uỷ ban nhân dân xã là đơn vị quản lý hành chính thấp nhất ở Việt Nam và có sự tiếp xúc sâu sát với các hộ dân trong địa bàn Việc quy hoạch sử dụng đất, giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (‘sổ đỏ’) phải được thực hiện tại cấp xã bởi Uỷ ban nhân dân
xã
Việc giao đất lâm nghiệp thường phát sinh những tranh chấp địa giới giữa các xã trong huyện Mặc dù có những bản đồ địa giới chính thức, các tranh chấp không được giải quyết về các địa giới hành chính vẫn thường xảy ra Các tranh chấp này phải được giải quyết trước khi tiến hành quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã Bản đồ địa giới 364 sẽ được dùng làm cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề
GĐLNCSTG cần được thực hiện trên mọi thôn trong xã trước khi được tổng hợp thành qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã
2.2.3 Tối đa hoá sự tham gia của hộ gia đình
Các hộ dân phải được thông báo, tham gia, thảo luận, thực hiện và hưởng lợi hợp pháp từ việc giao đất lâm nghiệp có sự tham gia theo quy định
Trang 23Thông tin về quyền lợi và trách nhiệm của hộ dân được giao đất cần phải được phổ biến đến các hộ dân Việc này phải được triển khai trước khi thực hiện các hoạt động GĐLNCSTG để đảm bảo các hộ dân đều có cơ hội và sự tiếp cận bình đẳng đối với việc giao, nhận đất lâm nghiệp
Các phương pháp tiếp cận có sự tham gia được xúc tiến qua việc áp dụng các công cụ Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) Điều này sẽ xác định ra những cơ hội tiềm năng của đất lâm nghiệp theo quan niệm của hộ gia đình và giúp cho các cấp chính quyền tỉnh, huyện và xã hiểu biết nhiều hơn về các điều kiện địa phương và các tập quán canh tác lâm nghiệp của hộ gia đình
2.2.4 Thực hiện Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp trước khi giao đất lâm nghiệp
Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp được tiến hành theo các mục đích sau:
Đất được phân bố hợp lý theo cơ cấu sử dụng, phân loại rừng và tiềm năng sử dụng
Qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cung cấp cơ sở cho việc lập kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội hàng năm của xã và sự đầu tư sau đó vào các hoạt động lâm nghiệp
Các loại đất lâm nghiệp khác nhau được quản lý theo nhóm hạng, phân loại và các mục đích sử dụng tiềm năng của chúng;
Đưa các hộ tham gia vào quá trình Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp của xã để giúp họ biết đến những khái niệm, kết quả phân loại đất lâm nghiệp, phân loại rừng, diện tích, công dụng, tiềm năng của mỗi loại đó
Nhu cầu sử dụng đất của nhiều ngành khác nhau và người sử dụng đất khác nhau được đề cập theo hướng có lợi nhất cho sự phát triển kinh tế xã hội tại địa phương
Qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã nhằm phân định rõ quỹ của từng loại đất trong tổng quỹ đất chung của toàn xã trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương đã được xác định theo cơ sở pháp lý, hợp lý, khoa học, khả thi và phù hợp với các qui hoạch, kế hoạch về phát triển lâm nghiệp và kinh tế-xã hội của huyện, tỉnh
Đối với đất lâm nghiệp, QHSDĐ còn phải xác định rõ vị trí, diện tích các loại đất rừng theo phân hạng ba loại rừng ( phòng hộ, sản xuất và đặc dụng) và cấp phòng hộ Đây là cơ sở pháp lý
để xác định đối tượng được giao, được thuê đất lâm nghiệp
Qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã phải tuân thủ theo các qui hoạch tổng thể về sử dụng đất cấp huyện, tỉnh và tôn trong các qui hoạch chuyên ngành như qui hoạch phát triển lâm nghiệp đã được phê chuẩn và phải được UBND cấp huyện phê duyệt trước khi tiến hành giao đất lâm nghiệp
2.2.5 Đảm bảo công bằng và giải quyết tranh chấp
Trong quá trình lập qui hoạch cần điều chỉnh các bất cập về mặt diện tích đất mà vài tổ chức và hộ dân đang nắm giữ nhằm đảm bảo sự công bằng và bình đẳng Các điều chỉnh này phải dựa trên cơ sở thoả thuận giữa các hộ gia đình
Mọi tranh chấp giữa các hộ gia đình sẽ được giải quyết trên tinh thần cởi mở và minh bạch Các cấp chính quyền UBND xã sẽ đóng vai trò trung gian hoà giải để giải quyết mọi tranh chấp
2.2.6 Phát triển bền vững
Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp và giao đất phải khuyến khích sự phát triển đất bền vững, theo đúng với các kế hoạch phát triển dài hạn (5 – 10 năm) và tránh những tác động tiêu cực đối với môi trường
Trang 24Việc giao đất phải dựa trên những lợi ích tiềm năng và lợi ích kỳ vọng của người sử dụng đất Cần ưu tiên cho việc quy hoạch những vùng đất trồng trọt được để đảm bảo cho việc tái trồng rừng và sự phát triển bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên
2.3 Chuẩn bị về mặt tổ chức trước khi thực hiện quy hoạch
2.3.1 Cấp tỉnh
Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định thành lập Ban Chỉ đạo tỉnh về thử nghiệm GĐLNCSTG
có sự tham gia (gọi tắt là Ban chỉ đạo tỉnh về GĐLNCSTG) Ban Chỉ đạo tỉnh gồm các đại diện
từ các Sở ban ngành thuộc tỉnh là: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư
Ban Chỉ đạo Tỉnh về GĐLNCSTG có các nhiệm vụ sau:
Tham mưu cho UBND Tỉnh về việc thực hiện các chính sách của Nhà nước và Tỉnh có liên quan đến công tác quản lý và quy hoạch sử dụng đất tại các xã, huyện thực hiện thử nghiệm GĐLNCSTG có sự tham gia trong tỉnh Quảng Ngãi
Tập huấn cho các cơ quan ban ngành cấp huyện: địa chính – nông nghiệp, cấp xã và cán bộ thuộc Chi cục kiểm lâm tham gia hoạt động thử nghiệm GĐLNCSTG có sự tham gia tại hai xã
về qui trình, các thủ tục và hoạt động trong GĐLNCSTG
Chi tiết về vai trò và trách nhiệm của Ban chỉ đạo Tỉnh về GĐLNCSTG được đính kèm tại Phụ lục 1 của văn bản này
2.3.2 Cấp huyện
Chủ tịch UBND Huyện ra quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Huyện về GĐLNCSTG Ban Chỉ đạo Huyện gồm các đại diện là: UBND Huyện, Hạt kiểm lâm; phòng Địa chính - Nông nghiệp huyện, UNBD xã tham gia GĐLNCSTG
Ban Chỉ đạo huyện về GĐLNCSTG có các nhiệm vụ sau:
Tham mưu cho UBND huyện về việc chỉ đạo công tác Qui hoạch sử dụng đất và kế hoạch giao đất lâm nghiệp có sự tham gia đối với xã thử nghiệm trong huyện
Hướng dẫn, theo dõi và xúc tiến việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp trong xã thử nghiệm của huyện
Đề xuất việc bổ nhiệm cán bộ huyện vào tổ công tác GĐLNCSTG để hỗ trợ xã thực hiện giao đất lâm nghiệp có sự tham gia để chủ tịch UBND huyện ra quyết định thành lập tổ công tác Phối hợp và liên kết các hoạt động giữa các cơ quan cấp tỉnh, huyện và cấp xã trong quá trình quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp
Làm rõ các địa giới và giải quyết các tranh chấp về địa giới giữa các xã và các tổ chức trong huyện
Tổ chức các kế hoạch và sắp xếp thực hiện và theo dõi GĐLNCSTG trên toàn huyện và đảm bảo các hoạt động được tiến hành đúng tiến độ đã đề ra
Tổ chức việc văn bản hoá và sử dụng các hồ sơ về giao đất và quản lý đất
