Việc Nhà nước xáclập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất không nằm ngoài mục đích bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu đối với đất đai, Nhà nước nắm chắc tình hình quản lý đấtđai, n
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp đổi mới do Đảng và Nhà nước khởi xướng từ năm 1986 đến nay,đất nước ta đã đạt những thành tựu quan trọng và có những bước tiến vượt bật ở tất
cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội Cùng đóng góp vào sự phát triển của đấtnước, hệ thống các Nông Lâm trường quốc doanh đã chuyển mình nhất là sau khi
có Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ Chính trị, Nghị định số 200/2004/NĐ-CP củaChính phủ về sắp xếp đổi mới và phát triển Nông Lâm trường quốc doanh CácNông Lâm trường đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội, nângcao đời sống, xoá đói giảm nghèo nhất là những nơi vùng sâu vùng xa, nơi có đồngbào dân tộc thiểu số
Tuy nhiên việc sắp xếp đổi mới Nông Lâm trường vẫn còn chậm, hiệu quả sửdụng đất chưa cao; nhiều Nông Lâm trường có tình trạng giao đất chồng với diệntích của hộ gia đình cá nhân, tổ chức khác Cả nước hiện có 664 Nông Lâm trường
và Ban quản lý rừng đang quản lý diện tích sử dụng 6.818.093 ha thì có đến 185 tổchức bị lấn chiếm, 54 tổ chức đang tranh chấp đất đai Việc tranh chấp, lấn chiếmcho thuê, mượn, xâm hại rừng diễn ra phổ biến Nhiều Nông Lâm trường chưa xácđịnh ranh giới, chưa thực hiện việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất Diện tích củacác Nông Lâm trường được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới chỉ đạtkhoảng 20% diện tích
Ở tỉnh Thừa Thiên Huế, trước thời điểm sắp xếp, chuyển đổi năm 2004 có 9Nông Lâm trường quốc doanh đã tồn tại hơn 25 năm và trải qua nhiều bước thăngtrầm, có nhiều thay đổi cả về tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động Các tổchức Nông Lâm trường quốc doanh vẫn tiếp tục hưởng bao cấp từ các nguồn ngânsách Nhà nước thông qua các chương trình dự án như 327, 661 hoặc tiếp tục khaithác gỗ mà không có sự kiểm soát chặt chẽ các khoản chênh lệch địa tô tài nguyên.Các lâm trường quốc doanh đã tiến hành rà soát lại diện tích đất đai quản lý, tuynhiên cũng như trước đó việc thực hiện vẫn mang tính hình thức; hoạt động sảnxuất của các Nông Lâm trường vẫn hết sức khó khăn, năng suất, chất lượng, hiệuquả kinh doanh thấp, đóng góp cho ngân sách Nhà nước không đáng kể
Trang 2Sau khi có Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ Chính trị, Nghị định số
200/2004/NĐ-CP của Chính phủ về sắp xếp đổi mới Nông Lâm trường quốc doanh, tỉnh Thừa ThiênHuế đã sắp xếp lại 04 Nông Lâm trường thành 04 Công ty TNHH Nhà nước một thànhviên và chuyển các lâm trường thành các Ban quản lý rừng phòng hộ Với sự sắp xếpnày, bước đầu đã ổn định bộ máy tổ chức, xác định lại cơ cấu lao động hợp lý, giảiquyết lao động dư thừa, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh có tính khả thi Toàntỉnh có 04 Công ty lâm nghiệp và 07 Ban quản lý rừng, Ban quản lý khu bảo tồn thiênnhiên và Vườn quốc gia Bạch Mã quản lý với diện tích đất sau khi đã rà soát là205.048 ha, chiếm 65 % diện tích đất lâm nghiệp, 40,7 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh.Tuy nhiên công tác quản lý đất lâm nghiệp của các tổ chức sử dụng đất cònlõng lẻo, còn để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất trồng rừng, do địa bàn quá rộng, lựclượng quản lý mỏng nên việc lấn chiếm của nhân dân không phát hiện và giải quyếtkịp thờì, công tác quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp chậm, việc xác định ranh giới,cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các lâm trường đạt tỷ lệ thấp
Cùng với tình hình chung của các Nông Lâm trường trên cả nước, các tổ chức
sử dụng đất có nguồn gốc từ các Nông Lâm trường quốc doanh tại tỉnh Thừa ThiênHuế cần phải tiến hành đánh giá một cách toàn diện tình hình quản lý sử dụng đấtđai, cũng như vấn đề quy hoạch sử dụng đất trên cơ sở hiện trạng đang quản lý và
sử dụng Trên cơ sở đó đánh giá mô hình quản lý như hiện nay để đề xuất phương
án sắp xếp đổi mới tiến tới xác định ranh giới quản lý sử dụng, cắm mốc và cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cho các Công ty lâmnghiệp và các Ban quản lý
Mặt khác các tổ chức sử dụng đất lâm nghiệp quản lý vùng thượng nguồn lưuvực sông rộng lớn và có vai trò quyết định không chỉ lưu lượng, chế độ dòng chảy,đặc điểm thuỷ văn trong lưu vực mà còn quyết định đến môi trường của cả khu vực.Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã đề ra mục tiêu nâng độ che phủrừng lên 58%, phấn đấu Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trungương, có đặc trưng thành phố xanh, sạch, thân thiện với môi trường mà Nghị quyết48/NQ-TW của Bộ Chính trị đã kết luận
Trang 3Xuất phát từ những yêu cầu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý đất
lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” làm luận văn thạc sỹ quản lý Hành
chính công của mình
2 Mục đích nghiên cứu
- Điều tra đánh giá hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp;
- Đánh giá mô hình quản lý Nông Lâm trường hiện nay;
- Đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên đất, tài nguyên rừng có hiệu quả,bền vững;
- Xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính đất lâm nghiệp bao gồm: cắm mốc, xác địnhranh giới, đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng cơ sở dữ liệu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đất đai và tình hình sử dụng đất của các Nông Lâm trường trên địa bàn
- Mô hình quản lý đất lâm nghiệp hiện tại ở địa phương
- Hồ sơ địa chính đất lâm nghiệp: cắm mốc, đo đạc, cấp giấy, xây dựng cơ sở
- Về mặt thời gian: xem xét quá trình thành lập và phát triển của các NôngLâm trường ở địa phương Tuy nhiên sẽ tập trung xem xét các hoạt động quản lý sửdụng đất từ khi chuyển đổi mô hình quản lý sử dụng từ năm 2004 cho đến nay
Trang 4- Về mặt chủ thể: ngoài chủ thể là các Nông Lâm trường quốc doanh và cácBan quản lý rừng, luận văn còn nghiên cứu đến các chủ thể liên quan đến hệ thốngquản lý Nhà nước về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp.
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở phạm vi và đối tượng nghiên cứu trên, luận văn sử dụng phươngpháp luận và các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp xử lý số liệu: sử dụng phương pháp chọn lọc thông tin, sửdụng phương pháp thống kê biểu mẫu để hệ thống theo thời gian, theo đối tượngnghiên cứu và theo chủ thể
- Phương pháp thống kê và so sánh, đối chiếu để rút ra vấn đề cần kết luận
Sử dụng phương pháp phân tích S.W.O.T (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội,thách thức) để nhận xét tổng quát
Sử dụng phương pháp ma trận để trình bày khung hệ thống giải pháp
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: trên cơ sở các số liệu điều tra,thu thập được, tiến hành phân tích, sắp xếp, tổng hợp theo các nội dung nghiên cứu
Phương pháp bản đồ: thành lập các bản đồ chuyên đề và tổng hợp kinh tế
-xã hội của khu vực nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia
Trang 55 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản lý về đất đai nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng trong thời gian quađược quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, phong phú và đa dạng.Liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai đã có những đề tài như:
- Luận văn “Phân cấp, phân quyền quản lý nhà nước về đất đai nhìn từ thựctiễn tỉnh Đồng Nai” của Nguyễn Hữu Lý
- Luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thị
xã An Nhơn, tỉnh Bình Định” của Ngô Tôn Thanh
- Luận văn “Nâng cao hiệu quả quả lý Nhà nước về đất đai – Từ thực tiểncủa tỉnh Thừa Thiên Huế” của Nguyễn Thanh Sơn
Trên nền tảng của hoạt động quản lý Nhà nước; trong khuôn khổ của đề tài này,tác giả tập trung nghiên cứu công tác quản lý đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh ThừaThiên Huế, đánh giá những thành tựu và hạn chế, đưa ra các phương hướng và giảipháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp trong bốicảnh cả nước đang chuận bị tổng kết Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của BộChính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài luận văn góp phần làm rõ phương pháp luận vềquản lý sử dụng đất nói chung và quản lý đất lâm nghiệp nói riêng
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo giúp chính quyền cáccấp hoạch định chủ trương, chính sách xây dựng mô hình tổ chức quản lý và sửdụng đất lâm nghiệp có hiệu quả, góp phần quy hoạch định hướng, sử dụng khaithác tài nguyên đất, tài nguyên rừng một cách bền vững
7 Kết cấu của luận văn
Căn cứ vào những vấn đề trên, bố cục của đề tài: ngoài phần Mở đầu, Kết luận vàDanh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với đất lâm nghiệp;
Chương 2: Thực trạng quản lý đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nuớc về đất lâmnghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT LÂM NGHIỆP
1.1 Cơ sở về quản lý hành chính Nhà nước
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên và xã hội, mỗingành khoa học định nghĩa về “quản lý” dưới góc độ riêng của minh Nhưng quan niệmchung nhất về “quản lý” là do điều khiển học đưa ra Theo đó “quản lý” là sự tác độngđịnh hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triểnphù hợp với những quy luật nhất định Là tác động định hướng nên quản lý có các yếu tốcấu thành: chủ thể là nơi phát sinh tác động quản lý, khách thể là cái mà tác động quản lýhướng tới – đó là hành vi của đối tượng bị quản lý và mục đích quản lý là cái đích màchủ thể hướng tới khi thực hiện sự tác động quản lý
Dưới góc độ chính trị quản lý được hiểu là hành chính, là cai trị, nhưng dướigóc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Dù dưới góc độ nào đichăng nữa, quản lý vẫn phải dựa vào cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằmđạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích quản lý
Quản lý là yếu tố thiết yếu quan trọng, quản lý không thể thiếu được trong đờisống xã hội Xã hội càng phát triển thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dungcàng phức tạp Theo C Mác quản lý trong xã hội là một chức năng xã hội đặc biệtnảy sinh trước hết từ chính bản chất của quá trình lao động xã hội Quản lý xã hộixuất hiện từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa, nghĩa là từ khi laođộng của từng cá nhân riêng lẽ không còn đáp ứng được nhu cầu của xã hội mà cầnphối hợp lao động của người trong xã hội
Như vậy, quản lý là sự tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đốitượng bị quản lý và khách thể của quan lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng,các cơ hội của hệ thống để nhằm đạt được mục đích đã đặt ra từ trước
1.1.1.2 Khái niệm Quản lý Nhà nước
Quản lý Nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước Nội hàm củaquản lý Nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế
Trang 7- xã hội của mỗi quốc gia theo các giai đoạn lịch sử Quản lý Nhà nước là một dạngquản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng pháp luật Nhànước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội do các cơ quan tring bộ máy Nhà nước thực hiện nhằm thỏa mãn nhucầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội.
