Trang 13 Trên cơ sở lý luận và thực tiễn chúng tôi đề ra những giả thuyết nghiên cứu cho luận án cụ thể: - Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên ở mức độ thường xuyên qua các dạng hành vi:
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRỌNG LĂNG
HÀNH VI ỦNG HỘ XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN
Ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 9 31 04 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Hảo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan, công trình nghiên cứu “Hành vi ủng hộ xã hội của sinh” là của riêng tác giả Những dữ liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án trung
thực và chưa ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4MỤC LỤC Trang DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ủng hộ xã hội của
Chương 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
4.1 Thực trạng hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên 86
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ủng hộ xã
4.3 Phân tích trường hợp chân dung tâm lý (điển
4.4 Đề xuất các biện pháp thúc đẩy hành vi ủng hộ 136
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 5xã hội của sinh viên
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm n sâu sắc P S TS ê V n ảo đã tận tình hư ng
d n và g i cho tôi những tư ng trong quá trình lựa chọn các vấn đ nghiên cứu của luận án, t o đi u kiện gi p đ , động viên đ tôi vư t qua nhi u khó kh n trong nghiên cứu
Tôi nhận đư c sự gi p đ đ trách nhiệm của các cán bộ hoa Tâm l -giáo
d c và các Ph ng Quản l ào t o - ọc viện hoa học ã hội Trong quá trình làm luận án của mình, không th không nhắc t i sự quan tâm, gi p đ nhiệt tình của S TS V V n ng và P S TS Ngu n Th ai an, luôn ch bảo, gi p đ tôi những l c khó kh n in bà t sự cảm n sâu sắc t i tập th cán bộ, giảng viên của ọc viện hoa học ã hội
Tôi xin cảm n các b n đ ng nghiệp, các em sinh viên, an iám hiệu trư ng i học Trà Vinh đã t o mọi đi u kiện đ tôi hoàn thành luận án của mình
c biệt cảm n những ngư i thân trong gia đình đã động viên, quan tâm, dành
th i gian đ tôi hoàn thiện luận án nà
Trong th i gian làm luận án, do kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhi u nên luận án của tôi c n mắc nhi u l i và c n đư c góp , ch nh s a đ bản luận án ngà hoàn thiện h n nh mong qu th , cô giáo và qu b n đ ng nghiệp, những ai quan tâm đến đ tài nghiên cứu nà đóng kiến, đ tôi có th ch nh s a, hoàn thiện luận án nà đư c tốt h n
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.3 Mức độ thể hiện hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên 86
Bảng 4.5 Mức độ tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên 91 Bảng 4.6: Mức độ tham gia tình nguyện của sinh viên 93 Bảng 4.7: Hành vi ủng hộ xã hội theo giới tính sinh viên 97 Bảng 4.8: Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên theo dân tộc 98 Bảng 4.9: Mức độ thể hiện các hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên giữa
năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba và năm thứ tư
100
Bảng 4.10: Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên theo khối ngành học 101 Bảng 4.11: Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên theo mức sống 103 Bảng 4.12: Mức độ thể hiện hành vi ủng hộ xã hội theo niềm tin tôn
giáo
105 Bảng 4.13: Mức độ tương quan Pearson giữa các hành vi ủng hộ xã hội 107 Bảng 4.14: So sánh mức độ lòng tin xã hội giữa nam và nữ sinh viên 109 Bảng 4.15: Sinh viên đánh giá người khác theo quan điểm của mình 110 Bảng 4.16: Thứ tự ưu tiên của các giá trị đối với sinh viên 111 Bảng 4.17: So sánh giữa nam và nữ về thứ tự ưu tiên các giá trị 113 Bảng 4.18 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng hành vi ủng hộ xã hội của
sinh viên
115 Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 8Tên biểu bảng Trang
Bảng 4.19: Ảnh hưởng yếu tố xu hướng thực hiện đến hành vi ủng hộ
năm
122 Bảng 4.23: Mức độ tương quan Pearson giữa các yếu tố 123 Bảng 4.24 Tương quan giữa các yếu tố với hành vi ủng hộ xã hội của
sinh viên
124 Bảng 4.25 Ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi chia sẻ của sinh viên 125 Bảng 4.26 Ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi vị tha của sinh viên 126 Bảng 4.27 Ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi tình nguyện của sinh
viên
127
Bảng 4.28 Ảnh hưởng của các yếu tố đến Động cơ thúc đẩy hành vi
ủng hộ xã hội của sinh viên
128 Bảng 4.29 Mức độ thể hiện hành vi ủng hộ xã hội chân dung tâm lý thứ
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Khung lý thuyết về hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên 65
Biểu đồ 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ủng hộ xã hội của sinh
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hành vi ủng hộ xã hội - một khía cạnh rất quan trọng của xã hội hiện nay Hành vi ủng hộ xã hội (prosocial behavior) hay còn gọi là hành vi vì xã hội và động
cơ ấy đã trở thành sự quan tâm lớn của nhiều nhà Tâm lý học xã hội tập trung nghiên cứu Hành vi ủng hộ xã hội hiểu một cách đơn giản hành vi mang đến lợi ích cho người khác Đây là những hành vi tích cực trong xã hội và được khuyến khích thực hiện Nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội đã được thực hiện nhiều trên thế giới Song tại Việt Nam thì khái niệm này còn khá mới Mặc dù, không dùng cụ thể thuật ngữ hành vi ủng hộ xã hội nhưng hành vi này đã được nhắc đến nhiều, thậm chí đã đi vào lịch sử nước nhà như hành vi đoàn kết, hợp tác, chia sẻ, vị tha…
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học tập trung nhiều vào các mặt tích cực - mặt sáng như các yếu tố giúp tăng cường sức khỏe tâm lý của cá nhân và
xã hội Nhiều công trình nghiên cứu trước cho thấy, hành vi ủng hộ xã hội có vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội Tầm quan trọng ở mức độ tự trọng cao, làm sao để phát triển các mối quan hệ lâu bền và làm thế nào để tạo ra động lực duy trì các hành vi vị tha và giúp đỡ người khác Green và Schneider cũng nhất trí rằng hành vi ủng hộ xã hội là hành vi học được Nhà nghiên cứu đã tìm hiểu sâu hơn chính xác điều gì trẻ em học được qua quan sát, hành vi ủng hộ xã hội của người khác? Họ cho rằng cái quyết định hành vi ủng hộ xã hội không chỉ là sự cần thiết phải quan sát và bắt chước hành vi của người khác, mà cả khả năng hiểu được người khác [dẫn lại theo David Clarke, 2003]
Hành vi giúp đỡ, đoàn kết, hợp tác đã được ghi nhận ngay từ những giai đoạn đầu của lịch sử và nền văn hóa (trong đấu tranh sinh tồn, trong bảo vệ bộ tộc,
bộ lạc,…) [Levine & Levine, 1992] Hành vi ủng hộ xã hội bao gồm những hành vi như an ủi, giúp đỡ, chia sẻ và hành vi nhân ái, vị tha đối với người khác trong cộng đồng xã hội, biểu hiện truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam ta với tinh thần
“tối lửa tắt đèn có nhau”; “lá lành đùm lá rách”; “thương người như thể thương thân”, nhất là trong việc chống dịch Covid-19 và chống thiên tai tại các tỉnh miền
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 11Trung Những việc tình nguyện vì người khác càng có tác động lan tỏa trong cộng đồng, làm cho mọi người gắn kết hơn với nhau còn hơn bất cứ sự tuyên truyền, lời nói, sự kiện nào khác
Trong xã hội Việt Nam ta hiện nay, mọi người đều thừa nhận đời sống kinh
tế của người dân ngày càng khá lên Tuy nhiên, tình cảm và đạo đức lại có chiều xuống cấp Trong đó, có hành vi ủng hộ xã hội hiểu theo nghĩa tích cực và cũng là vấn đề cơ bản của tâm lý học xã hội - một chuyên ngành nghiên cứu quan hệ xã hội
và ảnh hưởng xã hội Nghiên cứu mang tính chất cơ bản này sẽ góp phần tạo ra sự cân bằng hơn giữa các nghiên cứu tâm lý vốn hay thiên về phần tối, tiêu cực hơn là phần sáng, tích cực, cái thiện Việc nghiên cứu hành vi ủng hộ xã hội còn mang ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong xã hội Việt Nam hiện nay Trong đó, có nhiều người đang tích cực tham gia phong trào xung kích, tình nguyện, hiến máu nhân đạo, thực hiện việc làm tử tế… nhưng một số khác cũng bị đánh giá là ích kỷ hay thậm chí thờ ơ, vô cảm Từ cuối năm 2014 đến nay, truyền hình Việt Nam cũng bắt đầu một
chương trình Việc t tế Sau một năm phát sóng, 300 tấm gương, hành động đẹp, vì
người khác hay xã hội được đã được tôn vinh, lan tỏa, người nhỏ tuổi nhất là một
em học sinh lớp năm và người lớn tuổi nhất là một cụ già 93 tuổi [dẫn lại theo Lê Văn Hảo, 2016]
Nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên có giá trị thực tiễn ứng dụng cho các nhà quản lý, các nhà giáo dục hay các bậc cha mẹ, khi họ muốn nuôi dưỡng lòng nhân ái, thúc đẩy các hành vi ủng hộ xã hội trong gia đình, nhà trường
