1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên luật qua thực tế hành nghề luật sư, công chứng

74 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên luật qua thực tế hành nghề luật sư, công chứng
Tác giả Phạm Thị Như Quỳnh, Hoàng Thùy Linh, Lê Thị Hòa, Nguyễn Trọng Lâm
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Minh Hằng
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Luật
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2019
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 569,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuẩn đầu ra của trường Đại học Luật, Đại học Huê Theo Quyết định của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Huế về chuẩn đầu ra đào tạo trình độ đại học ngành Luật và ngành Luật Kin

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

- -

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Tên đề tài:

XÂY DỰNG KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN LUẬT, QUA

THỰC TẾ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG

Mã số: ĐHL2019-SV-15

Chủ nhiệm đề tài: Phạm Thị Như Quỳnh

Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019

Huế, tháng 12 năm 2019

Hue University

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

- -

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Tên đề tài:

XÂY DỰNG KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN LUẬT, QUA

THỰC TẾ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG

Mã số: ĐHL2019-SV-15

Chủ nhiệm đề tài: Phạm Thị Như Quỳnh

Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:

Họ và tên, học hàm, học vị: PGS.TS Nguyễn Minh Hằng

Ký xác nhận đồng ý cho nghiệm thu: ………

SINH VIÊN PHỐI HỢP NGHIÊN CỨU:

1 Hoàng Thùy Linh

2 Lê Thị Hòa

3 Nguyễn Trọng Lâm

Huế, tháng 12 năm 2019

Hue University

Trang 3

DANH SÁCH THÀNH VIÊN

1 Phạm Thị Như Quỳnh Luật K40A 16A5011313

2 Hoàng Thùy Linh Luật K39D 15A5021132

LỜI CAM ĐOAN

Nhóm tác giả xin cam đoan bài nghiên cứu khoa học với đề tài “Xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên Luật qua thực tế hành nghề Luật sư, Công chứng” là sản phẩm của riêng nhóm tác giả Những số liệu được thu thập từ quá

trình khảo sát tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế Nhóm tác giả hoàn toàn chịu

Hue University

Trang 4

Hue University

Trang 5

Đặc biệt, nhóm tác giả nghiên cứu xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân

thành nhất đến PGS.TS Nguyễn Minh Hằng- Giảng viên trực tiếp hướng dẫn,

chỉ bảo tận tình cũng những định hướng và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để nhóm hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học này Giảng viên hướng dẫn

đã luôn theo sát từng giai đoạn và có những hỗ trợ, tư vấn kịp thời để tạo nên sản phẩm cuối cùng của nhóm tác giả

Mặc dù, nhóm nghiên cứu đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song công trình nghiên cứu khó tránh khỏi thiếu sót Nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy Cô trong Hội đồng nghiệm thu đề tài đã đưa ra những ý kiến vô cùng quý báu giúp cho nhóm nghiên cứu khắc phục được những thiếu sót trong công trình và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

Xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 12 năm 2019

NHÓM TÁC GIẢ

Hue University

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 9

1 Tính cấp thiết của đề tài 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Kết cấu của đề tài 13 NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở pháp lý, nhu cầu xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên Luật qua thực tế hành nghề Luật sư, Công chứng

Chương 2: Xây dựng kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng cho sinh viên Luật trường Đại học Luật, Đại học Huế

Hue University

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Về lý luận, Tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục (6-1957), Bác Hồ đã nói: "Giáo

dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngòai xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” Người chỉ rõ: “Học để hành, học mà không hành thì vô ích, hành mà không học thì không trôi chảy” Lời dạy của Bác có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc dạy học của chúng ta hiện nay

Trong quá trình phát triển nền giáo dục, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về phát triển nền giáo dục vẫn luôn chú trọng mục tiêu “Học đi đôi với hành” Trong quy định của pháp luật, Tại Điều 2 Luật giáo dục năm 1998 quy định về mục tiêu giáo dục: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Đồng thời, Điều 3 Luật này cũng quy định về nguyên lý giáo dục: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.” Qua các giai đoạn phát triển, Luật giáo dục 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) tiếp tục kế thừa mục tiêu và nguyên lý giáo dục của Luật giáo dục trước đó Theo đó, vấn đề kết hợp giữa lý thuyết và thực hành vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng trong chính sách giáo dục

Đặc biệt, giáo dục bậc Đại học đóng vai trò quan trọng, là bậc đào tạo trực tiếp liên quan đến nghề nghiệp của người học Vì vậy, đào tạo đại học cần được chú trọng quan tâm, đặc biệt là về phương pháp đào tạo Mục tiêu chung của đào tạo đại học là “Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,

Hue University

Trang 8

bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo;

có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân” (Điều 5 Khoản 1 Luật Giáo dục đại học năm 2012) Để làm được điều đó, Việc áp dụng phương pháp đào tạo lý thuyết

đi đôi với thực hành càng thể hiện tầm quan trọng và cần thiết

Về thực tiễn, hiện nay, việc giáo dục ở bậc Đại học chưa thực sự phát huy

đúng nhiệm vụ của mình, chương trình đào tạo hiện nay đang nặng về lý thuyết hơn

kĩ năng thực hành Số lượng tín chỉ học thực hành thiên về kĩ năng cho sinh viên chỉ đạt 16/120 tín chỉ, chiếm 19,2% Số tín chỉ học lý thuyết cao hơn gấp 6 lần số tín chỉ

về kĩ năng và thực hành Bên cạnh đó, ngay cả các môn học, tín chỉ liên quan tới thực hành kỹ năng cũng chưa thực sự đi sát với thực tiễn chỉ mang tính chất giới thiệu, thiếu thực hành vận dụng, hiệu quả mang lại không cao

Riêng đối với đào tạo ngành luật, một lĩnh vực đào tạo đặc thù đòi hỏi kiến thức và sự vận dụng thực tiễn cao, thì vấn đề nâng cao kiến thức, kỹ năng thực tiễn cho sinh viên Luật là vô cùng quan trọng Cụ thể như trong hoạt động công chứng, một hoạt động gắn liền với thực tiễn đời sống thông qua chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự bằng văn, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt…thì để trở thành công chứng viên đòi hỏi phải có kiến thức thực tiễn thông qua quá trình đào tạo và làm việc nhất định Tuy nhiên, theo nhận định từ các Luật sư và các nhà tuyển dụng, đa số đều có chung một nhận định rằng kỹ năng của sinh viên Luật hiện nay khi ra trường đang rất yếu và hầu như đều phải đào tạo lại Từ đó, có thể thấy được vấn đề kỹ năng thực tiễn của sinh viên Luật đang cần phải được chú trọng

Hue University

Trang 9

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, nhóm nghiên cứu lựa chọn đề

tài “ Xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên Luật qua thực tế hành nghề Luật sư, Công chứng” làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2019

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu liên quan đến chủ đề pháp luật rất phong phú ở nhiều góc độ của pháp luật, trong đó có cả những công trình nghiên cứu về kỹ năng hành nghề Luật sư và Công chứng

Về kỹ năng hành nghề Luật sư, có công trình nghiên cứu đã được xuất bản của Liên đoàn Luật sư Việt Nam đó là cuốn sổ tay Luật sư

Về kỹ năng hành nghề Công chứng, Bộ Tư Pháp xuất bản cuốn Giáo trình kỹ năng hành nghề công chứng

Tuy nhiên, ở hai cuốn sách này chưa đi sâu vào thực tiễn đời sống mà nó hướng đến Để hiểu rõ hơn về thực tiễn áp dụng kỹ năng để hành nghề Luật sư và Công chứng, nhóm đề tài sẽ nghiên cứu từ thực tế thông qua các Văn phòng Luật sư và Văn phòng Công chứng

Hiên tại, tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về lĩnh vực xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên Luật qua thực tế hành nghề Luật sư, Công chứng Đây là đề tài đầu tiên của trường nghiên cứu

về vấn đề này, có ý nghĩa quan trọng, mang tính thực tế cao, giúp nâng cao hiệu quả của nguồn nhân lực sau này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng những kỹ năng nghề nghiệp quan trọng, cần thiết cho sinh viên Luật qua thực tế hành nghề Luật sư, Công chứng

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

Hue University

Trang 10

- Hệ thống hóa cơ sở pháp lý là các văn bản pháp luật

- Nghiên cứu thực trạng về hành nghề Luật sư, Công chứng

- Nghiên cứu thực trạng kỹ năng của sinh viên trường Đại học Luật, Đại học Huế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:

án, văn phòng Công chứng trong khoảng thời gian 05 năm từ năm 2015-2018

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích , so sánh

Phương pháp này được sử dụng để phục vụ cho việc phân tích đánh giá Chương 2; Qua việc phân tích đánh giá trên nhiều phương diện, phương pháp tổng hợp giúp đưa ra kết luận lần nữa về nội dung mà tác giả đang nghiên cứu

Từ đó, tác giả áp dụng phương pháp tổng hợp để khái quát tất cả các vấn đề và đồng thời đề xuất giải pháp phù hợp

Hue University

Trang 11

- Phương pháp chuyên gia ( hỏi ý kiến những chuyên gia làm thực tiễn về pháp

luật Ví dụ: Luật sư, Kiểm sát viên, Giảng viên các ngành luật thực định,…)