Theo Từ điển Luật học, Quản lý Nhà nước được định nghĩa như sau: “Quản lý
Nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước do các cơ quan Nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi”[53].
Quản lý Nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động củaNhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất Nhà nước nhằm thực hiện cácchức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Chủ thể của Quản lý Nhà nước theo nghĩa rộng
là tất cả các cơ quan Nhà nước của bộ máy Nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp Quản lý Nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp hành, điều hành do
cơ quan hành pháp thực hiện, được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
Như vậy, quản lý Nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước củacác cơ quan trong bộ máy Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đốingoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội nhằm mục đích ổnđịnh và phát triển đất nước
Quản lý Nhà nước ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản là: Quản lý Nhà nướcmang tính quyền lực, đặc biệt là tính tổ chức rất cao Quản lý Nhà nước có mục tiêuchiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu, Quản lý Nhà nước theonguyên tắc tập trung dân chủ, Quản lý Nhà nước không có sự tách biệt tuyệt đốigiữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, Quản lý Nhà nước bảo đảm tính liên tục
và ổn định trong tổ chức
1.1.1.3 Khái niệm Quản lý Nhà nước về đất đai
Khái niệm đất đai và tầm quan trọng của đất đai
Đất là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặngcho con người Có rất nhiều công trình nghiên cứu về đất và hiểu về đất dưới nhiều
Trang 8khía cạnh khác nhau Theo học giả người Nga Docutraiep quan niệm đất là vật thểthiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của
05 yếu tố hình thành gồm: đá, động vật, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình và thờigian Theo C.Mac thì đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất củasản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh củahàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau
Luật đất đai năm 1993 của Việt Nam định nghĩa về đất đai: “Đất đai là tài
nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng”[30, 3].
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, trước hết bởi đất đai có nguồngốc tự nhiên Con người có thể làm ra nhà máy, lâu đài và sản xuất, chế tạo ra cácloại hàng hoá, sản phẩm, nhưng không ai có thể sáng tạo ra đất đai Đất đai là sảnphẩm của tự nhiên nhưng lại là một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của conngười Tác động của con người vào đất đai thông qua hoạt động sản xuất rất đadạng và phong phú với nhiều phương thức khác nhau trực tiếp hoặc gián tiếp nhằmkhai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên này vì lợi ích của mình Đất đai quýgiá còn bởi đất đai là cái có hạn, con người không thể làm nó sinh sản, nở thêm,ngoài diện tích tự nhiên vốn có và chuyển mục đích sử dụng từ mục đích này sangmục đích khác Con người không tạo ra được đất đai nhưng bằng lao động của mình
mà cải thiện đất đai, làm cho đất đai từ xấu trở thành tốt hơn Những tác động củacon người làm cho đất đai từ vỗn dĩ là một sản phẩm của tự nhiên đã trở thành sảnphẩm của lao động
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môitrường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, vănhoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết để thựchiện mọi quá trình sản xuất, đất vừa là chổ đứng, vừa là địa bàn hoạt động cho tất cảcác ngành sản xuất và mọi hoạt động trong đời sống xã hội Đối với các ngành nông– lâm – thủy sản thì đất vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động
Trang 9Đất đai còn là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia và gắn liền vớilịch sử của từng dân tộc Hầu hết các cuộc chiến tranh trên thế giới đều xuất phát từ
lý do tranh giành đất đai và tài nguyên Vì vậy, quản lý và nắm chắc đất đai đi đôivới việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền là mục tiêu của mọi quốc gia [45, 6]
Tóm lại, đất đai là khoảng không gian có giới hạn, là tài nguyên quốc gia vôcùng quý giá, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật kháctrên trái đất
Trong sản xuất lâm nghiệp, đất đai là yếu tố hàng đầu và là một tư liệu sảnxuất đặc biệt không cái gì có thể thay thế được Đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗđứng để lao động mà còn là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng, mọi tác độngcủa con người vào cây trồng đều dựa vào đất và thông qua đất đai Chính vì vậy,việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quantrọng để đảm bảo cho lâm nghiệp phát triển bền vững [45, 3]
Khái niệm Quản lý Nhà nước về đất đai
Xuất phát từ vai trò hết sức quan trọng và ý nghĩa to lớn của đất đối với hoạtđộng sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người, việc quản lý đất đai là hết sức cầnthiết Quản lý Nhà nước đối với đất đai vừa đảm bảo khai thác tốt tiềm năng đất đaivới vai trò là một nguồn lực, vừa đảm bảo mục tiêu giữ gìn môi trường sống chotoàn xã hội
Trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai, Nhà nước bằng quyền lực của
bộ máy Nhà nước duy trì tác động có mục đích và có định hướng lên đối tượngquản lý đất đai cả về mặt quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai và cảviệc sử dụng đất đai của các chủ thể sử dụng đất
Nhà nước thống nhất QLNN về đất đai từ trung ương đến địa phương đảm bảođất đai sử dụng đúng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm khai thác vàSDĐ ổn định, lâu dài thông qua hệ thống các cơ quan QLNN về đất đai
Xét theo nghĩa rộng hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm: các
cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội), các cơ quan tư pháp Quốc hội với quyền
năng được Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 69: “Quốc hội là cơ quan đại biểu
Trang 10cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” [20], Quốc hội tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai qua
việc ban hành và giám sát thi hành các văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này.Tòa án với địa vị pháp lý là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, thực hiện quyền tư pháp (Điều 102 Hiến pháp năm 2013) tham gia vào hoạtđộng quản lý Nhà nước về đất đai thông qua hoạt động xét xử những vụ tranh chấp,khởi kiện về đất đai
Theo nghĩa hẹp hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai là hệ thống các
cơ quan hành chính Nhà nước được thành lập từ Trung ương đến địa phương thựchiện chức năng, nhiệm vụ giúp Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đaitrong phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương theo quy hoạch, kế hoạch chung Hệthống các cơ quan này bao gồm: các cơ quan thay mặt Nhà nước thực hiện quyềnquản lý Nhà nước về đất đai ở địa phương theo cấp hành chính và cơ quan chuyênmôn ngành quản lý đất đai ở các cấp và các cơ quan đứng ra đăng ký quyền quản lýđối với những diện tích đất chưa sử dụng, đất công ở địa phương
Tham gia vào hoạt động quản lý đất đai còn có các chủ thể sử dụng đất đai baogồm: tổ chức, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức nướcngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Đất đai là nhóm đối tượng thứ hai của quản lý Nhà nước về đất đai Hiện naytoàn bộ quỹ đất của nước ta được chia thành 3 nhóm như sau:
- Nhóm đất nông nghiệp được chia thành: đất trồng cây hàng năm gồm đấttrồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; đất trồngcây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôitrồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ;
- Nhóm đất phi nông nghiệp được chia thành: Đất ở gồm đất ở tại nông thôn,đất ở tại đô thị; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất sửdụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
Trang 11gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất,kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng,làm đồ gốm; đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi; đấtxây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụlợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xâydựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ; đất do các cơ sởtôn giáo sử dụng; đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đấtlàm nghĩa trang, nghĩa địa; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyêndùng; đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ;
- Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng.Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đất đai, thực hiện quyền năng nàybằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất Việc Nhà nước xáclập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất không nằm ngoài mục đích bảo vệ
và thực hiện quyền sở hữu đối với đất đai, Nhà nước nắm chắc tình hình quản lý đấtđai, nắm chắc thông tin về số lượng đất đai: diện tích đất đai trong toàn quốc gia,trong từng vùng kinh tế, trong từng đơn vị hành chính các địa phương, diện tích củatừng loại đất; Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai theo quyhoạch và kế hoạch chung thống nhất: Nhà nước thực hiện việc chuyển giao quyền
sử dụng đất giữa các chủ thể sử dụng đất, thực hiện việc điều chỉnh các loại đất,giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất; Nhà nước thực hiện việc thanh tra, kiểm tra chế
độ quản lý, sử dụng đất; Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đaithông qua các chính sách tài chính về đât đai như: thu tiền sử dụng đất, thu các loạithuế liên quan đến việc sử dụng đất [33,42]
Như vậy, Quản lý Nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước vềđất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối và phân phốilại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra, giám sát quá trình quản lý, sửdụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai
Trang 121.1.1.4 Khái niệm quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp
Khái niệm đất lâm nghiệp
Theo điều 1 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991: Đất lâm nghiệp baogồm: Đất có rừng và đất không có rừng
- Đất có rừng là một bộ phận của tài nguyên thiên nhiên hữu hạn có khả năngphục hồi bao gồm các thành phần quần lạc sinh địa (hay hệ sinh thái) rừng như: trữlượng lâm sản và đất đai mà trên đó có rừng, sản phẩm phụ của rừng và các lâmphần có các yếu tố bảo vệ, điều tiết nước, vi sinh vật… tức là những lợi ích của đất
có rừng mang lại
- Đất không có rừng là đất được quy hoạch để gây trồng rừng nhưng chưa có rừng Luật đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đainăm 1998, năm 2001 thì đất lâm nghiệp được định nghĩa như sau: Đất lâm nghiệp làđất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp gồm đất có rừng tựnhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồngrừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiêncứu thí nghiệm về lâm nghiệp
Khi Luật đất đai năm 2003 ra đời đất lâm nghiệp được quy định là một bộphận của đất nông nghiệp bao gồm diện tích đất được xác định chủ yếu để sử dụngvào sản xuất lâm nghiệp bao gồm đất đã có rừng tự nhiên, đất rừng trồng, đất sửdụng vào mục đích lâm nghiệp
Tại Điều 3 Thông tư số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29/01/2011của Liên bộ Bộ Nông nghiệp phát triển Nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường
đã quy định: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng
trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng; đất mới trồng rừng nhưng chưa thành rừng; đất đang trồng rừng hoặc đã giao, cho thuê để trồng rừng và diện tích đất trống trong các khu rừng đặc dụng hoặc diện tích đất trống được bảo vệ trong các khu rừng khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng” [8].