và cộng đồng Điều này, lại càng đặc biệt có ý nghĩa trong một môi trường xã hội đang chuyển đổi, đan xen nhiều yếu tố tích cực và tiêu cực - hành vi chống đối xã hội như vi phạm pháp luật trong sinh viên, tâm lý con người dần bộc lộ nhiều điểm sáng và tối trong xã hội phức tạp hiện nay Hành vi ủng hộ xã hội là sợi chỉ đỏ gắn kết cộng đồng giữa con người với con người, tạo ra sức mạnh đoàn kết chung để vượt qua những thời điểm khó khăn trong lịch sử một gia đình, cộng đồng hay một quốc gia Hiểu biết về hành vi ủng hộ xã hội và động cơ ấy, cũng như các yếu tố cản trở và yếu tố thúc đẩy để nuôi dưỡng, phát triển các dạng hành vi tích cực cũng
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 12chính là một cách hiệu quả đẩy lùi các hành vi tiêu cực, lệch chuẩn hay chống đối
xã hội, vi phạm pháp luật vốn đang có xu hướng tăng trong giai đoạn hiện nay, nhất
là ở sinh viên Đặc biệt thanh niên nói chung và sinh viên ở các trường Đại học nói riêng là đội ngũ tri thức được đào tạo bài bản và tương lai là chủ nhân của đất nước Bác Hồ đã từng dặn trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu” [Hồ Chí Minh, 1972, tr.12]
Với mong muốn tìm hiểu làm sáng tỏ các hành vi có ích, có lợi với người khác và cho xã hội trong sinh viên, chúng tôi hy vọng những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ kịp thời góp phần vào việc xây dựng, bổ sung nền tảng cơ sở khoa học cho công tác định hướng, giáo dục hành vi tích cực, giúp cho sinh viên trở thành người tử tế, phát triển toàn diện nhân cách và đóng góp ngày càng tích cực hơn cho cộng đồng
Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn đặt ra, chúng tôi lựa chọn đề tài
“Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên” là vấn đề nghiên cứu của luận án
2.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Xác định cơ sở lý luận và chỉ ra thực trạng hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên Từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm thúc đẩy hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Hành vi ủng hộ xã hội trong nước và
ngoài nước
2.2.2 Xây dựng cơ sở lý luận về hành vi ủng hộ xã hội và hành vi ủng hộ xã
hội của sinh viên
2.2.3 Chỉ ra thực trạng về hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên Các yếu tố
ảnh hưởng đến hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên
2.2.4 Đề xuất kiến nghị nhằm thúc đẩy hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 13Trên cơ sở lý luận và thực tiễn chúng tôi đề ra những giả thuyết nghiên cứu cho luận án cụ thể:
- Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên ở mức độ thường xuyên qua các dạng hành vi: hành vi chia sẻ, hành vi vị tha và hành vi tình nguyện đối với người khác Trong đó hành vi chia sẻ thể hiện rõ hơn so với các hành vi còn lại
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên bao gồm: cái tôi hiệu quả, tự kiểm soát, xu hướng thực hiện hành vi, niềm tin tôn giáo
và các yếu tố môi trường giáo dục có ảnh hưởng nhiều nhất đến hành vi ủng hộ xã
hội của sinh viên
3.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 ối tư ng nghiên cứu:
Mức độ và biểu hiện Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên
3.2 hách th nghiên cứu:
Sinh viên Trường Đại học Trà Vinh 620 người (Thuộc 5 khối ngành: Khoa học xã hội - Kinh tế; Kỹ thuật - Công nghệ; Nông nghiệp - Thủy sản; Sư phạm; Sức khỏe)
- Luận án chỉ tập trung tìm hiểu một số yếu tố về mặt cá nhân ảnh hưởng đến thực trạng hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên theo các tiêu chí: Cái tôi hiệu quả, Tự kiểm soát, xu hướng thực hiện hành vi xã hội, tôn giáo, các yếu tố môi trường
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 143.3.2 i i h n v đ a bàn nghiên cứu
Trường Đại học Trà Vinh thuộc đồng bằng sông Cửu Long Trường có đặc trưng gần 30% sinh viên dân tộc khmer học tập Trong mẫu nghiên cứu này chúng tôi chọn theo nguyên tắc tiện lợi trên 19% sinh viên dân tộc Khmer Quy mô đào tạo
là trên 18.000 nghìn sinh viên, ở nhiều tỉnh lân cận hội tụ về Trường Đại học Trà Vinh học tập, giao lưu và điều này càng thể hiện tính đa văn hóa trong môi trường Đại học ở Đồng bằng sông Cửu Long, miền Tây Nam Bộ
Thời gian nghiên cứu từ 4/2017 đến 6/2020
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận
cơ bản của tâm lý học sau đây:
4.1.1 Ngu ên tắc khách quan:
Nghiên cứu phải đảm bảo tính khách quan, trước hết là phải nghiên cứu từ chính bản thân sự vật, hiện tượng, phải xem xét sự vật, hiện tượng như chúng vốn
có trong thực tế, ghi nhận mọi chi tiết, mọi biểu hiện của chúng Nguyên tắc khách quan làm tăng tin cậy của các kết quả nghiên cứu và giúp các nghiên cứu ngày càng tiến gần hơn đến bản chất của tin cậy với vai trò thúc đẩy, định hướng, dẫn dắt, dự báo hành vi ủng hộ xã hội
4.1.2 Ngu ên tắc ho t động - nhân cách:
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Do đó, hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên phải nghiên cứu thông qua thực tiễn hoạt động học tập nhóm, công tác xã hội tình nguyện của sinh viên Hành vi ủng hộ xã hội là sự phản ánh một phần điều kiện xã hội của nhóm, của cộng đồng mà sinh viên sinh sống, hoạt động trong đó Đồng thời cũng là sản phẩm của hoạt động và học tập xã hội Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên được tham gia trong các lớp học, tổ chức Đoàn, Hội sinh viên và xã hội
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 154.1.3 Ngu ên tắc tiếp cận khoa học liên ngành: Hành vi ủng hộ xã hội đã
được nhiều ngành khoa học nghiên cứu như: Tâm lý học xã hội, sinh lý học, xã hội học, giáo dục học, Tâm lý học xuyên văn hóa Vì vậy, khi nghiên cứu hành vi ủng hộ xã hội cần phải tiếp cận liên ngành khoa học để có cách nhìn hệ thống, đầy
đủ
4.1.4 Ngu ên tắc phát tri n:
Mỗi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên hay trong mối quan hệ xã hội đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển qua các hành vi ủng hộ xã hội trong từng giai đoạn phát triển lịch sử xã hội Tâm lý cá nhân hay của xã hội đều nằm trong quy luật này, có sự phát triển và biến đổi về chất Khi nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội, nhà khoa học cần xem xét chúng trong một quá trình phát triển
Các phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện và giải quyết các mục đích và
nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
4.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết - văn bản, tài liệu
4.3 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
4.3.1 Phương pháp chuyên gia
4.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
4.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
4.3.4 Phương pháp phân tích trường hợp (chân dung) tâm lý
4.3.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng chương trình thống kê SPSS
Việc mô tả chi tiết cụ thể về mục đích, cách thức tiến hành, thực hiện các phương pháp nghiên cứu cụ thể này sẽ được chúng tôi trình bày rõ hơn trong chương 3
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Trong luận án đã đưa ra được một tổng quan nghiên cứu về hành vi ủng hộ
xã hội của giới trẻ, bao gồm sinh viên Các hướng nghiên cứu, các dạng hành vi cụ thể là: hành vi chia sẻ, hành vi vị tha, hành vi tình nguyện và phân loại được hành vi ủng hộ xã hội Kết quả nghiên cứu đã xây dựng được một hệ thống các khái niệm
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 16căn bản để định hướng cho nghiên cứu thực tiễn Từ đó, thao tác hóa khái niệm thành các chỉ báo đo lường được trong thực tiễn
- Nghiên cứu hành vi ủng hộ xã hội có ý nghĩa thiết thực, thể hiện tính nhân văn, mình vì mọi người và sự sẵn sàng chia sẻ trong quan hệ cá nhân sinh viên với cộng đồng, đặc biệt là những người yếu thế Điều này cần có ở sinh viên và rất cần được giáo dục cho thế hệ trẻ hiện nay
- Việc chỉ ra được thực trạng mức độ và các biểu hiện hành vi ủng hộ xã hội,
so sánh với biểu hiện hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên theo nhiều biến số độc lập, ở mức độ thường xuyên, có nghĩa là phần lớn có sự cân bằng với hành vi chia
sẻ, hành vi vị tha, hành vi tình nguyện, hành vi chia sẻ là nổi bật nhất và phân tích (trường hợp) chân dung tâm lý sinh viên và làm rõ các yếu tố ảnh hưởng, tác động đều đến hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất biện pháp, những nội dung, giáo dục hành vi ủng hộ xã hội, hành vi tích cực trong sinh viên hiện nay, cải thiện và phòng ngừa những hành vi tiêu cực, chống đối xã hội trong sinh viên
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 V m t l luận:
- Kết quả nghiên cứu về lý luận của luận án góp phần bổ sung, làm giàu có thêm nguồn tri thức, hiểu biết khi nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên, làm sáng tỏ thêm lý luận về hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên trong tâm lý học xã hội Làm tư liệu lý luận trong đào tạo và giáo dục sinh viên và trong nghiên cứu Tâm lý học
- Nghiên cứu này cũng góp phần bổ sung vào một số khoảng trống nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên Những vấn đề mà luận án chưa đi sâu nghiên cứu hoặc chưa giải quyết được có thể sẽ là những gợi ý cho các hướng nghiên cứu tiếp theo liên quan đến lĩnh vực này
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 176.2 V thực ti n:
- Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án đóng góp vào việc nâng cao nhận thức, hiểu biết, tri thức về quan niệm, hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên, thông qua
mô tả thực trạng mức độ biểu hiện hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên Hành vi ủng
hộ xã hội càng nhiều, sinh viên càng có nhiều cảm nhận hạnh phúc về cuộc sống
- Kết quả nghiên cứu thực trạng đã cung cấp hệ thống tư liệu về thực trạng hành
vi ủng hộ xã hội của sinh viên Có giá trị ứng dụng thực tiễn cho các nhà quản lý, các nhà giáo dục và các bậc cha mẹ, để nuôi dưỡng lòng nhân ái, thúc đẩy các hành vi ủng hộ xã hội trong mỗi gia đình, nhà trường phát triển nhân cách sinh viên
- Các biện pháp được đề xuất là tài liệu tham khảo cho các bậc cha mẹ, cán bộ quản lý giáo dục, thầy cô giáo và tổ chức Đoàn - Hội sinh viên vận dụng thúc đẩy hành
vi ủng hộ xã hội của sinh viên
7 Cấu trúc của luận án
Luận án bao gồm: Mở đầu, 4 chương
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Hành vi ủng hộ xã hội
Chương 2 Cơ sở lý luận về Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên
Chương 3 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu thực tiễn Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
HÀNH VI ỦNG HỘ XÃ HỘI
Thông qua việc tìm hiểu về tình hình nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên cho thấy, vấn đề này mặc dù được các tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ lâu, song tại Việt Nam, vẫn là vấn đề mới được nhắc đến trong một vài năm trở lại đây Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, chúng tôi nhận thấy, việc tổng quan tình hình nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên theo vấn đề là phù hợp hơn về mặt khoa học Trên quan điểm như vậy, tình hình nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên sẽ được trình bày một số nội dung chính dưới đây
1.1 Những nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội
Hành vi ủng hộ xã hội về cơ bản bị bỏ quên, cho đến những năm 60 của thế
kỷ XX Lúc đó, hành vi ủng hộ xã hội được tập trung quan tâm thay thế dần cho các hành vi tiêu cực xã hội Do thời điểm đó, các nhà khoa học nhận thức rằng hành vi tiêu cực như một mối đe dọa cho xã hội Một số nhà nghiên cứu tin rằng, việc đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu hành vi ủng hộ xã hội là cách thức cần thiết để hiểu hành vi tiêu cực xã hội cũng như để thúc đẩy sự thay đổi Nhiều năm sau, nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu hành vi ủng hộ xã hội trong việc điều tiết xã hội, hành vi xã hội tích cực đã được ghi nhận Sự quan tâm đến việc phát triển hành
vi ủng hộ xã hội xuất phát từ nhu cầu mong muốn xã hội vận hành một cách hài hòa [Kavussanu, Seal & Phillips, 2006] Khi mà hành vi ủng hộ xã hội trở nên quan trọng hơn đối với các cá nhân và nhóm xã hội thì chúng đã được nghiên cứu một cách trọng tâm hơn và cũng được công nhận một cách phù hợp hơn Sau này, các nhà hành vi học đã bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của việc ngăn chặn hành vi có hại thông qua việc tăng cường và hỗ trợ xây dựng các hành vi có ích Từ đây, hành
vi đạo đức cũng được quan tâm nghiên cứu Hành vi ủng hộ xã hội cũng được xem
là gắn kết rất chặt chẽ với yếu tố đạo đức [Bar-Tal, 1982]
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 191.1.1 Những nghiên cứu v t m quan trọng của hành vi ủng hộ xã hội
Ryan & Patrick [2001] cho rằng, hành vi ủng hộ xã hội là một yếu tố dự báo của sự thành công trong học tập, xã hội và đời sống tình cảm sau này Sự phát triển lành mạnh và tích cực về mặt xã hội ở người trẻ tuổi có tương quan với sự phát triển nhận thức, từ đó tạo ra một nền tảng vững chắc cho thành tích học trong tương lai Trẻ em và thanh thiếu niên thực hiện nhiều hành vi ủng hộ xã hội đã được chứng minh rằng có nhiều cơ hội hơn để đạt được thành công học tập ở trường [Roeser và cộng sự, 2000] Hành vi đạo đức/ ủng hộ xã hội khi được hình thành sớm cũng có hiệu quả trong việc phòng tránh các chứng trầm cảm và trong việc thúc đẩy thành tích học tập [Bandura và cộng sự 1996a] Một thái độ tích cực và hành vi ủng hộ xã hội dẫn đến các mối quan hệ tốt với những người khác và giúp nâng cao mức độ tự tin của người đó [Barry & Wentzel, 2006]
Eisenberg & Mussen [1989] trong nghiên cứu của mình đã chứng minh rằng, việc thực hiện các hành vi ủng hộ xã hội mang đến hiệu quả tâm lý tích cực cho thanh thiếu niên, bao gồm việc làm tăng tính tự chủ và kỹ năng đối phó với các tình huống khó khăn trong cuộc sống Hầu hết thanh thiếu niên hành động mang tính ủng hộ xã hội bằng cách tuân thủ theo chuẩn mực xã hội để phù hợp với xã hội đó Tuy nhiên, cũng có những thanh thiếu niên không tôn trọng các quy tắc chuẩn mực, thay vào đó là tham gia vào các hoạt động hoặc thực hiện các hành vi chống đối xã hội [Hoffman, 2008] Hậu quả của các hành vi tiêu cực này có thể liên quan đến tình trạng thanh thiếu niên bỏ học hoặc ít tham gia các hoạt động mang tính tập thể
và đồng đội Khi thanh thiếu niên có những hành vi chống đối xã hội thì sẽ dễ dẫn đến những nguy cơ như: bỏ học, lạm dụng thuốc, quan hệ tình dục không an toàn, phá hủy các mối quan hệ xã hội [Walker, Colvin, & Ramsey, 1995] Nếu hành vi tiêu cực này vẫn tồn tại và kéo dài, nhiều biện pháp sẽ được đưa ra, như đuổi học (nhưng biện pháp này lại thường là một trong những nguyên nhân gây gia tăng nhiều hơn các hành vi tiêu cực) Vì lý do này, hành vi ủng hộ xã hội là điều cần thiết trong sự phát triển xã hội Thanh thiếu niên là một nhóm xã hội quan trọng vì
họ có nhiều khả năng chống lại hành vi chuẩn mực, thay vào đó là những hành vi
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 20mà các em cảm thấy phù hợp Điều này thấy rõ nhất trong thanh thiếu niên độ tuổi
từ 7 đến 17 tuổi
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy thực hiện các hành vi ủng hộ xã hội mang lại nhiều lợi ích về thể chất cũng như tinh thần, chẳng hạn như: Các hành động tích cực giúp con người tăng cường các cảm giác hạnh phúc [Kurtz, Lyubomirsky, 2008]; [McGowen, 2006]; Hành vi ủng hộ xã hội có tương quan thuận với chất lượng các mối quan hệ [Helgeson, 1994] và làm giảm tỉ lệ tử vong ở người [Brown và cộng sự 2003] Việc giúp đỡ người khác thậm chí còn mang đến dự đoán làm giảm tỉ lệ tử
vong do căng thẳng Poulin và cộng sự [2013] Theo Thoits & Hewitt (2001), công
việc tình nguyện – một dạng của hành vi ủng hộ xã hội còn giúp tăng cường cảm nhận hạnh phúc, sự hài lòng trong cuộc sống, lòng tự trọng, ý thức kiểm soát cuộc sống, tăng cường sức khoẻ thể chất, giảm bớt chứng trầm cảm và giúp tăng đáng kể các lợi ích lâu dài [Piliavin & Siegl 2007]
Nhóm tác giả Dunn, Ashton-James, Hanson & Aknin [2010] còn chỉ ra rằng, việc chúng ta lấy tiền để giúp đỡ người khác còn mang lại hạnh phúc hơn là dùng số tiền đó để chi tiêu cho chính bản thân mình Đem tiền cho hoạt động từ thiện, trên thực tế, kích hoạt vùng não liên quan đến phần thưởng [Harbaugh, Mayr & Burghart, 2007] Từ đó, những người hạnh phúc hơn thường có hành động tích cực hơn và họ trải qua những mức độ hạnh phúc cao hơn bằng cách làm như vậy
[Piliavin, 2003]
Như vậy, việc thực hiện các hành vi ủng hộ xã hội đã được nhiều tác giả khẳng định là mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn: mang lại sự thành công, mở rộng mối quan hệ, cảm nhận hạnh phúc, giảm tỉ lệ tử vong… Những kết quả tích cực này cho thấy, việc nghiên cứu hành vi ủng hộ xã hội trên khách thể thanh niên là điều nên làm, để chúng ta khuyến khích các hành vi ủng hộ xã hội trong thanh niên Điều này sẽ giúp làm giảm các nguy cơ về hành vi chống đối xã hội, tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật trong thanh niên
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 211.1.2 Những nghiên cứu v các ki u/ lo i hành vi ủng hộ xã hội
Eisenberg và cộng sự [1998] khi nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội đã xác định hai loại của hành vi này là: lòng vị tha và hành vi thân thiện với xã hội Các hành vi ủng hộ xã hội được định nghĩa là sự giúp đỡ tự nguyện chủ yếu do mối quan tâm đến nhu cầu và phúc lợi của người khác, thường gây ra bởi sự đáp ứng cảm thông và hiện thưc hóa các nguyên tắc phù hợp với việc giúp đỡ người khác [Eisenberg và Fabes, 1990] Với loại hành vi thân thiện xã hội này, bởi vì người trợ giúp chủ yếu quan tâm đến phúc lợi của người khác, nên những người trợ giúp thỉnh thoảng vẫn phải bỏ ra chi phí Mặc dù các nhà nghiên cứu đã tranh luận rất gay gắt rằng, liệu các hành vi vị tha có tồn tại hay không thì có ít nhất ba dòng bằng chứng
ủng hộ sự tồn tại của lòng vị tha:
+ Thứ nhất, Batson & Shaw [1991] đã trình bày bằng chứng về tính di truyền
của sự thông cảm Sự thông cảm được cho là có khả năng thích nghi trong quá trình tiến hóa Điều này liên quan đến lòng vị tha từ tính di truyền
+ Thứ hai, Gilbert và Fiske, [2004] có những bằng chứng về sự ổn định
trong cách ứng xử theo hướng ủng hộ xã hội ở thời thơ ấu và thanh thiếu niên