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu thì đề tài nghiên cứu gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở pháp lý, nhu cầu xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên Luật qua thực tế hành nghề Luật sư, Công chứng

Chương 2: Xây dựng kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng cho sinh viên Luật trường Đại học Luật, Đại học Huế

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ, NHU CẦU XÂY DỰNG KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN LUẬT QUA THỰC TẾ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG

1.1 Cơ sở pháp lý

1.1.1 Chuẩn đầu ra của trường Đại học Luật, Đại học Huê

Theo Quyết định của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Huế về chuẩn đầu ra đào tạo trình độ đại học ngành Luật và ngành Luật Kinh tế thì sinh viên tốt nghiệp chương trình đào tạo cần phải trang bị cho mình những kiến thức và năng lực chuyên môn cũng như những kỹ năng cơ bản và kỹ năng pháp lý chuyên ngành để phục vụ cho công việc của bản thân sau này Những trang bị về kiến thức và kỹ năng

đó được thể hiện cụ thể như sau:

1.1.1.1 Chuẩn đầu ra đào tạo trình độ đại học ngành Luật Kinh tế

a, Về kiến thức và năng lực chuyên môn

Hue University

Trang 12

Thứ nhất, sinh viên có khả năng hiểu và vận dụng được vào thực tiễn hệ thống

tri thức khoa học lý luận chính trị để hình thành thế giới quan và phương pháp luận,

từ nền tảng đó sinh viên có thể độc lập tiếp cận và luận giải về các vấn đề hiện đại

về nhà nước và pháp luật;

Thứ hai, sinh viên có khả năng hiểu và vận dụng các kiến thức nền tảng khoa

học xã hội vào việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chương trình đào tạo ngành Luật Kinh tế;

Thứ ba, sinh viên thông hiểu và có khả năng vận dụng các kiến thức cơ bản

theo khối ngành và kiến thức cơ sở ngành vào giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại như: mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh trong xác lập, thực hiện giao dịch kinh doanh thương mại; trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo hộ quyền

tự do kinh doanh và thiết lập môi trường kinh doanh an toàn, lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh; trách nhiệm của Nhà nước trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại

Thứ tư, sinh viên có khả năng thông hiểu và vận dụng các kiến thức ngành

Luật vào các lĩnh vực pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại như: Quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với tài sản, sử dụng tài sản trong thời kỳ hôn nhân để tham gia hoạt động kinh doanh thương mại; trách nhiệm hình sự trong hoạt động kinh doanh; khuôn khổ pháp luật quốc tế điều chỉnh hoạt động thương mại giữa các quốc gia và các định chế thương mại quốc tế; cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc

tế

Thứ năm, sinh viên có khả năng thông hiểu và vận dụng được các kiến thức

pháp lý chuyên ngành luật trong lĩnh vực pháp luật dân sự, kinh doanh, thương mại

để giải quyết các tình huống phát sinh trong đời sống kinh doanh phù hợp với pháp luật quốc gia, pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, đạo đức kinh doanh

Hue University

Trang 13

Thứ sáu, sinh viên có khả năng vận dụng kiến thức thực tế, thực tập để có thể

làm quen với các công việc trong tương lai và thích ứng với những thay đổi của môi trường làm việc Có năng lực dẫn dắt, thuyết phục về chuyên môn đã được đào tạo;

có sáng kiến trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao; có khả năng tự học tập, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có năng lực lập kế hoạch, điều phối, phát huy trí tuệ tập thể

b, Về kỹ năng

Thứ nhất, về kỹ năng cứng sinh viên có kỹ năng hoàn thành công việc phức

tạp đòi hỏi vận dụng kiến thức lý thuyết và thực tiễn của ngành Luật Kinh tế trong những tình huống cụ thể; có kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá dữ liệu và thông tin để đưa ra quan điểm, nhận định vấn đề mang tính cá nhân và kỹ năng tổng hợp ý kiến tập thể;

Thứ hai, kỹ năng tra cứu thành thạo các văn bản pháp luật, phân tích luật, lựa

chọn và áp dụng đúng các quy định của pháp luật để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn;

Thứ ba, sinh viên có kỹ năng tư duy hệ thống, nhận thức, phân tích, đánh giá

các vấn đề pháp lý liên quan đến việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh thương mại;

Thứ tư, sinh viên có kỹ năng nhận diện, đánh giá mối liên hệ giữa sự kiện,

tình huống phát sinh trong hoạt động kinh doanh với các quy phạm pháp luật và đưa

ra được phương án giải quyết tình huống kinh doanh thương mại đúng pháp luật, đạo đức kinh doanh;

Thứ năm, sinh viên có kỹ năng cơ bản trong đàm phán, giao kết và tổ chức

thực hiện các hợp đồng, thỏa thuận kinh doanh – thương mại;

Thứ sáu, sinh viên có kỹ năng cơ bản trong giải quyết các tranh chấp kinh

doanh – thương mại; Bước đầu có khả năng tư vấn pháp luật kinh doanh (công ty, nhân hàng, bảo hiểm, thuế, kiểm toán, chứng khoán, tài chính, tài nguyên, môi

Hue University

Trang 14

Thứ bảy, sinh viên có kỹ năng cơ bản trong chuẩn bị thủ tục pháp lý liên quan

đến thành lập và quản trị doanh nghiệp Có kỹ năng tiếp nhận và ứng dụng các kết quả nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực pháp luật kinh doanh vào thực tiễn; bước đầu hình thành năng lực sáng tạo, phát triển trong nghề nghiệp;

Quan trọng nhất, sinh viên có khả năng tổng kết được các bài học kinh nghiệm nghề nghiệp cho bản thân từ thực tiễn trên cơ sở đối chiếu với các kiến thức đã được trang bị

Ngoài những kỹ năng cứng (kỹ năng nghề nghiệp), sinh viên còn được trang

bị những kỹ năng mềm (kỹ năng bổ trợ) như sau:

Sinh viên có kỹ năng làm việc độc lập và kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng giao tiếp, trình bày và thuyết trình; kỹ năng giải quyết công việc một cách logic và sáng tạo; khi gặp hoàn cảnh, thực tiễn thay đổi, sinh viên có khả năng thích ứng và hòa nhập nhanh Bên cạnh có, sinh viên bước đầu có khả năng phản biện xã hội đối với những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng, kiến tạo chính sách, thể chế trong tương lai;

Về ngoại ngữ, sinh viên có kỹ năng ngoại ngữ chuyên ngành ở mức có thể hiểu được các ý chính của một báo cáo hay bài phát biểu về các chủ đề quen thuộc trong công việc liên quan đến ngành được đào tạo; có thể sử dụng ngoại ngữ để diễn đạt, xử lý một số tình huống chuyên môn thông thường; có thể viết được báo cáo có nội dung đơn giản, trình bày ý kiến liên quan đến công việc chuyên môn Có khả năng sử dụng được các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và giao tiếp ngoại ngữ đạt trình

độ tương đương bậc 3 theo khung năng lực Ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam Bên cạnh đó, sinh viên còn có khả năng sử dụng thành thạo máy tính và một

số phần mềm văn phòng thông dụng để có thể soạn thảo tài liệu; quản lý dữ liệu qua các bảng tình; trình chiếu; khai thác Internet để tìm kiếm thông tin và liên lạc qua thư điện tử; xây dựng và quản lý được trang web đơn giản Có khả năng tổ chức lưu trữ thông tin trên máy tính và sử dụng máy tính để giải quyết vấn đề thông dụng Có

Hue University

Trang 15

kiến thức cơ bản để sử dụng các công cụ xử lý thông tin thông dụng (hệ điều hành, các phần mềm hỗ trợ công tác văn phòng và khai thác Internet…)

1.1.1.2 Chuẩn đầu ra đào tạo trình độ đại học ngành Luật

Đối với chuyên ngành Luật Kinh tế, chương trình đào tạo nghiêng về những kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về pháp luật, thực tiễn pháp lý, pháp luật trong kinh doanh; khả năng nghiên cứu và xử lý những vấn đề pháp lý đặt ra trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp Đối với chuyên ngành Luật học, sinh viên được trang bị nhiều hơn kiến thức chung

về vận dụng, thực hành các quy định pháp luật vào đời sống và quản lý nhà nước

a, Về kiến thức và năng lực chuyên môn

Sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Luật học có khả năng hiểu và vận dụng được vào thực tiễn hệ thống tri thức khoa học lý luận chính trị để hình thành thế giới quan và phương pháp luận cho sinh viên có thể độc lập tiếp cận và luận giải về các vấn đề hiện đại về nhà nước và pháp luật, vận dụng các kiến thức nền tảng khoa học

xã hội vào việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chương trình đào tạo ngành Luật;

Sinh viên có khả năng hiểu và có khả năng vận dụng các khối kiến thức cơ bản của nhóm ngành và cơ sở ngành vào việc nhận diện các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nhà nước và pháp luật như: phát hiện được quy luật phát triển của hiện tượng nhà nước và pháp luật dựa trên các quy luật phát triển của xã hội; xác định được vị trí của nhà nước và pháp luật trong quá trình phát triển của xã hội; mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật với tổ chức, cá nhân được tiếp cận dựa trên quyền; các mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và khả năng vận dụng vào việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

