1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp

39 519 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp

Trang 1

Bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp

Danh sách nhóm 5

Trang 2

Ý kiến nhóm

Bất cậpCông tác giao đất lâm nghiệp Quyền và lợi ích Quyền của chủ rừng

Hiện trạng

Đặt vấn đề

Một số khái niệmChủ rừng Quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng … Lâm trường quốc doanh

Câu hỏi & Trả lời

Các vấn đề chính

Trang 3

Câu hỏi & Trả lời

Trang 4

Năm 1992:

Bà B ở thôn 1, xã X

chuyển vào Nam sinh

sống với con trai nên

chuyển nhượng cho ông A

cùng thôn quyền sử dụng

một khu rừng tái sinh.

Việc chuyển nhượng đất

Ông T cho rằng vạt rừng này thuộc quyền sử dụng của

ông.

Trên thực tế, vạt rừng mà ông A và ông T đang tranh chấp là một phần thuộc khu rừng mà ông A đã nhận chuyển nhượng từ bà B nhưng xâm canh sang địa

phận xã Y.

UBND xã X và UBND xã Y đều đã nhận đơn đề nghị giải quyết của ông An và ông Toàn nhưng đều cho rằng không thuộc thẩm quyền giải

Trang 5

Ý kiến nhóm Bất cập

Hiện trạng

Đặt vấn đề

Một số khái niệm

Câu

hỏi &

Trả lời

 Điều 84 Luật Bảo vệ và Phát

triển rừng năm 2004 quy định,

rừng được áp dụng theo quy

định của pháp luật về đất đai.

Trong trường hợp này, tranh

chấp giữa ông A và ông T là tranh chấp về quyền sử dụng đất rừng, mà cụ thể là quyền sử dụng diện tích vạt rừng xâm canh sang địa phận xã Y, chứ không phải tranh chấp về tài nguyên rừng.

Do đó, căn cứ quy định nói trên

thì việc tranh chấp này sẽ được

giải quyết theo quy định của Luật Đất đai năm 2003.

Trang 6

Ý kiến nhóm Bất cập

Hiện trạng

Đặt vấn đề

Một số khái niệm

Câu

hỏi &

Trả lời

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Trong trường hợp này, khu rừng đang bị tranh chấp không hoàn toàn thuộc địa giới của thôn X mà

xâm canh sang xã bên cạnh, nên theo Điều 137 Luật Đất đai năm 2003 quy định, tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới giữa các đơn vị hành chính do UBND của các đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết; trường hợp không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm quyền giải quyết được quy định như sau:

- Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính của đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì do Quốc hội quyết định;

- Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn thì do Chính phủ quyết định.

Trách nhiệm của UBND cấp xã trong việc giải quyết tranh chấp: Theo quy định tại Điều 135 Luật Đất đai năm 2003, thì Nhà nước

khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải cơ sở Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp Trong trường hợp này, ông A và ông T đã không tự thoả thuận giải quyết tranh chấp của mình được nên đã có Đơn đề nghị UBND xã can thiệp giải quyết Vì diện tích đất rừng tranh chấp thuộc địa bàn xã Y, nên UBND xã Y có trách nhiệm tiếp nhận đơn và thụ lý giải quyết bằng việc tổ chức hoà giải Khi tiến hành hoà giải, UBND xã, phường, thị trấn cần thực hiện đúng khoản 2 Điều 135 Luật Đất đai năm 2003 quy định, thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày UBND xã, phường, thị trấn nhận được đơn Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì UBND xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trang 7

Tôi đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trồng

lúa được Nhà nước giao cho người khác.

Sau đó, gia đình tôi lại được Nhà nước giao thêm

4.900m2 đất rừng để sản xuất.

Hỏi: Nay muốn chuyển đến nơi khác sinh sống, tôi

có được tiếp tục chuyển nhượng 4.900m2 đất rừng

đó cho người khác hay không?

Câu hỏi về

chuyển nhượng

đất lâm nghiệp?

Trang 8

Ý kiến nhóm Bất cập

Hiện trạng

Đặt vấn đề

Một số khái niệm

Câu

hỏi &

Trả lời

Trả lời: Khoản 1 Điều 104 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi

hành Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất lần đầu đối với đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất, đất ở được miễn tiền sử dụng đất mà đã chuyển nhượng và không còn đất sản xuất, không còn đất ở, nếu được Nhà nước giao đất lần thứ hai đối với đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất, đất ở được miễn tiền sử dụng đất thì không được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất trong thời hạn 10 năm kể từ ngày được giao đất lần thứ hai.