+ Thứ ba, Eisenberg và Fabes [1990] đã tìm ra các cách hành xử khác nhau
của cùng một cá nhân trong các hoàn cảnh khác nhau Cũng theo Eisenberg và
Fabes [1990], hành vi ủng hộ xã hội là kiểu hành vi mà trong đó mọi người có động
cơ ứng xử theo cách tiến bộ khi ở nơi công cộng và được thực hiện bởi mong muốn được chấp thuận và tôn trọng bởi những người khác (như phụ huynh, đồng
nghiệp…), đồng thời cũng để tăng cường giá trị của bản thân
Penner, Dovidio, Piliavin, và Schroeder [2005] còn đưa ra một hướng chung
trong nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội là tìm hiểu xem liệu những người khác,
có đóng vai trò làm chứng cho hành vi ủng hộ xã hội của một cá nhân hay không
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc giúp đỡ thực hiện trước mặt người khác đôi khi kết hợp với động cơ tự định hướng Cũng theo các tác giả này, tình nguyện là một dạng hành vi ủng hộ xã hội trong bối cảnh một tổ chức, được lên kế hoạch và thực hiện trong một thời gian dài, theo đó nhằm mục đích hỗ trợ xã hội và có sự
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 22cam kết công dân Các tác giả nghiên cứu về lĩnh vực này cho rằng, hoạt động tình nguyện đúng nghĩa có những điểm khác với sự giúp đỡ thông thường Theo Eisenberg và Fabes [1998], những khác biệt này ở chỗ: hoạt động tình nguyện ít có
khả năng xuất phát từ một cảm giác về nghĩa vụ cá nhân, trong khi hầu hết các hành
động giúp đỡ thông thường liên quan đến ý thức về một nghĩa vụ cá nhân đối với một người cụ thể Những tình nguyện viên trong một tổ chức hoặc một dịch vụ từ thiện thường không được thúc đẩy bởi sự cân nhắc như vậy
Musick và Wilson (2008) trong cuốn sách của họ viết về tình nguyện đã tuyên bố rằng: Tình nguyện là một hình thức của hành vi vị tha Sự kết hợp giữa tình nguyện và vị tha là rất dễ nhận thấy thông qua việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho người khác, bao gồm cả sự an ủi với người (bị) bệnh [Chambré, 1995]
Rõ ràng mong muốn giúp đỡ người khác mà không phải bỏ ra chi phí gì là điều quan trọng để con người tham gia vào bất kỳ hình thức tình nguyện nào Song, một sự kết hợp giữa lòng vị tha và sự quan tâm đến lợi ích bản thân lại khá phổ
biến Midlarsky [1991] chỉ ra rằng trong quá trình giúp đỡ người khác có cả những
lợi ích cá nhân Nhiều người tham gia tình nguyện cho rằng, họ được nhiều hơn
những gì họ đã cho [Chambré, 2006] Tình nguyện là hành vi ủng hộ xã hội nhưng
không phải hoàn toàn là không có lợi ích cá nhân Wymer [1999] nhận thấy rằng các tình nguyện viên có nhiều khả năng mở rộng các mối quan hệ bạn bè tình nguyện hơn những người không phải tình nguyện viên
Thông qua việc tổng quan các nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi nhận thấy, hành vi ủng hộ xã hội biểu hiện trong đời sống của chúng ta khá đa dạng
Đó có thể là hành vi giúp đỡ, làm tình nguyện, từ thiện, giữ gìn vệ sinh môi trường, hợp tác với người khác trong giải quyết công việc Thông qua đây, chúng ta hiểu rõ hơn nhiều khía cạnh của hành vi ủng hộ xã hội, bao gồm cả những hành vi có sự cam kết và những hành vi không có sự cam kết
1.1.3 Những nghiên cứu v sự phát tri n của hành vi ủng hộ xã hội
Các tác giả khác nhau đã tìm thấy các kết quả khác nhau liên quan đến sự phát triển của hành vi ủng hộ xã hội
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 23Các nghiên cứu của Eisenberg & Mussen [1989], Upright [2002] đi vào việc khám phá và nghiên cứu cơ sở của hành vi ủng hộ xã hội và phỏng đoán rằng hành
vi ủng hộ xã hội của con người là kết quả của sự kết hợp và tương tác giữa cơ sở sinh học, xã hội, tâm lý, kinh tế và lịch sử Những tác giả này giải thích thêm rằng, hành vi ủng hộ xã hội được phát triển thông qua sự kết hợp của các hành vi học hỏi
và đặc điểm di truyền Ở độ tuổi rất nhỏ, trẻ em đã được học những hành vi tích cực (như sự tử tế và giúp đỡ người khác) Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các em
sẽ luôn thực hiện các hành vi này Trước hết, trẻ em có thể hiểu rằng ai đó cần được
hỗ trợ Các các tác giả này suy đoán rằng, trước khi quyết định giúp đỡ thì ở trẻ em
sẽ xuất hiện một cảm xúc gọi là trách nhiệm xã hội, tiếp đó, các em sẽ đánh giá tình hình bao gồm: nhận thức về người cần được giúp đỡ, nhận thức về nhu cầu của họ
và nhận ra người cần được giúp đỡ
Eisenberg và cộng sự [1988] cho rằng, ở cấp độ cá nhân, hành vi ủng hộ xã
hội có quan hệ với sự phát triển tâm lý ở trẻ em và thanh thiếu niên Ngoài ra, cũng theo các tác giả này phân tích thì khuynh hướng ủng hộ xã hội xuất hiện từ thời thơ
ấu và đến tuổi thiếu niên thì tăng lên Thanh thiếu niên có xu hướng ủng hộ xã hội cao hơn trẻ em ở độ tuổi từ 7 đến 12 tuổi Như vậy, theo ông, thanh thiếu niên thực hiện hành vi ủng hộ xã hội nhiều hơn trẻ em Tuy nhiên, Berndt [1996b] trong nghiên cứu của mình lại không tìm thấy sự khác biệt độ tuổi trong việc thực hiện các hành vi ủng hộ xã hội ở mẫu 9 – 18 tuổi
Upright [2002] thừa nhận rằng khi trẻ em tham gia vào các hành động thấu cảm thì có thể dẫn đến việc trẻ em hành động tử tế với người khác Tuy vậy, Eisenberg và Mussen bổ sung thêm, đứa trẻ cũng cần phải tự tin về khả năng giúp
đỡ của mình Nghĩa là, có kiến thức về hành vi ủng hộ xã hội không đủ để đảm bảo rằng trẻ em sẽ thực hiện các hành vi này Eisenberg và Mussen [1989] tin rằng hành
vi ủng hộ xã hội có thể mua được (trả chi phí) và có thể học được Đặc biệt, hành vi ủng hộ xã hội mạnh phát triển mạnh mẽ ở trẻ nhỏ Các tác giả này cũng đi đến kết luận rằng, hành vi ủng hộ xã hội không được phát triển và nuôi dưỡng bằng tính cách mà là thông qua sự tích lũy
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 24Trong khi những nghiên cứu đầu tiên tập trung chủ yếu vào các hành vi ủng
hộ xã hội ở trẻ em thì vẫn có nhiều lý do để theo dõi sự phát triển hành vi ủng hộ xã hội ở tuổi vị thành niên và thanh niên Những nghiên cứu về sự phát triển hành vi ủng hộ xã hội ở thanh niên đã tăng lên đáng kể từ những năm 1990 Đầu tiên, trong quá trình cá nhân phát triển thì khả năng nhận thức và đời sống tâm lý, kinh
nghiệm… cũng phát triển theo Theo Brown và Bigler [2005], những yếu tố này có thể thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển hành vi ủng hộ xã hội Mahoney và cộng sự [2009] cho thấy, thanh thiếu niên thể hiện tính chủ ý hơn, từ đó những hoạt động
mà họ lựa chọn tham gia sẽ thường là những hoạt động mà họ có thể cống hiến sức lực của họ Thanh thiếu niên cũng có nhiều cơ hội hơn để thể hiện các hành vi ủng
hộ xã hội khác ngoài bối cảnh gia đình, như trong trường học, nơi công cộng Tisak
và cộng sự [2002] chỉ ra rằng, thanh thiếu niên thường có xu hướng đánh giá bối cảnh tình huống để xác định có nên thực hiện các hành vi ủng hộ xã hội hay không
Như đã nói, những nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội trên khách thể trẻ
em đã được thực hiện nhiều song trên đối tượng thanh thiếu niên thì lại chưa nhiều người tìm hiểu nghiên cứu Theo chúng tôi, nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội trên thanh niên là khá thú vị bởi đây là giai đoạn chuyển tiếp của hai thời kỳ từ thơ
ấu lên thành người lớn Do đó, sự phức tạp trong biến đổi tâm sinh lý cũng mang đến nhiều sự khác biệt rõ nét trong các các nhân đối tượng thanh niên khác nhau Song, chính vì giai đoạn này tâm sinh lý của thanh niên về cơ bản là chưa ổn định
do đó cũng sẽ là một thách thức không nhỏ cho quá trình nghiên cứu
2.1.4 Những nghiên cứu xu ên v n hóa v hành vi ủng hộ xã hội
Levine và cộng sự [2003] đã tìm hiểu hành vi giúp đỡ người lạ của người dân tại 23 quốc gia khác nhau trên thế giới (trải khắp các khu vực trên thế giới) Quy mô dân số và tính cá nhân, tính tập thể trong nền văn hóa đã được các nhà khoa học đưa vào như những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi giúp đỡ Có ba tình huống được đưa ra là: (1) Một người đi bộ bị rơi cây bút; (2) Một người băng
bó chân và bị rơi cuốn tạp chí không thể cúi xuống nhặt được và (3) Một người mù chống gậy đợi qua đường tại ngã tư Kết quả cho thấy có sự khác biệt khá đáng kể
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 25về hành vi này ở các thành phố được khảo sát Hành vi giúp đỡ được thực hiện nhiều nhất ở thành phố Rio de Janeiro của Braxin với 93% và thấp nhất ở Kuala Lumpur (Malaysia) với 40% Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một mối tương quan tích cực giữa việc thực hiện hành vi ủng hộ xã hội với định hướng giá trị văn hóa Sympatia – một văn hóa đặc trưng và truyền thống ở Braxin và một số quốc gia vùng Mỹ Latinh nổi tiếng với đặc điểm: hay quan tâm tới người khác, thân thiện, lịch sự và giúp đỡ người lạ Tuy vậy, các bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng, hành vi giúp đỡ ít phụ thuộc vào bản chất địa phương của mỗi người mà chịu ảnh hưởng nhiều bởi các đặc tính của môi trường họ đang sống Môi trường mà họ sống trong đó ảnh hưởng đến hành vi của họ, ví dụ như: một người Braxin sống ở New York sẽ ít có khả năng để giúp đỡ người khác hơn là một người Braxin sống ở Rio
