1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đặc điểm thơ điền viên thời trần

130 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Thơ Điền Viên Thời Trần
Tác giả Nguyễn Thị Mai Hương
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Nương
Trường học Trường Đại Học Hồng Đức
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặng Thai Mai trong bài “Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học” trích trong Thơ văn Lý - Trần, tập 1 1977 cũng nêu ra tiền đề của các sáng tác về cảnh điền viên.. Khi nghiên cứu về g

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM THƠ ĐIỀN VIÊN THỜI TRẦN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

THANH HÓA - 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM THƠ ĐIỀN VIÊN THỜI TRẦN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8.22.01.21

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Nương

THANH HÓA - 2021

Trang 3

Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học theo Quyết định số…… ngày tháng năm 2021 của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:

Học hàm, học vị, Họ và tên Cơ quan Công tác Chức danh trong

Hội đồng Chủ tịch Phản biện 1 Phản biện 2

Ủy viên Thư ký

Xác nhận của Người hướng dẫn Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng

Ngày tháng năm 2021

TS Lê Thị Nương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố

Người cam đoan

Nguyễn Thị Mai Hương

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của Quý thầy cô; sự giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện của nhà trường, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Lê Thị Nương, đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã đem đến cho tôi tri thức, tình yêu đối với văn chương và nghề dạy học, nhất là các thầy cô Bộ môn Văn học Việt Nam, các thầy cô Khoa Khoa học xã hội, trường Đại học Hồng Đức,

đã truyền thụ cho tôi những tri thức và kĩ năng quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu, giáo viên, học sinh trường Quảng Xương 1 đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và tiến hành thực nghiệm giảng dạy

Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh tôi, giúp đỡ tôi về vật chất lẫn tinh thần, để tôi có niềm tin và vượt qua mọi khó khăn trên con đường học tập

Thanh Hóa, tháng 11 năm 2021

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mai Hương

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

2.1 Những nghiên cứu chung về văn học trung đại đề cập đến thơ trữ tình thời Trần 2

2.2 Những ý kiến về thơ điền viên thời Trần 4

2.3 Tiểu kết vấn đề nghiên cứu 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

3.1 Đối tượng nghiên cứu 7

3.2 Phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại 8

5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu 8

5.3 Phương pháp phân tích, đánh giá 8

5.4 Phương pháp khái quát, tổng hợp 8

6 Đóng góp mới của đề tài 8

7 Kết cấu luận văn 8

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM THƠ ĐIỀN VIÊN VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ XUẤT HIỆN THƠ ĐIỀN VIÊN THỜI TRẦN 10

1.1 Khái niệm thơ điền viên 10

1.2 Tiền đề xuất hiện thơ điền viên thời Trần 12

1.2.1 Sự phát triển vững mạnh của quốc gia độc lập giai đoạn đầu thời trung đại 12

1.2.2 Lực lượng sáng tác đông đảo 14

1.2.3 Sự ảnh hưởng, tiếp thu từ thơ ca Trung Quốc 17

1.3 Khảo sát, thống kê thơ điền viên thời Trần 18

* Tiểu kết chương 1 21

Trang 7

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM THƠ ĐIỀN VIÊN THỜI TRẦN Ở PHƯƠNG

DIỆN NỘI DUNG 23

2.1 Cảnh sắc thiên nhiên 23

2.1.1 Cảnh sắc thiên nhiên với vẻ đẹp mĩ lệ, Đường thi 23

2.1.2 Cảnh sắc thiên nhiên với vẻ đẹp dân dã, bình dị 28

2.2 Tâm sự của tác giả 34

2.2.1 Tình yêu với cảnh trí thiên nhiên đất nước 34

2.2.2 Thú nhàn tản 42

2.2.3 Những uẩn ức về thời cuộc 51

2.2.4 Mượn thiên nhiên khẳng định tư tưởng tôn giáo 61

* Tiểu kết chương 2 73

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM THƠ ĐIỀN VIÊN THỜI TRẦN Ở PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 74

3.1 Thể thơ 74

3.1.1 Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt và thất ngôn tứ tuyệt 77

3.1.2 Thể thơ thất ngôn bát cú và ngũ ngôn bát cú 85

3.2 Nghệ thuật tả cảnh 90

3.2.1 Nghệ thuật lấy động tả tĩnh 90

3.2.2 Giàu màu sắc hội họa 93

3.3 Ngôn ngữ thơ 96

* Tiểu kết chương 3 99

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC P1

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học thời Lý - Trần có một vị trí quan trọng góp phần tạo nên diện mạo của thơ văn trung đại Việt Nam Đây là thời kỳ văn học gắn liền với những sáng tác thể hiện hào khí dân tộc trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Văn học thời này cũng xuất hiện cùng lúc những kiểu tác giả như nhà vua, tăng lữ, tướng lĩnh, nho sĩ… đã tạo nên âm hưởng đặc sắc riêng cho diện mạo văn học Những vần thơ thời Trần vừa mang cảm quan Phật giáo, vừa mang cảm hứng yêu nước, vừa đan xen giọng điệu trữ tình của các thi nhân Ngoài cảm hứng về lịch sử, anh hùng ca, các thi nhân thời Trần đã dành nhiều trang viết về cảnh điền viên thôn dã bình dị mà nên thơ Mảng đề tài này đã góp phần khắc hoạ rõ nét hơn tâm hồn, tư tưởng của các thi sĩ đương thời Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, văn học thời Trần vẫn giàu giá trị văn hóa, văn học để khẳng định vị thế của mình trong tiến trình văn học dân tộc

