Đối với sinh viên khuyết tật do việc học tập họ phải di chuyển nhiều và phương tiện giao thông công cộng trở thành phương tiện lựa chọn của phần lớn sinh viên khuyết tật, đặc biệt là xe
Cơ sở lý luận của vấn đề sinh viên khuyết tật với việc tham gia dịch vụ
I.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về người khuyết tật đã có từ lâu với nhiều văn bản pháp lệnh được ban hành, nhưng chủ yếu chỉ đề cập đến quyền lợi và cơ sở vật chất cho họ, còn thiếu tính cụ thể Các nghiên cứu hiện tại tập trung vào cải thiện đời sống và tâm lý của người khuyết tật, trong khi vấn đề giao thông công cộng cho họ vẫn chưa được chú trọng Để tổng quan tài liệu, tác giả sẽ phân loại nội dung theo các chủ đề như “Pháp lệnh về người tàn tật”.
“Thông tin truyền thông đại chúng”
I.1.1 Pháp l ệnh về người t àn t ật - Nước ta có pháp lệnh về người tàn tật gồm
Pháp lệnh gồm 8 chương và 35 điều được ban hành nhằm bảo vệ và tạo điều kiện cho người tàn tật hòa nhập cộng đồng, quy định trách nhiệm của gia đình, xã hội và Nhà nước đối với người khuyết tật, cũng như quyền lợi của họ Ngoài ra, pháp lệnh cũng nêu rõ trách nhiệm của chính người khuyết tật Cụ thể, điều 26 quy định rằng việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình nhà ở, công trình công cộng và thiết kế các dụng cụ sinh hoạt, phương tiện giao thông, liên lạc phải tính đến nhu cầu sử dụng thuận tiện của người tàn tật, đặc biệt là người khuyết tật về vận động và thị giác, đồng thời phải tuân thủ các tiêu chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Pháp lệnh quy định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử và ngược đãi người tàn tật, đồng thời cấm lợi dụng tổ chức để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
Nhiều tác giả đã bày tỏ ý kiến về việc thực hiện pháp lệnh người khuyết tật, cho rằng sau mười năm áp dụng, pháp lệnh này vẫn chưa đạt hiệu quả mong muốn trong việc cải thiện cuộc sống và quyền lợi của người khuyết tật.
Sau hơn 10 năm thực hiện Pháp lệnh người khuyết tật, nhiều chính sách vẫn chưa được áp dụng hiệu quả trong thực tế Người khuyết tật vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận hạ tầng cơ sở, và các doanh nghiệp chưa tuyển dụng đủ số lao động là người khuyết tật theo quy định Điều này dẫn đến hiệu quả thực hiện luật và các chính sách liên quan đến người khuyết tật chưa cao.
Trong cuộc trao đổi giữa tác giả Hồng Khánh và Ông Nguyễn Xuân Tuệ, Giám đốc Văn phòng điều phối hoạt động của người tàn tật, đã nêu rõ những hạn chế và trở ngại trong việc thực hiện pháp lệnh, cũng như hiệu quả của nó Qua đó, chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này.
Sau 10 năm, ông đánh giá thế nào về việc thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật?
Việt Nam hiện có 5,3 triệu người khuyết tật, nhưng nhiều người không biết về các quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi của họ Mặc dù đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến người khuyết tật, việc thực thi vẫn còn kém Chẳng hạn, Nghị định 81, 116 và Thông tư liên tịch 19 năm 2005 quy định rằng các doanh nghiệp phải tuyển dụng 2% người khuyết tật trong ngành công nghiệp nặng và 3% trong các ngành nghề khác Nếu không đủ tỷ lệ này, doanh nghiệp sẽ phải đóng góp một khoản tiền tương đương với mức lương tối thiểu cho Quỹ việc làm của người khuyết tật hàng tháng.
Nếu tất cả doanh nghiệp tuân thủ, đất nước sẽ có nguồn tài chính lớn để hỗ trợ người khuyết tật học nghề và tạo việc làm Tuy nhiên, theo kết quả kiểm tra, chỉ có 8 tỉnh thành đã thành lập Quỹ việc làm cho người khuyết tật, trong đó 3 tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ninh và Hải Dương đã hoạt động, còn 5 tỉnh còn lại chỉ có văn bản Thiếu quỹ, doanh nghiệp không biết đóng tiền cho ai.
