1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chương 2 tâm lý học đại cương

25 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Sinh Lý Thần Kinh Của Tâm Lý Người
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 748,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh lý học thần kinh cấp cao là một khoa học rất non trẻ, có lịch sử phát triển khoảng nửa thế kỷ này, từ giữa thế kỷ XX này, tính từ sự ra đời của học thuyết Pavlov. Pavlov và cộng sự của ông đã phát hiện những qui luật cơ bản của hoạt động thần kinh cấp cao, một thành tựu vĩ đại của khoa học thế giới hiện đại. Toàn bộ hoạt động của cơ thể và tâm lý vận hành nhờ sự làm việc và điều khiển của hệ thần kinh (bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: các giác quan, nơron thần kinh, phần dưới vỏ não và võ não…). Hệ thần kinh là một hệ cơ quan phân hóa cao nhất trong cơ thể người, ở dưới dạng ống và mạng lưới đi khắp cơ thể, được cấu tạo bởi một loại mô chuyên biệt là mô thần kinh, gồm các tế bào thần kinh — nơron và các tế bào thần kinh đệm (thần kinh giao). Cũng chính các nơron đã tạo ra hai thành phần cơ bản của não, tủy sống và hạch thần kinh là chất xám và chất trắng. Về mặt cấu tạo, hệ thần kinh được chia ra làm 2 bộ phận là bộ phận trung ương (não, tủy sống) và bộ phận ngoại biên (các dây thần kinh, hạch thần kinh), trong đó bộ phận trung ương giữ vai trò chủ đạo. Về chức năng, hệ thần kinh được chia thành hệ thần kinh vận động (điều khiển cơ, xương) và hệ thần kinh sinh dưỡng (hệ thần kinh thực vật). Hệ thần kinh sinh dưỡng lại gồm 2 phân hệ là phân hệ giao cảm và phân hệ đối giao cảm. Hoạt động thần kinh cấp cao ở người hình thành nên nhiều phản xạ có điều kiện rất phức tạp mà không sinh vật nào có được. Vì vậy, việc vệ sinh hệ thần kinh có cơ sở khoa học là cần thiết để hệ thần kinh luôn đạt chất lượng hoạt động cao.

Trang 1

Vì sao bạn thích màu đỏ? Vì sao bạn thích ăn ngọt? Vì sao bạn yêu môn toán? Vì sao bạn thích anh ấy? Bạn có thể trả lời chính xác được không?

Điều gì quyết định hay chi phối sự yêu thích của bạn?

Chương 2

CƠ SỞ SINH LÝ THẦN KINH CỦA TÂM LÝ NGƯỜI

Mục tiêu

Học xong chương này, người học có thể:

1 Mô tả được cấu tạo và chức năng cơ bản của hệ thần kinh – cơ sở sinh

lý của tâm lý: nơron, não…

2 Phân tích được qui luật hoạt động của hệ thần kinh trung ương, định

khu chức năng trên vỏ não

3 Giải thích được vai trò của việc hiểu bản chất tự nhiên của tâm lý

trong quá trình giáo dục và tự giáo dục

Trang 2

I SƠ LƯỢC VỀ CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CỦA HỆ THẦN KINH

Sinh lý học thần kinh cấp cao là một khoa học rất non trẻ, có lịch sử pháttriển khoảng nửa thế kỷ này, từ giữa thế kỷ XX này, tính từ sự ra đời của họcthuyết Pavlov Pavlov và cộng sự của ông đã phát hiện những qui luật cơ bảncủa hoạt động thần kinh cấp cao, một thành tựu vĩ đại của khoa học thế giớihiện đại

Toàn bộ hoạt động của cơ thể và tâm lý vận hành nhờ sự làm việc và điềukhiển của hệ thần kinh (bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: các giác quan, nơron

thần kinh, phần dưới vỏ não và võ não…) Hệ thần kinh là một hệ cơ quan phân

hóa cao nhất trong cơ thể người, ở dưới dạng ống và mạng lưới đi khắp cơ thể,được cấu tạo bởi một loại mô chuyên biệt là mô thần kinh, gồm các tế bào thầnkinh — nơ-ron và các tế bào thần kinh đệm (thần kinh giao) Cũng chính cácnơ-ron đã tạo ra hai thành phần cơ bản của não, tủy sống và hạch thần kinh làchất xám và chất trắng Về mặt cấu tạo, hệ thần kinh được chia ra làm 2 bộ phận