 Gia đình ông sẽ được chuyển nhượng 4.900m2 đất rừng để sản xuất cho người khác nếu khi nhận đất

rừng sản xuất gia đình ông có nộp tiền sử dụng đất Trong trường hợp khi được giao đất, gia đình ông không nộp tiền sử dụng đất thì hộ gia đình ông không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời hạn 10 năm kể từ ngày được giao đất lần thứ hai Nếu không nộp tiền sử dụng đất và thời gian nhận đất đã

đủ 10 năm trở lên thì gia đình ông cũng có quyền chuyển nhượng 4.900m2 đó cho người khác.

Trang 9

Một số khái niệm

Trang 10

 Tham khảo Luật Đất đai 2003 và Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004

Lâm trường quốc doanh (LTQD) là một tổ chức kinh tế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập theo quy định

của pháp luật Việt nam, hoạt dộng trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng Lâm trường có năng lực pháp luật dân sự, có cơ cấu

tổ chức chặt chẽ, có tài sản, có con dấu và tài khoản riêng.

 Lâm trường quốc doanh là doanh nghiệp nhà nước do vậy, cũng như các doanh nghiệp nhà nước khác, lâm trường phải hạch toán sản xuất kinh doanh, lấy mục tiêu là sản xuất và tiêu thụ được nhiều sản phẩm lâm sản, đem lại nhiều lợi nhuận cho lâm trường và cho Nhà nước Lâm trường khác với các doanh nghiệp nhà nước khác là được Nhà nước giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp với diện tích lớn để sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp.

Trang 11

Chức năng của lâm trường: Lâm trường quốc doanh là doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong

ngành lâm nghiệp, chức năng của lâm trường là sản xuất kinh doanh và hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường và có sự điều tiết của Nhà nước.

 Lâm trường còn thực hiện một số hoạt động công ích khác như: tham gia các hoạt động về y tế, giáo dục, chăm lo xây dựng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công khác Việc bảo vệ, gây trồng rừng phòng hộ ở vùng rất xung yếu và xung yếu được coi là hoạt động công ích, do lâm trường thực hiện theo nhiệm vụ Nhà nước giao

Nhiệm vụ của lâm trường là quản lý, bảo vệ, nuôi dưỡng rừng, gây trồng rừng, khai thác, chế

biến gỗ và lâm sản khác, cung ứng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến công nghiệp và nhu cầu tiêu dùng khác của nền kinh tế quốc dân Ngoài ra lâm trường còn được phép kinh doanh tổng hợp các ngành nghề khác như: nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ nhằm sử dụng

và phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng về lao động, kỹ thuật, đất đai, tài nguyên rừng được giao.

Trang 12

I Đặt vấn đề

Trang 13

 Vụ xung đột đất đai xảy ra gần đây tại Tiên Lãng, Hải Phòng đã chỉ ra những bất ổn trong gần 10

năm thực thi Luật đất đai.

Những lỗ hổng nghiêm trọng trong quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương

Sự lạm quyền của một bộ phận cán bộ phụ trách lĩnh vực này, gây nên những bức xúc và bất an trong dư luận.

 Với tình hình đất đai như hiện nay, công tác quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp tại nước ta, đặc

biệt là vấn đề trọng tâm về quyền và lợi ích gắn liền với đất cần được quan tâm và xác định rõ ràng Tuy vụ việc tại Tiên Lãng không liên quan đến đất lâm nghiệp, song một số vấn đề được đúc kết từ vụ việc này có thể được coi là những bài học quan trọng giúp chúng ta suy nghĩ làm thế nào để có thể quản lý và sử dụng hiệu quả 12,61 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp hiện có tại Việt Nam.

Trang 14

II Hiện trạng sử dụng và quản lý

tài nguyên rừng và đất rừng

Trang 15

 Diện tích đất rừng chưa sử dụng toàn quốc còn 6,76 triệu ha, trong đó đất trống đồi núi

trọc là 6,16 triệu ha chiếm 18,59% diện tích của cả nước; chủ yếu là đất thoái hóa

 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của từng lâm trường được giao để quản lý, sử dụng rất khác nhau: có lâm trường không có đất hoặc gần như không được giao đất sản xuất, có lâm trường được giao quản lý, sử dụng diện tích đất rất lớn

Trang 16

Quản lý:

 Xử lý đất đai mà các LTQD đã cho thuê, mượn, liên doanh, liên kết còn chậm, chưa kiên quyết mới chỉ xử lý được 700/1.900ha

 Tình trạng đất bị lấn chiếm, tranh chấp, để hoang hóa có xu thế gia tăng: bị lấn chiếm