Trang 13Như vậy, đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuấtlâm nghiệp, gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vàomục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng để phuc hồi tự nhiên,nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp.
Đối với đất lâm nghiệp, rừng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, rừng là mộtloại tài nguyên đặc biệt có khả năng tự tái tạo, có vai trò quan trọng đối với môitrường sinh thái, đời sống kinh tế xã hội Rừng không những tạo môi trường sinhthái cân bằng, điều hoà khí hậu dòng chảy mà còn cung cấp cho con nguời nhữngloại gỗ quý, những cây dược liệu có giá trị cao, các loài động vật quý hiếm và hệthực vật đa dạng phong phú
Với ý nghĩa trên, công tác bảo vệ phát triển rừng là một vấn đề có tính chiếnlược gắn liền với sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế xã hội Đất nước ta bướcvào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vai trò của rừng đối với việc bảo vệ môitrường, cung cấp lâm sản cho nền kinh tế quốc doanh, đáp ứng các nhu cầu của conngười ngày càng tăng lên Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiềuchủ trương chính sách nhằm bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có và đẩy mạnh cáchoạt động xây dựng, phát triển rừng Quá trình chuyển đổi quản lý rừng và đất rừng
từ Nhà nước sang quản lý rừng và đất rừng có sự tham gia của cộng đồng dân cưđịa phương là một chủ trương của Nhà nước nhằm thúc đẩy quản lý tốt đất lâmnghiệp trên địa bàn Quản lý đất lâm nghiệp là quản lý nguồn tài nguyên thiênnhiên, quản lý rừng dựa vào cộng đồng nhằm thúc đẩy mọi thành phần kinh tế trong
xã hội tham gia quản lý, bảo vệ phát triển rừng [33, 2]
Quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp là hoạt động sắp xếp, tổ chức, chỉ huy,điều hành, hướng dẫn, kiểm tra của hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước từ trungương đến địa phương đối với đất lâm nghiệp nhằm quản lý, sử dụng, bảo vệ quỹ đấtlâm nghiệp hiệu quả, điều tiết các nguồn lợi từ đất lâm nghiệp
1.1.2 Sự cần thiết phải quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp
Xuất phát từ tầm quan trọng của đất đai đối với sự tồn tại, phát triển của xãhội; đồng thời, đất đai thể hiện ý chí quyền lực của bộ máy Nhà nước nên đất đai
Trang 14thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sỡ hữu đứng ra quản lý đất đai trênphạm vi quốc gia mình Nhà nước thực hiện chức năng quản lý là một đòi hỏi kháchquan, là nhu cầu tất yếu trong việc sử dụng đất đai
Vấn đề quản lý Nhà nước về đất đai cần được xem xét trong mối quan hệ giữachủ sở hữu đất đai và người sử dụng đất nhằm đưa đến quan điểm rõ ràng, xác đánghơn về quan hệ hai chiều giữa quản lý Nhà nước về đất đai và việc thực hiện chấphành các nội dung đó của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai và người sử dụngđất Việt Nam từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng chế độ sở hữu cho phù hợp với cơ chếmới Theo đó đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân, ruộng đất được giao chongười dân để sử dụng ổn định lâu dài Rừng biển, hầm mỏ, nguồn nước, nguồn tàinguyên trong lòng đất đều thuộc sở hữu toàn dân Vấn đề sử dụng đất đai được thựchiện thông qua hình thức Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các đối tượng sửdụng đất Nhà nước luôn có chính sách đảm bảo cho mọi đối tượng đều có đất đểđầu tư sản xuất kinh doanh, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản… Vấn đề
tổ chức hợp lý việc sử dụng đất đai là cốt lõi của công tác quản lý và được xác địnhtheo cơ cấu, vị trí không gian của diện tích đất sử dụng Sự cần thiết của việc Nhànước quản lý đất đai xuất phát từ những cơ sở sau:
Thứ nhất Nhà nước quản lý đất đai nhằm bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ýchí, nguyện vọng, quyền và lợi ích của nhân dân Về cơ bản, lợi ích của Nhà nước
là đồng nhất với lợi ích của nhân dân Mặt khác ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàndân, để quản lý toàn bộ vốn đất đai thuộc quyền sở hữu của mình, nhân dân với tưcách một cộng đồng xã hội không thể tự mình đứng ra thực hiện các nội dung cụ thểcủa hoạt động quản lý đất đai mà phải cử người thay mặt mình đứng ra làm nhiệm
vụ này Người đó chính là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước bằng việc sử dụng quyền lực Nhà nước điều phối nhịp nhàng, đồng
bộ các quan hệ liên quan đến đất đai nhằm dung hoà lợi ích giữa các thành viên
Trang 15trong xã hội và dung hoà lợi ích giữa cá nhân với lợi ích của cộng đồng trong quátrình sử dụng đất vì sự phát triển bền vững.
Thứ hai Nhà nước quản lý đất đai nhằm đảm bảo sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và
có hiệu quả
Đất đai là một tài nguyên quý giá, tài sản, tư liệu sản xuất đặc biệt, không táitạo được Do vậy, đất đai cần được sử dụng một cách khoa học, tiết kiệm, nhằm manglại nguồn lợi ích cao nhất cả về mặt vật chất và tinh thần cho mọi người, đảm bảo đấtđai được sử dụng lâu dài theo đúng mục đích, đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất đã được phê duyệt Cùng với quá trình phát triển của đất nước, công tác quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất cần đi trước một bước tạo cơ sở khoa học cho việ sửdụng đất một cách hợp lý và tiết kiệm trên tinh thần tận dụng mọi diện tích sẵn có.Đối với đất lâm nghiệp, quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp nhằm huy độngtối đa diện tích đất tự nhiên vào sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp bao gồm:đất mặt nước, đất trống, đồi núi trọc, đất thoái hóa bạc màu, đất bị xâm canh Quaviệc quản lý của Nhà nước, đất lâm nghiệp được sử dụng tiết kiệm, thực hiện đượcnông lâm kết hợp trong sản xuất, coi trọng khai thác theo chiều sâu của đất Cácchính sách quản lý góp phần trong việc lựa chọn, bố trí cây trồng, công nghệ sửdụng đất phải phù hợp với điều kiện vùng sinh thái để khai thác tối đa đồ phì củađất, đồng thời cần chú ý đến các biện pháp bảo vệ tái tạo đất [33,9]
Thứ ba Nhà nước quản lý đất đai nhằm đảm bảo tính công bằng trong quản lý và
sử dụng đất.