là bộ phận trung ương (não, tủy sống) và bộ phận ngoại biên (các dây thần kinh,hạch thần kinh), trong đó bộ phận trung ương giữ vai trò chủ đạo Về chứcnăng, hệ thần kinh được chia thành hệ thần kinh vận động (điều khiển cơ,xương) và hệ thần kinh sinh dưỡng (hệ thần kinh thực vật) Hệ thần kinh sinhdưỡng lại gồm 2 phân hệ là phân hệ giao cảm và phân hệ đối giao cảm Hoạtđộng thần kinh cấp cao ở người hình thành nên nhiều phản xạ có điều kiện rấtphức tạp mà không sinh vật nào có được Vì vậy, việc "vệ sinh" hệ thần kinh có

cơ sở khoa học là cần thiết để hệ thần kinh luôn đạt chất lượng hoạt động cao

1 Sơ lược về các giác quan

Để nhận được thông tin từ môi trường xung quanh (để cảm giác được), hệthần kinh trung ương phải dựa vào rất nhiều dạng tế bào nhạy cảm khác nhau(cơ quan thụ cảm) (Recepter) Mỗi cơ quan thụ cảm chịu trách nhiệm về mộtdạng thay đổi của môi trường gọi là sự kích thích, nó tạo ra những xung thầnkinh tương ứng, sau đó truyền tới hệ thần kinh trung ương Các giác quan – cơquan thụ cảm - được ví như các angten thu nhận thông tin dưới dạng sóng, đó

Trang 3

cũng chính là nguồn thông tin cơ bản cho quá trình nhận thức của con người.Người ta còn gọi chúng là cổng vào của tri thức Đồng thời giác quan cũng giúpchúng ta nuôi dưỡng và duy trì sự tiếp xúc với bên ngoài cũng như với bêntrong.

Các giác quan khác nhau được gọi tên theo các kích thích mà chúng đặctrách, bao gồm: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác (cơ học, đau,nhiệt độ và tư thế trong không gian)

a Cơ quan vị giác

Chúng ta có từ 2 đến 5000

nhú lưỡi vị giác; mỗi nhú lưỡi có

một chức năng riêng (ví dụ: đắng,

ngọt) Nhờ vào một số lượng lớn các

b Cơ quan khứu giác

Khứu giác cho chúng ta biết các

thuộc tính mùi của vật Khứu giác

(theo nghĩa hóa học) có các tế bào

cảm thụ (cellules recepteurs) Số

tế bào vị giác mang các đặc điểmkhác nhau mà não có thể nhận biếtcác vị Chúng ta nhận biết được 4 vị

cơ bản: mặn, chua, ngọt, đắng Vịthứ 5 chỉ có ở những người Châu Ácảm nhận, đó là vị lợ (umami - từtiếng Nhật), vị này có do chấtglutamin (bột ngọt) tạo nên; và vịthứ 6 là vị béo cho phép chúng taphát hiện ra các axit béo chủ yếu

lượng các tế bào cảm thụ này vượtquá 100 triệu và được phân bổ trongmàng nhầy của hố mũi (một lớp tếbào mỏng phía trên khoang mũi -biểu mô khứu giác) Khứu giác tiếpnhận khoảng 20% mùi dễ chịu, 80%mùi khó chịu và nguy hiểm báotrước cho chúng ta biết rằng các chất

đó có thể gây nguy hiểm, ví dụ nhưthịt ôi…

Trang 4

Khứu giác còn đưa ra các tín hiệu giao tiếp, lãnh thổ, mùi cá nhân Ví dụnhư: bé và mẹ; phân biệt các cá nhân, đe dọa, phục tùng, sinh sản Một hiệntượng ít được biết đến ở con người là mỗi người có một mùi riêng.

c Cơ quan thị giác

Thị giác là một trong nhữngloại máy ảnh tinh xảo nhất (độ phângiải, tự động điều chỉnh…), nó thunhận các sóng ánh sáng được biếnđổi, cho phép chúng ta nhìn được

Sự biến đổi năng lượng ánh sáng thành các hoạt động thần kinh, truyềndẫn qua trung gian là các tế bào võng mạc rất nhạy cảm với ánh sáng (cókhoảng 1 triệu tế bào trên võng mạc), qua các tương tác synap, và với sự trợgiúp của các tế bào cảm quang học (khoảng 260 triệu tế bào) và 2 triệu tế bàohạch sự truyền dẫn các thông tin từ giác quan tới não bộ đã được đảm bảo