de Janeiro (cũng thuộc đất nước Braxin)
Miller, Bersoff và Harwood [1990] đã thực hiện một thực nghiệm trên người lớn và trẻ em Ấn Độ và người Mỹ gốc Mỹ Các tác giả đã nghiên cứu cảm nhận về mặt trách nhiệm đạo đức của các nhóm khách thể này khi chứng kiến các tình huống, trường hợp cần đến sự trợ giúp Trong đó các tình huống này nhấn mạnh đến tính nghiêm trọng của tình trạng người cần được giúp đỡ (tình trạng hẩn cấp) và mối quan hệ giữa những người tham gia (ví dụ như quan hệ cha – con; người thân – người lạ…) Các nhà nghiên cứu đã phỏng vấn 400 cá nhân (người lớn và trẻ em)
để xem họ sẽ làm gì trong các tình huống liên quan đến nghĩa vụ giúp đỡ con em mình, bạn bè của cha mẹ, bạn bè của mình và nghĩa vụ của mọi người để giúp đỡ một người lạ Các tình huống có thể ở mức nghiêm trọng đe dọa đến tính mạng, có tình huống ở mức độ nghiêm trọng vừa phải Kết quả sau đó chứng minh rằng: người Ấn Độ cảm thấy có trách nhiệm và bổn phận đạo đức trong việc giúp đỡ người khác cao hơn người dân Mỹ, trong khi người Mỹ thì phản ứng và thực hiện các hành vi ủng hộ xã hội nhiều hơn tùy vào tình hình thực tế Như vậy, có thể thấy
đã có sự khác biệt rõ rệt về mức độ trách nhiệm giữa hai nhóm văn hóa
Cả hai nghiên cứu của Miller & cộng sự [1990] và Levine & cộng sự [2001] đều rút ra được kết luận: việc thực hiện các hành vi ủng hộ xã hội ít thường xuyên
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 26hơn trong những bối cảnh giàu có và khẳng định rằng những phát hiện này đã chỉ rõ tầm quan trọng của yếu tố kinh tế trong việc thực hiện các hành vi ủng hộ xã hội Thực tế đang tồn tại những lý do để giải thích cho việc, có thể tình hình kinh tế càng phát triển lại tương quan âm (nghịch) với việc thực hiện các hành vi ủng hộ xã hội, bởi tại các nước giàu, công dân của họ mang tính cá nhân khá cao, họ tự do theo đuổi nhu cầu và đôi khi họ bỏ qua các giá trị xã hội truyền thống hay những quy định về trách nhiệm của họ với các thành viên khác trong cộng đồng họ đang sống [Inkeles, 1997] Những yếu tố này có thể dẫn đến việc họ ít sẵn lòng quan tâm đến lợi ích của những người lạ Có một thực tế rằng, các xã hội đô thị công nghiệp có tính cạnh tranh cao hơn, vì vậy sự quyết đoán và tính hung hăng được coi là quan trọng, trong khi các hành vi ủng hộ xã hội trở nên ít quan trọng hơn Linsky & Straus [1986] cho rằng, cộng đồng có nền kinh tế ít phát triển hơn (như tỉ lệ thất nghiệp và tỉ lệ những người kinh doanh thất bại cao) có tỉ lệ người phạm tội và các bệnh lý xã hội cao hơn Nhà nghiên cứu Lee [1995] phát hiện ra rằng những người lao động hài lòng với mức lương hiện tại của họ thì có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi ủng hộ xã hội Ngược lại, Levine và cộng sự [1994] tìm thấy một mối tương quan tích cực (thuận) giữa tình trạng phát triển kinh tế của và hành vi giúp
đỡ
Korte và Kerr [1975] thấy rằng, ở nông thôn, người ta giúp đỡ người lạ nhiều hơn ở đô thị Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn cũng đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu khác được thực hiện tại Mỹ - một bối cảnh được coi là nguyên mẫu phương Tây và chủ nghĩa cá nhân Vậy ở những quốc gia có tính tập thể (chủ nghĩa tập thể) cao thì sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị liệu có còn tồn tại? Korte và Ayvalioglu [1981] đã nghiên cứu hành vi ủng hộ xã hội tại các thành phố lớn, thị trấn nhỏ và khu dành cho người nghèo tại Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả một lần nữa cho thấy, ở thành thị người ta ít thực hiện các hành vi ủng hộ xã hội hơn so với vùng nông thôn và những khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn Giữa các vùng thị trấn nhỏ và khu định cư tạm bợ thì không có sự khác biệt Nếu như phát hiện của Korte & Kerr [1975] cho thấy có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn trong
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 27hành vi ủng hộ xã hội đối v i ngư i l thì nghiên cứu của Amato lại tập trung tìm hiểu việc thực hiện hành vi ủng hộ xã hội đối với ngư i thân quen, họ hàng và b n
bè Có tổng cộng 13.017 người Mỹ được lựa chọn khảo sát và kết quả cho thấy: Khi
con người giúp đỡ người thân, sẽ không có sự khác biệt về thống kê giữa khu vực thành thị và nông thôn
Một nghiên cứu khác của Fjneman, Willemsen và Poortinga tiến hành năm
1996 đã được thực hiện tại Hồng Kông, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Hà Lan và Mỹ về hành vi ủng hộ xã hội lại cho thấy sự giống nhau trên tất cả các nền văn hóa Sự
khác biệt duy nhất giữa các thành phố chỉ là nằm ở yếu tố - sự g n g i v tình cảm” Nghĩa là, những người thân quen hoặc có mối quan hệ chặt chẽ thì có xu
hướng giúp đỡ nhau nhiều hơn Fjneman và các cộng sự [1996] tiếp tục tìm kiếm bằng chứng về vai trò động lực của lòng vị tha đối với hành vi ủng hộ xã hội Những người tham gia khảo sát thể hiện một lòng vị tha rõ ràng hơn với những họ hàng thân thích, bất kể là ở nền văn hóa nào
Chúng ta vẫn thường mặc định xã hội có thiên hướng cá nhân thì thường coi trọng đặc tính cá nhân và gia đình hạt nhân của họ trong khi những xã hội, quốc gia theo xu hướng coi trọng tính tập thể thì lại ưu tiên cao nhất cho lợi ích của tập thể
mà mình đang sống trong đó [Triandis, 1995] Whiting và Whiting [1975] đã thực hiện một nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội biểu hiện trong tương tác hàng ngày của các em độ tuổi từ 3 đến 11 với người khác tại 6 quốc gia khác nhau là Kenya, Philippines, Nhật Bản, Ấn Độ, Mexico và Mỹ Kết quả cho thấy sự khác biệt về hành vi ủng hộ xã hội của trẻ em giữa các nền văn hóa được chọn nghiên cứu Trẻ
em từ Mexico và Philippines thường hành động mang tính ủng hộ xã hội hơn so với những em đến từ Nhật Bản, Ấn Độ và Hoa Kỳ Các em hành xử mang tính ủng hộ
xã hội nhất là những em đến từ xã hội truyền thống nhất, đó là vùng nông thôn Kenya Những đứa trẻ ích kỷ nhất đến từ một xã hội hiện đại phức tạp nhất, đó là
Mỹ Nghiên cứu này cũng rút ra được một kết luận là những trẻ em hay làm việc nhà giúp cho cha mẹ thì thường có sự quan tâm đến người khác cao hơn những trẻ ít làm việc nhà Thật vậy, nền văn hóa tập thể đề cao việc hỗ trợ và hợp tác, chính vì
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 28thế kích thích việc thực hiện nhiều các hành vi ủng hộ xã hội trong khi các nền văn hóa cá nhân (nơi mà các giá trị thành công của cá nhân và khuyến khích khả năng cạnh tranh được coi trọng) thì trẻ em ít có xu hướng hành xử ủng hộ xã hội
Curtis, Grabb và Baer [1992] đã nghiên cứu số liệu điều tra Giá trị Thế giới
(1981 – 1983) và rút ra kết luận: Người Mỹ gốc Mỹ tham gia tình nguyện nhiều hơn
các quốc gia khác Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu do chính
3 tác giả này thực hiện sau khi phân tích khảo sát Giá trị thế giới tập hợp dữ liệu của
33 quốc gia dân chủ giai đoạn 1991 – 1993 Như vậy người ta nhận thấy những nước giàu có, nền kinh tế phát triển thường tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tình nguyện Như vậy, tình hình kinh tế cũng là một biến quan trọng tác động đến hành vi ủng hộ xã hội cụ thể là tình nguyện
Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi trong hành vi ủng hộ xã hội được thực hiện Eisenberg và Mussen [1989], khi nghiên cứu
về lòng tốt và hợp tác thấy rằng: Trẻ em ở Bắc Mỹ ít có sự hợp tác hơn so với trẻ
em lớn lên ở Mexico Nghĩa là, có mối quan hệ giữa loại hình văn hóa và mức độ thực hiện hành vi ủng hộ xã hội Chúng ta vẫn thường nghĩ, trẻ em được nuôi dưỡng trong một nền văn hóa tập thể có xu hướng thể hiện hành vi ủng hộ xã hội nhiều hơn
so với những em được nuôi dưỡng trong một nền văn hóa cá nhân Tuy vậy, nhiều nghiên cứu khác lại cho kết quả không đồng nhất như ý nghĩ trên
Feldman [1968] đã tiến hành một thí nghiệm với những người qua đường ở Paris (Pháp), Athens (Hy Lạp) và Boston (Mỹ) về việc nhờ hỗ trợ giúp đỡ những người đồng hương hoặc người nước ngoài trong hai tình huống: Hỏi đường và viết thư Trong tình huống đầu tiên, những người từ Boston giúp đỡ nhiều nhất và giúp
cả hai nhóm: đồng hương và người nước ngoài Trong khi người Paris và Athens giúp đỡ đồng bào nhiều hơn người nước ngoài Trong tình huống thứ hai, những người Athens đối xử tồi tệ với đồng bào hơn người nước ngoài, nhưng người Boston lại làm điều ngược lại Chính vì thế, các nhà nghiên cứu đã rút ra kết luận rằng: có sự khác biệt lớn giữa các nền văn hóa mang tính cá nhân trong thực hiện hành vi ủng hộ xã hội Mức độ giúp đỡ thay đổi theo các tình huống diễn ra thực tế
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 29Nghiên cứu này là khá tin cậy bởi nó xem xét những khác biệt trong hành vi ủng hộ
xã hội và nhấn mạnh đến sự khác biệt trong tình huống