Ban chỉ đạo Huyện về GĐLNCSTG đóng vai trò tham mưu cho UBND huyện và chịu trách nhiệm trước UBND huyện về các kết quả Qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, các thủ tục đăng ký đất đai, và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Chi tiết về vai trò và trách nhiệm của Ban chỉ đạo Huyện về GĐLNCSTG được đính kèm tại Phụ lục 1 của văn bản này
Trang 252.3.3 Cấp xã
Hội đồng đăng ký đất đai (HĐĐKĐĐ) của xã hiện có sẽ được củng cố và hoạt động để phục vụ cho công tác GĐLNCSTG
Hội đồng đăng ký đất đai xã có các nhiệm vụ sau:
Giúp chủ tịch UBND xã trực tiếp tổ chức thực hiện việc GĐLNCSTG cấp xã, việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CGCNQSDĐ)
Tổ chức tuyên truyền, học tập quán triệt chủ trương chính sách, pháp luật của nhà nước về giao đất lâm nghiệp và các nghĩa vụ, quyền lợi của người nhận đất, thuê đất, nhận khoán trồng và bảo vệ rừng
Xây dựng các kế hoạch thực hiện về GĐLNCSTG cho từng thôn trong xã và cả xã; chỉ đạo
tổ công tác thực hiện nội dung các bước GĐLNCSTG cấp xã
Phối hợp với Tổ công tác GĐLNCSTG để giải quyết các vấn đề vướng mắc và tranh chấp về ranh giới giữa các thôn trong xã trong quá trình triển khai và thực hiện GĐLNCSTG tại xã
Tổ chức và xem xét, xác nhận phương án GĐLNCSTG của xã; tiếp nhận, xét các đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận sử dụng đất của các hộ, nhóm hộ và tổ chức và tổng hợp hồ sơ địa chính trình lên UBND huyện phê duyệt
Tổ chức việc giao đất lâm nghiệp ngoài thực địa và giao GCNQSDĐ cho các đối tượng được cấp Phổ biến các văn bản pháp lý về đất đai để lấy ý kiến của người dân và điều tra xem xét các khiếu nại của dân về đất đai sau khi được cấp GCNQSDĐ
Hội đồng ĐKĐĐ xã sẽ hoạt động dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND xã và tổ chức họp thường kỳ hàng tháng trong suốt quá trình GĐLNCSTG cùng với các cuộc họp bất thường nếu cần Biên bản cho các cuộc họp này đều phải được ghi chép thành văn bản gửi Ban chỉ đạo huyện
về GĐLNCSTG để nhận hỗ trợ về mặt chuyên môn kỹ thuật, và hướng dẫn và theo dõi quy trình
để sau này thẩm định và trình UBND huyện phê duyệt Chi tiết về vai trò và trách nhiệm của Hội đồng ĐKĐĐ Xã được đính kèm tại Phụ lục 1 của văn bản này
2.3.4 Tổ công tác GĐLNCSTG
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ được thành lập theo quyết định của UBND huyện để thực hiện các hoạt động GĐLNCSTG trong xã Các thành viên trong tổ công tác GĐLNCSTG bao gồm các đại diện từ các cấp tỉnh, huyện và xã cùng với các thành viên liên quan cần thiết để thực hiện GĐLNCSTG tại mỗi xã
Tổ công tác về GĐLNCSTG có các nhiệm vụ sau:
Trực tiếp giúp UBND/HĐĐKĐĐ xã thực hiện mọi hoạt động kỹ thuật về GĐLNCSTG tại xã: Lập QHSDĐLN; đo đạc lập bản đồ; lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp và soạn thảo các văn bản liên quan đến GĐLNCSTG tại xã trình UBND huyện phê duyệt
Hỗ trợ HĐĐKĐĐ tổ chức các cuộc họp thôn và xóm để thông báo cho các hộ dân về các chủ trương và chính sách của đảng và nhà nước về GĐLNCSTG
Khảo sát hiện trạng sử dụng đất, dự thảo qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp chi tiết của các thôn và của toàn xã
Lập các bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp thôn và thảo luận với các hộ dân về GĐLNCSTG cấp thôn và xóm để trình lên Hội đồng đăng ký đất đai (HĐĐKĐĐ) xã
Lập Qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã và kế hoạch giao đất lâm nghiệp của xã để HĐĐKĐĐ
xã thông qua hội đồng nhân dân cấp xã và tổng hợp tài liệu trình lên UBND huyện phê duyệt
Trang 26Giúp HĐĐKĐĐ tiếp nhận, xét, và lập các hồ sơ địa chính và các đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ các hộ, nhóm hộ và tổ chức
Cùng HĐĐKĐĐ tổ chức thực hiện việc giao đất lâm nghiệp ngoài thực địa, hoàn tất các hồ
sơ về GĐLNCSTG để trình UBND/ HĐĐKĐĐ xã và HĐND xã phê duyệt
Giúp UBND/ HĐĐKĐĐ xã hoàn chỉnh các hồ sơ GĐLNCSTG trình UBND huyện phê duyệt và cấp chứng nhận quyền sử dụng đất
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ phối hợp chặt chẽ với Hội đồng đăng ký đất đai xã (HĐĐKĐĐ) Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ thực hiện mọi công việc được Hội đồng giao phó và chịu trách nhiệm trước Ban chỉ đạo huyện về chất lượng của thông tin, số liệu, bản đồ và các kết quả về GĐLNCSTG Chi tiết về vai trò và trách nhiệm của Tổ công tác GĐLNCSTG được đính kèm tại Phụ lục 1 của văn bản này
2.4 Chuẩn bị kỹ thuật và thu thập thông tin, tài liệu và bản đồ
2.4.1 Tập huấn Tổ công tác GĐLNCSTG và Hội đồng đăng ký đất đai xã
Các tổ công tác sẽ được tập huấn chuyên môn về các bước khác nhau trong GĐLNCSTG Các kế hoạch tập huấn sẽ được xây dựng với các thông tin về thiết bị và tài liệu cần thiết Đối tượng tham gia tập huấn là cán bộ chuyên môn sẽ tham gia trực tiếp vào quá trình GĐLNCSTG (chủ yếu là thành viên của tổ công tác và của HĐĐKĐĐ cấp xã) Các cán bộ này sau đó sẽ trở thành các hướng dẫn viên hướng dẫn các thành viên mới sẽ tham gia vào tổ công tác GĐLNCSTG ở các xã khác trong huyện với sự hỗ trợ của các chuyên gia chuyên ngành của dự
án (áp dụng phương pháp đào tạo thông qua công việc và kèm cặp) Đầu ra quan trọng của lớp tập huấn này là xây dựng một kế hoạch hoạt động cụ thể về GĐLNCSTG cho xã tham gia thử nghiệm
Ngoài bản đồ nền chính nêu trên, để phục vụ công tác GĐLNCSTG cần có các loại bản đồ sau đây:
Bản đồ qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của xã, huyện
Bản đồ phân 3 loại rừng của tỉnh
Bản đồ địa giới hành chính 364
Bản đồ thành quả giao đất giao rừng các năm trước đây (nếu có)
Làm tốt công tác chuẩn bị bản đồ trong GĐLNCSTG sẽ góp phần cải thiện chất lượng và
độ chính xác của các bản đồ thành quả sau này (hiện trạng, qui hoạch, giao đất), các bản đồ đó sẽ phải cho biết các loại đất lâm nghiệp và các diện tích đất lâm nghiệp, các địa giới hành chính, các diện tích giao đất lâm nghiệp và các diện tích rừng của hộ gia đình
2.4.3 Thu thập, rà soát và đánh giá các tài liệu và các bản đồ có liên quan
Hội đồng giao đất lâm nghiệp xã sẽ làm việc với tổ công tác GĐLNCSTG để chuẩn bị một loạt các tài liệu cần được thu thập và tổng hợp trước khi tiến hành các hoạt động GĐLNCSTG:
Trang 27Các tài liệu về vị trí địa lý của xã, các đặc điểm mô tả địa hình và các đặc tính về địa hình
và khí hậu/ thuỷ văn
Các thông tin về tình trạng hiện thời của các nguồn tài nguyên rừng và tài nguyên nước tự nhiên của xã
Các kế hoạch và chiến lược phát triển của xã và huyện
Các thông tin về các điều kiện kinh tế xã hội của xã gồm (mức sống, sự nghèo đói, sắc tộc, lao động, các nhu cầu tương lai được dự đoán trước và bối cảnh về tiềm năng và dân trí)
Tổng hợp các dữ liệu về quản lý đất và sử dụng đất (bao gồm đất nông nghiệp và đất ở) và các thay đổi được đề nghị về phân loại đất hoặc sử dụng đất
Tổng hợp về các nghị quyết, văn bản, quyết định, hướng dẫn về phát triển kinh tế xã hội ở
xã của nhà nước, tỉnh, huyện và xã
Các thông tin được thu thập sẽ được tổng hợp thành một báo cáo trình lên Ban chỉ đạo GĐLNCSTG huyện và Ban chỉ đạo GĐLNCSTG Tỉnh Một cuộc họp sau đó sẽ được tổ chức giữa HĐĐKĐĐ xã, Ban chỉ đạo GĐLNCSTG huyện và Tổ công tác GĐLNCSTG để rà soát các tài liệu và bản đồ hiện có nhằm:
Đánh giá chất lượng của các bản đồ, hồ sơ, số liệu và kiểm tra các địa giới hành chính của thôn và xã
Đánh giá các điều kiện tự nhiên (các thuận lợi, các khó khăn và các tác động của chúng đối với việc quản lý và sử dụng đất sản xuất)
Đánh giá các lợi ích và các hạn chế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên về sản xuất và quản lý sử dụng đất
Đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của việc quản lý và sử dụng đất ở xã, các bản đồ, các văn bản tài liệu và các kế hoạch về quy hoạch sử dụng đất và giao đất trước đây
Kiểm tra các địa giới thôn, xã và đạt được thoả thuận về các địa giới thôn trong xã cũng như địa giới hành chính với các xã lân cận
Mọi vấn đề không thống nhất được phát hiện giữa các văn bản và bản đồ cần được ghi chép lại cùng với các kiến nghị về giải pháp xử lý
2.4.4 Giải quyết các tranh chấp về địa giới của xã
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ làm việc với cán bộ địa chính huyện và xã và HĐĐKĐĐ để đối chiếu các địa giới thể hiện trên bản đồ và các địa giới trên thực địa Các trường hợp không nhất quán sẽ được báo cáo cho UBND xã và Ban chỉ đạo Huyện về GĐLNCSTG để giải quyết Một cuộc họp cần được tổ chức để giải quyết các vấn đề tranh chấp đất đai
2.4.5 Chuẩn bị thiết bị, dụng cụ kỹ thuật
Tổ công tác về GĐLNCSTG sẽ chuẩn bị các thiết bị, dụng cụ kỹ thuật gồm văn phòng phẩm, máy GPS, thước dây, dụng cụ đo độ dốc, địa bàn cầm tay, thước Bitecnic giấy vẽ bản đồ
và một số vật dụng cần thiết để thực hiện các công việc về GĐLNCSTG sau này
2.4.6 Chuẩn bị về tài chính
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ lập một bản dự toán cho việc lập quy hoạch sử dụng đất, giao đất và cấp chứng nhận quyền sử dụng đất và trình lên UBND xã để xã trình lên các cấp có thẩm quyền xin phê duyệt Các nguồn tài chính (từ ngân sách huyện, tỉnh, nhà nước hoặc các chương trình) sẽ cần được xác định và soạn thảo các tờ trình xin kinh phí Các dự toán sẽ được soạn thảo dựa trên các định mức chi phí về GĐLNCSTG
Trang 282.4.7 Cuộc họp triển khai Giao đất lâm nghiệp có sự tham gia tại xã
Một cuộc họp sẽ được tổ chức tại xã để triển khai các hoạt động về GĐLNCSTG Cuộc họp này bao gồm sự tham gia của:
Các thành viên của Tổ công tác GĐLNCSTG
Các thành viên của Hội đồng đăng ký đất đai xã
Chủ tịch và phó chủ tịch UBND xã
Đại diện của HĐND xã
Cán bộ Nông Lâm nghiệp, Giao thông, Thuỷ lợi xã
Các trưởng thôn
Đại diện nông dân (già làng, chủ trang trại…)
Đại diện tổ chức, cá nhân được tỉnh giao, cho thuê đất trên địa bàn xã
Cuộc họp này sẽ giới thiệu các chính sách của tỉnh, huyện và nhà nước về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp Điều này sẽ bao gồm các quyền lợi và bổn phận của người dân trong quá trình GĐLNCSTG Tình trạng giao đất (nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở) sẽ được thảo luận với mọi vướng mắc hoặc các chênh lệch tiềm tàng được nêu lên
Các Quy hoạch tổng thể về sử dụng đất của huyện, xã (nếu đã có) sẽ được trình bày tại cuộc họp Các ý kiến đề nghị về việc tận dụng các loại đất khác nhau sẽ được đưa ra thảo luận Đồng thời, lịch trình dự thảo cho các hoạt động GĐLNCSTG, bao gồm việc cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng sẽ được trình bày
Kế hoạch hành động đề nghị của xã về GĐLNCSTG sẽ được trình bày tại cuộc họp này Kế hoạch hành động về GĐLNCSTG của xã sẽ lồng ghép mọi hoạt động cần thiết trong mỗi thôn (hoặc xóm) và trong xã Mọi đề nghị thay đổi hoặc điều chỉnh đối với kế hoạch này sẽ được thảo luận và thay đổi nếu được thống nhất bởi các bên tham gia Kế hoạch này sẽ được trình lên UBND xã và Ban chỉ đạo GĐLNCSTG huyện để phê duyệt và thông báo cho các thôn về các kế hoạch thực hiện và các cuộc họp xóm và họp thôn
2.5 Điều tra thực địa thu thập số liệu và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
2.5.1 Các cuộc họp thôn và họp xóm
Các cuộc họp sẽ được tổ chức với các hộ dân để giới thiệu các hoạt động GĐLNCSTG trong xã Mọi hộ dân trong một thôn được mời đến tham dự Cần lưu ý đảm bảo rằng các cuộc họp được bố trí vào các ngày giờ và thời gian phù hợp để các hộ có thể tham dự Các cuộc họp xóm sẽ được tiến hành tại các thôn Mỗi cuộc họp thôn hoặc họp xóm nên có không quá 60 hộ Thông tin tại các cuộc họp này được trình bày đơn giản và tối đa hoá việc sử dụng các tài liệu trực quan để phù hợp với trình độ dân trí và kỹ năng biết chữ hạn chế ở nhiều hộ dân
Những cuộc họp này sẽ có mục đích sau:
Thông báo cho các hộ dân về các chủ trương của tỉnh và nhà nước liên quan đến việc giao đất và cấp chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp
Giới thiệu cho các hộ biết về các loại hình phân loại đất, các quy định về mục đích sử dụng của chúng và các cơ hội để các hộ sử dụng và quản lý đất này
Đảm bảo rằng các hộ hiểu được các nguyên tắc, mục đích và ý nghĩa của các hoạt động quy hoạch sử dụng đất và giao đất
Giới thiệu cho các hộ về các khái niệm của việc vẽ bản đồ thôn và các công việc thực hiện
để xác định các tập quán sử dụng đất hiện thời
Trang 292.5.2 Điều tra thực địa để lập các bản đồ hiện trạng sử dụng đất (ngoại nghiệp)
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ ra thực địa với các đại diện hộ dân được cử ra từ ‘cuộc họp nâng cao nhận thức cộng đồng về GĐLNCSTG’ và sử dụng các bản đồ địa hình 1/10000 để minh hoạ các mẫu hình sử dụng đất khác nhau trong thôn Các chi tiết về đo vẽ địa hình và các địa danh sẽ được bổ sung vào bản đồ Bản đồ thực địa này được đối chiếu với các bản đồ tài nguyên lâm nghiệp của thôn được lập tại các cuộc họp thôn và họp xóm
và với những điểm khác biệt đã được thảo luận, ghi lại, để hoàn chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Sau khi hoàn thành việc khảo sát thực địa, tổ công tác GĐLNCSTG sẽ tinh lọc các thông tin đã thu thập được và tính toán diện tích của các loại đất khác nhau, tổng hợp thành các biểu thống kê dạng bảng nêu bật lên tình trạng đất hiện thời, các tập quán sử dụng đất và các diện tích đất
2.5.3 Đánh giá các số liệu đã được thu thập và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ đánh giá các số liệu, và bản khoanh vẽ ngoại nghiệp để lên bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã, số hoá, tính toán diện tích cho các loại đất, loại rừng
đã được đo, vẽ Thành quả này gồm bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp xã tỷ lệ1/10000 in mầu và hệ thống bảng biểu thống kê sẽ được trình Hội đồng đăng ký đất đai xã và Ban chỉ đạo huyện về GĐLNCSTG Các đề xuất về các cơ hội tận dụng các các loại đất và diện tích đất lâm nghiệp sẽ được trình bày Bản đồ về hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp phải chỉ rõ các loại đất lâm nghiệp và các tập quán canh tác hiện thời
2.6 Lập quy hoạch sử dụng đất và phương án giao đất lâm nghiệp
2.6.1 Các nguyên tắc chung về Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