Các sợi trục của các tế bào hạch hợp thành từng bó, đó chính là các dâythần kinh thị giác Dây thần kinh thị giác nhiều đến mức chỉ riêng 10% sợi củachúng đã nhiều hơn số lượng sợi của thính giác

Sự nhìn bằng hai mắt đã tạo ra 2 luồng tiếp nhận thông tin song song, liênquan đến khoảng cách, sự chuyển động, sự tương phản, các chi tiết, màu sắc củacác vật thể Mắt sẽ tạo ra các hình ảnh rõ nét, hợp nhất về thế giới bao quanhchúng ta trên võng mạc; các hình ảnh đó phản ánh dưới nhiều mặt: hình khối,màu sắc, vị trí, sự chuyển dịch, giao tiếp; có 3 khu vực thị giác phân biệt đểphân tích các phương diện riêng biệt

d Cơ quan thính giác

Thính giác có cấu trúc phức tạp: vành tai, màng nhĩ, xương tai Sự thayđổi mật độ các phân tử trong không khí được chuyển thành sự rung của cácthành phần cấu tạo cơ học của tai giữa và tai trong, sau đó được chuyển thànhcác phản ứng thần kinh

Trang 5

Cơ quan thính giác tiếp nhận tổ hợpđồng thời của các sóng âm, tần số,cường độ, âm độ; định vị âm thanh,khoảng cách và không gian Tai vànão biến đối các âm thanh trong môitrường của chúng ta thành nhữngthông điệp thần kinh có nghĩa.

e Xúc giác

Xúc giác đó là giác quan đầutiên chúng ta có được và là giácquan cuối cùng chúng ta mất đi Xúcgiác không có một cơ quan đặc biệtnào phụ trách như các giác quantrên, nó nằm rải rác trên bề mặt da

và trong tai cũng như từ trong chínhbản thể

Giác quan này bao gồm 4 loại: cảm thụ cơ học, cảm thụ nhiệt độ, cảm thụ

về tư thế của cơ thể trong không gian và cảm thụ đau

Như vậy, xúc giác được phân bổ trong toàn cơ thể, phản ứng với nhiềuloại tác nhân kích thích khác nhau Mọi nguồn gốc của các trải nghiệm dễ chịu

và đau xót đều đến từ xúc giác Trung khu của các cảm nhận xúc giác nằm ởthùy đỉnh Sau khi nhận kích thích xúc giác, thông tin được chuyển tới não quađường tủy sống và sự tích hợp các thông tin được thực hiện ở vỏ não

2 Sơ lược cấu tạo và chức năng của tế bào thần kinh

Hệ thần kinh được tạo nên bởi sự kết hợp các nơron còn gọi là tế bào thầnkinh Nơron là một hệ thống có thể được so sánh với một hệ thống điện thoạibao gồm các đường dây, điểm tiếp phát và các trung tâm Có khoảng 100 tỷnơron (dao động ít hoặc nhiều hơn khoảng vài trăm triệu) Trong một số vùng

Trang 6

của não người, các nơron được sinh ra trong suốt quá trình sống (với việc tiếp nhận kiến thức mới).

a Cấu tạo của nơron

Nơron bao gồm các phần sau:

- Tế bào: Nhân bào và thân bào

- Các phần kéo dài: sợi trục, tua nhánh

- Điểm tiếp hợp: synap

Tế bào là thành phần cơ bản của hệ thần kinh, giống với tất cả các tế bào

khác trong cơ thể, nó có thể được so sánh với hình ảnh quả trứng với chấtnguyên sinh và màng là chất trắng, nhân là chất xám

Sợi trục và các tua nhánh:

Sợi trục (axone) chính là dây trụ trục, có thể ngắn hoặc dài khác nhau Nógiống như một sợi dây điện thoại Sợi trục dẫn và cảm ứng, và thực hiện chứcnăng tiếp nhận hoặc đáp ứng

Sợi trục được bao quanh bởi bao myelin, khiến việc chuyển thông tin vàotrong sợi trục dễ dàng hơn và tăng vận tốc truyền dẫn các hoạt động tiềm tàng

Hình 2.1: Nơron thần kinh

Tua nhánh là phần kéo dài (sợi ngắn), hình thành cây nối tiếp với các tuanhánh của tế bào khác để truyền thông tin: một tế bào có hơn 10.000 điểm tiếp

Trang 7

xúc giống như các cành cây; con người càng có nhiều trải nghiệm đa dạng, thìcàng phát triển nhiều các tua nhánh (trích theo Jean Mark Dénommé vàMadelaine Roy, 2007).