Nhiều tác giả cho rằng công tác tuyên truyền về pháp lệnh chưa được thực hiện sâu rộng, dẫn đến nhận thức trách nhiệm của một bộ phận dân cư và một số ngành địa phương chưa đầy đủ Bài viết của tác giả Đông Phương, đăng ngày 24/9/2008 trên trang đời sống pháp luật online, đã nêu bật vấn đề này.
Pháp lệnh về người tàn tật có hiệu lực từ ngày 1.11.1998 đã tạo ra khung pháp lý giúp người khuyết tật nâng cao vị thế và vươn lên trong xã hội Nó cũng khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước vào việc hỗ trợ người khuyết tật Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện, các báo cáo từ các Bộ, ngành và địa phương cho thấy bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn còn nhiều hạn chế và khó khăn cần khắc phục.
Nhiều cơ quan, ban, ngành vẫn chưa chú trọng đúng mức đến người khuyết tật, dẫn đến công tác tuyên truyền và chăm sóc đời sống của họ chưa hiệu quả Việc thực hiện các chính sách và quy định hỗ trợ người khuyết tật diễn ra chậm, gây ra sự không đồng bộ trong các biện pháp trợ giúp Một số quy định, như quỹ việc làm cho người khuyết tật, vẫn chưa được thi hành sau gần 10 năm, và thiếu thống kê đáng tin cậy về số lượng và cơ cấu người khuyết tật Các quy định liên quan đến chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, và tỷ lệ lao động là người khuyết tật trong doanh nghiệp cũng chưa được thực hiện đầy đủ.
Các công trình công cộng, hoạt động văn hoá thể thao phục vụ người khuyết tật còn hạn chế .”
Nhiều bài viết về quyền lợi và nghĩa vụ của người khuyết tật phản ánh sự thiếu hiểu biết của cộng đồng, đặc biệt là do công tác tuyên truyền chưa hiệu quả và ý thức trách nhiệm của người dân còn hạn chế Tuy nhiên, các bài viết này chưa đề cập đến những thiếu sót của những người có trách nhiệm trong việc nâng cao nhận thức và bảo vệ quyền lợi cho người khuyết tật.
Pháp luật hiện hành về người khuyết tật chỉ dừng lại ở mức pháp lệnh, và nhiều ý kiến mong muốn pháp lệnh này sớm được nâng cấp thành luật Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người khuyết tật được bảo vệ tốt hơn trong tương lai.
Thông tin truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh những khó khăn của người khuyết tật khi tham gia giao thông công cộng Các bài viết trên các trang báo như Tuổi trẻ online, Giao thông vận tải, và Pháp luật và đời sống đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng Chẳng hạn, bài viết của tác giả Hữu Phúc và Lê Anh Đủ trên báo Thanh Niên đã nêu bật vụ việc em Ngô Hoàng Phúc, một học sinh câm điếc, bị xe buýt bỏ rơi và gặp phải thái độ không đúng từ tiếp viên xe buýt Những ví dụ này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức và cải thiện điều kiện cho người khuyết tật trong giao thông công cộng.
Lý trên báo VietNamNet về sự việc tài xế xe buýt đuổi người khuyết tật xuống đường …
Vào lúc 9h30 sáng ngày 18/10/2009, anh Nguyễn Công Hùng và chị Nguyễn Thảo Vân, cùng với 7 người bạn từ Trung tâm Nghị lực sống ở Hà Nội, đã lên xe buýt tuyến 36 tại Bến xe Linh Đàm, gặp xe mang biển số 30S-3286.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MẠNG LƯỚI XE BUÝT VÀ NHU CẦU
XE BUÝT CỦA SINH VIÊN KHUYẾT TẬT
II.1 Giới thiệu chung về mạng lưới xe buýt
Chính Sách của nhà nước về giao thông công cộng cho người khuyết tật
Hiệu quả của việc thực hiện chính sách về dịch vụ giao thông xe buýt cộng cho người khuyết trên thực tế
Khó khăn, thuận lợi của sinh viên khuyết tật khi tham gia dịch vụ giao thông xe buýt
Chính bản thân sinh viên khuyết tật
II.1.1 D ịch vụ xe buýt gồm 2 bộ phận: dịch vụ xe buýt có trợ giá v à d ịch vụ xe buýt không tr ợ giá
Dịch vụ xe buýt có trợ giá là các tuyến xe buýt được ngân sách hỗ trợ theo từng chuyến Giá vé cho dịch vụ này được quy định bởi Sở Giao thông công chính thành phố.