1.2 Bên cạnh các vần thơ tỏ lòng, thể hiện ý chí quyết tâm đánh thắng

kẻ thù còn có những vần thơ điền viên tạo nên bức tranh đa sắc cho thơ ca thời Trần Mảng thơ này còn ẩn chứa nhiều giá trị sâu sắc về tư tưởng, văn hóa, mà nền tảng sâu xa là tinh thần tự tôn, tự cường dân tộc, tình yêu quê hương đất nước Do vậy, nghiên cứu về thơ điền viên thời Trần sẽ là một hướng tiếp cận mới nhìn từ cội nguồn văn hóa dân tộc, cho thấy xu hướng dân tộc hóa của văn học trung đại Việt Nam phát triển ngay từ giai đoạn đầu Đây

là mảng đề tài mở ra truyền thống thơ viết về thiên nhiên trong văn học viết Việt Nam Cảnh trí non sông đất nước trở thành đối tượng miêu tả và cảm thụ thẩm mĩ của vua, tướng lĩnh và các nho sĩ trung đại

1.3 Việc nghiên cứu thơ điền viên thời Trần có ý nghĩa thực tiễn đối với việc giảng dạy, nghiên cứu văn học trong nhà trường Nhiều tác giả viết về cảnh điền viên được lựa chọn, giảng dạy trong chương trình các cấp như Trần Nhân Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Trần Nguyên Đán Luận văn nghiên cứu

đề tài điền viên trong thơ thời Trần góp phần bổ sung những tư liệu nhất định

Trang 9

cho việc giảng dạy văn học trong nhà trường Mặt khác, tìm hiểu thơ điền viên thời Trần còn góp phần phát huy những giá trị văn hóa, văn học truyền thống của dân tộc Tìm hiểu giá trị di sản thơ ca trung đại là tìm về vẻ đẹp tinh thần dân tộc đã được tinh lọc hàng nghìn đời nay qua bức tranh thiên nhiên bình dị, dân dã

vì vậy, đây là đối tượng mà nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và có nhiều công trình khoa học đề cập đến Các công trình nghiên cứu hướng đến tiếp cận thơ trữ tình thời Trần ở nhiều góc độ khác nhau từ góc độ lịch sử, văn hóa, văn học, tôn giáo…

Trong những công trình nghiên cứu, các tác giả đã có những nhận định, đánh giá và khẳng định vai trò của mảng thơ giàu giá trị về nội dung và nghệ thuật này Các tác giả tiêu biểu như Bùi Văn Nguyên, Lê Trí Viễn, Mai Quốc Liên, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Phạm Hùng, Trần Thị Băng Thanh… với các công

trình như: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (1997), Văn học Việt Nam (Thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb Giáo Dục; Lê Trí Viễn (1996), Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo Dục; Lã Nhâm Thìn (2009), Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Lã Nhâm Thìn (2011), Giáo trình văn học trung đại Việt Nam (Tập 1), Nxb Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội; Nguyễn Huệ Chi (2013), Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, Nxb Giáo dục Việt Nam; Đinh Thị Khang (2016), Văn học trung đại Việt Nam - Thể loại, con người, ngôn ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 10

Một số công trình nghiên cứu đã khẳng định vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ thời Trần, đồng thời cũng thể hiện vẻ đẹp bình dị, dân dã mang khuynh hướng điền viên của các thi nhân thời Trần

Đặng Thai Mai trong bài “Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học”

trích trong Thơ văn Lý - Trần, tập 1 (1977) cũng nêu ra tiền đề của các sáng

tác về cảnh điền viên Tác giả cho rằng sự gần gũi giữa không gian cung đình

và không gian làng quê cũng là một điều kiện để xuất hiện những bài thơ về làng quê với cảnh ruộng đồng quen thuộc: “Từ cung điện nhà vua qua dinh thự các quan tới làng mạc nông dân chưa có những đường hào ngăn cách một cách quá nghiêm khắc như sau này” [13, tr.37]

Khi nghiên cứu về giai đoạn đầu tiên của văn học trung đại, nhà nghiên

cứu Nguyễn Phạm Hùng trong cuốn Văn học Lý Trần - nhìn từ thể loại đã có

những phát hiện về sự xuất hiện của hình ảnh thôn quê trong thơ thời Trần:

“Thi sĩ Thịnh Trần phần lớn là vua chúa, quan lại, nho sĩ trí thức, nhưng thơ

ca của họ dành tình cảm lớn lao đối với cuộc sống nơi thôn dã, thảnh thơi, bình dị” [36, tr.80] Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh sự xuất hiện của dòng cảm xúc về cảnh thôn dã trong thơ của các thi sĩ thời Trần: “Bên những cảm xúc về đền đài, miếu mạo nguy nga, tráng lệ, thi sĩ vẫn dành tình cảm của mình cho một mái nhà nhỏ bé của ai kia ở ngoài rặng trúc” [36, tr.81] Đây là những khám phá gợi mở có ý nghĩa đối với vấn đề nghiên cứu trong đề tài Nghiên cứu về lực lượng sáng tác thời kỳ này, tác giả Đinh Gia Khánh chỉ ra vai trò của sự xuất hiện đông đảo thi sĩ thời Trần ngoài vua quan, tướng lĩnh, tăng lữ: “Một số ngày càng nhiều lại xuất thân từ nông dân và thợ thủ công Là những người tương đối gần với các tầng lớp nhân dân hơn là quý tộc, họ tiếp thu được nhiều hơn tư tưởng của nhân dân về những vấn đề đặt ra cho dân tộc ta lúc bấy giờ” [50, tr.72] Tác giả nhấn mạnh sự phong phú về lực lượng sáng tác đã góp phần không nhỏ vào cảm hứng thơ thời Trần