Tổ công tác về GĐLNCSTG sẽ làm việc với Hội đồng đăng ký đất đai xã để soạn thảo qui hoạch sử dụng đất và phương án giao đất lâm nghiệp cho mỗi thôn Việc soạn thảo này xét đến các yếu tố sau:
Các phương án tiềm năng sử dụng đất cho các loại đất lâm nghiệp khác nhau
Sự cân đối về diện tích đất lâm nghiệp theo các mục đích sử dụng khác nhau với sự đặc biệt chú ý đến việc quản lý vùng rừng đầu nguồn xung yếu và việc bảo vệ đất rừng tự nhiên
Không áp đặt hoặc đề ra loại hoạt động lâm nghiệp đối với hộ gia đình - đặc biệt là về sản xuất trên đất chưa sử dụng Việc lựa chọn các loài cây và hoạt động lâm nghiệp sẽ được cùng xác định cùng với các hộ dân thông qua việc đánh giá nhu cầu thị trường, năng lực địa phương, lao động, các nguồn lực, và các yêu cầu về mặt sinh thái cùng với các đặc điểm của từng vùng
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ cùng với Hội đồng đăng ký đất đai xã dự thảo một lịch trình
về GĐLNCSTG đối với thôn Lịch trình này cần được thống nhất và thông báo cho các trưởng thôn về ngày giờ và địa điểm cho các cuộc họp theo kế hoạch này
2.6.2 Cuộc họp thôn về ‘Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp’
Một cuộc họp sẽ được tổ chức với các hộ dân để thảo luận và đề ra một qui hoạch về
sử dụng đất lâm nghiệp Các chi tiết về nội dung của các ‘cuộc họp lập qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp’ được lược ghi tại Phụ lục 3 tài liệu này Cuộc họp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của các hộ dân trong qua việc kết hợp các công cụ PRA để thảo luận về qui hoạch sử dụng đất và các phương án quản lý sử dụng đất
Các tiêu chí về sử dụng đất lâm nghiệp được giới thiệu cho các hộ dân cùng với bản
đồ địa hình (tỉ lệ 1/10000) Các hộ sau đó sẽ bắt đầu tham gia thảo luận về các chiến lược sử
Trang 30dụng đất lâm nghiệp trong tương lai Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ làm việc với các hộ tham gia trong cuộc họp để xác định các hoạt động sử dụng đất trong tương lai cho nhiều loại đất lâm nghiệp khác nhau (rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng) Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp sẽ được xác nhận tại cuộc họp này và được đồng ý bởi mọi người tham gia trong cuộc họp cùng với những cách thức có thể cải thiện các tập quán sử dụng đất này Qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp phải phân biệt rõ các loại đất khác nhau (ví dụ đất rừng đã có rừng, đất rừng chưa có rừng, đất rừng phòng hộ, đất rừng tái sinh và đất rừng trồng) Đất rừng phòng hộ được phân thêm thành 2 loại: xung yếu và ít xung yếu Phụ lục
4 nêu lên các tiêu chí về tiềm năng đất rừng, các mục đích sử dụng trong tương lai, các phương án sử dụng và các cơ hội quản lý/ sở hữu đối với nông hộ
2.6.3 Dự thảo Dự án quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ đưa các qui hoạch và địa giới sử dụng đất trong tương lai vào bản đồ tỉ lệ 1/10000 Bản đồ này sẽ gồm các chi tiết về quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp và các phương án dự kiến về giao đất được thống nhất từ cuộc họp lập qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
Diện tích đất lâm nghiệp và diện tích quy hoạch của nhiều loại đất khác nhau cho mỗi thôn được tính toán và đưa vào một bảng thống kê Bản đồ quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã là tổng hợp các bản đồ và số liệu về quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp thôn Việc hoàn tất các cuộc họp quy hoạch sử dụng đất cấp thôn là sẵn sàng cho bản đồ qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã và các phương án dự kiến về giao đất lâm nghiệp Việc giao đất lâm nghiệp được đề nghị sẽ lược kê các loại đất lâm nghiệp và diện tích đất lâm nghiệp khác nhau Các loại rừng và đất lâm nghiệp có thể được giao cho các hộ dân thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (‘Sổ đỏ’) hoặc hợp đồng giao khoán bảo về rừng được xác định
2.6.4 Hội thảo lập Dự án QHSDĐ & phương án GĐLN cấp xã
Tổ công tác về GĐLNCSTG thuyết trình một báo cáo về về quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp và giao đất lâm nghiệp của xã cho Hội đồng ĐKĐĐ xã Các thành phần tham gia tại cuộc họp sẽ đưa ra ý kiến và kiến nghị để hoàn chỉnh thuyết minh GĐLNCSTG cấp xã, bản đồ và các tài liệu khác Bản quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã hoàn chỉnh sau đó sẽ được trình lên UBND huyện để phê duyệt
2.6.5 Phê duyệt Dự án QHSDĐ cấp xã & phương án GĐLN của xã
Việc thẩm định Dự án QHSDĐ lâm nghiệp cấp xã và phương án GĐLN được thực hiện ở cấp huyện:
Cơ quan địa chính cấp huyện phối hợp với hạt kiểm lâm huyện thực hiện việc thẩm định dự
án QHSDĐ lâm nghiệp và phương án GĐLN do UBND xã gửi lên Kết quả thẩm định phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ các vấn đề đã được thẩm định Những nội dung cần phải sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh (nếu có), thì cơ quan địa chính, kiểm lâm cùng đại diện xã phải thảo luận để thống nhất hoàn chỉnh Kết thúc việc thẩm định cơ quan địa chính huyện lập tờ trình báo cáo kết quả thẩm định, những nội dung đã được chỉnh sửa sau khi thẩm định trình UBND Huyện
đề nghị xem xét phê duyệt
UBND huyện họp xem xét và ra quyết định phê duyệt Dự án QHSDĐLN & phương án GĐLN, đây là cơ sở pháp lý cho việc giao đất lâm nghiệp trên thực địa và cấp GCNQSDĐ cho các đối tượng nhận đất (hộ/ nhóm hộ/ doanh nghiệp v.v)
Trang 312.7 Giao đất giao lâm nghiệp trên thực địa
Dự án QHSDĐLN & Phương án GĐLN của xã đã được UBND huyện phê duyệt, cùng với thông tin về các loại, khu vực và diện tích đất lâm nghiệp được giao, là cơ sở cho việc giao đất lâm nghiệp đến các hộ dân (theo kế hoạch đã được duyệt) UBND xã chịu trách nhiệm giao đất đến nông hộ và các doanh nghiệp trên thực địa với sự hỗ trợ của Tổ công tác về GĐLNCSTG
2.7.1 Các nguyên tắc về giao đất giao rừng
Những vùng được chỉ định là rừng phòng hộ (xung yếu và kém xung yếu) và rừng đặc dụng gồm những vùng đã có rừng và những vùng chưa có rừng Tổ công tác về GĐLNCSTG, cùng với
sự phối hợp của các hộ dân và các doanh nghiệp, sẽ sử dụng bản đồ và các máy GPS trên thực địa
để xác định các ranh giới, diện tích của các lô được phân bổ và hình các lô này trên các bản đồ sơ
bộ dựa trên các nét đặc trưng và đối tượng địa hình Việc giao đất lâm nghiệp sẽ được tiến hành theo các chính sách hiện hành của nhà nước
Rừng phòng hộ (xung yếu) được nhà nước đầu tư sẽ chỉ giao khoán cho hộ và cộng đồng quản lý bảo vệ, xúc tiến tái sinh tự nhiên, trồng bổ sung, trồng mới bằng nguồn vốn ngân sách Các hộ/cộng đồng được hưởng lợi theo Quyết định số 178/2001 /QĐ - TTg ngày 12/11/2001 và Quyết định Số 138/2004/QĐ-UB ngày 20 tháng 5 năm 2004 của Uỷ ban nhân dân Tỉnh Quảng Ngãi
Rừng sản xuất chủ rừng (hộ, nhóm hộ/ cộng đồng) được phép đầu tư cho phát triển rừng, khai thác theo ý muốn của mình bằng các nguồn vốn: tự có, vay, liên doanh liên kết hay tài trợ
2.7.1.1 Rừng phòng hộ ( xung yếu)