Khi phát sinh các tình huống thực tiễn trong đời sống, trong đòi hỏi của công việc gắn liền một số chức danh nghề nghiệp thuộc lĩnh vực pháp luật, sinh viên có

Hue University

Trang 16

khả năng vận dụng các kiến thức nền tảng của khoa học ngành Luật để nhận biết và giải quyết tình huống

Sinh viên có khả năng thông hiểu và vận dụng các kiến thức chuyên sâu trong các lĩnh vực pháp luật để phân tích, tổng hợp và độc lập đưa ra quan điểm cá nhân

về vấn đề pháp lý phát sinh; đưa ra được cách thức giải quyết tình huống phát sinh dựa trên tư duy pháp lý có tính hệ thống;

Bên cạnh đó, sinh viên còn có khả năng vận dụng những kiến thức pháp luật vào thực tế, thực tập để bước đầu làm quen với các công việc trong tương lai, có khả năng tự định hướng và thích nghi với các môi trường làm việc khác nhau; xác định được các mối quan hệ pháp lý liên quan đến các chức danh nghề nghiệp của ngành Luật Có năng lực dẫn dắt về chuyên môn đã được đào tạo; có sáng kiến trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao; có khả năng tự học tập, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có năng lực lập kế hoạch, điều phối, phát huy trí tuệ tập thể

b, Về kỹ năng

- Về kỹ năng cứng (kỹ năng nghề nghiệp)

Sinh viên có kỹ năng xây dựng kế hoạch để hoàn thành công việc phức tạp đòi hỏi vận dụng kiến thức lý thuyết pháp luật và quy định pháp luật vào thực tiễn công việc trong những bối cảnh khác nhau; có kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá

dữ liệu và thông tin, tổng hợp ý kiến ttaapj thể; có kỹ năng phát biểu và trình bày quan điểm cá nhân về một vấn đề pháp lý tương ứng với từng chức danh nghề nghiệp của ngành luật;

Sinh viên biết cách tra cứu các văn bản pháp luật, phân tích luật, lựa chọn và

áp dụng đúng các quy định của pháp luật để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn Có khả năng tư duy hệ thống, nhận thức, phân tích, đánh giá các vấn đề pháp lý nói chung; có phương pháp phân tích, đánh giá mối liên hệ giữa quy định

Hue University

Trang 17

pháp luật và tình huống pháp lý phát sinh để nhận diện vấn đề pháp lý cần giải quyết, phương pháp, cách thức giải quyết vấn đề pháp lý dựa trên nền tảng tư duy pháp lý; Sinh viên biết tiếp cận và vận dựng các vấn đề kinh tế xã hội vào thực tiễn công việc của nghề luật; bước đầu hình thành kỹ năng phát hiện, phân tích, đánh giá phản biện, tư vấn các vấn đề pháp lý dựa trên những luận cứ khoa học, môi trường pháp luật thực định thuộc chuyên ngành đào tạo Có khả năng tự nghiên cứu và lập luận, biết vận dụng các kiến thức, kỹ năng vào nhận diện và giải quyết các vấn đề pháp lý trong một số tình huống pháp lý cụ thể;

Từ thực tiễn trên cơ sở đối chiếu với các kiến thức đã được trang bị, siinh viên

có khả năng tổng kết các bài học kinh nghiệm cho bản Bước đầu hình thành khả năng cảm nhận công lý, trách nhiệm cá nhân trong thực tiễn công việc của nghề luật

- Về kỹ năng mềm (kỹ năng bổ trợ)

Sinh viên có kỹ năng làm việc độc lập, hợp tác làm việc nhóm, giải quyết công việc với tư duy lôgíc và sáng tạo Có kỹ năng giao tiếp, trình bày và thuyết trình, tra cứu thông tin, nghiên cứu văn bản, tài liệu; soạn thảo văn bản và biết báo cáo phân tích, đàm phán, tư vấn và làm việc với khách hàng;

Bên cạnh đó, sinh viên còn có kỹ năng thích ứng và quản lý sự thay đổi đối với môi trường công việc trong nước và quốc tế luôn có sự biến động với khả năng nghe, nói, đọc, viết và giao tiếp bằng ngoại ngữ theo quy định; có kỹ năng sử dụng ngôn tiếng Việt, sử dụng tốt, linh hoạt các thuật ngữ pháp lý trong giao tiếp và giải quyết công việc

- Về tin học: Sinh viên có khả năng sử dụng thành thạo máy tính và một số phần mềm văn phòng thông dụng như: WORD, EXCEL, POWER POINT… để có thể soạn thảo tài liệu; quản lý dữ liệu qua các bảng tính; trình chiếu; khai thác Internet

để tìm kiếm thông tin và liên lạc quan thư điện tử; làm được trang web đơn giản Có

Hue University

Trang 18

khả năng tổ chức lưu trữ thông tin trên máy tính và sử dụng máy tính để giải quyết

vấn đề thông dụng;

1.1.2 Điều kiện hành nghề Luật sư

a) Khái niệm Luật sư

Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật Tại Điều 2, Luật Luật sư 2006 định nghĩa như sau : “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan,

tổ chức” Tức là Luật sư sẽ cung cấp các dịch vụ pháp lý như: tư vấn pháp luật, soạn thảo văn bản, tổ chức đàm phán, thương lượng về các vấn đề pháp luật, và có thể đại diện cho thân chủ hoặc bảo vệ quyền lợi của thân chủ trước tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng

b) Điều kiện để hành nghề Luật sư

Luật sư là ngành cần có kiến thức chuyên môn cao, muốn trở thành một người luật

sư phải thông qua quá trình đào tạo và rèn luyện lâu dài Về cơ bản, để trở thành một

Luật sư theo quy định pháp luật Việt Nam, người học sẽ phải trải qua các bước sau:

* Theo Điều 2, Luật Luật sư 2006 có quy định để có thể trở thành một Luật

sư thì mỗi cá nhân phải đáp ứng đủ về tiêu chuẩn và điều kiện để hành nghề Đầu tiên để có thể hành nghề luật sư phải đáp ứng các tiêu chuẩn được quy định tại Điều

10, Luật Luật sư 2006

Thứ nhất, là công dân có quốc tịch Việt Nam

Đây là điều kiện cần thiết và là điều kiện đầu tiên bởi vì Luật sư là một phần trông

hệ thống hành pháp của một đất nước Luật sư sẽ là người áp dụng pháp luật, dùng những kỹ năng, vốn hiểu biết về pháp luật nước mình để bảo vệ cho thân chủ, khách hàng của họ Hay phải chịu trách nhiệm trước những gì họ làm Chính vì thế nên, để trở thành một Luật sư ở Việt Nam thì công dân đó phải có quốc tịch Việt Nam Chịu

sự quản lý dưới nên hiến pháp và pháp luật Việt Nam

Thứ hai, phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật

Không chỉ có Luật sư mới phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật mà mọi công dân có quốc tịch Việt Nam đều phải đảm bảo điều này Đây là trách nhiệm của mỗi công dân Nhưng khi muốn trở thành Luật sư, đây cũng được xem là một điều kiện cần Khi tuân thủ Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm túc thì công dân mới có đủ

cơ sở nền tảng về đạo đức, ý thức để học và hành nghề Luật sư

Thứ ba, phải có phẩm chất đạo đức tốt

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và dư luận xã hội (Giáo trình Đạo đức học 2000) Vì vậy, có phẩm chất đạo đức tốt là gốc gác để hình thành một con người tốt từ đó cũng

Hue University

Trang 19

sẽ hành nghề có đạo đức Đặc biệt, để trở thành một người đại diện cho pháp luật thì điều tất yếu là phải có một phẩm chất đạo đức tốt

Thứ tư, phải có bằng cử nhân Luật

Theo Luật Luật sư 2006, Luật sư phải là những người đã có bằng cử nhân Luật Để có bằng cử nhân Luật, người đó phải trải qua 4 năm học tại các trường Đại học Luật hoặc Khoa Luật của các trường Đại học khác trên cả nước, sau khi tốt nghiệp sẽ được cấp bằng cử nhân

Thứ năm, đã được đào tạo nghề Luật sư

Sau khi có bằng cử nhân Luật, người có nhu cầu trở thành Luật sư phải đăng

ký tham dự khóa đào tạo nghề Luật sư với thời gian là 12 tháng, theo Điều 12 Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề Luật sư được cơ sở đào tạo nghề Luật sư cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề Luật

sư Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ là người quy định chương trình khung đào tạo nghề Luật sư Hiện tại, Học viện Tư pháp đang là cơ sở được giao nhiệm vụ đào tạo Luật