Nguyễn Hữu Sơn trong bài “Căn rễ văn hóa của nền văn học thời Lí -

Trần” (trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỉ X - XIX - những vấn đề lí luận và

Trang 11

lịch sử) đã nhận thấy “căn rễ văn hóa” của văn học thời kì này từ thơ của các

vua Trần: “Trần Nhân Tông có được những vần thơ đề vịnh làng cảnh quê hương như vẽ, như tạc, như tiếng vọng chiều quê thanh bình” [100,tr.94] Qua sáng tác của một vị vua tiêu biểu thời Trần, tác giả công trình đã nhận thấy bóng dáng của khung cảnh thanh bình của làng quê yên ả xuất hiện trong thơ thời kỳ này

Các công trình nghiên cứu trên đã khẳng định những thành tựu đặc sắc của thơ thời Trần, trong đó mảng thơ trữ tình thời Trần có đóng góp quan trọng về nội dung và nghệ thuật, tạo nên nét đặc trưng độc đáo trong nền thơ

ca dân tộc Các tác giả đã phát hiện ra tiền đề xuất hiện dòng cảm xúc thơ bình dị, khung cảnh điền viên dân dã bên cạnh các dòng chủ lưu khác Đó là

sự xuất hiện đông đảo về lực lượng sáng tác, về yếu tố thời đại, về tinh thần dân tộc Đây là những gợi mở cần thiết đặt nền tảng để luận văn tiếp tục nghiên cứu

2.2 Những ý kiến về thơ điền viên thời Trần

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ thời Trần ở nhiều góc độ như thơ tỏ chí, thơ đi sứ, thơ thiền, thơ về thiên nhiên… Qua các công trình này, các tác giả đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự xuất hiện của thiên nhiên, khung cảnh bình dị của điền viên thôn dã trong thơ thời Trần Mặc dù chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu về vấn đề này, nhưng các ý kiến, nhận xét, đánh giá, phân tích thơ thời Trần sẽ là những cứ liệu khoa học hữu ích cho đề tài luận văn

Ở nội dung này, chúng tôi tiếp thu một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Kiều Thu Hoạch (1965), “Tìm hiểu thơ của các nhà sư Lý -

Trần”, Tạp chí Văn học, (6), tr.64-71; Đặng Thai Mai (1977), “Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học” trong Thơ văn Lý - Trần, tập 1, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội; Nguyễn Phạm Hùng (1996), Văn học Lý - Trần nhìn từ thể loại, Nxb Giáo dục; Đoàn Thị Thu Vân (1996), Khảo sát đặc trưng nghệ thuật thơ Thiền Việt Nam từ đầu thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV, Trung tâm Nghiên cứu

Trang 12

Quốc học - Nxb Văn học, Hà Nội; Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn, Nxb Giáo dục; Nguyễn Phạm Hùng (2001), Trên hành trình văn học trung đại, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội

Đặng Thai Mai trong bài “Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học”

trích trong Thơ văn Lý - Trần, tập 1 (1977) đã có nhận định khái quát khi đọc

thơ của vua Trần Nhân Tông: “Từ cung điện ở phủ Thiên Trường, nhà vua vui lòng ngắm cảnh thôn quê và lắng nghe tiếng sáo của các em bé chăn trâu đi dọc theo con đường làng, bên bờ ruộng, nơi hai cái cò trắng vừa tà tà hạ cánh” [13, tr.37] Từ đó, tác giả cũng nhận thấy mối quan hệ gần gũi giữa vua quan

và tầng lớp nhân dân, giữa triều đình và nhận định: “Vua quan thời đại này luôn luôn biết tìm ở đồng quê hoặc ở chùa chiền những giờ phút êm đềm để di dưỡng tinh thần, để suy nghĩ về lẽ sống” [13, tr.37]

Cuốn Thơ văn Lý - Trần (Quyển thượng) do Nguyễn Huệ Chi chủ

biên đã tập hợp các tác phẩm tiêu biểu của các nho sĩ thời Lý - Trần Các tác giả công trình đã khẳng định vai trò lịch sử cũng như các giá trị đặc trưng trong thơ của các nho sĩ thời kì này Trong bài giới thiệu về nhà thơ Trần Quang Triều, tác giả công trình nhận thấy: “Ông vui với thiên nhiên

và cuộc sống trù phú của dân chúng nơi thôn dã Ông có những nhận xét tinh tế về nét riêng của thiên nhiên nước ta” [15, tr.608]

Tác giả Trần Nho Thìn cũng khẳng định bên cạnh những vần thơ ca ngợi chính sự, ca ngợi triều đại qua bức tranh thôn quê thanh bình, ấm no còn

có những “sáng tác viết về cuộc sống cơ cực, đói khổ của nhân dân” [90, tr.130]

Đoàn Thị Thu Vân (2009), trong Văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ

X - cuối thế kỉ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội, khi viết về thơ trữ tình thời Trần,

tác giả nhận thấy “hồn quê” trong thơ Trần Nhân Tông: “Niềm tự hào ở đây xuất phát từ tình yêu thắm thiết đối với đất nước, cuộc sống, con người Đại Việt Tình yêu này đã để lại trong bức tranh một buổi chiều ở Thiên Trường