Theo quy định của Hồ Chí Minh, giá vé xe buýt trợ giá hiện nay là 3.000 đồng cho các tuyến có lộ trình dưới 31km Đối với các tuyến trên 31km, hành khách sẽ trả 3.000 đồng nếu đi nửa lộ trình và 4.000 đồng nếu đi từ nửa lộ trình trở lên Hành khách có thể sử dụng vé trả trước như vé tháng hoặc vé tập, cũng như các thẻ miễn phí dành cho người khuyết tật và thương binh.
Dịch vụ xe buýt không trợ giá được áp dụng cho các tuyến xe buýt do các doanh nghiệp tự quản lý tài chính Giá vé sẽ được quy định bởi Sở Giao thông công chính Thành phố.
Hồ Chí Minh duyệt, khoảng từ 2.000 đồng đến 15.000 đồng
II.1.2 Tình hình s ử dụng dịch vụ xe buýt
Sự ra đời của dịch vụ xe buýt với nhiều tiện ích đã thu hút sự quan tâm của người dân, đồng thời giúp giải quyết một số vấn đề giao thông hiện nay.
Giảm thiểu số lượng tai nạn giao thông
Hạn chế ùn tắc giao thông
Góp phần vào việc bảo vệ môi trường
Tiết kiệm chi phí xã hội
Thể hiện bộ mặt văn minh của thành phố
Khi tham gia dịch vụ giao thông xe buýt, cả khách hàng và nhân viên phục vụ, tài xế đều có quyền lợi và nghĩa vụ bắt buộc của mình.
Hành khách đi xe buýt được hưởng quyền lợi từ sự hỗ trợ của nhà nước về chi phí, thông qua việc quy định giá vé hợp lý, phù hợp với thu nhập chung của người dân thành phố.
Hành khách đi xe buýt được phép mang theo 10 kg hành lý xách tay miễn phí Nếu hành lý vượt quá 10 kg, hành khách cần mua thêm vé tương ứng với diện tích chiếm chỗ, cụ thể là 0,25m sẽ cần một vé bổ sung Ngoài ra, hành khách có quyền nhận thông tin miễn phí về các chuyến xe buýt và yêu cầu xử lý các khiếu nại liên quan đến hành vi vi phạm của lái xe và nhân viên phục vụ Hành khách cũng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về người và hành lý nếu thiệt hại đó do lỗi của lái xe hoặc nhân viên phục vụ gây ra.
Trẻ em từ 11 tuổi trở xuống hoặc có chiều cao dưới 1,3 m thì được miễn mua vé
Nghĩa vụ của hành khách: Hành khách đi xe buýt phải mua vé và phải xuất trình vé khi có yêu cầu của nhân viên soát vé
Hành khách cần tuân thủ nội quy vận chuyển xe buýt và hướng dẫn của lái xe, nhân viên phục vụ để đảm bảo an toàn và trật tự trên xe.
Hành khách khi lên xe buýt cần tuân thủ quy định không xả rác và không mang theo hàng hóa cấm, hàng cồng kềnh chiếm chỗ, hàng lây nhiễm, súc vật, cũng như chất dễ gây cháy nổ.