Thứ sáu, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư

Khi đã hoàn thành chương trình đào tạo nghiệp vụ Luật sư được cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp, người có nhu cầu trở thành Luật sư phải tiếp tục đăng ký tham gia tập sự tại các tổ chức hành nghề Luật sư như Văn phòng Luật, Công ty Luật

và thời gian tập sự cũng là 12 tháng và một số quy định theo Điều 14, luật Luật sư sửa đổi năm 2012 quy định về tập sự hành nghề Luật sư Căn cứ pháp lý tại Điều 15, luật Luật sư 2012 thì Liên đoàn Luật sư Việt Nam sẽ là đơn vị tổ chức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Luật sư (Người được miễn tập sự hành nghề luật sư theo quy định tại khoản 1 Điều 16 thì không phải tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Luật sư) Người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Luật sư sẽ được Hội đồng kiểm tra cấp Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Luật sư Kiểm tra kết thúc tập sự hành nghề Luật sư gồm 2 phần: Thi viết và thi thực hành Nội dung thi gồm các kỹ năng tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật; pháp luật về Luật sư và hành nghề Luật sư, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam…

Thứ bảy, phải có sức khỏe bảo đảm hành nghề Luật sư

Không chỉ trong hành nghề Luật sư mà trong rất nhiều ngành nghề khác vấn đề đảm bảo sức khỏe để hành nghề luôn là điều kiện cần và cũng là điều kiện đủ để đảm bảo trong quá trình làm việc

Thứ tám, sau khi đã đáp ứng đủ tiêu chuẩn quy định nêu trên căn cứ tại Điều

11, luật Luật sư 2006 còn quy định như sau : “Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư”

Như vậy, điều kiện để hành nghề tùy theo quốc gia mà có sự khác nhau nhưng nhìn chung thì phải có Chứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư nhất định

Hue University

Trang 20

Chứng chỉ hành nghề được cấp sau khi người đó đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Luật sư và có hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư gửi Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư Quy định của pháp luật về hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư được quy định cụ thể tại Điều 17, luật Luật sư sửa đổi năm

2012 Sau khi đã có Chứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư do mình lựa chọn để hành nghề Luật sư theo quy định tại Điều 20, luật Luật sư sửa đổi năm 2012 về gia nhập đoàn Luật sư

Ngoài ra, Luật sư phải có kĩ năng cơ bản đối với yêu cầu của công việc này như: giao tiếp tốt, có khả năng phân tích, kỹ năng tranh luận, kỹ năng đọc viêt, soạn thảo văn bản, thụ lý vụ án, tư vấn pháp lý,…

1.1.3 Điều kiện hành nghề Công chứng

a) Khái niệm công chứng

Công chứng thường được mọi người nhắc đến khi làm thủ tục giấy tờ, nhưng thực tế hoạt động công chứng vẫn chưa được mọi người hiểu rõ là bao gồm những hoạt động cụ thể nào ? Theo Điều 2.1 Luật Công chứng 2014, công chứng được định nghĩa như sau:

“ Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc ngược lại mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.”

Vậy hoạt động công chứng đó được thực hiện bởi công chứng viên Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về công chứng viên từ phía các nhà nghiên cứu nhưng bên cạnh đó có thể hiểu một cách khái quán về công chứng viên như sau:

- Công chứng viên là nhà chuyên môn về pháp luật, có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.1 Và để trở thành một công chứng viên cũng như hành nghề Công chứng phải đáp ứng các điều kiện cụ thể mà pháp luật đã quy định tại Luật Công chứng hiện hành

b) Điều kiện để hành nghề Công chứng

Theo quy định của pháp luật, Công chứng viên được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Bộ Tư pháp và được coi như công chức dù không hưởng lương từ ngân sách nhà nước Nói cách khác, công chứng viên là một công chức đặc biệt vì công chứng viên

1 https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ch%E1%BB%A9ng_vi%C3% AAn), truy cập ngày 02/02/2019

Hue University

Trang 21

do nhà nước bổ nhiệm, phải tuân theo quy định của Nhà nước, đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước nhưng lại hành nghề với tư cách tự do Vì thế nên, để hành nghề công chứng viên thì công dân phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 8 Luật Công chứng 2014 như sau:

Thứ nhất, công chứng viên phải là công dân của nước đó, không thuộc trường

hợp mất năng lực hoặc không có khả năng thực hiện vai trò của công chứng viên, là tiến sĩ hoặc người tốt nghiệp Luật, có nhân cách và năng lực phù hợp với chức danh,

đã trải qua khóa đào tạo nghề dài và chuyên sâu, hoàn thành thời gian tập sự hành nghề công chứng và vượt qua kỳ thi tuyển công chứng viên

Thứ hai, phải có bằng cử nhân Luật

Cũng giống như tiêu chuẩn ở hành nghề Luật sư, muốn hành nghề Công chứng phải có bằng cử nhân Luật Giai đoạn này thường kéo dài 4 đến 5 năm tùy vào cơ sơ đào tạo và hệ đào tạo mà sinh viên chọn Để có bằng cử nhân luật, người học có thể lựa chọn cho mình một cách thức học tập thông qua các hệ đào tạo khác nhau như: Chính quy, tại chức, vừa học vừa làm, Đây là giai đoạn hết sức quan trọng, người học nói chung và sinh viên tại các cơ sở đào tạo chính quy sẽ được cung cấp các kiến thức cơ bản và chuyên sâu liên quan đến pháp luật Ngoài ra Nhà trường cũng sẽ tạo

ra môi trường thuận lợi để Người học phát triển các kỹ năng cơ bản của mình

Thứ ba, có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan, tổ

chức sau khi đã có bằng cử nhân luật

Thứ tư, Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng hoặc hoàn thành khóa bồi

2 Thời gian đào tạo nghề công chứng là 12 tháng

Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề công chứng được cơ sở đào tạo nghề công chứng cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng

3 Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết về cơ sở đào tạo nghề công chứng, chương trình khung đào tạo nghề công chứng và việc công nhận tương đương đối với những người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài.”

Hue University

Trang 22

Việc tham gia khóa đào tạo hành nghề công chứng không bị áp dụng cho tất

cả các trường hợp Những đối tượng sau sẽ được miễn đào tạo hành nghề công chứng bao gồm:

“ Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên; Luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên; Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật; Người đã là thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên pháp luật cao cấp.” 2

Các trường hợp được miễn đào tạo hành nghề Công chứng vẫn phải tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề Công chứng và quy tắc đạo đức hành nghề Công chứng tại Học viện Tư pháp trong 03 tháng và tập sự hành nghề

Thứ năm, đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Công chứng

- Người đã hoàn thành khóa đào tạo hành nghề công chứng hoặc khóa học bồi dưỡng hành nghề công chứng nếu muốn hành nghề công chứng viên phải đăng

ký việc tập sự hành nghề sau đó mới có kết quả tập sự hành nghề Cụ thể hơn về tập

+ Thời gian tập sự hành nghề công chứng là 12 tháng đối với những người tốt nghiệp khóa đào tạo hành nghề công chứng, 06 tháng đối với người tốt nghiệp khóa bồi dưỡng nghề công chứng Người có nguyện vọng được quyền thay đổi nơi tập sự nhưng phải đảm bảo tổng thời gian tập sự tối thiểu tại mỗi tổ chức hành nghề là 03 tháng5

- Sau khi tập sự hành nghề công chứng việc đăng ký kiểm tra kết quả tập sự

có thể được thực hiện tại Sở Tư pháp nơi đăng ký tập sự khi có kỳ kiểm tra do Bộ

Tư pháp tổ chức hoặc ngay khi người tâp sự nộp báo cáo kết quả tập sự Một năm,

Bộ Tư pháp tổ chức 02 kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng Trong trường hợp không đạt yêu cầu trong kỳ kiểm tra trước, người tập sự được phép đăng

ký kiểm tra lại trong đợt sau nhưng tổng số lần kiểm tra tối đa chỉ 03 lần.6

2 Điều 10 Luật Công chứng năm 2014

3 Điều 11 Luật công chứng năm 2014

4 Điều 11.1, Luật Công chứng 2014.

5 Điều 3.2, Thông tư 04/2015/TT-BTP

6 Điều 16, Điều 17, Thông tư 04/2015/TT-BTP.