Trang 13

cái hồn quê Việt Nam đậm đà” [96, tr.39] Tác giả công trình cũng chỉ ra vẻ đẹp bình dị của thôn dã trở thành nỗi nhớ của kẻ tha hương: “ hay ẩn tàng trong nỗi nhớ da diết một mùi hương lúa sớm, một bát canh cua đồng béo ngậy giữa chốn phồn hoa đô hội xứ người” [96, tr.39]

Đinh Thị Khang đã có những phát hiện về hình ảnh thôn quê thanh bình trong thơ thời Trần, đặc biệt là thơ đi sứ: “Đấy là tiếng nói thấm thía của nhà thơ đối với cố hương Chốn quê nghèo luôn là niềm day dứt và cảm xúc chân thực của tác giả” [89, tr.58] Trên cơ sở phân tích các tác phẩm tiêu biểu của các vua Trần, tác giả đã khẳng định sự xuất hiện bóng dáng đồng quê trong thơ: “Đằng sau chốn lụa là gấm vóc, lầu son bệ ngọc, cung điện đền đài trong thơ đời Trần đã thấp thoáng bóng nhà dân, cảnh đồng lúa, tiếng sáo trẻ trâu, những nong tằm chín, bát canh cua béo và mùa lúa sớm… một thiên nhiên bình dị đã được thể hiện gần gũi, chân thật, sinh động và hấp dẫn” [89,

tr.60] Thiên Trường vãn vọng (Dạo chơi ngắm cảnh chiều ở Thiên Trường)

của Trần Nhân Tông gợi lên một khung cảnh với vẻ đẹp cổ điển, tao nhã mà gần gũi, thân thuộc: “Từ cung phủ vua Trần Nhân Tông phóng tầm mắt ngắm cảnh thôn quê, lòng vui với tiếng sáo trẻ trâu, từng đôi cò trắng liệng xuống đồng” [89, tr.59] Tác giả khẳng định: “Và tấm lòng của bậc “chăn nuôi muôn dân” đã hướng tới lắng nghe âm thanh của cuộc sống nơi thôn dã, hướng tới đón nhận hình ảnh, sắc mầu của cảnh vật nơi đồng nội và viết nên một bức tranh đẹp” [89, tr.60]

Nguyễn Huệ Chi trong bài “Động” và “tĩnh” của đất nước qua thơ các

vị vua thi sĩ thời Trần” trong công trình Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật (2013) cũng nhận thấy vẻ đẹp của khung

cảnh điền viên thôn dã trong thơ thời Trần Tác giả công trình đã làm rõ cảm quan tôn giáo trong thơ Trần Nhân Tông, đồng thời cũng cho thấy sự “chuyển hóa về nhận thức” trong thơ vua Trần: “Ông nhận ra rằng buổi chiều này, đồng quê này, không phải là hư ảo mà đúng là một “hiện hữu” rành rành” Hiện hữu, vì chúng đã gắn bó quen thuộc với người dân Việt từ hàng nghìn

Trang 14

năm Hiện hữu đến nỗi không biết tự bao giờ, những hình ảnh quen thuộc kia, xóm thôn, đồng ruộng, con trâu, đàn cò đều trở thành tượng trưng cho đất nước, giản dị như đất nước” [17, tr.62]

Phần lớn các công trình nghiên cứu trên đã khẳng định: Sự xuất hiện khung cảnh điền viên trong sáng tác của các thi sĩ thời Trần đã tạo nên diện mạo riêng cho thành tựu thơ ca thời kỳ này

2.3 Tiểu kết vấn đề nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã có về thơ thiên nhiên thời Trần, luận văn sẽ hướng tới tìm hiểu đặc điểm của thơ điền viên đời Trần, từ đó làm rõ giá trị nội dung tư tưởng, nghệ thuật của mảng thơ tiêu biểu thời kì này

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm thơ điền viên thời Trần về phương diện nội dung và nghệ thuật

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung

Đề tài khảo sát nghiên cứu thơ điền viên của 14 tác giả: Trần Quang Khải, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Bùi Tông Hoan, Trần Quang Triểu, Huyền Quang, Nguyễn Sưởng, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn

Ức, Chu Văn An, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Phạm Nhữ Dực

- Về tài liệu

Nguyễn Huệ Chi (chủ biên) (1978), Thơ văn Lý Trần, tập 3, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội

Nguyễn Huệ Chi (chủ biên) (1989), Thơ văn Lý Trần, tập 2 (Quyển

thượng), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn, Nxb Giáo dục

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài Đặc điểm thơ điền viên thời Trần, luận văn sử dụng

các phương pháp nghiên cứu sau đây:

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Luận văn sử dụng phương pháp này để tiến hành khảo sát, thống kê và

phân loại số lượng thơ điền viên của các thi sĩ thời Trần

5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Luận văn sử dụng phương pháp này để so sánh thơ điền viên thời Trần với một số bài thơ điền viên đời Đường – Trung Quốc

5.3 Phương pháp phân tích, đánh giá

Luận văn sử dụng phương pháp này với mục đích phân tích, đánh giá

để làm rõ hơn giá trị nội dung và nghệ thuật trong thơ điền viên thời Trần

5.4 Phương pháp khái quát, tổng hợp

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khái quát nội dung nghiên cứu

ở các chương, mục luận văn thành các luận điểm để làm sáng tỏ đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn

6 Đóng góp mới của đề tài

- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống về thơ điền viên thời Trần

- Luận văn khảo sát, thống kê hệ thống các bài thơ điền viên

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho

giáo viên và học sinh trong nhà trường các cấp

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương:

Trang 16

Chương 1 Khái niệm thơ điền viên và những tiền đề xuất hiện thơ điền viên thời Trần

Chương 2 Đặc điểm thơ điền viên thời Trần ở phương diện nội dung Chương 3 Đặc điểm thơ điền viên thời Trần ở phương diện nghệ thuật

Trang 17

CHƯƠNG 1

KHÁI NIỆM THƠ ĐIỀN VIÊN VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ XUẤT HIỆN

THƠ ĐIỀN VIÊN THỜI TRẦN 1.1 Khái niệm thơ điền viên

Từ “điền viên” là một từ Hán Việt, theo Sổ tay từ Hán Việt (Phan Văn

Các, Lại Cao Nguyện): “Điền viên” có nghĩa là “ruộng vườn; thú vui sống ở

thôn quê Vui cảnh điền viên” [8, tr.82] Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê

chủ biên), “điền viên” chỉ “ruộng và vườn; chỉ cuộc sống thảnh thơi ở chốn thôn quê, thoát khỏi sự ràng buộc của công danh” [72, tr.308] Như vậy, từ

“điền viên” mang hàm nghĩa bao quát về một phạm vi không gian địa lí và chiều sâu đời sống văn hóa tinh thần của con người nơi thôn quê, gắn với lao động nông nghiệp và cuộc sống tự nhiên Đó là vùng không gian rộng lớn bao gồm thiên nhiên, cảnh vật, cuộc sống, sinh hoạt và con người… đã trở thành đối tượng thẩm mĩ, đối tượng trữ tình trong tác phẩm văn học

Thơ điền viên là một trường phái thơ ca xuất hiện sớm trong văn học Trung Hoa Khi văn học viết Việt Nam ra đời và phát triển, trong mảng thơ viết về thiên nhiên đã có sự xuất hiện khá phong phú những vần thơ viết về điền viên thôn dã Có nhiều cách hiểu về thơ điền viên, về thi phái điền viên

Lê Nguyễn Lưu cho rằng thơ điền viên là thơ “miêu tả sinh hoạt nông thôn hay cảnh ngộ nông dân” [56, tr.116] Đỗ Thị Hà Giang trong Luận án tiến sĩ

Thơ điền viên đời Đường thì cho rằng có sự khu biệt giữa hai thi phái thơ điền

viên và sơn thủy Hai thi phái này “có những điểm tương đồng (cùng nói đến cảnh đẹp thiên nhiên khách quan, cùng thể hiện tâm thức lánh trần thoát tục) song cái bình yên ấm áp nơi ruộng vườn khác hẳn cái diễm lệ hùng vĩ của núi sông” [26, tr.14] Bên cạnh đó, thơ điền viên sơn thủy còn có sự khác biệt về tâm thái của nhà thơ: “… và trạng thái lánh đời ở ẩn của người vui thú điền viên cũng khác xa tâm thế ngao du thưởng ngoạn của kẻ phiêu dật chốn sơn thủy Đặc trưng không gian sơn thủy không trùng với không gian điền viên”

Trang 18

[26, tr.15] Như vậy, thơ điền viên có những đặc điểm riêng biệt về cảnh sắc thiên nhiên, không gian thơ cũng như tâm thức của thi nhân

Văn học thời Trần thuộc giai đoạn khởi đầu của nền văn học viết dân tộc nên có sự ảnh hưởng, tiếp thu từ văn học Trung Quốc Thời Thịnh Trần, thơ viết về thiên nhiên chủ yếu mang cảm hứng tôn giáo, ca ngợi cảnh sắc, địa danh lịch sử Đến cuối thời Trần, thơ ca của một số nho sĩ ẩn dật có thêm sắc thái mới gần gũi hơn với đời sống điền viên Trần Nguyên Đán về quê sớm khi “Niên tài tứ thập tiện hưu quan” (Tuổi mới bốn mươi đã cáo quan về hưu) nên thi nhân có nhiều vần thơ về thiên nhiên gắn với cuộc sống chốn quê Bài

Thu nhật (Ngày thu) phác họa hình ảnh mái tranh nhỏ bên sông, mai cúc ngát hương trong ngôi vườn nhỏ Trong khi đó, bài Nhâm Dần niên lục nguyệt tác

(Thơ làm vào tháng sáu năm Nhâm Dần) lại thể hiện nỗi cảm hoài da diết về nỗi thống khổ của dân quê vì lụt lội, hạn hán, mùa màng mất mát Cùng chung cảm xúc đó, Nguyễn Phi Khanh cũng có những vần thơ thể hiện vẻ đẹp giản dị,

mộc mạc về thôn quê trong nhiều bài thơ như: Thôn gia thú (Thú quê nhà), Gia viên lạc (Thú quê nhà), Thôn cư (Ở xóm), Sơn thôn cảm hứng (Cảm hứng ở

xóm núi)