Các chính sách quản lý của Nhà nước nhằm bảo đảm sự phân bổ hợp lý giữalợi ích thu được với chi phí phải bỏ ra tương ứng cho các bộ phận dân cư khác nhau.Việc phân bổ đất đai chịu sự tác động của quy luật kinh tế thị trường nhằm tối đahóa lợi nhuận, do đó chính sách của Nhà nước có nhiệm vụ điều hòa lợi ích để đảmbảo sự công bằng Sự công bằng được thể hiện ở việc Nhà nước đảm bảo các quyềncủa người sử dụng đất (SDĐ) được Nhà nước cho phép, mọi người đều có cơ hội vàbình đẳng trước pháp luật về đất đai Nhà nước giao đất lâu dài và ổn định cho hộ giađình và cá nhân, khuyến khích họ khai thác và SDĐ theo hướng có hiệu quả cũng như
xử lý nếu sai phạm
Trang 16Thư tư Nhà nước quản lý đất đai nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Nhà nước có chính sách phát huy nguồn vốn đất đai, bảo đảm các nguồn thu tàichính từ đất đai cho ngân sách Nhà nước điều tiết hợp lý các khoản thu, chi ngânsách, phần giá trị tăng thêm của đất do quy hoạch, các khoản thu do đầu tư thu được từđất đai
- Thu tiền sử dụng đất: giao đất có thu tiền SDĐ; chuyển mục đích SDĐ từ đất đượcNhà nước giao không thu tiền SDĐ sang đất được Nhà nước giao có thu tiền SDĐ; chuyển
từ hình thức thuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ
- Thuế: là nguồn thu theo nghĩa vụ được quy định bởi pháp luật, là nguồn thuchủ yếu của ngân sách Nhà nước Chính sách thuế vừa phải đảm bảo khuyến khích
sự phát triển đất đai, vừa đảm bảo nguồn thu cho Nhà nước
- Các khoản thu nhập khác từ đất đai: Nhà nước qua việc phân cấp, phânquyền cho các chủ thể khác để có thể tạo ra các khoản thu nhập khác từ đất đaithông qua các hình thức như cho thuê, góp vốn bằng đất hoặc trực tiếp tham gia đầu
tư và kinh doanh đất đai nhằm tạo ra lợi nhuận từ đất đai; Nhà nước tạo ra các giátrị gia tăng về đất đai do đầu tư hạ tầng để mang về các khoản thu khác; ngoài ra,các khoản thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai; tiền bồi thường cho Nhànước khi gây thiệt hại trong quản lý và SDĐ cùng là nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
1.1.3 Vai trò quản lý Nhà nước về đất đai
Vai trò của Nhà nước trong quản lý đất đai là một yêu cầu cần thiết để điềuhoà các mối quan hệ giữa chủ thể quản lý là Nhà nước và người sử dụng đất Vai tròquản lý của Nhà nước về đất đai như sau:
Thứ nhất: quản lý và sử dụng đất một cách khoa học, đúng chức năng, mụcđích theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (KHSDĐ) đã được cấp thẩm quyền phêduyệt Thông qua hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phân bổ đất, Nhànước đảm bảo cho việc sử dụng đất đúng mục đích, đạt hiệu quả cao, giúp cho Nhànước quản lý chặt chẽ đất đai, giúp cho người sử dụng đất có biện pháp hữu hiệu đểkhai thác đất Các tổ chức, cá nhân sử dụng đất phải tuân thủ theo quy hoạch, muốnthay đổi mục đích SDĐ hoặc chủ sử dụng, phải được phép của cơ quan có thẩm quyền
Trang 17Thứ hai điều hoà các mâu thuẫn: đất đai là không gian cơ bản trong sản xuất vàsinh hoạt của con người Vì vậy, trong SDĐ không thể tránh khỏi những mâu thuẫngiữa sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội với sự khan hiếm của đất đai, mâuthuẫn giữa lợi ích tư nhân với lợi ích cộng đồng, mâu thuẫn giữa hiệu quả và bìnhđẳng… Việc điều hoà các mâu thuẫn này cần phải có sự can thiệp của Nhà nước.Thứ ba: quản lý Nhà nước về đất đai qua việc ban hành và tổ chức thực hiệnpháp luật đất đai đã thể hiện vai trò của Nhà nước là tạo cơ sở pháp lý để bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân trongquan hệ về đất đai Bằng hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy, Nhà nước xácđịnh địa vị pháp lý cho các đối tượng sử dụng, Nhà nước điều chỉnh hành vi của cácđối tượng sử dụng đất.
Thứ tư: Quản lý Nhà nước về đất đai nhằm kiểm tra, giám sát việc quản lý và
sử dụng đất để nắm chắc tình hình ,diễn biến sử dụng đất, phát hiện những vi phạm
và giải quyết những vi phạm đó Với vai trò này, Nhà nước đảm bảo cho các quan
hệ sử dụng đất đai được vận hành theo đúng quy định của Nhà nước
1.1.4 Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai
1.1.4.1 Nguyên tắc thống nhất về quản lý Nhà nước
Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân Nhà nước –chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyếtđịnh số phận pháp lý của đất đai thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất củaNhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng Sự thể hiệncủa nguyên tắc thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 53
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai … do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và
thống nhất quản lý [20]” và Điều 5, Điều 6 Luật Đất đai năm 2003: “Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu [31]”… Nhà nước thống nhất
quản lý đất đai, Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu thông qua việc Nhànước giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cơ quan, đơn vị kinh tế, hộ gia đình
và cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài; Nhà nước tạo điều kiện cho người SDĐ cóthể phát huy tối đa các quyền đối với đất đai
Trang 181.1.4.2 Nguyên tắc phân cấp gắn liền với các điều kiện bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ
Phân cấp quản lý là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dướinhằm đạt một cách có hiệu quả mục tiêu của quản lý hành chính Nhà nước Khitiến hành phân cấp quản lý đã có sự phân định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạncủa các cấp trong bộ máy Nhà nước Mỗi cấp quản lý có những mục tiêu, nhiệm
vụ, thẩm quyền và sử dụng những phương tiện cần thiết để thực hiện những mụctiêu, nhiệm vụ của cấp mình Việc tuân thủ nguyên tắc phân cấp trong quản lý Nhànước về đất đai nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng nhằm đạt được hiệu quả caonhất của hoạt động quản lý Phân cấp quản lý trong quản lý Nhà nước về đất đai rấtphức tạp nên phải xem xét từ nhiều yếu tố, góc độ khác nhau như cơ sở kinh tế, xãhội, kết cấu hạ tầng, các yếu tố dân tộc, trình độ dân trí, năng lực quản lý của độingũ cán bộ quản lý tại địa phương để đảm bảo việc hoàn thành nhiệm vụ [33,53].Trong lĩnh vực đất đai, Nhà mước ta thực hiện chức năng quản lý của mìnhthông qua hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai:
Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có thẩm quyền chung là ChínhPhủ và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp Chính phủ quyết định quy hoạch,KHSDĐ của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy hoạch, KHSDĐ vào mụcđích quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai trong phạm vi cảnước; UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lýNhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật đất đai
Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý Nhà nước về đất đai gồm: cấp Trungương là Bộ Tài nguyên và Môi trường; cấp tỉnh là Sở Tài nguyên và Môi trường SởTài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công táccủa UBND cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụcủa Bộ Tài nguyên và Môi trường; cấp huyện là Phòng Tài nguyên và Môi trường.Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế vàcông tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn,nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường; cấp xã, phường, thị trấn là cán bộ địa
Trang 19chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là cán bộ địa chính xã) giúp UBND xã,phường, thị trấn (gọi chung là UBND cấp xã) thực hiện quản lý Nhà nước về đất đaitrong phạm vi xã, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụcủa Sở Tài nguyên và Môi trường và cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp huyệnquản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường.
Việc phân cấp nội dung quản lý đất đai như trình bày trên đảm bảo cho cơquan cấp dưới và địa phương chủ động, đề cao trách nhiệm của mình trong quản
lý đất đai; đồng thời, tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý đất đai ở cấp trungương giảm sức ép từ phía các đối tượng chịu sự quản lý Việc phân định rõ tráchnhiệm ró ràmg đảm bảo hiệu quả trong quá trình hoạt động của từng cơ quan,tránh tình trạng các cơ quan không biết mình ở vị trí nào, cần phải làm theo sự chỉđạo và kiểm soát của các cơ quan nào trong từng trường hợp cụ thể Tuy nhiên, đểtránh hiện tượng hoạt động quản lý đất đai ở các địa phương nằm ngoài quỹ đạoquản lý của Nhà nước phải tăng cường sự quản lý tập trung thống nhất của Nhànước trong quản lý đất đai
1.1.4.3 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động
theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ [20]”, trên cơ sở quy định của Hiến pháp, quản
lý Nhà nước về đất đai cũng đảm bảo tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ.Nguyên tắc tập trung dân chủ quy định trước hết là sự lãnh đạo tập trung đối vớinhững vấn đề cơ bản chính yếu nhất, bản chất nhất Tập trung là thâu tóm quyền lựcNhà nước vào chủ thể quản lý để diều hành, chỉ đạo việc thực hiện pháp luật Sự tậptrung đó đảm bảo cho cơ quan cấp dưới, địa phương và cơ sở có khả năng thực hiệnquyết định của Trung ương căn cứ vào điều kiện thực tế của mình Dân chủ là việc
mở rộng quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt độngquản lý Dân chủ trong hoạt động quản lý bảo đảm tính sáng tạo, quyền chủ độngcủa địa phương và cơ sở Tập trung dân chủ biểu hiện trong cơ chế vận hành của bộmáy Nhà nước là quan hệ trực thuộc, chịu trách nhiệm và báo cáo của cơ quan quản
Trang 20lý Nhà nước trước cơ quan dân cứ, phân định chức năng, thẩm quyền của cơ quan
quản lý Nhà nước các cấp; hệ thống “hai chiều trực thuộc” của một số cơ quan quản
lý bảo đảm kết hợp tốt sự lãnh đạo tập trung theo ngành và quyền quản lý tổng thểcủa địa phương
Trong lĩnh vực đất đai, hoạt động quản lý của Nhà nước cần phải tuân thủ nguyêntắc tập trung dân chủ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sởhữu, Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai do vậy sự tập trung trong hoạt độngquản lý Nhà nước về đất đai là rất cần thiết Tuy nhiên, không vì thế mà Nhà nướcthâu tóm hết mọi quyền lực trong hoạt động quản lý Thực hiện quyền chủ sở hữutoàn dân về đất đai Nhà nước tạo điều kiện để người dân có thể tham gia giám sáthoạt động QLNN một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua tổ chức Hội đồng nhândân và các tổ chức chính trị - xã hội Thông qua hoạt động này, Nhà nước đã phát huyđược trí tuệ của nhân dân lao động trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai
1.1.4.4 Nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử
Nước ta đã trải qua thời gian chiến tranh lâu dài với sự thay đổi của nhiều chế
độ chính trị, biến động về đất đai cũng như chủ sử dụng rất phức tạp, lịch sử quan
hệ đất đai để lại cũng rất phức tạp Công tác quản lý Nhà nước về đất đai phải đảmbảo nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử
Quản lý Nhà nước về đất đai tuân thủ việc kế thừa các quy định của luật phápcủa Nhà nước trước đây, cũng như tính lịch sử trong quản lý đất đai qua các thời kỳcủa cách mạng được khẳng định bởi việc: Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất
đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thựchiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Chính phủcách mạng lâm thời Cộng hoà miền nam Việt Nam và Nhà nước Cộng Hoà Xã HộiChủ Nghĩa Việt Nam Điều này khẳng định lập trường trước sau như một của Nhà nướcđối với đất đai, tuy nhiên những vấn đề về lịch sử và những yếu kém trong QLĐĐtrước đây cũng để lại không ít khó khăn cho QLNN về đất đai hiện nay và cần đượcxem xét tháo gỡ một cách khoa học Nguyên tắc QLNN về đất đai trên nhằm đảmbảo nguyên tắc chủ đạo là: Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy
Trang 21hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giaođất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài Tổ chức và cá nhân có tráchnhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyềnSDĐ được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật [43].