Hue University

Trang 23

Người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Công chứng được cấp giấy chứng nhận kết quả kiểm tra tập sự hành nghề Công chứng Đây là một điều kiện trong số các điều kiện để trở thành công chứng viên

Thứ sáu, phải bảo đảm sức khỏe để hành nghề công chứng

Không chỉ trong hành nghề Công chứng mà trong rất nhiều ngành nghề khác vấn

đề đảm bảo sức khỏe để hành nghề luôn là điều kiện cần và cũng là điều kiện đủ để

đảm bảo trong quá trình làm việc

1.2 Nhu cầu xây dựng kỹ năng hành nghề cho sinh viên Luật qua thực tế hành nghề Luật sư, Công chứng

Để xây dựng kỹ năng hành nghề cho sinh viên Luật trong nghề Luật sư, Công chứng thì việc xác định được nhu cầu từ phía nhà trường, sinh viên và từ phía nhà sử dụng lao động là vô cùng quan trọng Xác định nhu cầu từ nhiều phía như sinh viên đang theo học tại trường Luật giúp nhóm xác định được định hướng tương lại, mong muốn nguyện vọng của các bạn sinh viên đang theo học tại trường có định hướng về nghề Luật sư hay Công chứng; từ phía người sử dụng lao động và nhà trường cũng giúp xác định được nguyện vọng nhận và đưa ra được những sinh viên có đầy đủ kỹ năng cơ bản khi làm việc tại các đơn vị hành nghề Luật sư, Công chứng Mục đích nghiên cứu nhóm muốn hướng đến là xây dựng kỹ năng cho sinh viên Luật nên ý kiến của những đối tượng nêu trên là một trong những mấu chốt giúp nhóm hoàn

thiện đề tài

1.2.1 Nhu cầu từ phía nhà trường

Như đã nói ở trên thì việc xác định nhu cầu từ phía nhà trường, sinh viên và từ phía nhà sử dụng lao động là vô cùng quan trọng vì từ việc xác định đó nhóm có thể xây dựng chi tiết kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng cho sinh viên Luật Tuy nhiên, bên cạnh việc xác định nhu cầu từ phía đối tượng thụ hưởng là các bạn sinh viên Luật, việc xác định nhu cầu từ phía nhà trường cũng không kém phần quan trọng

vì nó sẽ góp phần tạo ra cái nhìn đa chiều hơn về kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng cho sinh viên nhất là từ góc độ nhà quản lý, đào tạo

1.2.1.1 Nhu cầu từ phía cán bộ quản lý

Ngày nay, việc phát triển Giáo dục đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và sự tiến bộ của khoa học - công nghệ là thiết yếu, phù hợp với quy luật khách quan Chính vì lẽ đó, những yêu cầu từ việc xây dựng chi tiết kỹ năng hành nghề

Hue University

Trang 24

giáo dục và đào tạo từ tập trung vào số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả đồng thời đảm bảo đáp ứng yêu cầu về số lượng là một yêu cầu cấp thiết đối với các cán bộ quản lý, nhất là khi thực hiện Luật Giáo dục Đại học sửa đổi

Nhu cầu của xã hội đối với nghề Luật sư, Công chứng là rất lớn Thực tế hiện nay ở nước ta có khoảng 6000 Luật sư, 400 Công chứng viên, nếu chia số Luật sư, Công chứng viên nêu trên với tổng số dân số trên cả nước thì tỷ lệ này là không nhiều nếu không nói là rất ít Đó là chưa kể đến việc cả nước đang sôi sục không khí “Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0” hay việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 35 về chương trình phát triển doanh nghiệp cho cả nhiệm kỳ, Chính phủ thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện loạt Nghị quyết 19, Nghị quyết 02 về cải thiện môi trường Kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, đạt mục tiêu có 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020 Những quyết sách trên ảnh hướng nhiều đến nhu cầu nghề nghiệp Luật sư, Công chứng bởi nền kinh tế-xã hội càng phát triển thì nhu cầu tư vấn, giải đáp và thực hiện các thủ tục liên quan đến pháp lý là cực kỳ lớn Rõ ràng rằng, nhu cầu của xã hội đối với các nghề nghiệp Luật

sư, Công chứng là rất nhiều Xây dựng kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng cho sinh viên Luật là đón đầu nhu cầu phát triển của xã hội

Biết được làn sóng nhu cầu việc làm của xã hội trong tương lai đối với Luật sư, Công chứng là rất lớn nên nhiều sinh viên Luật, dù vẫn còn trên giảng đường Đại học hay

đã tốt nghiệp đều đã, đang và sẽ tiến hành lựa chọn nghề Luật sư, Công chứng viên như là một định hướng nghề nghiệp trong tương lai của mình Tuy nhiên phần lớn các sinh viên, cựu sinh viên đều đã và đang gặp khó khăn trong việc định hướng, thu thập các kinh nghiệm hành nghề hay tìm kiếm một môi trường thuận lợi để rèn dũa những kỹ năng liên quan đến hai ngành nghề nêu trên Những khó khăn này xuất phát từ việc Luật sư, Công chứng là ngành nghề đặc thù, khó chuyển giao kinh nghiệm, kỹ năng hành nghề trong một thời gian ngắn Bên cạnh đó, việc thiếu tài liệu học tập hoặc những tài liệu này chưa được trình bày tường minh, dễ hiểu; hay chưa

có nhiều tổ chức thứ 3 có khả năng đào kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng có

uy tín, minh bạch cũng đang phần nào làm hạn chế khả năng phát triển kỹ năng cho sinh viên, cựu người học Vì vậy, xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh Luật qua thực tế hành nghề Luật sư, Công chứng là phục vụ nhu cầu thiết thực của sinh viên Luật

Nắm bắt được nhu cầu thực tế nói trên, cũng như hiểu rõ những khó khăn của người học, hiện nay trong chương trình giáo dục bậc Đại học của Cử nhân Luật, cơ quan quản lý giáo dục quan tâm đến việc phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ, xây dựng chuẩn đầu ra của từng chương trình, ngành học, bậc học, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, lồng ghép chương trình kỹ năng, coi đó như cam kết bảo đảm chất lượng Tuy nhiên tác giả cho rằng, việc thực hiện các chương trình kỹ năng hiện nay còn mang tính hình thức, chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo phù hợp với tình hình xã hội hiện tại Xây dựng kỹ năng hành nghề Luật

Hue University

Trang 25

sư, Công chứng là đáp ứng được giáo dục theo hướng hiện đại, tinh gọn, đảm bảo chất lượng, có tích hợp cao Các tài liệu biên soạn phù hợp với đối tượng thụ hưởng

Từ những thực tế trên thì tác giả cho rằng, cán bộ quản lý đã nắm bắt được yêu cầu của xã hội và tâm lý của người học về nghề Luật sư, Công chứng Việc nắm bắt này

đã làm phát sinh nhu cầu xây dựng chi tiết khung chương trình kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng cho sinh viên Luật Đây là nhu cầu phù hợp, là sự tất yếu trong việc phát triển tổ chức của mình thành một cơ sở đào tạo Luật chất lượng và có uy tín

1.2.1.2 Nhu cầu từ phía giảng viên

Trước tác động của “Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0” các trường Đại học chuyển dịch dần từ truyền thụ kiến thức hàn lâm sang phát triển năng lực người học, chú trọng thực tiễn hành nghề, từ đào tạo chú trọng số lượng sang nâng cao chất lượng sinh viên đáp ứng được các công việc cụ thể trong thực tiễn bằng các kỹ năng được học trong nhà trường Giảng viên là lực lượng nòng cốt trong quá trình chuyển dịch đó, quá trình giúp sinh viên đạt được: kiến thức, kỹ năng, thái độ để phát huy tiềm năng cá nhân ngay cả khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Ngành Luật vốn dĩ là một lĩnh vực phức tạp và áp lực, trung bình thì tuổi thọ của các Bộ Luật, Luật ở Việt Nam là 11.9 năm Như vậy việc hoạt động giảng dạy trong một môi trường nhiều áp lực, các văn bản có tuổi thọ ngắn, thường xuyên thay đổi

sẽ tạo nên nhiều khó khăn cho các giảng viên Các khó khăn có thể được khắc phục một phần nếu xây dựng được các kỹ năng đào tạo cho sinh viên, đặc biệt là kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng Điều này góp phần giảm sức ép đối với giảng viên trong quá trình truyền đạt kiến thức

Trong một môi trường dạy Luật tốt thì sinh viên sẽ được học cách nghiên cứu, phân tích, viết luận thông qua các bài tập tình huống Sẽ là sự truyền đạt kiến thức thụ động nếu giảng viên chỉ đọc và sinh viên chép Thông qua việc xây dựng kỹ năng, giảng viên sẽ được thể hiện sức sáng tạo của mình, khả năng thay đổi để phù hợp Việc này buộc giảng viên luôn luôn phải nâng cao năng lực, thể hiện bản lĩnh, tối ưu hóa các công cụ công nghệ thông tin để áp dụng vào dạy học

Với định hướng hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập thì giảng viên vừa là người dạy, vừa là người học, vừa truyền thụ kiến thức, vừa phải học tập, nghiên cứu Việc này sẽ đưa đến các kết quả của quá trình giáo dục chất lượng, phát triển theo định hướng nghiên cứu và ứng dụng, thực hành Sinh viên đáp ứng đủ các điều kiện kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng Giảng viên không ngừng tìm hiểu, theo dõi các kỹ năng phù hợp để ứng dụng Từ những nhận định trên, tác giả thấy được nhu cầu của giảng viên đối với việc xây dựng chi tiết kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng cho sinh viên

Luật là điều hết sức cần thiết, phù hợp nhu cầu thời đại

1.2.2 Nhu cầu từ phía sinh viên

Hue University

Trang 26

Để xây dựng kỹ năng hành nghề cho sinh viên Luật trong nghề Luật sư, Công chứng thì việc xác định được nhu cầu từ phía sinh viên và cựu sinh viên Luật là vô cùng quan trong Xác định nhu cầu của sinh viên đang theo học tại trường Luật giúp nhóm xác định được định hướng tương lại, mong muốn nguyện vọng của các bạn sinh viên đang theo học tại trường có định hướng về nghề Luật sư hay Công chứng Mục đích nghiên cứu nhóm muốn hướng đến là xây dưng kỹ năng cho sinh viên Luật qua thực thế hành nghề Luật sư, Công chứng nên ý kiến của những sinh viên là một trong những mấu chốt giúp nhóm hoàn thiện đề tài Nhưng yếu tố quan trọng vẫn không thể thiếu là sự đúc kết kinh nghiệm qua các cựu sinh viên trường Luật Từ những yêu cầu từ công việc Luật sư, Công chứng hiện tại các cực sinh viên sẽ đúc kết được kinh nghiệm, những kỹ năng cần thiết cho nghề Như vậy, việc xác định được nhu cầu từ phía sinh viên và cực sinh viên là vô cùng cần thiết