Như vậy, bên cạnh các dòng thơ chủ lưu mang khuynh hướng tôn giáo, thơ đi sứ, thơ ngôn chí… thì thơ điền viên góp phần tạo nên diện mạo riêng trong thơ ca thời Trần Trên cơ sở khái niệm về từ “điền viên” và dựa vào đặc trưng thời kỳ văn học, luận văn đi sâu khảo sát và nghiên cứu những bài thơ của các thi sĩ thời Trần có cảnh sắc thiên nhiên bình dị, không gian sinh hoạt của chủ thể trữ tình ở nơi ruộng vườn thôn dã nhằm biểu đạt tâm thức ẩn dật,

an nhiên, thanh nhàn, thoát tục Điều này xác lập ba yếu tố cơ bản trong thơ điền viên: miêu tả cảnh sắc thiên nhiên, khắc họa sinh hoạt thôn dã, biểu đạt tâm thức thi nhân Ở đây, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu "thơ điền viên" là thơ lấy thiên nhiên thôn quê làm đối tượng thẩm mĩ, thông qua miêu tả cảnh vật

để bộc lộ tâm tình thi nhân Đây là căn cứ để luận văn đi sâu tìm hiểu đặc điểm thơ điền viên thời Trần

Trang 19

1.2 Tiền đề xuất hiện thơ điền viên thời Trần

1.2.1 Sự phát triển vững mạnh của quốc gia độc lập giai đoạn đầu thời trung đại

Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân xâm lược Nam Hán, nền độc lập

tự chủ quốc gia được khôi phục, mọi năng lượng vật chất và tinh thần của dân tộc được giải phóng khỏi ách kiềm tỏa hàng nghìn năm của ngoại bang Chiến thắng đó đã tạo đà vùng dậy mạnh mẽ chưa từng có để tạo nên một giai đoạn lịch sử đầy tự hào dưới thời đại Lý – Trần: giai đoạn phục hưng và phát triển của dân tộc về mọi mặt

Từ thế kỉ X đến thế kì XIV, Đại Việt đã thực sự trở thành một quốc gia phong kiến độc lập vững mạnh Chính quyền phong kiến tự chủ nhanh chóng được kiện toàn, củng cố, ngày càng tiến bộ, tích cực, mang đậm tính dân tộc, dân chủ, đồng tâm, hòa thuận, gần gũi dân chúng, cố kết nhân tâm, xây dựng khối đoàn kết vững mạnh trong cả nước, nhờ đó trong vòng bốn thế kỉ đã bảy lần chiến thắng ngoại xâm, đặc biệt là ba lần đẩy lùi cuộc tấn công của đế quốc Nguyên – Mông hùng mạnh dưới thời nhà Trần, tạo cho Đại Việt một uy thế lớn, tỏ được tư thế bình đẳng và sức mạnh dân tộc, khiến lân bang phải kiêng nể Kinh tế, nông nghiệp lúc này được quan tâm đẩy mạnh bằng nhiều biện pháp tích cực (các chính sách về ruộng đất, đê điều…), các nghề truyền thống, đặc biệt là nghề chăn tằm dệt lụa, được khích lệ và phát triển mạnh Theo sử cũ, Đại Việt giai đoạn này là một xứ sở phồn thịnh, đất đai màu mỡ, cấy lúa, trồng dâu, chăn nuôi đều thuận lợi, trên rừng, dưới biển đều sẵn các

sản vật quý Sách Lịch triều hiến chương loại chí cho biết: “Nước Đại Việt

là nơi đô hội ở phương Nam, ruộng cấy lúa tốt, đất trồng dâu tốt, núi sẵn vàng bạc, biển sẵn châu ngọc, người ở đâu đến làm ăn buôn bán cũng làm giàu được cả” [19, tr.36] Dưới thời Lý - Trần, công cuộc khẩn hoang, trị thủy được tiến hành quy mô, đất canh tác ngày một mở rộng, dân cư ngày một đông đúc Sứ thần nhà Nguyên là Trần Phu từng ghi lại rằng: “Ở Đại Việt mỗi năm lúa chín bốn lần, tuy vào giữa mùa đông mà mạ vẫn mườn mượt” Cùng

Trang 20

với nông nghiệp và các ngành nghề thủ công, làng xã ngày một mở rộng và phát triển, tạo những miền không gian trù phú, ấm no, tươi đẹp trên khắp cả nước

Văn hóa Lý – Trần là giai đoạn phát triển thịnh đạt của văn hóa Đại Việt Bằng việc khôi phục những yếu tố văn hóa Việt cổ, đồng thời cải biến, tích hợp những yếu tố văn hóa ngoại sinh, văn hóa Đại Việt giai đoạn này vừa mang bản sắc riêng vừa đậm tính dân tộc Nhà nước Lý – Trần tôn chuộng đạo Phật, coi đạo Phật là Quốc giáo, song cũng coi trọng sự khoan dung, hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng, tạo nên hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên”, trong đó chủ yếu là sự kết hợp giữa Phật và Nho, giữa giáo lý và thực tiễn đời sống Các tôn giáo, đặc biệt là đạo Phật, trong giai đoạn này đã được tiếp nhận trên tinh thần chắt lọc những gì phù hợp và có ích nhất cho sự phát triển của dân tộc, thời đại, đồng thời luôn được chú ý vận dụng vào đời sống thực tiễn, hướng tới khơi dậy và phát huy sức mạnh Đại Việt Văn học dưới thời Lý – Trần phát triển phong phú, đậm đà tinh thần dân tộc và nhân văn Giáo dục, thi cử giai đoạn này phát triển mạnh trên tinh thần đòi hỏi ở người học một vốn tri thức rộng, sâu, thiết thực và một bản lĩnh độc lập về sáng tạo