Nhường chỗ cho người tàn tật, người già, phụ nữ có thai và trẻ em trên xe buýt.( theo nội quy xe buýt)
II.1.4 Nh ững tác động cuả dịch vụ xe buýt đối đời sống của người dân c ũng nhưng sinh viên khuyết tật
Tạo điều kiện giúp người dân cũng như sinh viên khuyết tật di chuyển thuận lợi hơn trên đường phố
Giá vé rẻ nên mọi người đều có cơ hội tham gia
Giảm bớt ô nhiễm môi trường
Khi tham gia ít chịu ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài
Nhiều xe buýt ra đời dẫn đến tình trạng xe buýt chen chân nhau chạy, dẫn đến tình trạng kẹt xe
Tình trạng nhồi nhét khách trên các tuyến giao thông đang diễn ra thường xuyên, gây khó khăn cho việc di chuyển của nhiều người Điều này khiến không ít người cảm thấy ngại ngần khi tham gia giao thông.
Chất lượng các trạm chờ xe buýt hiện nay rất kém và chưa được phân bố hợp lý Nhiều trạm dừng được đặt gần nhau trên cùng một đoạn đường, dẫn đến tình trạng kẹt xe thường xuyên Ngược lại, một số khu vực lại thiếu trạm chờ, gây khó khăn cho người dân trong việc đón xe buýt.
Thái độ thiếu thiện cảm của nhân viên xe buýt cũng ảnh hưởng không kém đến quá trình tham gia giao thông công cộng của người dân
Tài xế thường xuyên phóng nhanh và chạy ẩu, dẫn đến nguy cơ cao gây tai nạn giao thông Hành vi này không chỉ xâm phạm vào phần đường dành cho xe hai bánh mà còn tạo ra tâm lý hoang mang, lo sợ và cảm giác thiếu an toàn cho người tham gia giao thông.
II.2 Nhu cầu tham gia xe buýt của sinh viên khuyết tật
Theo thuyết nhu cầu của Abraham Maslow, con người có những nhu cầu từ cơ bản đến cao cấp, từ nhu cầu vật chất đến nhu cầu được tôn trọng và cống hiến Phương tiện giao thông công cộng đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng những nhu cầu này Do đó, nghiên cứu này sẽ làm rõ nhu cầu tham gia giao thông công cộng của sinh viên khuyết tật, xem xét mức độ tham gia và liệu nhu cầu của họ đã được đáp ứng hay chưa.
Sinh viên khuyết tật thường gặp khó khăn trong việc di chuyển và chọn dịch vụ giao thông công cộng, đặc biệt là xe buýt, để tham gia các hoạt động xã hội Nhu cầu sử dụng xe buýt là rất cần thiết, đặc biệt cho những chuyến đi xa Sinh viên N từ khoa Thư viện thông tin chia sẻ: “Mình tham gia giao thông công cộng nhiều nhất là xe buýt bởi vì xe buýt là phương tiện rẻ nhất, thuận lợi nhất, phù hợp với sinh viên.” Xe buýt được ưa chuộng vì tính nhanh chóng và giá cả hợp lý, đặc biệt ở thành phố nơi sinh viên khuyết tật sinh sống Một sinh viên khuyết tật khác cho biết: “Vì mình chỉ đi ở những nơi có xe buýt thôi và cũng có nhiều thuận tiện như nhanh, rẻ, nên đi xe buýt nhiều.” Xe buýt là phương tiện phổ biến nhất, trong khi các loại hình giao thông công cộng khác không nhiều Sinh viên D từ khoa Lưu trữ cho biết: “Tùy theo quãng đường đi, nếu ngắn trong thành phố thì đi xe buýt, còn nếu ở quê hay đi xa thì đi xe khách.” Do đó, nhu cầu sử dụng xe buýt chủ yếu phục vụ cho việc học tập và các nhu cầu khác của sinh viên khuyết tật, với một sinh viên khuyết tật nhấn mạnh: “Xe buýt là một phần quan trọng trong việc đi lại của mình.”
Sinh viên khuyết tật ngày càng phải tham gia nhiều hoạt động giống như sinh viên không khuyết tật, tuy nhiên, phương tiện giao thông công cộng, đặc biệt là xe buýt, vẫn là lựa chọn phổ biến của họ dù chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu Một sinh viên khuyết tật cho biết: “Xe buýt nó rẻ, thường xuyên, tiện lợi.” Trong khi đó, một sinh viên khác chia sẻ: “Với tình hình ngập nước ở thành phố Hồ Chí Minh, mình không thể đi xe đạp hay xe máy, nên xe buýt là phương tiện an toàn và phù hợp với sức khỏe của mình.” Mặc dù xe buýt đáp ứng tối thiểu nhu cầu di chuyển, nhưng sinh viên T cảm thấy rằng nó vẫn chưa mang lại sự thoải mái cần thiết.