1.2 Chủ thể quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp và các nội dung quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp
1.2.1 Chủ thể quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, có ý nghĩa quyết định trong việc phát triểnsản xuất nông, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn Đối với đất lâm nghiệp, rừng cómột ý nghĩa vô cùng quan trọng Quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp gắn với quản
lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng Theo Luật bảo vệ phát triển rừng năm
2004, trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng được quy định:
- Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thựchiện quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi cả nước cụ thể là:+ Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩmquyền các văn bản quy phạm pháp luật, quy chế, quy trình, quy phạm, các tiêuchuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật về bảo vệ và phát triển rừng và tổ chức chỉ đạoviệc thực hiện
+ Xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia, lập quy hoạch, kếhoạch bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi cả nước và các vùng, xác lập quyhoạch hệ thống các khu rừng phòng hộ, khu rừng đặc dụng có tầm quan trọng quốcgia hoặc liên tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tổ chức thực hiện chiếnlược, quy hoạch, kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
+ Hướng dẫn công tác điều tra, xác định, phân định ranh giới các loại rừngtrên bản đồ và trên thực địa để thực hiện thống nhất trong cả nước
+ Hướng dẫn và chỉ đạo việc thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyênrừng, đất để trồng rừng và lập hồ sơ quản lý rừng; việc giao rừng, cho thuê rừng,thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng; lập và quản lý hồ sơ giao, cho thuêrừng và đất để trồng rừng
Trang 22+ Cấp và hướng dẫn việc cấp, thu hồi các loại giấy phép về bảo vệ và phát triểnrừng: xuất, nhập khẩu giống lâm nghiệp, giấy phép của cơ quan Việt Nam đại diện Côngước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES).
+ Tổ chức và chỉ đạo thực hiện việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ,đào tạo nguồn nhân lực, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng…
- Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện việc quản lý đất đai thốngnhất với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng Chủ trì, phối hợp với BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan có liên quan trong việc giaođất gắn với giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng;công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; chuyểnđổi, chuyển nhượng, tặng cho, để thừa kế quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừngsản xuất là rừng trồng
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ vàphát triển rừng với những nội dung cụ thể:
+ Ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm phápluật về bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi địa phương
+ Lập, phê duyệt, quyết định quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng củaUBND cấp tỉnh theo quy định tại Điều 18 Luật Bảo vệ và phát triển rừng
+ Chỉ đạo UBND cấp huyện lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng
và trình UBND cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch
+ Tổ chức việc phân loại rừng, xác định ranh giới các loại rừng trong phạm viđịa phương; xác lập các khu rừng phòng hộ, khu rừng đặc dụng, khu rừng sản xuấtcủa địa phương theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
+ Tổ chức thực hiện việc thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyênrừng trên địa bàn tỉnh, thành phố theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn; Chỉ đạo UBND cấp huyện thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tàinguyên rừng, tổng hợp báo cáo UBND cấp tỉnh
+ Hướng dẫn xây dựng phương án giao rừng cho cấp huyện và cấp xã; tổchức thực hiện việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sửdụng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng
Trang 23trồng cho tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhânnước ngoài để thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp tại Việt Nam; tổ chức việclập và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để trồng rừng Chỉ đạo UBNDcấp huyện thực hiện giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn và giao rừng, chothuê rừng cho hộ gia đình, cá nhân
+ Cấp, thu hồi các loại giấy phép về bảo vệ và phát triển rừng theo quy địnhcủa pháp luật…
- Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện:
+ Lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cấp huyện trình cơquan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Điều 18 Luật Bảo vệ vàphát triển rừng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng
đã được phê duyệt
+ Chỉ đạo UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) lậpquy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và trình UBND cấp huyện phê duyệtquy hoạch
+ Thực hiện việc phân loại rừng, xác định ranh giới các loại rừng trong phạm
vi địa phương theo chỉ đạo của UBND cấp tỉnh
+ Tổ chức thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trong phạm
vi của địa phương, định kỳ báo cáo UBND cấp tỉnh
+ Tổ chức việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng đối với hộ gia đình, cánhân, cộng đồng dân cư thôn Chỉ đạo UBND cấp xã xây dựng phương án giaorừng, cho thuê rừng, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các quy định, hợp đồng vềgiao rừng, cho thuê rừng, khoán rừng cho tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ giađình, cá nhân trên địa bàn…
1.2.2 Chủ thể sử dụng đất lâm nghiệp
Tổ chức quản lý rừng phòng hộ [14]
Khu rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung có diện tích từ 5.000 ha trở lên hoặc
có diện tích dưới 5.000 ha nhưng có tầm quan trọng về chức năng phòng hộ: chắngió, chắn cát bay; khu rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển, liền vùng, tập trung, đượcthành lập Ban quản lý
Trang 24Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định về tổ chức bộ máy, biên chế Ban quản lýkhu rừng phòng hộ thuộc tỉnh, thành phố; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quyết định
về tổ chức bộ máy đối với các khu rừng phòng hộ do mình quản lý
Ban quản lý khu rừng phòng hộ hoạt động theo cơ chế tài chính của đơn vị sựnghiệp Biên chế ban đầu của Ban quản lý khu rừng phòng hộ ít nhất có từ 7 đến 9người Trong quá trình hoạt động tuỳ theo yêu cầu về công tác quản lý và căn cứvào quy định của Nhà nước, Ban quản lý khu rừng phòng hộ được tự quyết định vềbiên chế theo thẩm quyền hoặc xây dựng kế hoạch biên chế hàng năm trình cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền quyết định [14].
Ban quản lý khu rừng phòng hộ được khoán các công việc về bảo vệ rừng, gâytrồng rừng, chăm sóc và làm giàu rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cưthôn, lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệptại chỗ để thực hiện việc bảo vệ và phát triển rừng
Tổ chức quản lý rừng đặc dụng
Khu rừng đặc dụng là vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên tập trung, làkhu bảo vệ cảnh quan gắn với di tích lịch sử đã được xếp hạng được thành lập Banquản lý khu rừng đặc dụng Những khu rừng đặc dụng là rừng nghiên cứu, thựcnghiệm khoa học được Nhà nước giao cho tổ chức nghiên cứu khoa học và pháttriển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp, thì những tổ chức đó có tráchnhiệm quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển diện tích rừng được giao theo quy chếquản lý rừng; đồng thời, những khu rừng đặc dụng có diện tích nhỏ, phân tánUBND cấp tỉnh cho các tổ chức kinh tế thuê rừng để quản lý, bảo vệ, kết hợp kinhdoanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường [15]
Tổ chức bộ máy quản lý và biên chế của Ban quản lý khu rừng đặc dụng thựchiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
Ban quản lý khu rừng đặc dụng được khoán các công việc về bảo vệ rừng, gâytrồng rừng, chăm sóc và làm giàu rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cưthôn, lực lượng vũ trang tại chỗ để thực hiện việc bảo vệ và phát triển rừng Đối vớiphân khu bảo vệ nghiêm ngặt chưa có điều kiện chuyển dân ra khỏi phân khu thì chỉ
Trang 25được khoán ngắn hạn công việc bảo vệ rừng, phát triển rừng cho hộ gia đình, cánhân trong khu vực đó.