Các vùng được xác định là những vùng rừng đầu nguồn rất xung yếu đối với các thôn và các xã nhưng có quy mô chưa đủ để thành lập Ban quản lý (dưới 100 ha) sẽ được giao khoán cho các hộ dân và các cộng đồng quản lý thông qua hình thức hợp đồng
Hộ dân sẽ được giao khoán để bảo vệ, phục hồi, tái sinh và trồng rừng theo kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp của xã đã được phê duyệt
Tiền trả cho các hộ dân để bảo vệ, tái tạo và trồng rừng là thông qua các hợp đồng khoán với các Ban quản lý rừng ở Huyện theo quyết định số 178
Các lâm sản không phải gỗ có thể được thu thập từ những vùng rừng phòng hộ rất xung yếu
Người dân được khuyến khích đầu tư vào các hoạt động trồng rừng sản xuất Vốn cho vay hoặc kinh phí tài trợ cho hoạt động đầu tư này được lấy từ Chương trình 661 và được trả theo các định mức chi phí của Chương trình này
Hộ trồng rừng được quyền hưởng 100% thu nhập từ việc bán cây gỗ thu hoạch sau khi đã hoàn trả nợ vay theo Chương trình 661 (vốn gốc và tiền lãi) và tái đầu tư vào các hoạt động trồng rừng sản xuất
Trang 32Hộ không được đốn trụi các cây rừng sản xuất đã trồng Mức khai thác cây gỗ hàng năm không được vượt quá 50% tổng diện tích trồng
Các hộ, cá nhân, được giao rừng sản xuất là rừng đã được trồng bằng nguồn vốn nhà nước, được hưởng giá trị lâm sản khai thác chính sau khi nộp thuế, tuỳ theo cấp tuổi rừng khi được giao như sau:
Rừng trồng cấp tuổi I: được hưởng 85%, nộp ngân sách 15%
Rừng trồng cấp tuổi II: được hưởng 83%, nộp ngân sách 17%
Rừng trồng cấp tuổi III: được hưởng 81%, nộp ngân sách 19%
Rừng trồng cấp tuổi IV: được hưởng 79%, nộp ngân sách 21%
Rừng trồng cấp tuổi V: được hưởng 77%, nộp ngân sách 23%
Được quyền thừa kế theo qui định của pháp luật trong thời gian nhận khoán và các quyền lợi khác theo Quyết định 178
Người dân được khuyến khích đầu tư vào các hoạt động trồng rừng sản xuất Vốn cho vay hoặc kinh phí tài trợ cho hoạt động đầu tư này được lấy từ Chương trình 661 và được trả theo các định mức chi phí của Chương trình này
Hộ trồng rừng được quyền hưởng 100% thu nhập từ việc bán cây gỗ thu hoạch sau khi đã hoàn trả nợ vay theo Chương trình 661 (vốn gốc và tiền lãi) và tái đầu tư vào các hoạt động trồng rừng sản xuất
2.7.1.4 Rừng đặc dụng
Các khu vực rừng đặc dụng cơ bản được quản lý bởi các Ban quản lý ở các cấp tỉnh, huyện
và xã
Các rừng đặc dụng nơi có hộ dân sống ở trong hoặc gần, có thể được giao khoán để bảo vệ
và nuôi dưỡng rừng theo các hướng dẫn về bảo vệ và quản lý rừng đã được thống nhất
Việc chi trả cho các hộ gia đình về bảo vệ, tái sinh và trồng rừng được thực hiện thông qua các hợp đồng giao khoán với các Ban quản lý căn cứ theo Quyết định 178/2001/QĐ- TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp Lâm
sản ngoài gỗ nằm dưới tán rừng có thể được khai thác từ các rừng đặc dụng
2.7.1.5 Đất chưa sử dụng
Đất bỏ hoang hoặc đất chưa sử dụng có tiềm năng sản xuất lâm nghiệp, nông lâm nghiệp hoặc trồng trọt sẽ được giao cho hộ gia đình dựa trên diện tích đất trong thôn, các mục đích sử dụng hiện thời và thoả thuận với hộ gia đình
Các phương án sử dụng đất phù hợp (ví dụ các mô hình nông lâm kết hợp) sẽ được thảo luận với các hộ dân để xác định và thống nhất về các nguyên tắc quản lý và sử dụng đất
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ khảo sát thực tế cùng với các hộ dân và sử dụng bản đồ địa hình và các công cụ GPS để vẽ hình dạng các lô đất lên bản đồ và lập biên bản giao đất cho hộ
Trang 332.7.2 Đo vẽ, xác định ranh giới, hình dạng, vị trí lô/ thửa đất lâm nghiệp giao với các hộ dân ngoài thực địa (ngoại nghiệp)
Cần tổ chức các cuộc họp thôn và họp xóm với các hộ hiện đang sử dụng đất rừng (hoặc những hộ có nguyện vọng được giao quyền sử dụng đất đối với đất rừng hiện có) Các
hộ này cần được thông báo về kế hoạch tham gia vào các công việc đo vẽ thực tế để lập bản
đồ phân lô theo hộ gia đình
Sau khi đã bố trí và ấn định ngày giờ khảo sát thực địa nói trên, các hộ, đại diện nhóm hộ và các trưởng thôn, trưởng xóm sẽ ra thực địa hiện trường để đánh dấu và vẽ hình dạng các lô đất phân theo hộ lên bản đồ căn cứ trên các đặc điểm và đối tượng địa hình (đường phân thuỷ, đường tụ thuỷ, đỉnh đồi và cây lớn) Các hộ sẽ tự đánh dấu lên những lô đất của mình cùng với các cán bộ trong Tổ công tác GĐLNCSTG hoặc Hội đồng đăng ký đất đai xã tham gia trong khảo sát Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ dùng bản đồ thực địa, GPS, thước dây (nếu cần) để đo, vẽ, đánh số các lô theo từng hộ trên bản đồ " hiện trường" tỷ lệ 1/10.000 VN2000 Một bảng thống kê sẽ được tổng hợp với các diện tích đất giao và danh sách hộ được giao đất Sau khi hoàn tất việc giao đất cho tất cả các thôn trong xã, Tổ công tác GĐLNCSTG bắt đầu kết hợp các Bản đồ giao đất lâm nghiệp của các thôn lại với nhau làm thành bản đồ hiện trạng giao đất lâm nghiệp trên toàn xã
Mọi tranh chấp giữa các hộ dân hoặc cán bộ về các vấn đề đất đai trong quá trình tiến hành khảo sát lập bản đồ trên thực địa cần được thảo luận và ghi chép vào hồ sơ Nếu có thể được, cố gắng đạt được thoả thuận ngay trên thực địa giữa các hộ dân hoặc cán bộ Mọi tranh chấp không thể giải quyết được sẽ được thông báo cho Hội đồng đăng ký đất đai xã
để thảo luận và đưa ra giải pháp trên tinh thần minh bạch và cởi mở
2.7.3 Lập bản đồ địa chính giao đất lâm nghiệp và tính toán diện tích đất giao
Số liệu ngoại nghiệp của tổ công tác được chuyển về trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên
và Môi trường tỉnh, bản đồ ngoại nghiệp sẽ được quyết thành các File ảnh, và được số hoá các đối tượng nội dung bản đồ bằng phần mềm chuyên dụng Sau khi bản đồ được biên tập xong, tài liệu được bàn giao cho tổ công tác để tiến hành các bước tiếp theo của quá trình GĐLNCSTG có sự tham gia
2.7.4 Kiểm tra và đánh giá các kết quả giao đất trên thực địa (thẩm định)
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ trình một báo cáo lên Phòng địa chính huyện và Trạm Kiểm lâm để kiểm tra và phê duyệt sơ bộ các kế hoạch giao đất lâm nghiệp cho hộ dân Đại diện của Hội đồng đăng ký đất đai xã cũng có mặt tại lúc thuyết trình bản đồ và các kế hoạch giao đất Phê duyệt sơ bộ của Phòng địa chính huyện và trạm kiểm lâm sau đó sẽ được chuyển lên Ban chỉ đạo Huyện về GĐLNCSTG, UBND xã và UBND huyện
2.7.5 Lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Hộ gia đình xin chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cần phải điền vào hồ sơ đăng ký thống kê và các mẫu đơn xin cấp chứng nhận quyền sử dụng đất Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ trợ giúp các hộ điền vào các hồ sơ đăng ký thống kê và đơn xin cấp chứng nhận quyền sử dụng đất để quản lý, bảo vệ và sản xuất lâm nghiệp
2.7.6 Các hợp đồng quản lý và bảo vệ đối với đất rừng phòng hộ rất xung yếu
Trong trường hợp ở một xã có số lượng lớn diện tích đất rừng phòng hộ (được xếp vào loại ‘rất xung yếu’) cần cố gắng đưa hộ dân tham gia vào việc bảo vệ và quản lý rừng Đối với những nơi diện tích đất rừng phòng hộ loại ‘rất xung yếu’ là quá ít để thành lập