2.1.1 Nhu cầu từ phía sinh viên

Kỹ năng mềm không phải là năng khiếu bẩm sinh, nên mỗi sinh viên đều có thể học hỏi, tiếp thu và rèn luyện để đạt được Hiện nay, bên cạnh những sinh viên năng động, biết tự tìm kiếm các cơ hội để học tập trau dồi các kỹ nẵng mềm cho bản thân, thì vẫn còn những sinh viên chưa nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của kỹ năng mềm đối với bản thân Sinh viên khối ngành Luật trước hết phải xác định rõ công việc mình muốn làm sau khi ra trường, sau đó phân tích xem đối với công việc

đó, đâu là kỹ năng cứng, đâu là kỹ năng mềm Việc xác định giúp sinh viên nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân và rèn luyện trao dồi thêm

Thực tế cho thấy người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị một cách chủ động, tích cực trước đó Trong khi đó, đa số sinh viên hiện nay vẫn còn nhiều nhầm lẫn về chuẩn giá trị đầu ra của sinh viên khi tốt nghiệp Từ đó, họ bỏ

nhiều công sức để chạy theo thành tích học tập (qua điểm số) và sưu tầm càng nhiều

bằng cấp chứng chỉ càng tốt Đa số không tích cực tham gia các hoạt động chung của

Hue University

Trang 27

nhà trường, hoạt động đoàn thể, xã hội ở trường cũng như ở địa phương Theo một

nghiên cứu của Giáo sư Phạm Minh Hạc: "Chỉ có 20-30% học sinh -sinh viên tham gia các hoạt động xã hội bao gồm công tác đoàn, thanh niên, sinh viên"7 Ngoài ra, việc thiếu tích cực trong tiếp nhận những phương pháp đào tạo mới làm cho sinh viên trở nên thụ động, ỷ lại; suy nghĩ, lối sống nhiều khi tiêu cực dễ bi quan, chán nản, thiếu niềm tin, thiếu động lực cố gắng, vươn lên

Thực tế phổ biến hiện nay, sinh viên chưa nhận thức được đầy đủ vai trò và tầm quan trọng của việc tích lũy và trang bị kỹ năng mềm trong quá trình sống và học tập cho đến khi ra trường và tìm việc Thậm chí nhiều người không nhận ra nguyên nhân thực sự của việc không được tuyển dụng mặc dù có nhiều bằng cấp

Theo điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2011, cả nước có tới 63% sinh viên tốt nghiệp ĐH - CĐ ra trường không có việc làm, 37% sinh viên có việc làm nhưng đa số làm trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại do yếu và thiếu các yếu tố kỹ năng thực hành xã hội và 83% bị các nhà tuyển dụng đánh giá thiếu kỹ năng sống

Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung , cán bộ Viện Nghiên cứu giáo dục cho biết thêm: "Kết quả nghiên cứu cho thấy, 86% học sinh, sinh viên có nhiều ước mơ đẹp cho tương lai của mình, trong đó hơn 80% cho rằng, có thể thực hiện được những ước mơ và tin rằng tự mình quyết định tương lai đó Tuy nhiên, phần lớn lại thiếu hẳn khả năng hoạch định tương lai, đặc biệt là kỹ năng mềm và thái độ dám dấn thân vào đời…" 8

Như vậy, với sinh viên cả nước nói chung và sinh viên trường Luật nói riêng, chỉ một bộ phận nhận thức được vai trò của kĩ năng mềm và trao dồi Bên cạnh nó vẫn còn một bộ phận vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng mềm cho công việc sau khi tốt nghiệp Qua khảo sát từ phía sinh viên trường Đại học Luật,

7 63% sinh viên thất nghiệp khi ra trường, Giáo dục Việt Nam, Nguồn: vien-that-nghiep-khi-ra-truong/

https://tgm.edu.vn/63-sinh-8 Nhận thức của thế hệ trẻ về tương lai, Nguồn:

https://baomoi.com/nhan-thuc-cua-the-he-tre-ve-Hue University

Trang 28

Đại học Huế thì có 25% sinh viên có đinh hướng sẽ theo nghề Luật sư và 16% sinh viên đinh hướng sẽ theo nghề Công chứng viên Điều này cho thấy đa phần sinh viên Luật khi đã xác định được công việc thì cũng đã có những định hướng rõ ràng cho tương lai

Theo khảo sát từ 100 sinh viên là sinh viên trường Đại học Luật, Đại học Huế đánh giá về mức độ hài lòng về chất lượng đạo như sau:

kỹ năng mềm cho sinh viên Như vậy, việc xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên trường Luật là vô cùng cần thiết

2.1.2 Nhu cầu từ phía cựu sinh viên

Ngày nay, các nhà tuyển dụng đánh giá cao các kỹ năng mềm của các ứng cử viên thông qua cách họ chuẩn bị hồ sơ xin việc, cách họ chuẩn bị cho buổi phỏng vấn, thái độ tự tin, khả năng giải quyết các vấn đề tình huống được đưa ra, … hơn là chỉ chú trọng đến bằng cấp của ứng viên Tuy nhiên, thực tế cho thấy khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nhà tuyển dụng của các ứng viên là không cao, thậm chí

là rất thấp dẫn đến tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động diễn ra phổ biến những năm gần đây

Đa phần ứng viên thiếu các kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng viết đơn xin việc

và trả lời phỏng vấn, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đàm phán, kỹ năng xác định mục

Hue University

Trang 29

tiêu cuộc đời, kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng

tư duy sáng tạo, kỹ năng làm chủ bản thân, …

Việc thay đổi tư duy nhận thức là một việc làm khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian và kiên trì Động lực thay đổi bắt nguồn từ yêu cầu thực tế của cuộc sống, đó là vấn đề "tồn tại hay không tồn tại"; nó đòi hỏi thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp với quyết tâm cao của nhiều đối tượng liên quan: sinh viên, nhà trường, nhà tuyển dụng Với câu hỏi “Kỹ năng mềm nào cần thiết nhất để tham gia thị trường lao động?”, 53% trả lời cần kỹ năng giao tiếp, 26% cho rằng ý thức tổ chức kỷ luật, 12% cần kỹ năng trình bày thông tin, 9% cần kỹ năng làm việc nhóm… Mặc dù qua khảo sát, 89% cho rằng cần thiết phải có kỹ năng mềm, tuy nhiên khi được hỏi nâng cao

kỹ năng mềm bằng cách nào thì 43% không có ý kiến, 10% cho rằng thông qua tổ chức Đoàn – hội và các buổi ngoại khóa, 18% cho biết học từ kinh nghiệm đi làm thêm và 29% cho rằng rèn luyện qua các khoa học - tài liệu9

Không ít người lao động cho rằng, với nhiều bằng cấp, kinh nghiệm có giá trị

và những mối quan hệ ở vị trí cao sẽ dễ dàng tìm việc Điều này đúng nhưng chưa

đủ vì theo khảo sát những người làm việc hiệu quả và dễ thăng tiến không thể thiếu những kỹ năng mềm Thực tế cho thấy, người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị Để thành công, người lao động phải hội đủ nhiều kỹ năng

Qua khảo sát về ý kiến của cựu người học về mức độ đáp ứng của các kỹ năng

để hành nghề Luật sư, Công chứng viên được đánh giá như sau:

- Về kiến thức: 6,87/10

- Về kỹ năng: 6,25/10

9 Lao động cần trang bị kỹ năng mềm, Nguồn:

http://www.sggp.org.vn/nguoi-lao-dong-can-trang-Hue University

Trang 30

Việc lấy ý kiến từ phía cựu sinh viên rất thực tế và sẽ cho ra kết quả chính xác nhất Các cựu sinh viên cho rằng về kiến thức và kỹ năng thì chương trình đào tạo tại trường đáp ứng cho công việc hiện tại của họ ở mức độ trung bình Trong quá trình làm việc tại các cơ quan Luật sư, Công chứng các cựu sinh viên đều nhận thấy những kỹ năng như: kỹ năng nhận diện rủi ro; kỹ năng đọc, phân tích hồ sơ vụ việc;

kỹ năng tư duy phản biện; kỹ năng giải quyết, xử lý tình huống; kỹ năng ra quyết định; kỹ năng nói; kỹ năng lập luận và tranh luận; kỹ năng giải thích pháp luật; kỹ năng giao tiếp với khách hàng; kỹ năng soạn thảo văn bản;… là rất cần thiết cho công việc Có thể thấy, việc vận dụng tốt các kỹ năng sẽ bổ trợ rất nhiều cho công việc của mình Từ đó, việc xây dưng bộ kỹ năng cho sinh viên ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường là hết sức cần thiết