KHÓ KHĂN CỦA SINH VIÊN KHUYẾT TẬT TRONG VIỆC SỬ DỤNG DỊCH VỤ GIAO THÔNG CÔNG CỘNG
VỤ GIAO THÔNG CÔNG CỘNG
Sinh viên khuyết tật ngày càng cần thiết phải tham gia giao thông công cộng, nhưng họ phải đối mặt với nhiều thuận lợi và khó khăn Để phân tích, tác giả chia các khó khăn thành hai nhóm chính: khó khăn trong việc tiếp cận phương tiện giao thông công cộng và khó khăn khi sử dụng thẻ xe buýt.
III.1 Khó khăn về tiếp cận và sử dụng phương tiện giao thông công cộng
III.1.1 Sinh viên khuy ết tật vận động
Sinh viên khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ giao thông xe buýt, đặc biệt là trong việc di chuyển từ chỗ ở đến nơi đón xe Họ thường không thể mang theo xe lăn hoặc xe đạp do thiếu không gian trên xe buýt Sinh viên T chia sẻ rằng các phương tiện không đồng bộ, khiến việc sử dụng xe lăn trở nên khó khăn Sinh viên N, năm thứ II khoa Thư viện Thông tin, cho biết mỗi lần di chuyển từ ký túc xá đến nơi đón xe phải đi hơn 500m, rất mệt mỏi Hơn nữa, khi điểm dừng không trùng với địa điểm cần đến, họ phải tự di chuyển mà không có sự hỗ trợ nào Do đó, sự hỗ trợ từ các phương tiện như xe lăn hay xe đạp là rất cần thiết cho sinh viên khuyết tật, đặc biệt khi phải di chuyển quãng đường dài.
Sinh viên khuyết tật gặp nhiều khó khăn khi đón xe buýt trở về, đặc biệt là trên những tuyến đường một chiều Sinh viên N chia sẻ: “Khi làm thẻ xe buýt miễn phí, mình đi xe 53 đến Bến Thành, sau đó chuyển sang tuyến số 4 đến đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa Tuy nhiên, khi quay về, do đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa là một chiều, mình phải đi bộ một đoạn qua đường Nguyễn Thị Minh.”
Sinh viên khuyết tật cho rằng việc di chuyển đến trường gặp nhiều khó khăn do thiếu trạm xe buýt gần trường Họ đề xuất cần có các tuyến xe buýt riêng cho từng trường, giống như Đại học Nông Lâm, để sinh viên có thể đến trường một cách dễ dàng mà không phải đi bộ xa dưới nắng Cả sinh viên khuyết tật và không khuyết tật đều gặp khó khăn trong việc tiếp cận các trạm xe buýt, vì mạng lưới xe buýt chưa phủ sóng toàn thành phố, khiến việc đi bộ trở nên vất vả cho cả hai nhóm.
Nhiều tài xế xe buýt thường không dừng lại đúng tại trạm, mà dừng cách xa, gây khó khăn cho sinh viên khuyết tật vận động Những sinh viên này, dù có thể tự di chuyển nhưng gặp nhiều hạn chế, không thể theo kịp xe buýt như người không khuyết tật Họ thường phải chờ chuyến sau hoặc vội vàng lên xe, dễ gặp tai nạn như ngã hoặc bị kẹt tay vào cửa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng khuyết tật của họ.
Thời gian dừng lại của xe buýt gây khó khăn cho sinh viên khuyết tật vận động Một sinh viên khuyết tật chia sẻ: “Mặc dù mình bị nhẹ và cảm thấy bình thường, nhưng mình nghĩ những người bị nặng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn Xe buýt chỉ dừng lại vài phút để đón khách, nên việc lên xuống rất vội vàng.”