Trang 34Ban quản lý rừng phòng hộ (dưới 100 héc ta), đất được giao cho hộ dân thông qua hình thức hợp đồng khoán
Quyền lợi và trách nhiệm của hộ hoặc nhóm hộ được giao bảo vệ và quản lý rừng phòng hộ ‘rất xung yếu’ cần được giải thích rõ; bao gồm những lâm sản ngoài gỗ mà các hộ được quyền khai thác trong diện tích rừng phòng hộ và tiền thanh toán trả cho các hộ dân
về bảo vệ rừng (Quyết định 178)
2.7.7 Đăng ký xin cấp quyền sử dụng đất
Sau khi bản phê duyệt bằng văn bản của phương án giao đất lâm nghiệp được chuyển cho UBND xã Quá trình đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được tiến hành ở các thôn và các xóm Các hồ sơ đăng ký thống kê sẽ được trình lên UBND/hội đồng DDKĐĐ xã phê duyệt ký xác nhận và hoàn chỉnh các hồ sơ đăng ký thống kê, sau đó sẽ được chuyển lên cơ quan địa chính huyện kiểm tra, thẩm định, làm các thủ tục cần thiết trong việc lập và quản lý hồ sơ địa chính trình UBND huyện xem xét, phê duyệt và cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho các đối tượng đủ tiêu chuẩn
2.8 Thẩm định và phê duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2.8.1 Thẩm định hồ sơ
Sau khi hoàn tất việc GĐLNCSTG ở xã, Hội đồng ĐKĐĐ xã (với sự hỗ trợ của Tổ công tác GĐLNCSTG) sẽ tổng hợp các hồ sơ quy hoạch và giao đất của Xã gửi lên cấp huyệt để thẩm định và phê duyệt
Cơ quan địa chính (sẽ là phòng Tài nguyên và Môi trường huyện) thực hiện việc thẩm định hồ
sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cấp xã trình lên, nội dung thẩm định gồm:(i) Tính đầy đủ, chính xác cả về nội dung và hình thức của hồ sơ; (ii) Tính pháp lý của hồ sơ
Cơ quan thẩm định phải lập biên bản thẩm định Kết thúc việc thẩm định, cơ quan địa chính huyện viết báo cáo trình UBNDH xem xét phê duyệt và gửi kèm theo báo cáo là danh sách các trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và những trường hợp phải xử lý, hình thức xử lý
2.8.2 Đệ trình phê duyệt
UBND huỵện phê duyệt hồ sơ đăng ký QSDĐ theo tờ trình của cơ quan thẩm định Ra quyết định cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo thẩm quyền cho những trường hợp có đủ điều kiện Đồng thời lập tờ trình UBND tỉnh xét duyệt cho những trường hợp thuộc thẩm quyền tỉnh
Cơ quan địa chính lập hồ sơ bằng công nghệ tin học và viết giấy chứng nhận QSDĐ đã được UBND huyện, tỉnh có quyết định cấp giấy chứng nhận QSDĐ
2.9 Tổng hợp hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận QSDĐ
2.9.1 Tổng hợp Hồ sơ địa chính
Tổ công tác GĐLNCSTG sẽ tổng hợp hồ sơ địa chính theo dự án qui hoạch QHSDĐLN & GĐLN của toàn xã đã được UBND huyện phê duyệt Các hồ sơ địa chính này gồm:
Các bảng số liệu thống kê về đất của xã
Sổ kê khai đất lâm nghiệp
Sổ địa chính
Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (‘sổ đỏ’)
Bản đồ hiện trạng và bản đồ qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã tỷ lệ 1/10.000
Bản đồ địa chính giao đất lâm nghiệp tỷ lệ 1/10.000
Trang 35Đơn kê khai xin đăng ký quyền sử dụng đất
Các hồ sơ trên phải được nhân bản và lưu trữ theo qui định của Tổng cục địa chính (nay là
bộ tài nguyên môi trường)
2.9.2 Kiểm tra nghiệm thu sản phẩm
Cấp xã /Tổ công tác kiểm tra toàn bộ sổ sách, giấy tờ liên quan đến hồ sơ địa chính, kiểm tra 100% chủng loại các hồ sơ đã lập
Cấp huyện kiểm tra hồ sơ địa chính theo phân cấp quản lý, ít nhất 70% khối lượng công trình, nội dung kiểm tra:
Kiểm tra việc vào sổ sách, nội dung trình bày
Kiểm tra nội dung thông tin các loại sổ sách, các tài liệu khác một cách đầy đủ chính xác theo đúng qui trình qui phạm
Kiểm tra quá trình xét duyệt của cấp xã qua hệ thống đơn xin của chủ sử dụng đất có đúng pháp luật và hướng dẫn hay không
Đánh giá chất lượng hồ sơ
Cấp tỉnh phúc tra việc hoàn thiện hồ sơ địa chính, ít nhất 30% khối lượng:
Kiểm tra mức độ đầy đủ của các hồ sơ đã được lập
Kiểm tra đơn xin cấp GCNQSDĐ về các thông tin của thửa đất, những giấy tờ có liên quan đến quyền sử dụng đất
Kiểm tra việc viết giấy CNQSDĐ, lập các loại sổ sách có liên quan
Lập biên bản nghiệm thu hồ sơ địa chính và đề nghị nghiệm thu thanh toán theo qui định
2.9.3 Phát giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các hộ
Hội đồng đăng ký đất đai xã sẽ tổ chức việc chuyển giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cho các hộ dân sau khi đã có phê duyệt Việc phát giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (‘Sổ đỏ’) đến bản thân các hộ sẽ được tổ chức tại các thôn
CÂU HỎI KIỂM TRA
CÂU 1 Anh hay chị hãy phân tích các nguyên tắc chung của quy hoạch sử dụng đất có sự
tham gia?
CÂU 2 Anh hay chị hãy phân tích tiến trình cơ bản của quy hoạch sử dụng đất cấp xã có
sự tham gia? Theo anh chị bước nào là quan trọng nhất, vì sao?
Trang 36CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ ĐẤT LÂM NGHIỆP
3.1 Tổng quan về đánh giá đất lâm nghiệp
Đất là tư liệu sản xuất sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau đặc biệt trong hoạt động nông lâm nghiệp Mỗi mục tiêu sử dụng đất có những yêu cầu nhất định mà đất đai cần đáp ứng Việc lựa chọn, so sánh các kiểu sử dụng đất hoặc cây trồng khác nhau phù hợp với điều kiện đất đai là đòi hỏi của người sử dụng đất, các nhà quy hoạch để có những quyết định xác thực trong việc sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế và bền vững Do vậy cần phải có phương pháp khoa học giải quyết được những vấn đề thực tiễn nêu trên và đó là phương pháp đánh giá đất đai Để có thể áp dụng phương pháp đánh giá đất đai cần phải hiểu một số khái niệm chủ yếu có liên quan đến đất và sử dụng đất
Đất (thổ nhưỡng: soil) và đất đai (land): Đất là lớp phủ bề mặt trên trái đất được
phong hoá từ đá mẹ, còn đất đai bao gồm các điều kiện môi trường vật lý khác mà trong đó đất chỉ là một thành phần Các yếu tố môi trường vật lý khác thường là các nhân tố: địa hình,
độ dốc, độ cao, nhân tố khí hậu, v.v
Đánh giá đất đai: Là quá trình xác định tiềm năng của đất cho một hay nhiều mục đích
sử dụng được lựa chọn Phân loại đất đai (land classicfication) đôi khi được hiểu đồng nghĩa với đánh giá đất đai nhưng có tính chuyên sâu hơn, chủ yếu phân loại đất đai thành các nhóm Cũng có thể hiểu đánh giá đất đai là một bộ phận của phân loại đất đai trong đó cơ sở phân loại là xác định mức độ thích hợp của việc sử dụng đất
Sử dụng đất (land use): Đó là mục đích tác động vào đất đai nhằm đạt kết quả mong
muốn Trên thực tế có nhiều kiểu sử dụng đất khác nhau trong đó có kiểu sử dụng đất chủ yếu như cây trồng hàng năm, lâu năm, đồng cỏ, trồng rừng, cảnh quan du lịch v.v Ngoài ra còn
sử dụng đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng đất chủ yếu trên cùng một diện tích đất Kiểu sử dụng đất có thể là hiện tại nhưng cũng có thể trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học công nghệ thay đổi Trong mỗi kiểu sử dụng đất Nông - Lâm nghiệp thường gắn với các cây trồng cụ thể
Đơn vị đất đai: Là một diện tích nhất định có các điều kiện tương đối đồng nhất về đặc