1.2.2 Nhu cầu từ phía người sử dụng lao động

Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, một thành phần không thể thiếu trong bất cứ một đơn vị doanh nghiệp nào Không một doanh nghiệp nào

có thể tồn tại nếu không có nguồn lao động đáp ứng hoạt động và vận hành của bộ máy Nguồn lao động bao gồm tất cả những người đang làm việc tại doanh nghiệp ở tất cả các vị trí khác nhau Con người dù ở mọi vị trí, mọi đơn vị khác nhau đều là những chủ thể quan trọng trong việc sáng tạo và phát huy những lợi thế của doanh nghiệp Điều đó càng trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong ngành Luật nói riêng phải nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển thì nguồn lao động chất lượng cao càng trở nên quan trọng Chính vì vậy, lao động luôn là yếu tố được các doanh nghiệp chú trọng quan tâm đầu tư cả về chất và về lượng

Theo thống kê của Liên đoàn Luật sư tính tới năm 2016 cho thấy, hiện cả nước có hơn 13.000 Luật sư đang hành nghề; gần 5.000 người tập sự hoạt động trong hơn 4.000 tổ chức hành nghề Luật sư Bên cạnh đó cũng theo Cục trưởng Cục Bổ trợ

Tư pháp cho biết tính đến thời điểm hiện nay, tổng số công chứng viên đang hành nghề là trên 2.400 người Số lượng công chứng viên hiện tại đã tăng hơn 6 lần so với thời điểm trước khi thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng theo quy định của Luật Công chứng năm 2006 Qua đó cho thấy số lượng Luật sư, Công chứng viên hiện tại đang có xu hướng tăng nhanh, tuy nhiên chất lượng của đội ngũ Luật sư còn nhiều mặt hạn chế Gần một nửa số lượng Luật sư, Công chứng viên hiện nay chưa được đào tạo một cách bài bản về kỹ năng hành nghề Qua quá trình khảo sát một số nhà sử dụng lao động trên địa bàn Thành phố Huế thì mức độ đáp ứng về mặc kiến thức trung bình đạt 7.3 điểm cho thấy việc đào tạo từ phía nhà trường về mặt kiến thức là tương đối ổn Nhưng đối với kỹ năng mức độ đạt được chỉ là 5.75 điểm, con

Hue University

Trang 31

số này cũng đã nói lên việc kỹ năng đang chưa được đào tạo một cách bài bản và chú trong

Hiện nay, các Luật sư vẫn còn thiếu kinh nghiệm, kỹ năng trong việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến quá trình bào chữa, tranh luận, đưa ra yêu cầu, kiến nghị tại phiên toà Cụ thể, theo thống kê từ phiếu khảo sát dành cho nhà sử dụng lao động là các văn phòng Luật sư trên địa bàn thì theo Văn phòng Luật sư Huế Law thì theo mức điểm về kỹ năng là chỉ đạt điểm 5 là mức trung bình, tức chỉ mới đáp ứng được 50 % mức độ mà nhà sử dụng lao động cần Hơn nữa, một thực trạng đáng suy ngẫm hiện tại đó là Luật sư nước ta còn yếu về trình độ ngoại ngữ cũng như kiến thức về pháp luật quốc tế vì hiện tại khách hàng, những doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực về Luật sư hôm nay không chỉ dừng lại là những khách hàng, doanh nghiệp mang quốc tịch Việt Nam mà họ còn là khách hàng, doanh nghiệp mang quốc tịch của nhiều quốc gia khác

Qua khảo sát tại các Văn phòng công chứng trên địa bàn thì có 16% ý kiến của người sử dụng lao động cho rằng nguồn nhân lực tại Đại học Huế kiến theo

Trưởng Văn phòng Công chứng Nam Thanh, ông có chia sẻ: “ Hiện nay, vấn đề nhận diện các loại giấy tờ là giả hay thật để phục vụ cho quá trình công chứng, chứng thực, ký kết hợp đồng tránh những rủi ro là quan trọng nhất đối với người hành nghề Công chứng Và để làm tốt việc này công chứng viên đòi hỏi phải có rất nhiều kỹ năng phối hợp và rèn luyện những kỹ năng quan sát, nhận biết đó thông qua những giấy tờ, những vấn đề pháp lý hằng ngày và ngay cả trong quá trình học tập tại trường thì sinh viên cũng đã có thể tự rèn luyện cho mình những kỹ năng cơ bản đó”

Nhưng thông qua phiếu khảo sát mà ông trả lời cho nhóm chúng tôi thì đánh giá về

kỹ năng của các Công chứng viên đã từng được đào tạo tại trường Đại học Luật, Đại học Huế tại văn phòng chỉ mới đáp ứng được thang điểm là 6/10, đơn vị đã phải bỏ

ra một thời gian dài để bổ trợ các kỹ năng này Và theo như kết quả chúng tôi khảo sát được cho thấy nhu cầu tuyển dụng lao động có những kỹ năng tốt khi đi vào làm việc của các nhà sử dụng lao động hiện nay là vô cùng cao, bên cạnh sự tìm kiếm về nguồn nhân lực có kiến thức Khi tuyển chọn được lao động có kiến thức tốt và có những kỹ năng để hành nghề tốt sẽ là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu về kỹ năng hành nghề của Luật sư, Công chứng đối với các doanh nghiệp, các cơ quan sử dụng lao động ngày càng được chú trọng Luật sư, Công chứng viên hay cả sinh viên đang còn trong quá trình học tập tại nhà trường nhưng có định hướng trở thành Luật sư, Công chứng viên cũng cần chủ động, linh hoạt hoàn thiện mọi điều kiện hành nghề cần thiết cho bản thân như hoàn thiện các kỹ năng cần thiết để mở rộng đối tượng phục vụ, hướng tới phục

vụ cho cả các khách hàng nước là cá nhân, tổ chức nước ngoài để có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động hiện tại của những cá nhân và doanh nghiệp hay nói cách khác là người sử dụng lao động

Hue University

Trang 32

Để hạn chế rủi ro cho người sử dụng lao động , đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ đã có các biện pháp để giảm thiểu tối đa các thiệt hại thông qua khâu tuyển dụng lao động với những yêu cầu về kỹ năng hành nghề một cách chặt chẽ để giúp doanh nghiệp phát triển Chính vì nhu cầu chính đáng và cấp thiết từ phía những nhà sử dụng lao động nói trên chúng ta cần chuẩn bị những kỹ năng cần thiết đó cho sinh viên đang theo học tại trường ngay từ bây giờ để sau khi ra trường có lợi thế cạnh tranh hơn các sinh viên trường khác trong mắt các nhà sử dụng lao động

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong phạm vi nội dung Chương 1 của nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung phân tích, nghiên cứu một số cơ sở pháp lý , nhu cầu xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên Luật qua thực tế hành nghề luật sư, công chứng Trong đó, nhóm tác giả đã làm rõ cơ sở pháp lý về chuẩn đầu ra của Trường Đại học Luật, Đại học Huế đối với cử nhân Luật học và Luật Kinh tế, về điều kiện hành nghề Luật sự và Công chứng Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng chỉ ra được những nhu cầu từ phía nhà trường, từ phía cán bộ quản lý, từ phía giảng viên và từ phía sinh viên, cựu sinh viên của nhà trường trong việc xây dựng kỹ năng hành nghề cho sinh viên Luật qua thực

tế hành nghề Luật sư, Công chúng Những kết quả nghiên cứu tại Chương 1 đóng vai trò là nền tảng giúp cho nhóm tác giả có thể xây dựng các kỹ năng hành nghề Luật sư, Công chứng cho sinh viên Trường Đại học Luật, Đại học Huế trong Chương 2

CHƯƠNG 2

Hue University

Trang 33

XÂY DỰNG KỸ NĂNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG CHO SINH VIÊN LUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT – ĐAỊ HỌC HUẾ

2.1 Thực tiễn vận dụng kỹ năng nghề nghiệp trong hành nghề Luật sư, Công chứng viên

2.1.1 Thực tiễn vận dụng kỹ năng nghề nghiệp trong hành nghề Luật sư

Luật sư là một chức danh tư pháp, là một trong những ngành nghề chuyên môn

để sinh viên Luật có thể lựa chọn bên cạnh các chức danh Công chứng viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thừa phát lại, Quản tài viên, Tùy theo tính chất và đặc trưng của mỗi ngành nghề đòi hỏi các cá nhân làm việc bên lĩnh vực này phải có những kỹ năng nghề nghiệp khác nhau Đối với nghề Luật sư những kỹ năng nghề nghiệp rất

đa dạng do đó yêu cầu đặt ra cho những người hành nghề cần phải tích lũy và trao dồi các kỹ năng đó càng nhiều càng thông thạo để có thể tự tinh và linh hoạt trong

xử lý công việc

Kỹ năng nghề nghiệp là khả năng cần thiết để thực hiện một công việc với chuyên môn cụ thể, nói cách khác là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một cá nhân Trong thực tế hành nghề Luật sư, đòi hỏi người hành nghề phải có được những kỹ năng cần thiết như kỹ năng nhận diện các vấn đề pháp lý, kỹ năng nhận diện các rủi

ro, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải thích pháp luật, kỹ năng ra quyết định, Tuy nhiên, một trong các kỹ năng nghề nghiệp quan trọng để hành nghề Luật sư có thể thấy hai nhóm kỹ năng là kỹ năng nói và kỹ năng viết