Synap là nơi tiếp nối giữa các tua nhánh của tế bào này với tế bào khác, tất

cả các trao đổi được thực hiện ở synap

b Chức năng của nơron

Nơron tiếp nhận, truyền và lưu giữ các thông tin nhờ có xung thần kinh.Khi tiếp nhận một kích thích nào đó, tế bào thần kinh tạo ra xung thần kinh(dòng điện) và xung thần kinh này đi qua sợi trục (nơi truyền dẫn và cảm ứng),dẫn tới các tua nhánh Như vậy, trong nơron có quá trình hưng phấn xảy ra, tếbào thần kinh bắt đầu hoạt động Khi hưng phấn đạt đến một độ nhất định, tếbào dẫn truyền hưng phấn từ điểm này đến điểm khác, từ tế bào này đến tế bàokhác

Mỗi nơron bao gồm nhiều phần có chức năng riêng, vùng tiếp nhận(région afférente), đưa ra các tín hiệu tại chỗ (thụ quan tiềm tàng, màng sausynap), vùng tổng hợp, chủ yếu nằm ở gốc của sợi trục, phát ra hành động tiềmtàng ở mức độ thấp nhất

Sợi trục dẫn truyền lan truyền các tín hiệu thần kinh với các vận tốc khácnhau tùy theo độ dày hay mỏng của bao mielin và khoảng cách xa hay gần; Đápứng, giải phóng các chất hóa học dẫn truyền từ các túi hoạt động tùy theo sốlượng và tần số của các hành động tiềm tàng (màng trước synap) Các tua nhánh

là các bản tiếp xúc và truyền dẫn

Trang 8

Cơ quan thụ cảm

Synap là điểm tiếp hợp giữa 2 hệ thống tua nhánh và chất dẫn truyền(neurotransmetteur), là nơi xử lý thông tin đầu tiên (lựa chọn); ở đây diễn ra cácthao tác phức tạp: xung điện, tiếp theo là xung hóa, và cuối cùng là xung điện:thần kinh tiếp nhận thông tin gây ra một xung điện trong sợi trục đến tận màngtrước synap của tua nhánh; xung điện này được chuyển hóa thành tín hiệu hóahọc đối với synap và lại trở thành xung điện trong màng sau synap của tế bàokhác

Hình 2.2: Truyền dẫn thông tin qua sợi trục

Quá trình truyền tin này được mô tả cụ thể hơn như sau:

Đầu tiên các kích thích chuyển tới vùng tiếp nhận của nơron (màng sau củasynap) dưới dạng các luồng xung thần kinh Tiếp sau đó, các luồng xung thầnkinh này được sợi trục truyền dẫn tới vùng tổng hợp (tốc độ truyền dẫn này phụthuộc vào độ dày của lớp mielin và khoảng cách phải truyền dẫn) Sau đó, cácluồng xung thần kinh này cập bến tại vùng đáp ứng (màng trước của synap) –tại đây sẽ xảy ra sự giải phóng các chất hoá học dẫn truyền từ các túi Số lượng

Trang 9

chất hoá học được giải phóng phụ thuộc vào số lượng và tần số của các kíchthích.

Cuối cùng tại điểm tiếp hợp giữa hai hệ thống tua nhánh và nơron truyền dẫncủa hai nơron sẽ xảy ra sự chọn lọc đầu tiên, chỉ những thông tin mà não cần thì

sẽ đi tiếp Các phản ứng hoá học sẽ xảy ra giữa các chất mới giải phóng, nănglượng của phản ứng hoá học này sẽ chuyển thành các xung thần kinh truyền tớimàng sau của synap khác (vùng tiếp nhận) và một quá trình như trên lại đượcdiễn ra tại nơron này