điểm đất đai, các yếu tố tự nhiên khác ví dụ loại đất, độ dày tầng đất, độ dốc, độ cao so mặt biển, lượng mưa v.v Việc lựa chọn các yếu tố của một đơn vị đất đai phụ thuộc vào tầm quan trọng của mỗi yếu tố tới kiểu sử dụng đất, mức độ tư liệu hoá để có thể hoàn thành bản
đồ đơn vị đất đai Đơn vị đất đai là nền tảng sử dụng để đánh giá đất đai
3.2 Các phương pháp đánh giá đất đai
3.2.1 Đánh giá đất của FAO
Đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến Các khái niệm được trình bày trên được sử dụng khá rộng rãi ở các nước Tây Âu và phương pháp đã được tổ chức FAO thừa nhận, hoàn chỉnh thành cẩm nang hướng dẫn đánh giá đất đai để áp dụng rộng rãi Ví dụ năm
1979, FAO xuất bản cẩm nang hướng dẫn “Đánh giá đất đai cho lâm nghiệp” Trên cơ sở đó một số nội dung hoặc khái niệm được xác định như sau:
(1) Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai (land capability):
Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các
nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, úng ngập, khô hạn, mặn hoá v.v Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sử dụng đất phù hợp Việc đánh giá tiềm năng sử dụng đất thường áp dụng trên qui mô lớn như trong phạm vi một nước, một tỉnh hay một huyện Đánh giá tiềm năng đất
Trang 37được áp dụng thành công ở Mỹ và một số nước khác Yếu tố hạn chế là những yếu tố hầu như không thay đổi được như độ dốc, độ dày tầng đất, khí hậu
Ở Mỹ đất đai toàn quốc được phân thành 8 nhóm với yếu tố hạn chế tăng dần từ nhóm I tới nhóm VIII Nhóm I là nhóm thuận lợi nhất trong sử dụng, có rất ít yếu tố hạn chế Nhóm VIII là nhóm có nhiều hạn chế nhất trong sử dụng
Yếu tố hạn chế chủ yếu được thể hiện qua chữ viết tắt như xói mòn là e, dư thừa nước là w Ví dụ IV-e, IV-w là nhóm đất IV có yếu tố hạn chế là đất bị xói mòn, bị ngập úng Đánh giá tiềm năng sử dụng đất là phương pháp đánh giá đất đai tổng quát với mục tiêu sử dụng lớn như cho nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch hoặc các mục tiêu khác không phải là nông, lâm nghiệp và không đi sâu đánh giá chi tiết cho từng thành phần của mỗi kiểu sử dụng đất tổng quát
(2) Đánh giá mức độ thích hợp đất đai (land suitability):
Đánh giá mức độ thích hợp đất đai là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai
Đánh giá mức độ thích hợp đất đai có thể áp dụng chỉ cho một kiểu sử dụng đất nhất định, ví dụ cho một loài cây trồng nông nghiệp như ngô, lúa hay lâm nghiệp như thông, keo, bạch đàn, v.v hoặc cho nhiều kiểu sử dụng đất khác nhau để so sánh lựa chọn Ngoài ra còn phân biệt đánh giá độ thích hợp hiện tại dựa trên thực trạng hiện nay và đánh giá độ thích hợp trong tương lai khi mà có những tác động lớn vào đất đai như đầu tư cao, áp dụng mạnh các tiến bộ khoa học công nghệ
Quá trình đánh giá mức độ thích hợp đất đai có thể tóm tắt như sau:
+ Xác định kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng cần đánh giá
+ Xác định các đơn vị đất đai
+ Xác định đặc điểm các yếu tố đơn vị đất đai
+ Xác định các yêu cầu, đòi hỏi của kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng theo mức độ thích hợp khác nhau dựa trên các yếu tố của đơn vị đất đai
+ So sánh các yêu cầu của loài cây hay kiểu sử dụng đất với đặc điểm các yếu tố đất đai
để xác định mức độ thích hợp các kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng
- Mức độ thích hợp (s) được phân chia thành 3 mức:
+ Thích hợp cao (S1): Đất hầu như không có hạn chế đáng kể khi thực hiện các biện pháp canh tác
+ Thích hợp trung bình (S2): Đất có hạn chế nhất định làm giảm năng suất cây trồng hoặc nâng cao chi phí canh tác nhưng vẫn thích hợp cho cây trồng hoặc kiểu sử dụng đất + Thích hợp kém (S3): Đất có hạn chế đáng kể làm giảm mạnh năng suất và tăng cao chi phí canh tác rõ rệt Hiệu quả kinh tế bị suy giảm đáng kể
- Mức độ không thích hợp (N) có thể phân thành 2 mức:
+ Không thích hợp hiện tại (N1): Đất có hạn chế lớn, trong điều kiện kỹ thuật và chi phí hiện tại kiểu sử dụng đất sẽ không có hiệu quả Tuy nhiên trong tương lai các điều kiện kỹ thuật, đầu tư thay đổi các kiểu sử dụng đất có thể thích hợp ở mức độ nào đó với cây trồng
Trang 38+ Không thích hợp vĩnh viễn (N2): Đất có hạn chế không thể khắc phục được
Chú ý:
- Xác định yếu tố hạn chế cho từng mức độ thích hợp thể hiện bằng các chữ như e: xói mòn, w: ẩm ướt, t: địa hình, địa mạo, v.v Ví dụ như S2e là mức độ thích hợp trung bình nhưng có hạn chế do bị xói mòn S2et la mức độ thích hợp trung bình nhưng có hạn chế về xói mòn và địa hình S3w là mức độ thích hợp kém và có hạn chế về nguồn nước trong đất v.v
- Xác định yêu cầu về mặt quản lý thể hiện bằng con số 1, 2, 3 (để trong ngoặc) ví dụ như S2e (2) là mức độ thích hợp trung bình nhưng có hạn chế do bị xói mòn và mức độ quản
lý đơn giản v.v
3.2.2 Đánh giá đất đai dựa trên cơ sở lập địa (Site)
Phương pháp được áp dụng khá phổ biến ở Cộng hoà dân chủ Đức trước kia (nay là Cộng hoà liên bang Đức) Ngoài ra ở Ukraina nhà lâm học có uy tín Pogrebnhiac có phân chia lập địa phục vụ công tác trồng rừng và xác định các kiểu rừng
Có rất nhiều định nghĩa về lập địa nhưng có thể hiểu bản chất của khái niệm là “Lập địa
là một phạm vi lãnh thổ nhất định với tất cả những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cây cối” Lập địa theo nghĩa hẹp bao gồm 3 thành phần: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và lập địa theo nghĩa rộng bao gồm 4 thành phần: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thế giới động thực vật Phương pháp này nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên với nhau, giữa các thành phần tự nhiên với cây trồng trong một không gian nhất định và được
cụ thể hoá trên bản đồ Đại diện cho cách làm này có Krauss (1935, 1954), Kopp (1965, 1969), và W Schwaneeker (1965, 1974) Phương pháp này đã được thử nghiệm áp dụng ở tỉnh Quảng Ninh nước ta phục vụ công tác trồng rừng thông nhựa (1969)
Ở Liên xô cũ lập địa được coi là điều kiện nơi sinh trưởng, nghĩa là tác động tổng hợp của các yếu tố ngoại cảnh hình thành nên các kiểu rừng nhất định và ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của thực vật rừng
Những yếu tố xác định lập địa có nhiều nét tương đồng các yếu tố xác định đơn vị đất đai Đơn vị cơ bản của hệ thống phân loại lập địa là dạng lập địa và nhóm dạng lập địa Đó cũng là đơn vị cơ bản để đánh giá đất đai hoặc xác định các loài cây trồng phù hợp Các yếu
tố chính xác định các dạng lập địa cũng là địa hình (độ dốc, vị trí chân, sườn, đỉnh), loại đất,
độ dày tầng đất, thực bì v.v Chi tiết nội dung này sẽ trình bày ở phần sau
Pogrebnhiac (Ucraina, 1992) đã phân chia lập địa làm cơ sở cho trồng rừng và xác định các kiểu rừng dựa trên 2 tiêu chí chính là độ phì và độ ẩm của đất Độ phì được chia làm 4 cấp: rất xấu (A), xấu (B), trung bình (C), tốt (D) Độ ẩm đất chia làm 6 cấp: rất khô (0), khô (1), ẩm vừa (2), ẩm (3), ướt (4), lầy (5) Tổng hợp 2 tiêu chí trên sẽ có 24 kiểu lập địa như trình bày ở Bảng 3.1
Bảng 3.1 Các kiểu lập địa dựa vào độ phì và độ ẩm