Eppel, Sharp và Davies [2013], tập trung vào cách tiếp cận của Defra về thay đổi hành vi và cung cấp tổng quan về bốn cách tiếp cận hoặc vai trò có thể là hiệu quả nhất với các nhóm dân cư khác nhau để thay đổi hành vi Những cách tiếp cận này là: khuyến khích, kích hoạt, tham gia và minh hoạ Bốn phương pháp tiếp cận này rất hữu ích để xác định khoảng trống có thể cần phải được điền nếu thay đổi hành vi là xảy ra Bằng cách làm cho mọi người dễ dàng hành động thông qua việc cung cấp cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng, chính phủ cho phép xã hội thay đổi hành
vi [Eppel, Sharp, & Davies, 2013] Hành vi xã hội cũng được thực hiện bằng các khoản đóng góp bằng tiền cho các tổ chức từ thiện, công việc tình nguyện của con người trong cuộc sống Carlo [2000] và Brandy A Randall [2001] với nghiên cứu
“Đề xuất một số biện pháp hành vi xã hội cho thanh thiếu niên” Sự tương quan và cấu trúc của các hành vi xã hội ở thanh thiếu niên cuối được kiểm tra bằng cách sử dụng một biện pháp mới được xây dựng, đa chiều Trong nghiên cứu 1,249 sinh viên cao đẳng (145 nữ, 19 tuổi = 19.9 tuổi) đã sử dụng Phiếu đánh giá Prosocial Tendencies (PTM) đánh giá 6 loại hành vi xã hội: vị tha, tuân thủ, cảm xúc, khinh thường, công khai và ẩn danh Các biện pháp thông cảm, quan điểm, đau khổ cá nhân, tính thích đáng xã hội, hành vi xã hội toàn cầu, trách nhiệm xã hội, ghi nhận trách nhiệm, kỹ năng từ vựng, và lý luận luân lý xã hội cũng đã hoàn thành Độ tin cậy kiểm tra lại và độ chính xác của PTM được trình bày trong Nghiên cứu 2 với 40 mẫu nghiên cứu sinh (28 nữ, 22 tuổi = 22.9 tuổi) Kết quả từ cả hai nghiên cứu đều cho thấy bằng chứng về độ tin cậy và tính hợp lệ của PTM và hỗ trợ khái niệm các hình thức giúp đỡ khác biệt
Lerner và Lichtman (1968) thực nghiệm với giả thiết ban đầu rằng con người không phải lúc nào cũng hành động vì lợi ích của bản thân, nhất là khi lợi ích
đó ảnh hưởng đến người quen biết mình Kết quả trong nhóm những người được ghép đôi ngẫu nhiên chỉ có 9% số người tham gia chọn bị điện giật Số còn lại họ muốn được là người kiểm soát-người không bị điện giật Những người chủ động
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 30tìm bạn chơi, một trong hai người được cho biết là người ghép đôi với mình đã yêu cầu họ chọn bị điện giật vì bản thân họ “rất sợ” điện giật có 72% số người đồng ý Sau đó, cho biết là người ghép đôi đã đưa ra sự lựa chọn trước - chọn không bị điện giật nhưng giờ đã rút lui và để cho họ chọn Kết quả có 88% số người tham gia chọn lại điều kiện bị điện giật Trong thực nghiệm này cho thấy, con người không phải lúc nào cũng hành động vì lợi ích cá nhân Ngay cả một yêu cầu rất đơn giản cũng đủ làm cho hầu hết mọi người lựa chọn sự nhường nhịn hơn Điều này đồng nghĩa với việc bản thân họ phải chịu khó khăn, đau đớn vì bị điện giật [dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 2016, tr.99-100]
Rodin và Piliavin (1969), với giá trị của sự giúp đỡ người khác đã thực nghiệm tìm hiểu xem điều gì xảy ra khi một người gặp khó khăn ngoài “đời thực” Một người sẽ ngã quỵ trong khi đi trong tàu điện ngầm với các tình huống ngã khác nhau: Đôi khi “nạn nhân” cầm theo gậy, có vẻ yếu đuối, bệnh tật Đôi khi anh ta nồng nặc mùi rượu Kết quả ngay cả khi nạn nhân có vẻ rất say nhưng họ cũng chỉ nhận được 50% số lần giúp đỡ Còn nếu anh ta có vẻ ốm, có 95% số người nhìn thấy đến giúp đỡ Với những hành vi không được xã hội ủng hộ (như uống rượu say trên đường) thì sự giúp đỡ sẽ giảm một nửa so với những hành vi không vi phạm chuẩn mực xã hội Những hành vi động chạm đến lòng trắc ẩn, sự thương cảm của con người như giúp đỡ người già, người đau yếu, bệnh tật hay trẻ em thì
sự giúp đỡ thường tăng lên nhiều lần hơn [dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 2016, tr 100-101] Darley và Latane (1970) thực nghiệm chứng minh rằng nếu con người có bản chất nhân ái, họ sẽ giúp đỡ người khác khi lòng trắc ẩn này được khơi dậy Tiến hành thực nghiệm một người ăn xin (người thực nghiệm) đến gần những người qua phố để xin họ 10 xu Trong trường hợp thực nghiệm, người ăn xin đưa ra các lý do khác nhau, trong trường hợp kiểm chứng, họ chỉ xin tiền mà không nói gì
cả Kết quả khi người xin tiền nêu lý do như là cần tiền để gọi điện thoại, có 64% người được hỏi đã cho tiền anh ta Với những lý do là người xin tiền bị múc túi thì
có đến 70% số người được hỏi cho anh ta tiền Khi xin tiền mà không có lý do chỉ
có 34% người được hỏi cho anh ta tiền Như vậy, con người có xu hướng giúp đỡ
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 31người khác nếu có lý do chính đáng, nghĩa là giúp đỡ đó phải có ý nghĩa thiết thực Nếu chúng ta tác động vào lòng trắc ẩn của họ, họ sẽ hào phóng trong việc giúp đỡ [dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 2016, tr.183] Michel Steger và cộng sự với làm việc thiện khiến con người cảm thấy hạnh phúc Thực nghiệm làm sáng tỏ điều khiến con người cảm thấy hạnh phúc là tìm kiếm sự hài lòng cá nhân (đáp ứng nhu cầu bản thân) hay làm việc tốt (đáp ứng nhu cầu người khác)? Nhà thực nghiệm yêu cầu một nhóm 65 sinh viên điền vào một bài khảo sát trên mạng mỗi ngày trong vòng 3 tuần liền và ghi lại các tâm trạng khác nhau trong những hoạt động, như hoạt động có ý nghĩa giúp đỡ người khác… Kết quả nhận thấy, người nào tham gia nhiều vào những hoạt động có ý nghĩa, như giúp đỡ người khác thì sẽ thấy hạnh phúc hơn và càng thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn Ngược lại, những hành vi tìm kiếm sự vui vẻ cá nhân sẽ không làm người ta hạnh phúc Do đó, khi làm nhiều việc tốt con người trở nên hạnh phúc hơn Chứng tỏ hạnh phúc là kết quả của việc giúp đỡ người khác [dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 2016, tr 100-101]
Các hành vi ủng hộ xã hội được định nghĩa là sự giúp đỡ tự nguyện chủ yếu do lo lắng cho nhu cầu và lợi ích của người khác, thường gây ra bởi sự thông cảm và các quy tắc, nguyên tắc được củng cố phù hợp với việc giúp đỡ người khác [Eisenberg và Fabes, 1998] Mặc dù các học giả đã tranh luận về hành vi vị tha có tồn tại hay không [Batson, 1991], có ít nhất 3 hướng chứng minh ủng hộ sự tồn tại của lòng vị tha [Eisenberg et al., 1999] Thứ nhất, các nhà nghiên cứu đã trình bày tính di truyền của sự thông cảm [Matthews và cộng sự, 1981] được xem là thích nghi tiến hóa Thứ hai, có sự ổn định trong khuynh hướng cư xử một cách tích cực trong xã hội thông qua tuổi thơ ấu và thanh thiếu niên [Davis và Franzoi, 1994, Eisenberg et al, 1999] Thứ ba, các nhà nghiên cứu đã tìm ra mối liên quan đáng kể giữa các biến thể nhân cách và các hành vi xã hội theo các bối cảnh khác nhau [Carlo et al., 1991a, Staub, 1978] Một động lực chính liên quan đến việc đáp ứng
vị tha là các tiêu chuẩn hoặc nguyên tắc được internalized liên quan đến việc giúp
đỡ Bởi vì các nguyên tắc này được tích cực hóa (thường trở thành một phần khái niệm cá nhân của cá nhân), các cá nhân với các nguyên tắc liên quan đến trợ giúp
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 32có thể sẽ tham gia vào các hành vi để làm lợi cho những người khác đang cần Do
đó, thanh thiếu niên tự trách mình và tin rằng họ có nghĩa vụ hành động có trách nhiệm đối với xã hội được mong đợi sẽ có nhiều khả năng ủng hộ các hành vi xã hội vị tha
Gần đây, một số học giả đã đề xuất rằng mối quan hệ giữa tín ngưỡng và hành vi xã hội cũng có thể khác nhau tùy theo loại hành vi xã hội được đánh giá Những nhà Tâm lý học có truyền thống lập luận hành vi ủng hộ xã hội chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố tình huống (như an toàn) nhiều hơn những yếu tố cá nhân (cá tính) [Batson, Darley & Coke, 1978] Yếu tố tình huống là những hoàn cảnh bên ngoài hoặc các sự kiện xảy ra làm tăng hoặc giảm các khả năng phản ứng mang tính ủng hộ xã hội [Eisenberg & Mussen, 1989] Thanh niên có thể được tiếp xúc với các kích thích từ bên ngoài khuyến khích hành vi tích cực, song có những kích thích khác lại có thể ức chế những hành vi này Những sự giúp đỡ mang tính tự phát thì phổ biến hơn ở những nước nghèo và các hoạt động ủng hộ xã hội mang tính chính thức (như tình nguyện) thường xuất hiện nhiều hơn ở những nước giàu Hành vi ủng
hộ xã hội là kết quả của sự tương tác phức hợp giữa các yếu tố môi trường và xã hội Chúng ta không thể cô lập hoàn toàn một biến số để xác định vai trò của nó trong việc thực hiện hành vi ủng hộ xã hội của con người
Nghiên cứu xuyên văn hóa là rất khó khăn bởi vẫn có nhiều sự thiên vị của các nhà nghiên cứu trong việc xác định, quan sát và giải thích hành vi ủng hộ xã hội
trong các nền văn hóa Việc tìm hiểu những khác biệt xuyên văn hóa về hành vi ủng
hộ xã hội, sẽ có thể giúp cho tác giả có cái nhìn khái quát về tác động của văn hóa đến hành vi ủng hộ xã hội cũng như biết thêm về tính cách dân tộc để trong quá trình thực hiện Luận án sẽ có những cách chọn vấn đề phù hợp với nước ta
Ở nước ta cho đến nay, việc nghiên cứu tâm lý học xã hội với các hoạt động của con người được các nhà tâm lý học dành nhiều sự quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội của các tác giả Việt Nam được tiến