5.000ha lên 6.000ha, tranh chấp tăng 2.000ha, hoang hóa tăng gần 20.000ha

 Số diện tích đo đạc được chưa nhiều (15/56 đơn vị) và chưa có đơn vị nào cắm mốc thực

địa

 Cả nước đã cấp được 2.963 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các LTQD, Ban quản

lý rừng với tổng diện tích là 2.039.777ha, chiếm 29,92% diện tích đã giao cho các LTQD, Ban quản lý rừng

Trang 17

Quản lý:

Chiếm đất

Đối tượng lấn chiếm đất của lâm trường chủ yếu

là người dân ở địa phương; cán bộ công nhân lâm

trường đã nghỉ hưu và định cư ở địa phương; dân

di cư tự do từ các nơi khác đến

Nguyên nhân đất đai của lâm trường bị lấn chiếm

là do lâm trường để đất hoang hoá hoặc chậm đưa

vào sử dụng, quản lý lỏng lẻo, sử dụng kém hiệu

quả, bên cạnh đó lâm trường lại chưa phối hợp

chặt chẽ với chính quyền địa phương trong việc

quy hoạch sử dụng đất cũng như chậm xử lý, giải

quyết tình trạng lấn chiếm đất đai

Tranh chấp

Đối tượng tranh chấp chủ yếu là các hộ dân cư trú trên địa bàn của

lâm trường

Nguyên nhân xảy ra tranh chấp là do diện tích đất lâm nghiệp bị

giao chồng chéo giữa lâm trường với các hộ dân trên địa bàn Có trường hợp, khi quy hoạch thành lập lâm trường, đã giao đất cho lâm trường trong đó có cả những diện tích đất của các hộ dân đang

sử dụng, không đo đạc, cắm mốc phân định ranh giới rõ ràng, cụ thể khi giao đất cho lâm trường Một số nơi khi xảy ra tranh chấp ít được quan tâm giải quyết hoặc giải quyết không triệt để nên tình trạng tranh chấp kéo dài, có nơi diễn biến phức tạp.

Trang 18

Trang 19

III Bất cập trong quản lý đất lâm nghiệp

Trang 21

Một số khó khăn:

 Công tác quy hoạch, sử dụng đất lâm nghiệp chưa sát với thực tế, chậm điều chỉnh và thường xuyên bị phá vỡ quy hoạch Việc xác định ranh giới các khu rừng phòng hộ, đặc dụng chưa rõ ràng, gây khó khăn và làm chậm tiến độ giao đất lâm nghiệp

 Việc giao đất lâm nghiệp chưa gắn với các chính sách cụ thể về cơ chế hưởng lợi, hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật

 Các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp không thống nhất,

trước tháng 11/1999 do cơ quan Kiểm lâm đảm nhiệm và sau tháng 12/1999 do cơ quan Địa chính đảm nhiệm

Trang 22

=> Việc phát triển sản xuất để cải thiện đời sống là rất khó khăn.

Trang 23

Nhìn chung công tác giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp và

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa gắn kết với công tác giao rừng và các cơ chế hưởng lợi, chính sách hỗ trợ đi kèm.

vì vậy hiệu quả của việc sử dụng rừng và đất rừng còn rất thấp, tài nguyên rừng vẫn bị suy giảm và đời sống của người dân cũng không được cải thiện.

Trang 24

2 Bất cập quyền và lợi ích trên đất lâm nghiệp

Luật đất đai quy định, tại địa phương, UBND huyện là cơ quan quản lý nhà nước

chịu trách nhiệm giám sát việc sử dụng đất của cá nhân và hộ gia đình; UBND tỉnh chịu trách nhiệm đối với các tổ chức

Việc trao quá nhiều quyền quản lý cho cán bộ địa phương trong khi quyền sử

dụng của người sử dụng đất bị hạn chế, đặc biệt là trong bối cảnh thiếu vắng các

cơ chế giám sát việc quản lý nhà nước về đất đai tại cấp địa phương

và đem lại nhiều rủi ro cho người sử dụng đất.

Trang 25

2 Bất cập quyền và lợi ích trên đất lâm nghiệp

Ban quản lý các lâm

trường quốc doanh

Khoán bảo vệ đối với rừng phòng hộ

và rừng đặc dụng

Hộ gia đình

Trang 26

2 Bất cập quyền và lợi ích trên đất lâm nghiệp

Nhà nước cấp kinh phí khoán bảo vệ rừng đối với diện tích rừng phòng hộ

Hình thức hợp đồng này hầu như không trao bất cứ quyền nào cho người dân nhận khoán, trừ việc người dân nhận được số tiền công ít ỏi Ở một số địa phương, số tiền này còn bị cắt xén khi đi qua một số khâu quản lý

Không tạo được cơ chế gắn kết người dân nhận khoán với công tác bảo vệ rừng Người dân sống quanh rừng vẫn không coi rừng là của mình và cho rằng trách nhiệm bảo vệ rừng không phải là của dân.