Nhìn chung, thời đại Lý – Trần là một thời đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử quốc gia phong kiến với những chiến thắng oanh liệt trong cuộc chiến chống ngoại xâm bảo vệ đất nước, với những thành tựu đáng tự hào về chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế… Trong đó, cái quan trọng hơn cả, cái được xem là tinh thần của thời đại là hình ảnh con người tự tin, hào hùng, phóng khoáng, trong sáng… mà đời sau khó gặp lại Sự phát triển vững mạnh của quốc gia phong kiến giai đoạn này đã tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển của văn học, đặc biệt là dòng văn học gắn liền với cảm hứng yêu nước, trong

đó có mảng thơ thiên nhiên

Thời thịnh Trần, cả dân tộc có một cuộc sống đầy hào hùng và phấn chấn, không có sự cách bức gay gắt giữa con người với con người, giữa kẻ

Trang 21

thống trị và kẻ bị trị, mà như giáo sư Đặng Thai Mai từng diễn tả, một cuộc sống không có những hào thành chia tách con người, khi mà con người ta biết tin tưởng vào nhau, biết vui sống với đời Đó là cuộc sống “muôn dân ca hát

vui thời thịnh trị” (Triệu tính âu ca lạc thịnh thì) như chính vị tể tướng Trần là

Trần Nguyên Đán từng xúc động bày tỏ Thơ thời Thịnh Trần là lời ca ca ngợi cuộc sống đó Vậy nên, thơ của vua tôi nhà Trần giai đoạn Thịnh Trần thường giàu tinh thần thân dân, gần gũi với cảnh đồng quê bình dị: “Trong bối cảnh lịch sử thời đại, sự giản dị trong quan hệ giữa con người và con người là nét đặc biệt của đời sống xã hội ở thời Trần” [89, tr.59] Thơ của các vua tôi nhà Trần không bó hẹp trong không gian cung đình triều chính mà mở rộng đón nhận mọi cảnh sắc thiên nhiên bình dị, với cảnh điền viên quen thuộc từ ngàn đời nay

Hoàn cảnh lịch sử xã hội đã thay đổi, chức năng của thơ ca thay đổi theo, điều đó đã chi phối cảm xúc nhà thơ Cuối thế kỉ XIV, triều Trần suy thoái, triều Hồ lên thay rồi những cuộc kháng chiến chống xâm lược thất bại Thế cuộc nhà Trần suy yếu và trên đà sụp đổ Thời kỳ này xuất hiện những vần thơ cảm thán thời thế, thấm đẫm tư duy thế sự của các thi nhân ưu thời mẫn thế Một số bề tôi nhà Trần từ bỏ cung đình, từ bỏ công danh về ẩn dật chốn quê để bảo toàn danh tiết nhà nho Đây cũng là thời kỳ bắt đầu xuất hiện những vần thơ chân thực về cảnh sắc và cuộc sống bình dị chốn quê – nơi các thi nhân ẩn nhàn Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Chu Văn An… đã

có những thi phẩm giàu tinh thần dân tộc khi phác họa khung cảnh mộc mạc ở chốn quê Những tác phẩm đó đánh dấu bước khởi phát của thơ ca ẩn dật ở các giai đoạn sau này

1.2.2 Lực lượng sáng tác đông đảo

Văn học Lý – Trần là giai đoạn mở đầu của nền văn học viết Việt Nam

Là bộ phận hữu cơ và tiếp nối văn học thời Lý, văn học thời Trần hình thành phát triển trên cơ sở tinh thần thời đại vô cùng phong phú, đa dạng nhưng vẫn

có vị trí và đặc trưng riêng Bối cảnh lịch sử, xã hội, tôn giáo thời Trần đã có

Trang 22

tác động sâu rộng tới sự phát triển của văn học giai đoạn này, đặc biệt là tạo

ra một lực lượng sáng tác vô cùng đông đảo Lê Quý Đôn trong Quần thư khảo biện và Thư kinh diễn nghĩa đã tự hào rằng: "Nước Nam ta, hai triều nhà

Lý, nhà Trần ngang vào khoảng triều nhà Tống, nhà Nguyên Lúc ấy tinh hoa, nhân tài cốt cách văn chương, không khác gì Trung Hoa" [85, tr.96]

Lực lượng sáng tác văn học dưới thời Trần thuộc nhiều tầng lớp khác nhau Ở thời Lý, Phật giáo là Quốc giáo Trong bối cảnh đó, tầng lớp tăng lữ xuất hiện và trở thành lực lượng xã hội quan trọng nhất bên cạnh vua chúa, quý tộc Đây là tầng lớp có vai trò đặc biệt trong đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc lúc bấy giờ Tầng lớp trí thức chủ yếu là các nhà tu hành Chính bởi vậy, lực lượng sáng tác văn học dưới thời nhà Lý cơ bản là vua chúa, quý tộc và tăng lữ

Đến thời Trần, trải một thời kỳ phát triển lâu dài của nền giáo dục và thi cử Nho học, đội ngũ nho sĩ lúc này đã khá đông Họ không chỉ làm việc trong bộ máy nhà nước mà còn tích cực tham gia sáng tác văn học và điều này

đã khiến cho lực lượng cầm bút biến đổi mạnh mẽ Các tác giả là nho sĩ ngày càng chiếm ưu thế và đến cuối thời Trần thì trở thành lực lượng sáng tác chủ yếu Giai đoạn này có khoảng trên 40 tác giả là nho sĩ với những tên tuổi: Trương Hán Siêu, Nguyễn Sưởng, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh, Chu Văn