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 33hành theo nhiều hướng khác nhau Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày khái lược các hướng nghiên cứu chính
Tác giả Lại Thị Yến Ngọc, Nguyễn Thị Xuyến, (2017) Mối quan hệ giữa hành vi ứng xử của học sinh trung học phổ thông và môi trường gia đình Tác giả Phan Thị Mai Hương, 2016) với Hành vi ứng xử trong các mối quan hệ xã hội của thanh niên Tác giả Nguyễn Thị Mai Lan (2013) với “nhận về hành vi tham gia giao thông đường bộ của người dân đô thị” Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết người dân đô thị được hỏi đều biết đến Luật Giao thông đường bộ nhưng sự hiểu biết về nội dung trong luật chỉ đạt ở mức “Biết một phần” Hiểu biết của người dân đô thị
về hậu quả của hành vi vi phạm chuẩn mực giao thông đường bộ tốt hơn so với hiểu biết của họ về Luật Giao thông đường bộ Sự hiểu biết này đạt ở mức độ “Biết rất rõ” [Nguyễn Thị Mai Lan, 2015, tr.49]
Trong khoảng thời gian từ 2010, tại viện Tâm lý học, tác giả Knud Larsen và
Lê Văn Hảo trong cuốn Tâm lý học xã hội được ấn hành và sử dụng ở Việt Nam, khía cạnh lý luận và ứng dụng được tinh lọc một cách công phu từ một nền tâm lý học xã hội Mỹ Trong cuốn sách Tâm lý học xã hội của Knud S Larsen và Lê Văn Hảo ở chương 11 tác giả tập trung nghiên cứu sâu về: Vị tha và hành vi ủng hội xã hội [Knud Larsen, Lê Văn Hảo, 2010] Tác giả Lê Văn Hảo (2015) với “Hành vi ủng hộ xã hội: sức mạnh của tình huống” Kết quả nghiên cứu những gì xảy ra trong cuộc sống cho thấy một số trường hợp, con người mong muốn và sẵn sàng giúp đỡ người khác khi cần thiết hay hoạn nạn Nhưng trong những trường hợp khác con người lại tỏ ra thờ ơ, vô cảm với nỗi đau của đồng loại, tác giả đã bàn luận về sức mạnh của tình huống hay hoàn cảnh trong quá trình cân nhắc, thực hiện về hành vi ủng hộ xã hội [Lê Văn Hảo, 2015] Tác giả Lê Văn Hảo (2015) với “Lập luận về mặt đạo đức trong các hành vi ủng hộ xã hội” Nghiên cứu đặt mục tiêu tìm hiểu lập luận về mặt đạo đức nằm sau việc cân nhắc thể hiện hoặc không thể hiện hành vi ủng hộ xã hội trên một mẫu chọn 1.200 thanh niên (tuổi trung bình 18, 31) ở ba miền Bắc, miền Trung, miền Nam nội dung tình huống thông qua câu chuyện, mức
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 34độ định hướng, sự khác biệt theo giới, nơi cư trú, theo tuổi [Lê Văn Hảo, 2015, tr.37]
Tác giả Đỗ Ngọc Khanh (2015) với “Động cơ hành vi ủng hộ xã hội ở thanh niên Việt Nam” Kết quả nghiên cứu cho thấy sự nổi trội nhất là động cơ làm theo yêu cầu của người khác, sau đó đến động cơ lòng vị tha/ vô tư, động cơ làm giảm các tiêu cực, động cơ bị tác động bởi mức độ thảm khốc của tình huống, động cơ ẩn danh, động cơ định hướng bản thân [Đỗ Ngọc Khanh, 2015, tr.15] Tác giả Tô Thúy Hạnh (2017) với “Dự báo về thái độ vô cảm trong gia đình đối với hành vi giúp đỡ người khác của trẻ vị thành niên tại Hà Nội” Với mẫu nghiên cứu 606 học sinh, tuổi từ 13 đến 17 đang học từ lớp 7 đến lớp 11 tại Hà Nội, bảng hỏi được sử dụng
để thu thập dữ liệu gồm thang đo về sự vô cảm với 5 biểu hiện như sự ích kỷ, thiếu
sự tham gia với gia đình, thiếu biểu hiện yêu thương, thiếu cảm giác lỗi khi làm điều sai, thiếu nhạy cảm với khó khăn của người thân (24 mệnh đề, độ tin cậy là 0,87); hành vi giúp đỡ (12 mệnh đề, độ tin cậy là 0,78) Kết quả cho thấy, sự vô cảm trong gia đình của các em có tác động âm tính đến hành vi giúp đỡ người khác ở nơi công cộng Kết quả chỉ ra 4 mô hình dự báo tối ưu, giải thích được những thay đổi trong hành vi giúp đỡ người khác của các em Điều này có thể là những gợi ý cho việc xây dựng những chương trình tác động thực tiễn để giáo dục trẻ em, giúp các
em hình thành và củng cố những hành vi tốt không chỉ trong gia đình mà cả những hành vi ngoài xã hội, giáo dục gia đình làm nền tảng [Tô Thúy Hạnh, 2017, tr 457-464] Tác giả Tô Thúy Hạnh (2017), với “Thái độ của người dân Hà Nội đối với việc giúp đỡ hàng xóm” Khảo sát bằng bảng hỏi vào tháng 5/2016 trên 155 khách thể cho thấy, người dân đô thị có thái độ tích cực đối với việc giúp đỡ hàng xóm, thể hiện quan nhận thức, cảm xúc và hành vi giúp đỡ là khác nhau, tùy thuộc vào những tình huống nhất định Ngoài ra ba thành phần này còn có mối tương quan thuận, tương đối chặt chẽ với nhau So sánh một số biến số như giới tính, nhóm tuổi, mức sống, thời gian sinh sống, dữ liệu cũng cho thấy có những khác biệt về thái độ đối với việc giúp đỡ hàng xóm ở các biến số độc lập này [Tô Thúy Hạnh,
2017, tr.67-77]
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 35Nhóm nghiên cứu Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2011) đã sử dụng các công cụ như bảng hỏi cấu trúc và phỏng vấn sâu trên 16 doanh nghiệp lớn và 100 doanh nghiệp nhỏ trên địa bàn 2 thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Đối với người dân, địa bàn khảo sát bao gồm 100 hộ gia đình ở nông thôn và 100
hộ thành thị trên địa bàn Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Thái Bình và Long An Kết quả khảo sát cho thấy nhu cầu làm từ thiện của người dân rất lớn dù ở nông thôn hay thành thị Đa số hộ gia đình đều bày tỏ mong muốn làm việc thiện (73%
số hộ ở nông thôn và 51% số hộ ở thành phố) và quan tâm đến hoạt động từ thiện (87% ở nông thôn và 59% ở thành phố) Các hộ gia đình trẻ có xu hướng tập trung làm kinh tế và quan tâm ít hơn đến các hoạt động xã hội, trong đó có từ thiện nhân đạo Kết quả cho thấy 90% hộ gia đình ở nông thôn và 65% ở khu vực thành thị đã đóng góp từ thiện trong 12 tháng qua và một tỷ lệ tương đương như vậy sẵn sàng tham gia hoạt động trong thời gian tới Tuy nhiên, vẫn có đến 20% người dân ở thành thị so với 7% người dân ở nông thôn cho rằng hoạt động này chưa hiệu quả
và một tỷ lệ tương đương có ý kiến không ủng hộ phương thức kêu gọi đóng góp từ thiện như hiện nay Hơn 68% doanh nghiệp ở Hà Nội và 84% doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh cho biết có quan tâm đến hoạt động từ thiện, phản ánh nhu cầu làm từ thiện khá mạnh mẽ trong doanh nghiệp [Đặng Nguyên Anh, và cộng sự, 2011] Có thể nói hoạt động thiện nguyện ở Việt Nam ngày càng có tính tự nguyện hơn và đây là một thuận lợi lớn cho việc phát huy sức mạnh của hoạt động thiện nguyện cộng đồng
1.2 Những nghiên cứu hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội có thể nói tính đến
nay mới có tác giả Lê Văn Hảo [2016] với công trình “ ành vi ủng hộ xã hội trong thanh niên hiện na ” và Phan Thị Mai Hương [2016] với công trình “Tr tuệ cảm
x c và mối quan hệ của nó v i hành vi xã hội thanh thiếu niên” đề cập trực tiếp
đến hành vi ủng hộ xã hội với ý nghĩa khái quát của khái niệm hành vi ủng hộ xã hội Lê Văn Hảo [2016] đã đánh giá thực trạng hành vi ủng hộ xã hội ở thanh niên Việt Nam hiện nay Tìm hiểu động cơ của các hành vi ủng hộ xã hội trong bối cảnh
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 36có nhiều biến đổi xã hội hiện nay Xác định các lập luận đạo đức (các cân nhắc, xét đoán về mặt đạo đức) nằm sau hành vi ủng hộ xã hội trong những tình huống nan
đề Xem xét mức độ thấu cảm và hành vi ủng hộ xã hội có liên quan ra sao, xem xét lòng tin, đặc biệt là lòng tin xã hội (lòng tin liên cá nhân) như một yếu tố thúc đẩy hành vi giúp đỡ, hành vi hợp tác ở thanh niên Tìm hiểu giá trị liên quan đến hành vi ủng hộ xã hội hay điều mà gia đình, nhà trường và chính thanh niên coi trọng Phan Thị Mai Hương trong nghiên cứu của mình đã tìm hiểu mức độ thực hiện một số dạng hành vi xã hội trong đó có hành vi ủng hộ xã hội và chỉ ra mối quan hệ giữa trí tuệ cảm xúc và những dạng hành vi này
Tác giả Vũ Quỳnh Châu (2015) với “Thực trạng hành vi ủng hộ xã hội ở
thanh niên Việt Nam” (Trong đề tài Hành vi ủng hộ xã hội thanh niên Việt Nam;
2012.09; do tác giả Lê Văn Hảo làm chủ nhiệm) Nghiên cứu tiến hành khảo sát 1.200 thanh niên đang học tại các trường THPT, trung cấp, cao đẳng, Đại học thuộc
5 tỉnh thành phố Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ thực hiện hành vi ủng hộ xã hội thanh niên Việt Nam hiện nay chưa cao [Vũ Quỳnh Châu, 2015] Tác giả Lê Văn Hảo (2006) với “Bước đầu tìm hiểu tính cá nhân, tính cộng qua quan hệ hàng xóm láng giềng ở một xã ven đô” nghiên cứu thực hiện năm 2004 trên mẫu chọn
418 người tham gia phần nghiên cứu định lượng và 21 người tham gia phần nghiên cứu định tính Cụ thể, phỏng vấn bán cấu trúc trên mẫu 21 người có 12 nữ, 9 nam bao gồm cả những người làm ruộng, làm thủ công, công nhân, giáo viên, đã nghỉ hưu… và một số cán bộ xã, thôn ở cả 3 thôn Huỳnh Cung, Tựu Liệt và Kim Ngưu Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm “cộng đồng nhà” không thể phủ nhận ở người dân Tam Hiệp Chính vì vậy, để hợp tác và tương trợ trở nên sâu rộng, mang tính xã hội hóa cao, vượt ra khỏi phạm vi “nhà”, thường phải đòi hỏi có sự khởi xướng, lãnh đạo của chính quyền hay một tổ chức xã hội nào đó Đây cũng là nghiên cứu gián tiếp liên quan đến hành vi ủng hộ xã hội [Lê Văn Hảo, 2006, tr.11] Nguyễn Thị Hoa (2016) với Hành vi giúp đỡ giữa những người hàng xóm ở Hà Nội Nghiên cứu thực hiện 150 người dân ở Hà Nội, kết quả điểm trung bình ở mục giúp