Đối với nhóm kỹ năng nói, kỹ năng quan trọng đầu tiên ta phải kể đến là kỹ năng đặt câu hỏi Luật Luật sư năm 2012 quy định về phạm vi hành nghề của Luật

sư bao gồm bốn loại hình dịch vụ pháp lý10: Tham gia tố tụng; tư vấn pháp luật; đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác Trong những loại hình dịch vụ pháp lý được pháp luật quy định đối với Luật sư nêu trên, kỹ năng đặt

Hue University

Trang 34

câu hỏi là vô cùng cần thiết, được coi như bước đầu tiên để tiếp cận và giải quyết vấn đề trong suốt quá trình hành nghề Luật sư có kỹ năng đặt câu hỏi pháp lý tốt sẽ rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc Quá trình từ khi khách hàng đến gặp Luật sư đến khi vụ việc được giải quyết sẽ trải qua rất nhiều bước Tuy nhiên về phía Luật

sư, việc của Luật sư sẽ là tìm hiểu yêu cầu của khách hàng và đặt ra được những câu hỏi khai thác thông tin từ khách hàng song song là những câu hỏi pháp lý cần phải giải quyết để tìm câu trả lời nhằm giải quyết vấn đề của khách hàng Việc Luật sư đặt ra được những câu hỏi pháp lý như: Pháp luật điều chỉnh, lựa chọn luật và điều luật điều chỉnh Khi Luật sư đặt ra được những câu hỏi pháp lý mấu chốt thì sự việc

sẽ được giải quyết rất nhanh chóng vì đã nắm được những điểm chính cần phải giải quyết, lọc bớt được những sự kiện, vấn đề không liên quan từ sự trình bày của khách hàng Vụ việc từ đó được giải quyết nhanh chóng và gọn gàng hơn

Đối với loại hình dịch vụ tham gia tố tụng, Luật sư có thể thực hiện dịch vụ này thông qua những hoạt động: Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ

án hình sự; Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.11 Trong quá trình tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, kỹ năng đặt câu hỏi là mấu chốt để Luật sư có thể nắm được sự việc đã xảy ra, thu thập dữ kiện, thông tin, làm nền tảng cho hoạt động bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng

11 Khoản 1,2 Điều 22 Luật Luật sư năm 2012

Hue University

Trang 35

Kỹ năng đặt câu hỏi của Luật sư thể hiện ở việc các câu hỏi cần được tính toán

và cân nhắc kỹ trước khi tiến hành cuộc hội thoại để khách hàng có thể trả lời theo đúng những nội dung mà Luật sư cần tìm hiểu Đối với những câu hỏi mở, những câu hỏi này có tác dụng giúp rút ngắn khoảng các giữa khách hàng và Luật sư, có thể giúp cho khách hàng thoải mái chia sẻ, mở rộng nội dung trả lời, tạo cơ hội cho khách hàng có thời gian hồi tưởng về những sự việc, dữ kiện đã xảy ra, giúp Luật sư củng

cố chi tiết hơn về vấn đề cần giải quyết Tuy nhiên, việc đặt những câu hỏi mở cũng cần phải được lưu ý về giới hạn Việc đặt quá nhiều câu hỏi mở có thể khiến cho nội dung trao đổi lan man ra khỏi việc trình bày nội dung chính của khách hàng, từ đó Luật sư cần xử lý nhiều thông tin hơn, chắt lọc bớt những thông tin không liên quan

và tập trung vào nội dung chính Bên cạnh câu hỏi mở thì những câu hỏi đóng cũng đóng vai trò vô cùng cần thiết trong quá trình trao đổi giữa khách hàng và Luật sư Những câu hỏi đóng giúp Luật sư khẳng định lại một cách chắc chắn những vấn đề quan trọng, cần sự khẳng định của khách hàng Trong một số trường hợp, khách hàng trình bày vấn đề không mạch lạc, có dấu hiệu lan man thì Luật sư cần nhanh chóng phân tích, ráp nối các nội dung trình bày và đặt lại các câu hỏi đóng để khách hàng

có thể khẳng định những nội dung mà Luật sư đã hình dung và tự tin trình bày lại để Luật sư hiểu rõ vấn đề Tuy nhiên, cũng giống như câu hỏi mở, câu hỏi đóng cũng cần phải lưu ý về giới hạn sử dụng Luật sư không nên đặt những câu hỏi đóng về những điều tế nhị của khách hàng, những hành động có lỗi của khách hàng, tránh trường hợp mất thiện cảm giữa Luật sư và khách hàng

Kỹ năng thứ hai trong những kỹ năng nói là kỹ năng tranh luận Kỹ năng tranh luận là khả năng vận dụng kiến thức pháp luật và kiến thức khác tạo nên hoạt động

sử dụng ngôn từ pháp lý của luật sư một cách lôgic, linh hoạt đưa ra luận điểm, luận

cứ, luận chứng chặt chẽ, phân tích lý lẽ, chứng cứ có căn cứ thuyết phục nhằm tìm

ra lẽ phải, chứng minh sự đúng đắn, chân lý thuộc về mình, khẳng định hoặc phủ định vấn đề pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng

Hue University

Trang 36

Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, người bào chữa có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu, những lập luận để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ buộc tội, gỡ tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án, cũng như có quyền đưa ra đề nghị của mình đối với những vấn đề nêu trên Theo Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015, Kiểm sát viên phải đưa ra những chứng cứ, tài liệu và những lập luận của mình

để đối đáp đến cùng với từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác Vì vậy, kỹ năng tranh luận là vô cùng quan trọng đối với Luật sư, vì nếu

kỹ năng tranh luận của Luật sư yếu, những lập luận không đủ sức thuyết phục đối với Hội đồng xét xử, không đủ thuyết phục để phản bác lại lập luận buộc tội của Kiểm sát viên thì quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ sẽ không được bảo vệ tối

đa

Kỹ năng thứ ba trong những kỹ năng nói là kỹ năng thương lượng, đàm phán Đàm phán là việc hai hay nhiều bên thảo luận và thương lượng với nhau nhằm đạt tới một sự thỏa thuận về một vấn đề nào đó, điều mà sau đó có thể trở thành hiện thực hoặc thậm chí không trở thành hiện thực được (không đạt được thỏa thuận và đàm phán thất bại) Kỹ năng đàm phán được sử dụng khi Luật sư đàm phán hợp đồng cung cấp dịch vụ của chính mình với khách hàng, khả năng đàm phán của Luật sư trong trường hợp này sẽ được thể hiện ở việc hai bên có cân bằng về lợi ích và đạt được mục tiêu đàm phán của mình hay không Kỹ năng đàm phán còn được sử dụng khi Luật sư đàm phán hợp đồng cho khách hàng của mình Trong trường hợp này vai trò của Luật sư thường sẽ là soạn thảo hợp đồng, tư vấn về những vấn đề pháp lý có liên quan đến hợp đồng và quá trình thực hiện cho đến khi kết thúc hợp đồng, cảnh

Hue University

Trang 37

báo trước với khách hàng về những vấn đề bất lợi cũng như những giới hạn về pháp

Bên cạnh nhóm kỹ năng nói, kỹ năng viết cũng có một tầm quan trọng không

hề nhỏ Nếu như kỹ năng nói giúp Luật sư tiếp cận được vấn đề hiệu quả nhất thì kỹ năng viết cụ thể thể hiện dưới dạng hình thức là văn bản để người đọc hiểu rõ được quan điểm, luận cứ, lập luận của luật sự Kỹ năng viết có thể kể đến việc soạn thảo các tài liệu pháp lý (thư từ pháp lý, thư tư vấn, quan điểm luật sư, hợp đồng, thỏa thuận, bản luận cứ,….) Khi là luật sư tư vấn, khách hàng có thể nghe luật sư nói nhưng phần lớn họ sẽ yêu cầu một thư trả lời Khi tranh tụng, trước phiên xử, các luật sư thường phải nộp bản viết tranh luận để thuyết phục tòa án theo luận điểm của mình và thẩm phán thường phải đọc kỹ bản tranh luận mới nắm hết ý chứ không chỉ dựa vào phần tranh luận tại phiên xử Nói như vậy để thấy luật sư phải viết rất nhiều Khác với kỹ năng nói thể hiện tốc độ tư duy, kỹ năng viết thể hiện chiều sâu tư duy Đối với bài bào chữa, bài bảo vệ trước hết có tính chặt chẽ, ngắn gọn, đầy đủ nội dung, trình bày logic, có căn cứ xác đáng và có tính thuyết phục cao thì mới có thể thuyết phục được Hội đồng xét xử và phản bác lại được những luận cứ buộc tội của Viện kiểm sát

Bên cạnh đó, rèn luyện kỹ năng viết của mình tức là rèn luyện khả năng tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp nắm bắt sự việc, vụ việc mà khách hàng đề cập để từ

Hue University

Ngày đăng: 02/10/2023, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w