Tổ chức quản lý rừng sản xuất
Những khu rừng sản xuất là rừng tự nhiên tập trung, có trữ lượng giàu, trungbình nhưng phải đóng cửa, không khai thác, thì thực hiện tổ chức quản lý theo quyđịnh tại quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quyết định Những khu rừngsản xuất tập trung, liền vùng, liền khoảnh thì ưu tiên giao, cho thuê cho các tổ chứcthuộc các thành phần kinh tế để sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đối với khu rừngsản xuất có diện tích nhỏ dưới một ngàn (1.000) ha, phân tán, UBND cấp có thẩmquyền giao, cho thuê cho các tổ chức, cho hộ gia đình, cá nhân hoặc giao cho cộngđồng dân cư thôn để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo quy chế quản lý rừng.Các chủ thể quản lý, sử dụng rừng sản xuất tiến hành các công việc: Bảo vệrừng, phát triển rừng sản xuất gồm: khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên hoặc cótrồng bổ sung; trồng rừng (gồm trồng rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng rừng ); cải tạorừng tự nhiên nghèo kiệt; nuôi dưỡng rừng; làm giầu rừng; đầu tư bảo vệ và pháttriển rừng sản xuất, khai thác lâm sản trong rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trongrừng sản xuất là rừng trồng; quản lý và sử dụng rừng giống [14]
1.2.3 Nội dung quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp
Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quanNhà nước về đất đai Đó là các hoạt động trong việc nắm và quản lý tình hình sửdụng đất đai, phân bổ đất đai vào các mục đích sử dụng đất theo chủ trương của
Nhà nước, kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai Muốn đạt được mục tiêu
quản lý, Nhà nước cần phải xây dựng hệ thống cơ quan quản lý đất đai có chứcnăng, nhiệm vụ rõ ràng để thực thi có hiệu quả trách nhiệm được Nhà nước phâncông, đồng thời ban hành các chính sách, chế độ, thể chế phù hợp với từng giaiđoạn phát triển của đất nước đáp ứng được nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.Điều này thể hiện chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là quản lý mọi mặt đờisống kinh tế, xã hội trong đó có quản lý đất đai Mục đích cuối cùng của Nhà nước
và người sử dụng đất là làm sao khai thác tốt nhất tiềm năng của đất đai để phục vụ
Trang 26cho các mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước Theo Luật đất đai năm 2003, nộidung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm:
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổchức thực hiện các văn bản đó;
Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản
đồ hành chính;
Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiệntrạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất;
Thống kê, kiểm kê đất đai;
Quản lý tài chính về đất đai;
Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản;Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử
lý vi phạm pháp luật về đất đai;
Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trongviệc quản lý và sử dụng đất đai;
Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
Trong giới hạn của đề tài là tập trung nghiên cứu về đất lâm nghiệp nên nộidung phần này tác giả tập trung phân tích những nội dung quản lý Nhà nước về đấtlâm nghiệp như sau:
1.2.3.1 Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp
Văn bản quy phạm pháp luât là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnban hành theo trình tự, thủ tục luật định, quy định các quy tắc xử sự chung được ápdụng nhiều lần đối với một đối tượng hoặc nhiều đối tường và có hiệu lực trongtoàn quốc gia hoặc từng địa phương
Trang 27Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai nóichung và đất lâm nghiệp nói riêng, tổ chức thực hiện các văn bản đó được xác định
là cơ sở để thực hiện các nội dung khác Khi ban hành các văn bản quy phạm phápluật về đất lâm nghiệp, các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước phải căn cứ theothẩm quyền của mình và tuân thủ các quy định của Luật Ban hành văn bản quyphạm pháp luật Quá trình tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đấtlâm nghiệp, các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước cũng căn cư vào thẩm quyềncủa minh mà tổ chức hướng dãn cơ quan quản lý cấp dưới và các chủ thể khác thamgia quan hệ pháp luật đất đai hiểu và thực hiện các văn bản đó đạt hiệu quả
Trong những năm gần đây nhằm thể chế hóa các đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật về đất lâm nghiệp đã được banhành như:
- Quyết định số 184/QĐ/HĐBT ngày 06/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng vềđẩy mạnh giao đất, giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo phươngthức Nông – Lâm kết hợp;
- Quyết định số 1171LN/QĐ ngày 30/12/1986 về quy chế quản lý 03 loạirừng, tiến hành phân cấp quản lý rừng;
- Thông tư liên bộ số 01/TT-LB ngày 06/02/1991 của Bộ Lâm nghiệp và Tổngcục quản lý ruộng đất nhằm hướng dẫn việc giao rừng và đất để trồng rừng cho các
tổ chức, cá nhân sử dụng vào mục đích lâm nghiệp;
- Quyết định số 327-CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng vềmột số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển
và mặt nước
- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, năm 2004;
- Luật Đất đai các năm 1993, năm 2001, năm 2003;
- Quyết định 261/CT ngày 21/7/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việckhuyến khích đầu tư và phát triển rừng
- Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc giao đất lâm nghiệpcho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp
Trang 28- Nghị định 01/CP ngày 4/1/1995 của Chính phủ về việc giao khoán đất sửdụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản.
- Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ về việc giao đất lâm nghiệpcho các tổ chức cá nhân, hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Quyết định số 202/TTG ngày 02/05/1994 của Thủ tướng Chính phủ về quyđịnh khoán, khoanh nuôi, tái sinh rừng và trồng rừng
- Chương trình 327/CP/1992 của Chính Phủ về việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc
- Chương trình 661/CP về việc trồng mới 5 triệu ha rừng từ năm 1998 đến năm2010
- Nghị định 163/1999/NĐ - CP ngày 16 /11/1999 của Chính phủ về giao đấtcho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng lâu ổnđịnh lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Công văn số 1427/ CV/ĐC ngày 13/10/1996 của Tổng cục địa chính hướngdẫn về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Quyết định số 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ
về đổi mới tổ chức, cơ chế quản lý Lâm trường quốc doanh;
- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhậnkhoán rừng và đất lâm nghiệp;
- Nghị định số 200/2004/NĐ-Cp ngày 03/12/2004 về việc sắp xếp, đổi mới vàphát triển Lâm trường quốc doanh; Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách tăng cườngcông tác bảo vệ rừng;
- Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồirừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn;
- Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNN-BTNMT ngày 29/01/2011hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đấtlâm nghiệp
Trang 29Tóm lại, việc Nhà nước ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạmpháp luật về đất lâm nghiệp đã tạo hành lang pháp lý để các cơ quan quản lý Nhànước và người sử dụng đất quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp hiệu quả.
1.2.3.2 Thống kê, kiểm kê đất lâm nghiệp
Thống kê, kiểm kê đất đai là việc làm thường kỳ của cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền nhằm nắm chắc về số lượng đất đai, diễn biến đất đai trong quá trìnhquản lý và sử dụng Hoạt động thống kế, kiểm kê đất đai nhằm đánh giá hiện trạng
sử dụng đất, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xây dựng tàiliệu điều tra cơ bản về tài nguyên đất phục vụ cho việc xác định nhu cầu sử dụngđất đáp ứng cho việc thực hiện chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xãhội, quốc phòng an ninh của cả nước, của các ngành, các địa phương
Việc thu thập số liệu trong thống kế đất đai được thực hiện trực tiếp từ hồ sơ địachính trên địa bàn đơn vị hành chính cấp xã Việc thu thập số liệu trong thống kế đất đaitrên địa bàn đơn vị hành chính cấp huyện, cấp tỉnh và cả nước được tổng hợp từ số liệutrong thống kế đất đai của các đơn vị hành chính trực thuộc Việc thu thập số liệu trongkiểm kê đất đai được thực hiện trực tiếp từ thực địa đối chiếu với hồ sơ địa chính trên địabàn đơn vị hành chính cấp xã Đơn vị thống kế, kiểm kê đât đai là xã phường, thị trấn.Việc thống kê đất đai được thực hiện 01 năm một lần, việc kiểm kê đất đai được thựchiện 05 năm một lần, không thực hiện việc thống kế đất đai trong năm thực hiện kiểm
kê Trách nhiệm thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai thuộc về UBND các cấp vàphải báo cáo lên UBND cấp trên trực tiếp, UBND cấp tỉnh báo cáo kết quả thống kê,kiểm kê đất đai lên Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáolên Chính phủ và Chính phủ bao cáo trước Quốc hội
Nội dung thống kê, kiểm kê đất đai là thu thập số liệu về diện tích đất theomục đích sử dụng, đối tượng sử dụng; số liệu về đối tượng sử dụng đất, số liệu vềchuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn từng đơn vị hành chính Xử lý các số liệuthu thập được để có kết luận về cơ cấu sử dụng đất theo mục đích sử dụng, theo đốitượng sử dụng; biến động diện tích của mục đích sử dụng và biến động của đốitượng sử dụng
Trang 30Đất lâm nghiệp với vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sản xuấtnông lâm nghiệp và còn đối với môi trường, môi sinh và an ninh quốc phòng nênnội dung quản lý Nhà nước về thống kê, kiểm kê đối với lại đất này được quy địnhkhá cụ thể Tại Điều 39 Nghị điịnh số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 về thi hànhLuật bảo vệ và phát triển rừng đã quy định về Thống kê rừng, kiểm kê rừng:
1 Thống kê rừng là việc ghi chép, tổng hợp diện tích, trạng thái các loại rừngtrên sổ sách và được thực hiện hàng năm Kiểm kê rừng là việc kiểm tra, đối chiếugiữa số liệu ghi chép trên sổ sách thống kê, trên bản đồ với diện tích rừng đượcgiao, được thuê trên thực địa và được thực hiện năm (5) năm một lần và vào cácnăm có số hàng đơn vị là số không (0) hoặc số năm (5)
2 Trách nhiệm của chủ rừng và UBND cấp xã về thống kê, kiểm kê rừng:
a) Chủ rừng có trách nhiệm ghi chép, thống kê, kiểm kê rừng theo hướng dẫncủa Bộ Nông nghiệpvà Phát triển nông thôn; báo cáo kết quả thống kê, kiểm kêrừng cho UBND cấp xã nơi có rừng
b) UBND cấp xã có trách nhiệm thống kê rừng và tình hình quản lý rừng trong phạm
vi địa phương kể cả những diện tích rừng, đất để trồng rừng chưa giao, chưa cho thuê
1.2.3.3 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch đất đai là sự tính toán, phân bổ đất đai cụ thể về số lượng, chấtlượng, vị trí, không gian cho các mục tiêu kinh tế - xã hội Quy hoạch đất đai đảmbảo cho việc sử dụng đất hiệu quả cao nhất phù hợp với các điều kiện về đất đai, khíhậu, thổ nhượng và từng ngành sản xuất Quy hoạch đất đai bao giờ cũng gắn liềnvới kế hoạch sử dụng đất Kế hoạch sử dụng đất là việc xác định các biện pháp, cácthời gian để sử dụng đất theo quy hoạch
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng trong việc quản
lý và sử dụng đất, đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong quản lýNhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sử dụngcác loại đất được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý Nhà nước kiểm soát được mọi diễnbiến về tình hình đất đai; từ đó, ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng
Trang 31phí Đồng thời, thông qua quy hoạch, KHSDĐ buộc các đối tượng sử dụng đất chỉđược phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình
Đối với đất lâm nghiệp và đất có khả năng lâm nghiệp chiếm một tỷ trọng lớncủa diện tích đất tự nhiên trong toàn quốc Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp phảixúc tiến trước khi giao đất cho các hộ, nhóm hộ cộng động hoặc các doanh nghiệpquản lý Xuất phát từ đặc thù của ngành lâm nghiệp và đất lâm nghiệp là địa hìnhphức tạp, che khuất nhiều, vùng sâu, vùng xa nên quy hoạch để giao đất phải chitiết Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cung cấp cơ sở cho việc lập kế hoạch pháttriển kinh tế, xã hội và sự đầu tư sau đó vào các hoạt động lâm nghiệp Quy hạch sửdụng đất lâm nghiệp khuyến khích sự phát triển bền vững và tránh những tác độngtiêu cực đến môi trường Thông qua quy hoạch đất lâm nghiệp đất được phân bốhợp lý theo cơ cấu sử dụng, phân loại rừng và tiềm năng sử dụng Các loại đất lâmnghiệp khác nhau được quản lý theo nhóm hạng, phân loại và mục đích sử dụngtiềm năng của chúng [45,20]
Việc lập quy hoạch, KHSDĐ nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng phải phùhợp với chiến lược tổng thể phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, các quy hoạchđược lập từ tổng thể đến chi tiết có sự thống nhất cao giữa quy hoạch cấp trên vàcấp dưới, thể hiện được đầy đủ nhu cầu sử dụng đất của từng chủ sử dụng đất Cácquy hoạch sử dụng đất phải hướng quá trình sử dụng đất theo tiếu chí tiết kiệm, hiệuquả, đảm bảo khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý, bảo vệ các di tíchlịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và cảnh quan môi trường phù hợp với quanđiểm phát triển bền vững trong bảo vệ môi trường
Điều 13 Luật bảo vệ phát triển rừng năm 2004 đã quy định: Quy hoạch, kếhoạch bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; chiến lược phát triển lâmnghiệp, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước và từng địa phương Quyhoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của các cấp phải bảo đảm tính thống nhất,đồng bộ… Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm khai thác, sửdụng tiết kiệm, bền vững, có hiệu quả tài nguyên rừng; bảo vệ hệ sinh thái rừng, bảo
vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; đồng thời bảo đảm xây dựng cơ sở
Trang 32hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi, chất lượngcủa quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng….Kế hoạch bảo vệ và phát triểnrừng phải phù hợp với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cơ quan Nhànước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định.