Như vậy, nơron truyền dẫn thông tin theo cả hai hướng từ ngoại vi vào trongnão và từ não ra ngoại vi Quá trình truyền dẫn này xảy ra khá phức tạp, bắt đầu

là xung điện - xung hoá - xung điện

Các nơron được tập hợp thành các cung phản xạ, đó là nền tảng của cảmgiác, tri giác, vận động, ngôn ngữ và cảm xúc Theo các nhà sinh lý học thầnkinh, tri giác không chỉ đi từ sự liên kết trong não của các xung thần kinh đến từmột cơ quan cảm thụ, mà đi từ sự tích hợp tất cả với các trạng thái của trungtâm hiện tại, chính điều này giúp cho con người thích nghi với sự thay đổi bênngoài và bên trong cơ thể Kết quả là tri giác không chỉ được xác định riêng bởicác thông điệp tiếp nhận mà còn phụ thuộc vào cấu trúc hoạt động của não tạithời điểm đó (mức độ cảnh giác, mức độ chú ý, trạng thái tình cảm, động lực, vàmức độ học) Chính vì thế, theo nghiên cứu của một số nhà khoa học, có thểchấp nhận được dữ liệu cảm thụ, não có thể áp đặt sự nhận thức một cấu trúckhác với cấu trúc của tác nhân kích thích thực tế

Tóm lại, các nơron có chức năng truyền dẫn, chọn lọc lưu giữ và xử lýthông tin Chúng ta có thể phát triển các tua nhánh của nơron bằng việc tăngcường sử dụng nhiều giác quan Một điều rất thú vị là chúng ta mới sử dụng hết4% tổng số nơron, như vậy chúng ta có một tiềm năng không giới hạn nhưngthực tế không sử dụng hết nó bởi chúng ta bị giới hạn bởi không gian và thờigian sống

Trang 10

3 Não

Não được hình thành từ ba phần đặt lên nhau, biểu thị ba thời kì phát triểncủa nó: thời kì cổ nhất được gọi là vỏ não nguyên thuỷ, thời kỳ thứ hai gọi là vỏnão cổ và thời kỳ mới nhất gọi là não người Hệ thống thần kinh trung ương cầntới hàng nghìn thế kỷ để hình thành Nó đã vượt qua sự tiến hoá của giới độngvật trước khi hoàn thiện để trở thành trung khu của tất cả khả năng con người

mà chúng ta biết ngày nay, cụ thể như:

- Các khả năng phức tạp, ví dụ như ngôn ngữ và hành vi xã hội, phảnánh các cơ chế riêng mà sự chọn lọc tự nhiên (thử, sai lầm…) đó bancho bộ não của chúng ta

- Vỏ não trước giữ một vị trí quan trọng trong việc phối hợp các xử lý

có sử dụng đến các vùng rất rộng của hệ thần kinh trung tâm, khu liênhợp trước trán chiếm khoảng 1/3 vỏ não

a Não loài bò sát (hoặc não nguyên thuỷ)

Não nguyên thủy nằm ngay dưới gáy, đây là trung khu của các chức năng

cơ bản: hô hấp, tuần hoàn máu, các cơ quan chủ yếu của nội tiết Trong vùngnày cũng có trung khu của các chức năng cần thiết cho sự tồn tại: những thóiquen, giới tính, nó bảo vệ tất cả các hoạt động ban đầu dựa trên bản năng vàphản xạ của loài

Như vậy, não nguyên thủy chịu trách nhiệm quản lý các chức năng sống,cũng như các chức năng cần thiết để tồn tại của con người và của loài Chínhchức năng sống và tồn tại đã ảnh hưởng rất nhiều đến cách hoạt động của conngười trong xã hội

Trong nghiên cứu về sư phạm tương tác, Jean Mark Dénommé vàMadelaine Roy (2007) cho rằng não nguyên thuỷ được sử dụng để cho chúng tabiết được một số tập tính thường gặp ở người học và ngay cả người dạy, nhữngngười bảo vệ vị trí của họ, bảo vệ quyền sống gắn với lãnh thổ của họ, nhữngxung đột nổi lên từ quan hệ tình dục nam nữ…, từ đó chúng ta có những ứng xửphù hợp hơn

Trang 11

MÔ HÌNH NÃO NGƯỜI

Vỏ não

Não mới (Tư duy, ngôn ngữ, thích nghi, tự vệ)

Hệ limbic

Não thú, não cổ (nhu cầu cơ bản, cảm xúc)

Não bò sát

b Não thú (còn gọi là vùng limbic hoặc vùng hải mã)