Sinh viên T cho biết việc lên xuống xe buýt gặp nhiều khó khăn do xe thường không dừng lại hẳn, tiếp viên thường la hét và thúc giục hành khách Một sinh viên khác cũng phản ánh rằng thời gian dừng xe rất ngắn, chỉ khoảng 30 giây, khiến việc lên xuống trở nên vội vã và khó khăn Sinh viên không khuyết tật nhận thấy rằng người khuyết tật gặp nhiều trở ngại hơn, như người mù phải lên xe chậm, làm tài xế cảm thấy khó chịu Nhiều sinh viên khuyết tật cho biết tài xế không điều chỉnh tốc độ khi dừng xe, khiến họ phải chịu đựng đau đớn Sinh viên N cũng nhấn mạnh rằng nhiều xe buýt chạy vội, không cho hành khách xuống hết đã lập tức rời đi Tại giờ cao điểm, sinh viên khuyết tật thường bị đẩy ra ngoài do sự chen lấn của hành khách Nhân viên xe buýt cho biết đông người khiến việc lên xe trở nên khó khăn hơn cho sinh viên khuyết tật Sinh viên khuyết tật V chia sẻ rằng vào buổi sáng, đường phố đông đúc, khiến họ thường phải đứng và rất hiếm khi có chỗ ngồi.
Nhiều sinh viên khuyết tật phản ánh rằng tài xế xe buýt thường chạy ẩu và không muốn đón họ Sinh viên T chia sẻ rằng có lần họ đã phải chờ đến chuyến xe thứ hai mới được đón, mặc dù đã vẫy tay Trong khi đó, các tài xế lại cho rằng họ ít thấy sinh viên khuyết tật sử dụng dịch vụ giao thông công cộng, thậm chí có người khẳng định không có sinh viên khuyết tật nào tham gia Điều này tạo ra sự mâu thuẫn khi sinh viên khuyết tật cho rằng họ thường xuyên sử dụng xe buýt, trong khi tài xế lại cho rằng họ không tham gia nhiều Sự thiếu quan tâm của tài xế đối với sinh viên khuyết tật có thể dẫn đến việc họ không chú ý đến tốc độ khi có người khuyết tật tham gia giao thông Sinh viên N kể lại một trải nghiệm khó khăn khi ngồi ở ghế dành cho người khuyết tật, cho rằng vị trí ghế không hợp lý và đã gặp phải tình huống nguy hiểm khi xe buýt thắng gấp Cả sinh viên khuyết tật và không khuyết tật đều đồng tình rằng tài xế thường có thái độ không phù hợp và chạy xe ẩu.
Sinh viên khuyết tật gặp nhiều khó khăn khi lên xe buýt, đặc biệt là khi tài xế vẫn cho xe chạy, khiến họ không thể đứng vững Họ thường phải chờ chuyến xe ít người để có chỗ ngồi, điều này dẫn đến việc tốn thời gian và có thể bị trễ giờ học hoặc các hoạt động khác Khi tác giả cùng một số sinh viên khuyết tật đón xe buýt số 8, một bạn sinh viên đã khuyên không nên lên xe vì đông khách và nên chờ chuyến sau Nhiều sinh viên không khuyết tật cũng nhận thấy rằng sinh viên khuyết tật mất nhiều thời gian hơn trong việc đón xe.
Bậc lên xuống xe quá cao gây khó khăn cho sinh viên khuyết tật, khiến họ phải vịn vào thanh cửa để lên xe Việc có người giúp đỡ làm cho quá trình này dễ dàng hơn, nhưng thường thì sinh viên khuyết tật phải tự mình đối mặt với thử thách này Một sinh viên cho biết: “Một số xe rất là cao, chị bước lên cũng bị hụt mấy lần.” Đối với họ, việc đứng đón xe tưởng chừng đơn giản nhưng lại là một khó khăn lớn Khi có nhà chờ, họ có thể ngồi để giảm bớt mỏi chân, nhưng nếu không có, họ phải đứng trong điều kiện nắng nóng và bụi bặm, gây thêm lo lắng Sinh viên khuyết tật vận động gặp khó khăn hơn khi phải đứng lâu, dễ bị mỏi và tê chân Thời gian chờ xe buýt cũng là một vấn đề, với một sinh viên cho biết: “Có những chuyến thì 5 phút, nhưng có khi phải đợi tới 15, 20, thậm chí 30 phút.”