Việc xác định độ phì có thể dựa vào tác dụng chỉ thị của tầng cây gỗ do chúng có bộ rễ
ăn sâu và quan hệ chặt chẽ với độ phì của đất, còn độ ẩm dựa vào lớp thảm tươi do chúng nhạy cảm hơn với sự thay đổi của độ ẩm
Trang 39Lập địa có thể phân chia ở cấp vĩ mô (quốc gia, tỉnh, huyện v.v ) hoặc vi mô (xã, thôn v.v ) Trong ứng dụng hiện nay để phục vụ cho các dự án trồng rừng lập địa được phân chia
và đánh giá ở cấp vi mô
Một phân loại khác về lập địa được áp dụng ở Liên xô cũ do đặc điểm điều kiện thoát nước kém ở Tây Bắc (vùng Saint Pesterburg) nên lập địa được phân chia dựa trên 3 yếu tố: đá
mẹ hình thành đất, địa hình, chế độ thoát nước (Blaglovidop, Buadop 1958, 1959, Trectop
1977, 1981) Đó là đơn vị cơ bản của lập địa gọi là kiểu lập địa Trectop trong quá trình nghiên cứu còn bổ sung thêm tiêu chuẩn phân chia lập địa là kiểu mùn vì ông cho rằng kiểu mùn phản ánh quá trình hình thành và phát triển độ phì đất rừng (1981)
Trên cùng một kiểu sinh khí hậu, hệ thống phân loại lập địa được phân chia như sau: (1) Nhóm lập địa dựa vào điều kiện thoát nước để phân chia; (2) Nhóm phụ lập địa dựa vào điều kiện thoát nước và đá mẹ hình thành đất; (3) Kiểu lập địa dựa vào 3 yếu tố trên
1 Với điều kiện thoát nước tác giả phân chia thành 6 kiểu:
Thoát nước mạnh
Thoát nước bình thường
Thoát nước không tốt
Thoát nước kém
Tạo thành dòng chảy rất yếu
Tạo thành dòng chảy yếu
Đá mẹ hình thành dựa trên quan điểm sinh thái cần xem xét các yếu tố là độ dày tầng đất và thành phần cấp hạt
Đỗ Đình Sâm (1990) trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm sinh khí hậu ở Việt Nam, đặc biệt chế độ khô hạn mùa khô ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của rừng và hình thành các kiểu rừng khác nhau nên đã đề xuất tiêu chí mức độ khô hạn mùa khô cùng mức độ thoát nước để xác định các nhóm lập địa ở Việt Nam Mức độ khô hạn được chia làm 4 cấp: rất khô, khô, ẩm và
ẩm thường xuyên dựa trên chế độ nhiệt ẩm, đai cao so mặt biển, đặc điểm đất, đại hình Các nhóm lập địa đất rừng chính ở Việt Nam theo tác giả phân chia là:
Nhóm lập địa thoát nước mạnh, rất khô hạn
Nhóm lập địa thoát nước mạnh, khô hạn mùa khô
Nhóm lập địa thoát nước mạnh, ẩm thường xuyên
Nhóm lập địa thoát nước, rất khô hạn
Nhóm lập địa thoát nước, khô hạn
Nhóm lập địa thoát nước, ẩm thường xuyên
Nhóm lập địa thoát nước không tốt, rất khô hạn
Nhóm lập địa thoát nước không tốt, ẩm
Nhóm lập địa thoát nước yếu, ẩm
Nhóm lập địa thoát nước yếu, khô hạn
Từ 1991 đến 1995 trong đề tài cấp nhà nước “Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp và hoàn thiện phương pháp điều tra lập địa”, Đỗ Đình Sâm và cộng sự đã xác định hệ thống tiêu chuẩn phân chia dạng lập địa theo nguyên tắc:
Không sử dụng các yếu tố và tiêu chuẩn phân chia giống nhau trong phân chia lập địa Cần xét tới yếu tố chủ đạo trong phân chia
Các yếu tố lựa chọn cần được xem xét phù hợp và thoả mãn với mục đích kinh doanh, mức độ thâm canh
Trang 40Tác giả đề xuất 3 nhóm yếu tố tham gia phân chia lập địa như sau:
Nhóm yếu tố thổ nhưỡng: Gồm 3 yếu tố quan trọng là nhóm và loại đất, thành phần cơ giới
đất và độ dày tầng đất Nhóm và loại đất được xác định thông qua bản đồ thổ nhưỡng và điều tra thực địa Thành phần cơ giới đất được chia ra thành 4 cấp là cát rời, cát pha, thịt và sét Độ dày tầng đất được xác định cùng với tỷ lệ đá lẫn và kết von và phân chia cấp độ dày tuỳ từng đối tượng
Nhóm yếu tố địa hình: Bao gồm 2 yếu tố là vị trí và độ dốc Yếu tố vị trí được chia ra
theo 3 cấp là chân, sườn, đỉnh Yếu tố độ dốc được phân chia tuỳ từng điều kiện cụ thể
Nhóm yếu tố chế độ thoát nước và ngập nước: Gồm 2 yếu tố là chế độ thoát nước và
chế độ ngập nước Với chế độ thoát nước, 4 cấp để đánh giá là thoát nước mạnh, thoát nước trung bình, thoát nước yếu và thoát nước rất yếu Đối với yếu tố chế độ ngập nước thì các cấp phân chia phụ thuộc vào đối tượng và điều kiện thực tế Nhóm chế độ thoát nước và ngập nước có ý nghĩa sinh thái cho nhiều vùng như đất chua phèn, đất dưới rừng khộp, một số vùng
ở Đông Nam bộ, vùng ven biển
Năm 1996, Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng thuộc viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành điều tra khảo sát vùng dự án Việt - Đức (KfW1) tại Bắc Giang và Lạng Sơn và đề xuất phương pháp ứng dụng điều tra thực địa phục vụ cho trồng rừng Phương pháp này đã được sử dụng và được đánh giá có hiệu quả tại các dự án trồng rừng Quốc tế ở Việt Nam như: Dự án trồng rừng KfW2 (Hà Tĩnh - Quảng Bình - Quảng Trị ), dự án khu vực Lâm nghiệp ADB (Phú Yên - Gia Lai - Quảng Trị -Thanh Hoá) , dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà (Sơn La - Lai Châu), dự án trồng rừng KfW3 (Lạng Sơn - Bắc Giang - Quảng Ninh) v.v Các yếu tố chủ đạo được xác định là: Loại đất và đá mẹ, độ dốc, độ dày tầng đất, thực bì chỉ thị để phân chia lập địa Điều tra lập địa là bước
đi trước thiết kế trồng rừng và phải được tiến hành trên toàn bộ diện tích dành cho Lâm nghiệp sau khi quy hoạch sử dụng đất thôn bản được xác lập, loài cây trồng được xác định phù hợp đến từng chủ hộ hoặc nhóm hộ tham gia dự án
Từ năm 1998 đến 2000 trong khuôn khổ đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu những vấn đề
kỹ thuật lâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên” Ngô Đình Quế, Đỗ Đình Sâm và cộng sự đã nghiên cứu xác định tiêu chuẩn phân chia lập địa (vi mô) cho rừng trồng công nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam Tác giả đã lựa chọn các yếu tố chủ đạo cho mỗi vùng cụ thể Tuy nhiên việc ứng dụng phương pháp điều tra lập địa phụ thuộc vào điều kiện đặc thù của từng vùng, từng loài cây và yêu cầu của từng dự án
3.3 Phân chia lập địa trong lâm nghiệp ở Việt Nam
3.3.1 Các cấp phân chia lập địa
Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên ở Việt Nam, Nguyễn Văn Khánh (1996) -Viện điều tra Quy hoạch rừng đề xuất một hệ thống phân chia lập địa Lâm nghiệp cho toàn quốc gồm 7 cấp theo sơ đồ sau:
Miền lập địa: Miền lập địa là một lãnh thổ khép kín được đặc trưng bởi một chế độ
nhiệt riêng trong đó có hay không có mùa đông lạnh (mùa đông lạnh là mùa đông có một số tháng ở đó nhiệt độ bình quân dưới 200C) là dấu hiệu để phân chia
Á miền lập địa: Á miền lập địa là một lãnh thổ khép kín, có đặc trưng của miền lập địa là chế
độ nhiệt đồng thời còn có đặc trưng riêng của á miền, đó là thời gian mưa (mùa mưa) trong năm
Vùng lập địa: Vùng lập địa là một lãnh thổ khép kín được phân ra từ á miền lập địa
Vùng lập địa là kết quả đan xen của một vùng địa mạo, một vùng khí hậu, trong đó miền Bắc lấy trường độ và cường độ lạnh làm dấu hiệu phân chia, miền Nam lấy trường độ và cường độ khô hạn làm dấu hiệu phân chia
Tiểu vùng lập địa: Tiểu vùng lập địa là một lãnh thổ khép kín được phân ra từ vùng lập
địa mang các đặc trưng chung của các cấp phân vị trên nó đồng thời mang đặc trưng riêng của
nó đó là tổng hợp của một kiểu địa hình, một kiểu khí hậu và một nhóm đất chính hoặc phụ