Bảo đảm cho quy hoạch kế hoạch hóa đất đai được thống nhất trong cả nước,thẩm quyền lập, xét duyệt, điều chỉnh, thực hiện, công bố và giám sát quy hoạch, kếhoạch đất đai cũng được quy định khá cụ thể Tại Thông tư số 62/2000/TTLB/BNN-TCĐC ngày 06/6/2000 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Tổng cục Địachính đã quy định về trách nhiệm lập quy hoạch đất lâm nghiệp như sau:
UBND tỉnh lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ba loại rừng (rừng đặcdụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất) trên địa bàn tỉnh theo đúng quy định pháp luậtĐất đai, pháp luật bảo vệ phát triển rừng; phê duyệt quy hoạch đất lâm nghiệp củaUBND huyện trên địa bàn;
UBND huyện lập quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn theo quy định củaNhà nước, phê duyệt quy hoạch đất lâm nghiệp của UBND xã trên địa bàn;
UBND xã lập quy hoạch đất, kế hoạch giao đất lâm nghiệp trên địa bàn trình cấp
có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện theo quy định của Nhà nước
Đến khi có Luật bảo vệ phát triển rừng năm 2004, nội dung quản lý về quyhoạch, kế hoạch bảo vẹ phát triển rừng tiếp tục được quy định cụ thể từ Điều 13 đếnĐiều 21
1.2.3.4 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất lâm nghiệp
* Giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp
Giao đất, cho thuê đất là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đểchuyển giao trên thực tế đất và quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình cánhân và cộng đồng dân cư sử dụng
Như trên đã đề cập ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thốngnhất quản lý và đại diện chủ sở hữu Nhà nước giao đất cho các tổ chức cá nhân sửdụng dưới các hình thức như giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu
Trang 33tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền hàng năm hay cho thuê đất trả tiền thuê đấtcho cả thời kỳ
Riêng đối với đất lâm nghiệp, quá trình giao đất, giao rừng Lâm nghiệp ở Việt
Nam được thực hiện từ năm 1968 Giai đoạn này vẫn duy trì cơ chế quản lý nền kinh
tế tập trung bao cấp nhưng đã bắt đầu hình thành khung pháp lý về giao đất Lâmnghiệp Trong ngành Lâm nghiệp lúc này mới chỉ có hai thành phần kinh tế là Lâmtrường quốc doanh và hợp tác xã có hoạt động nghề rừng, gỗ và lâm sản ngoài gỗ làvật tư do Nhà nước thống nhất quản lý Về khung pháp lý trong giai đoạn này đã cóNghị định 38/CP ngày 12/3/1968 của Chính phủ về công tác vận động định canh,định cư kết hợp với Hợp tác xã đối với đồng bào còn du canh, du cư; Thông báo số18/TB-UB ngày 23/10/1968 của Hội nghị ban bí thư bàn về Lâm nghiệp; Quyết định
số 179/HĐ-BT ngày 12/11/1968 của Hội đồng Bộ trưởng về một số Chính sách đốivới Hợp tác xã có kinh doanh nghề rừng…
Bước sang thời kỳ đổi mới năm 1986, Nhà nước đã khuyến khích nhiều ngườinhận đất đồi núi trọc bỏ vốn gây trồng rừng Việc tổ chức thực hiện chủ trương giaođất lâm nghiêp trong thời kỳ này của ngành lâm nghiệp dựa trên cơ sở quy hoạch sửdụng đất đai Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Quyết định số 1171LN/QĐ ngày30/12/1986 về quy chế quản lý ba loại rừng: Rừng phòng hộ, Rừng sản xuất, Rừngđặc dụng Đồng thời, để hướng dẫn việc giao đất giao rừng, ngày 6/2/1991 Bộ Lâmnghiệp và tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành thông tư liên bộ số 01/TT/LBhướng dẫn việc giao rừng và đất để trồng rừng cho các tổ chức, cá nhân sử dụngvào mục đích Lâm nghiệp
Đến khi có Luật Đất đai năm 1993, nhằm quản lý Nhà nước về giao đất lâmnghiệp Chính phủ đã Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994, sau đó là Nghị định163/1999/NĐ – CP về giao đất Lâm nghiệp Năm 2004, khi có Luật Bảo vệ và Pháttriển rừng, nội dung Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng đã được quyđịnh cụ thể từ Điều 22 đến Điều 28, theo đó:
Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng trong những trường hợp:
Trang 34- Nhà nước giao rừng đặc dụng đối với các Ban quản lý rừng đặc dụng, tổchức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp
để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng theo quy hoạch, kế hoạch đã đượcphê duyệt, quyết định
- Nhà nước giao rừng phòng hộ đối với các Ban quản lý rừng phòng hộ, tổchức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó
để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ theo quy hoạch, kế hoạch được phêduyệt, quyết định phù hợp với việc giao đất rừng phòng hộ theo quy định của Luậtđất đai
- Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồngđối với hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó trực tiếp lao động lâm nghiệp phùhợp với việc giao đất để phát triển rừng sản xuất theo quy định của Luật đất đai; tổchức kinh tế sản xuất giống cây rừng; đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng rừng sảnxuất kết hợp với quốc phòng, an ninh; Ban quản lý rừng phòng hộ trong trường hợp
có rừng sản xuất xen kẽ trong rừng phòng hộ đã giao cho Ban quản lý;
Nhà nước giao rừng thu tiền sử dụng rừng trong những trường hợp:
- Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồngđối với các tổ chức kinh tế;
- Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng trồng đối với người Việt Nam định cư ởnước ngoài đầu tư vào Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp theo quyđịnh của pháp luật về đầu tư;
Nhà nước cho thuê rừng trong những trường hợp
- Nhà nước cho tổ chức kinh tế thuê rừng phòng hộ để bảo vệ và phát triển rừng kết hợp sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường
- Nhà nước cho tổ chức kinh tế thuê rừng đặc dụng là khu bảo vệ cảnh quan đểbảo vệ và phát triển rừng, kết hợp kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường
Trang 35- Nhà nước cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong nước thuê rừng sản xuất để sản xuất lâm nghiệp, kết hợp sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường…
* Thu hồi đất lâm nghiệp
Đồng thời với việc giao đất, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hànhnhững biện pháp thu hồi đất Thu hồi đất là biện pháp pháp lý quan trọng bảo vệquyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sỡ hữu
Trong quan hệ pháp luật đất đai, thu hồi đất sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý chấmdứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hoặc quyền quản lý đất đai của chủthể được Nhà nước giao đất để quản lý Hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất liênquan đến quyền lợi của Nhà nước, các chủ đầu tư và người bị thu hồi đất Với ýnghĩa là một nội dung của quản lý Nhà nước về đất đai, vai trò và sự can thiệp củaNhà nước đối với thu hồi đất phải dựa trên cơ sở các chính sách nhất định
Tại Khoản 1 Điều 25 Luật bảo vệ phát triển rừng năm 2004 đã quy định cụ thểnhững trường hợp Nhà nước thu hồi rừng:
- Nhà nước sử dụng rừng và đất để phát triển rừng vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia;
- Nhà nước có nhu cầu sử dụng rừng và đất để phát triển rừng cho lợi ích côngcộng, phát triển kinh tế theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt;
- Tổ chức được Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng hoặc đượcgiao rừng có thu tiền sử dụng rừng có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước hoặc chothuê rừng trả tiền hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặckhông còn nhu cầu sử dụng rừng;
Trang 36- Sau hai mươi bốn tháng liền kể từ ngày được giao, được thuê đất để pháttriển rừng mà chủ rừng không tiến hành các hoạt động phát triển rừng theo kếhoạch, phương án đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
- Chủ rừng sử dụng rừng không đúng mục đích, cố ý không thực hiện nghĩa vụđối với Nhà nước hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về bảo vệ vàphát triển rừng;
- Rừng được giao, cho thuê không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng;
- Chủ rừng là cá nhân khi chết không có người thừa kế theo quy định của pháp luật.Đồng thời với việc thu hồi đất là công tác bồi thường cho người có đất bị thuhồi, Việc bòi thường nhằm đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt thòi đốivới người có đất bị thu hồi
Tóm tại, nội dung quản lý Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất nhằmđảm bảo cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng được sửdụng hợp pháp, đúng mục đích mà Nhà nước đã quy định đạt hiệu quả cao, thúc đấynền kinh tế phát triển; xác định mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và người sửdụng đất làm cơ sở để giải quyết mọi quan hệ đất đai và người sử dụng đất an tâmthực hiện các quyền của mình trên diện tích đất đó; đồng thời đảm bảo được nguồnthu cho Nhà nước từ việc thu tiền sử dụng đất
1.2.3.5 Đăng ký lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
Đăng ký lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất (GCNQSDĐ) đều là những công cụ để quản lý chặt chẽ hơn về đất đai thôngqua việc xây dựng và thiết lập một hệ hống thông tin đầy đủ về đất đai; đồng thờibảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất
Trước hết đăng ký quyền sử dụng đất là cơ sở để hình thành nên hồ sơ địachính Từ đây những thông tin về đất đai được hình thành và là căn cứ để Nhà nướcquản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất đai trong phạm vi lãnh thổ đảm bảo quỹ đất đaiđược sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm, hợp lý; đồng thời đây là căn cứ để đảm bảo chế
độ sở hữu toàn dân về đất đai
Trang 37Đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu được thực hiện khi chưa được cấpGCNQSDĐ và đăng ký biến động khi người sử dụng đất đã được cấp GCNQSDĐnhưng cần cập nhật các thông tin mới
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một chứng thư pháp lý để xác nhận mốiquan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất GCNQSDĐ không chỉ đơnthuần là giấy tờ xác nhận quyền sử dụng đất mà nó cfon chứa đựng một giá trị tàisản to lớn khi người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thếchấp… Đồng thời, GCNQSDĐ sẽ hạn chế được những trường hợp vi phạm phápluật đất đai, tranh chấp đất đai … góp phần ổn định về đất đai
Với xu hướng hiện nay khi quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôidiễn ra mạnh mẽ (những đất sản xuất không hiệu quả đang được chuyển sang nuôitrồng thuỷ sản hay tổ chức một hình thức sản xuất kết hợp nào đó) thì việc đẩynhanh tốc độ cấp GCNQSDĐ cũng là sự cần thiết và là biện pháp thúc đẩy đầu tưthâm canh, tập trung ruộng đất, thay đổi cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất nônglâm nghiệp hàng hoá
1.2.3.6 Thanh tra, kiểm tra và giải quyết tranh chấp liên quan đến đất lâm nghiệp
Trong quản lý Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước về đất đai nói riêngkhông thể thiếu nội dung thanh tra, kiểm tra Thanh tra, kiểm tra là một chức năngquản lý chủ yếu và là khâu làm hoàn chỉnh quá trình quản lý của Nhà nước Thôngqua thanh tra, kiểm tra phát hiện tra các vi phạm, các bất hợp lý trong quản lý đất đai
để kịp thời xử lý và điều chỉnh Đối với lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, hoạt độngthanh tra, kiểm tra đóng vai trò hết sức quan trọng, là biện pháp cơ bản để thực hiệnchế đọ sở hữu toàn dân và quyền quản lý thống nhất của Nhà nước đối với đất đai.Đất đai luôn phản ánh mối quan hệ xã hội phức tạp vì đất đai liên quan đến lợiích của con người Các vi phạm pháp luật đất đai ngày càng xảy ra nhiều và phứctạp hơn Hoạt động thanh tra, kiểm tra về đất đai nhằm mục đích phòng ngừa, pháthiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai; phát hiện những sơ hở trong cơchế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm
Trang 38quyền các biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệulực, hiệu quả của hoạt động QLNN về đất đai, bảo vệ lợi ích của Nhà nước quyền vàlợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng đất.
Đất đai là một lĩnh vực nhạy cảm, một trong những vấn đề nỗi cộm hiện naycủa công tác quản lý đất đai là giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai với ý nghĩa là một nội dung củacông tác QLNN về đất đai là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằmgiải quyết các bất đồng mâu thuẩn trong nội bộ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhântham gia quan hệ đất đai để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằmphục hồi lại các quyền lợi bị xâm phạm, đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đốivới hành vi vi phạm pháp luật đất đai
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp
1.3.1 Yếu tố pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy phạm (quy tắc hành vi, quy tắc xử sự có tínhchất bắt buộc chung, được thực hiện lâu dài nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, doNhà nước ban hành và thừa nhận) thể hiện ý chí Nhà nước và được Nhà nước đảmbảo thực hiện bới các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bằng bộmáy Nhà nước
Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước Pháp luật được Nhànước xây dựng để tác động vào ý chí của con người điều chỉnh hành vi con ngườinhằm đạt được mục đích quản lý Nhà nước không thể tổ chức thực hiện đường lốicủa Đảng và quản lý xã hội một cách có hiệu quả nếu không thực hiên quản lý bằngpháp luật, các quyền tự do dân chủ của công dân không thể thưc hiện nếu không cópháp luật ghi nhận và bảo vệ Đảng ta xác định Nhà nước quản lý xã hội bằng phápluật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền củadân, do dân và vì dân Do vậy, pháp luật có tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý.Một hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ ràng, cụ thể làm cho công tác quản lý của Nhànước thuận lợi và đạt hiệu quả
Trang 39Trong công tác QLNN về đất đai, pháp luật là công cụ duy trì trật tự an toàn xã hộitrong lĩnh vực này Với chức năng điều chỉnh trong quan hệ pháp luật đất đai, qua việcquy định quyền và nghĩa vụ của chủ thể quản lý và đối tượng sử dụng đất pháp luật đãgóp phần trật tự hóa các mối quan hệ trong lĩnh vực này Trong khuôn khổ pháp luật,người sử dụng đất và chủ thể quản lý chỉ được thực hiện những hành vi đã được luậtđịnh Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đốivới Nhà nước và các nghĩa vụ khác; đồng thời nhằm bảo đảm sự bình đẳng, công bằngcũng như giải quyết mối quan hệ về lợi ích trong lĩnh vực đất đai giữa những người sửdụng đất Với chức năng bảo vệ, pháp luật là công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người sử dụng đất khi bị chủ thể khác xâm phạm Với chức năng giáo dục,thông qua tác động của pháp luật, chủ thể quản lý đất và người sử dụng đất hoạt độngtrong khuôn khổ pháp luật
Do tầm quan trọng của pháp luật trong QLNN về đất đai, hệ thống văn bản phápluật đất đai nói chung từng bước được hoàn thiện theo quan điểm đổi mới của Đảng
đã phát huy tác dụng tháo gỡ dần các vướng mắc, giải quyết được hàng loạt vấn đềcấp bách về đất đai trong cả nước, đưa công tác quản lý đất đai ngày càng vào nềnếp tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho việc chuyển quan hệ đất đai sang kinh tế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bướckinh tế hoá, dân sự hoá các quan hệ đất đai, thúc đẩy kinh tế phát triển, đặc biệt làsản xuất nông lâm nghiệp, góp phần giữ vững an ninh trật tự xã hội
Đối với lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan (đã trìnhbày tại phần 2.1 mục 1) Thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản pháp luật trên đã đivào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý thuận lợi và huy động các nguồn lực vào việcbảo vệ, phát triển rừng, góp phần quan trọng ổn định tình hình kinh tế - xã hội, xóađói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân
Mặc dù vậy, văn bản pháp luật về đất đai nói chung và đất lâm nghiệp nóiriêng tuy được ban hành nhiều nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, thiếu đồng bộ.Dưới những khía cạnh nhất định, pháp luật về đất đai chưa đủ sức để giải quyết
Trang 40những tồn tại lịch sử cũng như những tồn đọng mới nảy sinh Tình trạng vi phạmpháp luật (lấn chiếm đất lâm nghiệp, sử dụng đất không đúng mục đích), khiếu kiện
về đất đai vẫn đang là vấn đề bức xúc Từ các vấn đề trên hệ thống chính sách phápluật về đất đai cần đuợc hoàn thiện bổ sung để khắc phục và hạn chế các thiếu sóttrên nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước vềđất đai nói riêng
1.3.2 Yếu tố xã hội
Nhân tố xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức điều hành quản lý
xã hội và tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước về mọi lĩnh vực nói chungcũng như về lĩnh vực đất đai nói riêng Một chính sách quản lý đất đai đúng đắnphải đề cập đến các yếu tố xã hội, qua đó có tác động ổn định xã hội và tăng cườngvai trò quản lý của Nhà nước Sự ổn định về mặt xã hội là yếu tố để nâng cao hiệuquả quản lý đất đai
Các yếu tố xã hội như việc làm, xóa đói giảm nghèo, văn hoá, y tế, dân tộc, giáodục… đều ảnh hưởng đến công tác quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng.Đối với việc làm, giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần đảm bảo trật tự an ninhtrong xã hội Yếu tố này làm cho công tác quản lý đất đai được nhẹ nhàng hơn vàhiệu lực quản lý từng bước được nâng cao Bởi vì các tệ nạn xã hội đã bị giảm bớt,công bằng xã hội được thiết lập, các cơ quan quản lý thực hiện trách nhiệm quản lý
dễ dàng hơn Đối với công tác xóa đói giảm nghèo: cùng với sự phát triển của nềnkinh tế đời sống của một bộ phận dân cư được cải thiện nhưng ở một số địa phươngngười dân vẫn chưa thoát khỏi tình trạng đói nghèo Để phục vụ cho việc xoá đóigiảm nghèo, ở nhiều địa phương đất lâm nghiệp đã phải chuyển qua đất canh tác đểđảm bảo đời sống cho ngươi dân Điều này đã gây không ít khó khăn cho công tácQLNN về đất lâm nghiệp [44]
Vấn đề giáo dục có tác động rất lớn trong công tác QLNN về đất đai Tậptrung đầu tư cho giáo dục để nâng cao nhận thức về pháp luật cho mọi người là việclàm quan trọng, để cho mọi người thấy rõ được chủ trương, đường lối chính sáchcủa Đảng trong công tác quản lý Trong giáo dục việc đào tạo con người cần phải