III.1.2 Sinh viên khuy ết tật khiếm thị
Sinh viên khuyết tật khiếm thị gặp nhiều khó khăn khi sử dụng giao thông công cộng do các bản hướng dẫn thường có kích thước nhỏ và vị trí đặt không hợp lý Nhiều bảng hướng dẫn được đặt quá cao, khiến cho người khiếm thị khó tiếp cận thông tin Một sinh viên khuyết tật A chia sẻ: “Bản hướng dẫn thì nhỏ một phần với lại nó rất là nhiều chi tiết” Một sinh viên khác cũng cho biết: “Những nơi mà chờ xe buýt có mái che thì có thể đọc được, nhưng những bảng được đặt ở trên cao rất là khó nhìn” Họ nhấn mạnh rằng đối với những người khiếm thị hoàn toàn, việc có bảng lớn và dễ thấy là rất cần thiết để hỗ trợ trong việc di chuyển.
Việc đón xe của người khuyết tật khiếm thị gặp nhiều khó khăn Một sinh viên không khuyết tật chia sẻ: “Khi xe buýt dừng lại, tài xế thường không muốn đợi lâu để đón khách, điều này khiến người mù phải bước lên xe chậm, gây khó chịu cho tài xế.”
Sinh viên khuyết tật khiếm thị gặp khó khăn trong việc nhận diện số xe buýt khi đã tìm được vị trí đón Một sinh viên chia sẻ: “Thì thứ nhất anh bị khiếm thị khi nhìn số xe thì khó, Cái khó nhất là nhìn số xe để bắt” Khó khăn này được nhiều sinh viên khác xác nhận, họ cho biết việc nhìn biển số xe là một thách thức lớn Do không nhìn rõ biển số, nhiều sinh viên thường xuyên đón nhầm xe, như một bạn đã nói: “Mình không nhìn rõ lắm số xe, mình thường xuyên bị đón nhầm Ví dụ trên đường từ Bến Thành lên trên này mình đón xe 53, nhưng ở đó có xe 56, rồi có xe 27, thường thì mình đón nhầm xe 56” Những xe có số đầu hoặc số cuối giống nhau dễ gây nhầm lẫn cho các bạn.
Sinh viên khuyết tật khiếm thị thường gặp khó khăn trong việc nhận biết địa điểm xuống xe buýt do thiếu sự hỗ trợ từ nhân viên phục vụ Họ thường không được thông báo khi đến điểm dừng, dẫn đến việc phải đi quá địa điểm cần đến Sinh viên T chia sẻ rằng đôi khi nhân viên không muốn trả lời hoặc quên, khiến họ phải tìm cách gây cảm tình để được nhắc nhở Để khắc phục, sinh viên khiếm thị sử dụng các đặc trưng nổi bật của địa điểm để nhận biết Sinh viên C cho biết họ hỏi tiếp viên về những điểm chưa quen và chú ý đến các biển hiệu, màu sắc đặc trưng của khu vực Ví dụ, khi đi xe 53, họ nhớ đến bức tường có hình thiếu nhi để biết khi nào cần xuống Tương tự, khi đi xe số 6 hoặc số 10, họ dựa vào cầu Sài Gòn và các hình vẽ tại sở thú để xác định điểm dừng Trong những hoàn cảnh khó khăn, người khiếm thị luôn tìm cách thích nghi và vượt qua thử thách.
Sinh viên khiếm thị gặp nhiều khó khăn trong việc di chuyển vào ban đêm do điều kiện ánh sáng kém Việc tham gia các hoạt động ban ngày đã khó, ban đêm lại càng trở nên thách thức hơn Họ chỉ sử dụng dịch vụ giao thông công cộng vào ban đêm khi thật sự cần thiết Sinh viên T chia sẻ: “Mình ít khi nào đi vào ban đêm bởi vì khó nhìn thấy mọi thứ, khi nào có việc cần lắm thì mới đi.”