đỡ nhau khi khó khăn là 2,08 thang điểm từ 1 đến 3, thể hiện mối quan tâm giúp đỡ
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 37giữa những người hàng xóm trong mẫu khảo sát chỉ ở mức trung bình [Nguyễn Thị Hoa, 2016, tr.50] Tác giả Lê Văn Hảo (2017), “Chúng ta đang nuôi dưỡng và thúc đẩy phẩm chất nào ở thanh niên?” Nghiên cứu này có mục tiêu tìm hiểu định hướng giá trị quan trọng liên quan đến hành vi ủng hộ xã hội mà cha mẹ và giáo viên đang truyền tải tới thanh niên Sử dụng phương pháp trên một mẫu chọn 1.200 thanh niên (tuổi trung bình là 18,31) ở 5 tỉnh và thành phố, nghiên cứu phát hiện ra rằng “quan tâm, chăm sóc người khác” không phải là ưu tiên hàng đầu của thanh niên Việt Nam và càng không phải là định hướng giá trị ưu tiên của cha mẹ và thầy
cô dành cho thanh niên Thông điệp số một mà đa số thầy cô giáo gửi cho thanh niên (học sinh, sinh viên của họ) là thành đạt chứ không phải là quan tâm, chăm sóc [Lê Văn Hảo, 2017, tr.23-35]
Tác giả Đỗ Ngọc Khanh (2017), với “Thấu cảm và hành vi ủng hộ xã hội ở thanh niên” Nghiên cứu này được thực hiện trên 1.200 thanh niên (tuổi từ 15 đến
26 tuổi, trung bình toàn mẫu 18,31) đang sinh sống ở Hà Nội, Tuyên Quang, Bình Định, thành phố Hồ Chí Minh và An Giang, nhằm tìm hiểu mức độ thấu cảm của thanh niên, cả về mặt nhìn nhận từ quan điểm của người khác lẫn quan tâm thấu cảm, đạt mức trung bình khá Mức thấu cảm của thanh niên khác nhau theo giới, nơi
cư trú, lứa tuổi Có mối tương quan thuận giữa mức độ thấu cảm với hành vi ủng hộ
xã hội, động cơ hành vi ủng hộ xã hội và mức độ lập luận về mặt đạo đức khi đưa ra quyết định hành động của thanh niên [Đỗ Ngọc Khanh, 2017] Nguyễn Tuấn Anh (2017), “Mối quan hệ giữa đồng cảm và hành vi ủng hộ xã hội ở sinh viên” Bằng phương pháp sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến với 144 sinh viên và phỏng vấn sâu 2 sinh viên, nghiên cứu cho thấy, có mối quan hệ thuận chiều giữa đồng cảm và hành
vi ủng hộ xã hội ở sinh viên Bên cạnh đó, có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nhóm sinh viên phân theo giới tính, năm học và địa bàn xuất thân về một số dạng đồng cảm và hành vi ủng hộ xã hội [Nguyễn Tuấn Anh, 2017, tr.76-87]
Nhìn chung, các nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu và đánh giá khá sâu sắc các yếu tố cả về mặt chủ quan lẫn khách quan có vai trò tác động đến hành vi ủng hộ xã hội Những biến số như tình huống được đánh giá là có tác động khá đáng kể trong
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 38việc cá nhân thực hiện hành vi ủng hộ xã hội Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều tranh cãi xoay quanh các kết quả nghiên cứu giữa các tác giả không đồng nhất Chẳng hạn như yếu tố giới tính, tuổi tác, học vấn… liệu có ảnh hưởng đến hành vi ủng hộ xã hội?
1.3 Đánh giá các công trình nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội
Các nghiên cứu đã chỉ rõ sự khác biệt rõ ràng giữa các cộng đồng ở nông
thôn và đô thị Mặc dù đa số các nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội đều tập trung vào sự giúp đỡ người lạ, nhưng trong thực tế sự giúp đỡ thường xảy ra nhất, trong gia đình hay nhóm bạn bè gần gũi
Các nghiên cứu về hành vi đã tiếp cận theo các hướng: khuyến khích, kích hoạt, tham gia và minh hoạ Phương pháp tiếp cận này rất hữu ích để xác định khoảng trống có thể cần phải được điền nếu thay đổi hành vi là xảy ra Hành vi xã hội cũng được thể hiện bằng các khoản đóng góp bằng tiền cho các tổ chức từ thiện, công việc tình nguyện, giúp đỡ người không quen biết Các nghiên cứu đánh giá 6 loại hành vi xã hội: vị tha, tuân thủ, cảm xúc, khinh thường, công khai và ẩn danh Các biện pháp thông cảm, quan điểm, đau khổ cá nhân, tính thích ứng xã hội, hành
vi xã hội toàn cầu, trách nhiệm xã hội, ghi nhận trách nhiệm, kỹ năng ngôn ngữ, và
lý luận luân lý xã hội cũng đã được nghiên cứu Các kết quả khác nhau được thể hiện bởi các nghiên cứu sử dụng các biện pháp hành vi tự đánh giá so với hành vi của hành vi xã hội có thể không chỉ dừng lại ở sự khác biệt về cách thức quản lý mà còn trong loại hành vi được đánh giá, các biện pháp tự thể hiện thường được đánh giá các hành vi tự nguyện, không khẩn cấp hơn, trong khi các biện pháp hành vi thường đánh giá các hành vi khẩn cấp, hoặc các tình huống khi có sự giúp đỡ Khách thể nghiên cứu được chọn từ trẻ em đến người già Trong đó, ít đề cập đến sinh viên để khảo sát nghiên cứu Đây là khoảng trống cần được nghiên cứu về hành
vi chia sẻ, hành vi vị tha, hành vi tình nguyện của sinh viên để bổ sung vào bức tranh chung của hành vi ủng hộ xã hội
Các nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội: Hành vi ủng hộ xã hội: sức mạnh của tình huống, Động cơ hành vi ủng hộ xã hội ở thanh niên Việt Nam, Thực trạng
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 39hành vi ủng hộ xã hội ở thanh niên Việt Nam, Lập luận về mặt đạo đức trong các hành vi ủng hộ xã hội, có trong lĩnh vực tâm lý học Cha mẹ thường ưu tiên con cái của mình nhiều hơn Hầu như trong bất kỳ trường hợp nào họ cũng muốn giúp
đỡ đầu tư cho con cái và mong con cái sẽ đền đáp công ơn đó lúc về già Các nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội còn mỏng Các nghiên cứu Hành vi ủng hộ xã hội tập trung vào giới trẻ nói chung, còn tập trung vào khách thể sinh viên còn ít Do đó, khoảng trống cần nghiên cứu để lấp đầy là Hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên
Hành vi ủng hộ xã hội là một vấn đề khá mới tại Việt Nam Tính đến thời điểm này, rất ít tác giả lựa chọn hành vi ủng hộ xã hội làm vấn đề nghiên cứu của mình Do vậy, việc chúng tôi lựa chọn vấn đề này làm chủ đề nghiên cứu sẽ có thể mang tính mới cao và nhiều nội dung có thể lựa chọn để nghiên cứu song sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học hỏi, trao đổi với các chuyên gia, nhóm nghiên cứu, tác giả khác Nghiên cứu hành vi ủng hộ xã hội của sinh viên đặc biệt dân tộc Kinh, Khmer, Hoa còn ít được nghiên cứu ở Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Vì vậy, sự lựa chọn nghiên cứu đề tài trên đã tạo ra điểm mới của đề tài luận án Kết quả nghiên cứu đề tài luận án phục vụ trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên dân tộc Kinh, Khmer, Hoa trong các trường đại học ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Các nhà nghiên cứu thống nhất Hành vi ủng hộ xã hội được hiểu là tất cả những hành động mang lại lợi ích cho người khác hay xã hội nói chung và chúng
bao gồm các dạng hành vi: hành vi v tha, gi p đ , chia sẻ, tình ngu ện và hợp tác,
tuân thủ, cảm xúc, khinh thường, công khai và ẩn danh Đặc điểm của các dạng hành vi này đã đang bàn đến hiệu quả của việc giúp đỡ, mang lại lợi ích cho người khác chứ chưa bàn đến động cơ bên trong thúc đẩy hành vi này Do đó, động cơ thực hiện hành vi có thể là vì ích kỷ cá nhân, có thể hoàn toàn vì người khác hoặc cũng có thể là vì một mục đích nhất định để thực hiện phù hợp với chuẩn mực xã hội hoặc các quy tắc đạo đức giữa người với người
Luận án tiến sĩ Tâm lý học
Trang 40Các nghiên cứu đã xem xét cho thấy Hành vi ủng hộ xã hội chịu tác động của nhiều yếu tố bao gồm: cái tôi hiệu quả, tiêu điểm kiểm soát, yếu tố tôn giáo, xu hướng thực hiện hành vi, môi trường hoàn cảnh sống Môi trường giáo dục là bối cảnh ảnh hưởng rõ nét nhất đến việc thực hiện hành vi ủng hộ xã hội Môi trường giáo dục thường bao gồm một nhóm sinh viên, học sinh, giáo viên Nhưng 5 yếu tố
mà tác giả luận án chọn là vì các yếu tố ảnh hưởng bao gồm yếu tố Cá nhân + Yếu
tố xã hội trong mối quan hệ tương tác với nhau: Yếu tố nào mạnh hơn sẽ chiếm ưu thế để dẫn đến giúp đỡ hay không giúp đỡ Có thể thành 2 nhóm: yếu tố thúc đẩy và yếu tố cản trở hành vi ủng hộ xã hội sinh viên trong trường Đại học
Nghiên cứu hành vi ủng hộ xã hội, các tác giả trên thế giới đã tập trung giải quyết một số nội dung căn bản sau: Nghiên cứu về tầm quan trọng của hành vi ủng
hộ xã hội; Nghiên cứu về kiểu/loại hành vi ủng hộ xã hội; Nghiên cứu về sự phát triển của hành vi ủng hộ xã hội; Nghiên cứu xuyên văn hóa về hành vi ủng hộ xã hội; Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ủng hộ xã hội; Bàn về tình hình nghiên cứu hành vi ủng hộ xã hội ở Việt Nam, hiện nay mới có đề tài của tác giả Lê Văn Hảo (2016) thực hiện với mục đích tìm hiểu thực trạng hành vi ủng hộ
xã hội trong thanh niên Việt Nam
Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước cho thấy, hành vi ủng hộ xã hội được nhiều nhà nghiên cứu đề cập và theo nhiều hướng khác nhau, mỗi cách tiếp cận có khách thể nghiên cứu riêng biệt, khai thác ở các khía cạnh hành vi vì xã hội, mang lại lợi ích và làm lợi cho nhiều người khác Đặc biệt, ở Việt Nam các nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội theo hướng tích cực, mặt tốt chưa nhiều, chưa rộng khắp ở các vùng miền
Luận án tiến sĩ Tâm lý học