Trang 27

2 Bất cập quyền và lợi ích trên đất lâm nghiệp

Cho tới nay vẫn còn rất nhiều hộ gia đình chưa nhận được sổ đỏ

Điều này đồng nghĩa với việc quyền lợi hợp pháp của người dân không thể được đảm bảo khi xảy ra tranh chấp, đặc biệt khi tranh chấp xảy ra người dân – thông thường ở thế yếu – và các cá nhân/tổ chức như công

ty tư nhân, thậm chí là chính quyền địa phương – thông thường ở thế mạnh hơn.

Thêm vào đó, điều gì có thể đảm bảo rằng các hộ sẽ tiếp tục được nhận đất của mình khi thời hạn sử dụng đã hết?

Trang 28

 Tranh chấp nếu người

dân không có sổ đỏ

của người dân không

thể được đảm bảo khi

xảy ra tranh chấp

1 Chính quyền địa phương

2 Cá nhân, tổ chức, công ty tư nhân

3 Người dân, hộ gia đình

Trang 29

3 Quyền của chủ rừng

 Nhằm quản lý và sử dụng số diện tích rừng, Nhà nước đã giao rừng cho 7 nhóm chủ rừng.

Nhà nước giao rừng đặc dụng và phòng hộ (chủ yếu là rừng tự nhiên) cho các Ban quản lý với mục đích bảo vệ.

Nhà nước giao rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên cho các lâm trường quốc doanh và các công ty lâm

nghiệp cũng chủ yếu với mục đích bảo vệ Ở một số địa phương, người dân cũng được nhận rừng tự nhiên (với mục đích bảo vệ và không được phép khai thác gỗ), nhưng số diện tích được giao chỉ chiếm phần rất nhỏ.

 Đối với mỗi loại rừng khác nhau, Nhà nước quy định các quyền và phạm vi các quyền khác nhau Các quyền được giao cho chủ rừng (thuộc Nhà nước và bên ngoài Nhà nước) được quy định thông qua 3 hình thức: giao, khoán và cho thuê.

Trang 30

Điều 5 – Luật BV & PT Rừng

Trang 31

Đối với đất rừng sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình

Trang 32

Quản lý sử dụng đất đai trong lâm trường

Trang 33

Tại nhiều nơi, các Ban quản lý và các lâm trường quốc doanh/các công ty lâm nghiệp do thiếu

hụt về nhân lực và do nhu cầu nhận rừng của người dân sống gần rừng nên đã tiến hành khoán một phần diện tích của mình cho các hộ gia đình.

Thông thường, hợp đồng khoán có thời hạn 1 năm với các quyền rất hạn chế: người nhận

khoán (chủ yếu là hộ gia đình) được hưởng tiền công bảo vệ (theo quy định là 100.000 đồng/ha/năm, một số địa bàn khó khăn là 200.000 đồng/ha/năm) Đổi lại, người nhận khoán

có trách nhiệm bảo vệ rừng theo quy định trong hợp đồng Hết thời hạn nhận khoán, hợp đồng

có thể được ký lại nếu người dân không vi phạm cam kết.

Trang 34

III Ý kiến nhóm

Trang 35

Cần cơ chế giám sát chặt chẽ

Trao thêm quyền về đất đai cho người dân thông qua việc mở rộng các quyền sử dụng,

giảm quyền quản lý của Nhà nước, hoặc kéo dài thời gian sử dụng đất, hoặc dỡ bỏ hạn điền cũng có thể được xem là những biện pháp khả thi nhằm gắn kết người dân với đất đai chặt hơn, từ đó giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Cần phải sớm xây dựng các cơ chế giám sát nhằm giảm thiểu sự lạm quyền của một số cán

bộ địa phương, tăng cường sự minh bạch trong hoạt động sản xuất và đầu tư của các công

ty tư nhân và góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Người dân cũng cần được cung cấp thêm thông tin để hiểu được các quyền mà mình có.

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần ban hành chế tài đủ mạnh, đặc biệt là tại cấp địa phương

nhằm đảm bảo các cơ chế chính sách đề ra hoạt động có hiệu quả.

Ngày đăng: 06/12/2015, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w