Não bò sát đã tiến hoá bằng cách thêm vào một số bộ phận mới và nó đãtrở thành não động vật có vú/não thú (người ta còn gọi là não cổ) Nó có vị trítrung gian giữa não người và não bò sát, bao quanh não bò sát, nó có hình dángnhư con cá ngựa (nên người ta còn gọi vùng này là vùng hải mã)

Hình 2.3: Mô hình não người

Não thú là nơi tập trung toàn bộ các xung năng, các xu thế mà nó gắn liềnvới các cảm giác nội tạng và các phản ứng xúc cảm Vì có khả năng cảm xúc,nên nó là lĩnh vực biểu hiện tình cảm Khả năng biểu hiện tình cảm này chính làbiểu hiện chấp nhận hay từ chối với các thông tin được nhận Nếu thông tin thực

sự hứng thú, nó sẽ được truyền qua và trở thành động lực hành động cho chủthể Những thông tin khác không hứng thú, nó sẽ bị ngăn lại nhưng nếu khi bịcưỡng bức (buộc phải xử lý mặc dù không thích) nó sẽ được qua nhưng sau đóthường không để lại dấu ấn trong não

Trong hệ thần kinh trung ương, có một tổ chức gồm các tế bào có hìnhthù to, kết lại với nhau theo kiểu đan lưới nằm khắp hành tủy, não giữa, não

Trang 12

trung gian Bộ phận này được gọi là cấu tạo hình lưới hay võng trạng Khi nhậnđược luồng thần kinh từ các dây thần kinh của các giác quan đi qua các trungkhu của chúng trong các bộ phân nằm dưới vỏ não, võng trạng không chỉ truyềnlên một vùng tương ứng nào đó vào một bộ máy phân tích trong vỏ não màthường truyền lên một số vùng của vỏ não hoặc toàn bộ não Nhờ vậy võngtrạng giúp nhiều vùng trên vỏ não sẵn sàng chuẩn bị thực hiện chức năng thànhlập các phản xạ có điều kiện Võng trạng đóng vai trò đáng kể đối với các trạngthái tích cực và tiêu cực, tỉnh táo và uể oải, vui vẻ và buồn rầu trong cơ thể.

Đóng góp của não thú vào quá trình nhận thức (Jean Mark Dénommé và

Madelaine Roy, 2007)

Vùng não thú đóng góp một vai trò to lớn trong quá trình nhận thức, nótham gia suốt trong quá trình học tập Sự lựa chọn của nó làm nảy sinh mộtthiên hướng hay sự thúc đẩy hoạt động cho người học trong các lĩnh vực trithức, xã hội và môi trường Người dạy phải lưu ý là mọi quy luật phát triển trítuệ đều tuân theo hứng thú Nó sẽ đánh giá khả năng làm thoả mãn nhu cầu màngười học và người dạy cảm nhận được

Do đó với người học, tự bản thân họ phải tự tạo ra động lực cá nhân chomình trong mỗi hoạt động học tập Người dạy phải giúp đỡ người học có độnglực, làm cho họ hứng thú và say mê với môn học, làm cho họ biết mơ ước Đểlàm được như vậy, hãy chỉ ra những gì mà người học thu nhận được khi họcmôn học nào đó Bên cạnh đó việc tạo ra một môi trường học tập thoải mái,thân thiện, giúp đỡ sẽ làm cho người học cảm thấy an toàn và tự tin Nếu khônggặp được điều này, thì hoạt động dạy học đã không vượt qua “rào cản” đầu tiên

và cánh cửa thứ hai (sau các giác quan) trước khi tới vỏ não

Ngày đăng: 03/01/2024, 10:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Nơron thần kinh - Chương 2 tâm lý học đại cương
Hình 2.1 Nơron thần kinh (Trang 6)
Hình 2.2: Truyền dẫn thông tin qua sợi trục - Chương 2 tâm lý học đại cương
Hình 2.2 Truyền dẫn thông tin qua sợi trục (Trang 8)
Hình 2.3: Mô hình não người - Chương 2 tâm lý học đại cương
Hình 2.3 Mô hình não người (Trang 11)
Hình 2.4: Não người - Chương 2 tâm lý học đại cương
Hình 2.4 Não người (Trang 13)
Hình 2.5: Phân khu chức năng của não - Chương 2 tâm lý học đại cương
Hình 2.5 Phân khu chức năng của não (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w