An, Trần Nguyên Đán… Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục từng viết: “Đấy

là những người trong trẻo, cứng rắn, cao thượng, thanh liêm, có phong độ như

sĩ quân tử đời Tây Hán, thật không phải người tầm thường có thể theo kịp được Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà

có lễ độ, cho nên nhân sĩ đương thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm cho rạng rỡ sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất” [23, tr.299-300] Đinh Gia Khánh trong cuốn

Văn học Việt Nam (thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII) đã nêu vai trò của sự xuất

thân của tầng lớp nho sĩ có ảnh hưởng đến sáng tác văn học: “Họ là những người trí thức phần lớn xuất thân từ địa chủ thứ dân Một số ngày càng nhiều

Trang 23

lại xuất thân từ nông dân và thợ thủ công Là những người tương đối gần với các tầng lớp nhân dân hơn là quý tộc, họ tiếp thu được nhiều hơn tư tưởng của nhân dân về những vấn đề đặt ra cho dân tộc ta lúc bấy giờ” [50, tr.72]

Các tác giả thuộc tầng lớp quý tộc, vua chúa đời Trần có khoảng trên

10 người, tiêu biểu có: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quang Triều… Các thiền sư, tăng lữ, đạo sĩ vẫn tiếp tục tham gia sáng tác văn học, triết lý Phật giáo và Đạo giáo vẫn gây ảnh hưởng khá mạnh đến các tác giả đương thời, tuy nhiên, số tác giả đã giảm đi nhiều so với thời Lý, chỉ còn một vài tác giả nổi bật: Pháp Loa, Huyền Quang, nhà sư chùa Yên Quốc…

Tuy tác giả thời Trần phần lớn thuộc tầng lớp vua quan, quý tộc, nhưng đời sống xã hội phong kiến Việt Nam lúc này chưa có sự cách biệt gay gắt giữa người với người, giữa vua quan với bình dân, giữa cung vàng điện ngọc của vua chúa với ruộng đồng, làng mạc của người dân Con người sống trong không khí chan hòa, vui vẻ, cởi mở… Vua quan không bó buộc mình trong cung điện lầu son mà luôn gần gũi với cuộc sống bình dị chốn thôn quê dân

dã của người dân Đặng Thai Mai trong bài Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học viết: “Con người thượng lưu của thời đại là những người biết sống gần với thiên nhiên” Bùi Duy Tân trong Khảo và luận về một số tác gia tác phẩm văn học trung đại Việt Nam thì cho rằng: “Nông thôn và cuộc sống ở

nông thôn, cái nôi của nền văn hóa, văn nghệ dân tộc, nơi bảo vệ và nuôi dưỡng những truyền thống tốt đẹp và lâu đời của dân tộc, không những là chỗ

ẩn náu của nhà thơ khi thấy mình bất lực trước thời cuộc, mà còn là nơi góp phần bồi dưỡng và phát huy niềm ưu ái ở nhà thơ” [81, tr.300]

Nhìn chung, tác giả văn học dưới thời Lý – Trần đều là những trí thức

có trí tuệ sâu sắc, “biết sống một cách minh triết và khoáng đạt Tình cảm dạt dào giúp họ biết yêu, biết say, biết rung động trước cái đẹp, yêu con người, cuộc sống và ham mê sáng tạo nghệ thuật” [96, tr.37] Quan niệm thẩm mĩ, quan niệm văn chương của họ không chỉ ảnh hưởng từ tư tưởng Nho giáo,

Trang 24

Phật giáo, Đạo giáo mà còn tiếp thu từ truyền thống tinh thần dân tộc và yếu

tố thời đại Bên cạnh những đề tài mang tính “hướng thượng”, các thi sĩ trung đại còn có những vần thơ khắc họa thật tinh tế, sâu sắc về cuộc sống xã hội dân dã ở thôn quê, những vần thơ gần gũi, giản dị được chưng cất từ chính cuộc sống dân dã của người dân Việt Điều đó lí giải cho sự xuất hiện của thơ điền viên bên cạnh những đề tài khác trong văn học trung đại, nhất là văn học thời nhà Trần

1.2.3 Sự ảnh hưởng, tiếp thu từ thơ ca Trung Quốc

Vào thế kỉ X, khi văn học trung đại Việt Nam chính thức ra đời thì văn học Trung Hoa đã phát triển đầy đủ và rực rỡ Ngay từ thời Bắc thuộc, người Việt đã chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc văn học Trung Hoa Chiến thắng của Ngô Quyền năm 938 đã chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mở ra thời kì độc lập tự chủ cũng như sự ra đời của nền văn học trung đại Việt Nam Trong quá trình phát triển, nền văn học Việt Nam liên tục tiếp thu trên cơ sở chọn lọc, sáng tạo tinh hoa của nhiều nền văn học trên thế giới, trong đó đặc biệt là văn học Trung Quốc

Viết về thiên nhiên, nhất là thiên nhiên chốn thôn quê vốn là một cảm hứng lớn của văn học phương Đông Người phương Đông coi trọng môi trường tự nhiên và sống hài hòa với tự nhiên, tư tưởng này đã trở thành triết lí ứng xử thời thế của các thi sĩ trung đại Hàng nghìn năm trước, các nhà nho đã đề cao lối sống hòa hợp tự nhiên, thuận theo tự nhiên, đề cao cốt cách thanh đạm của con người Tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” đã trở thành cảm hứng vô tận trong sáng tác thi ca của các thi sĩ Trung Hoa cổ đại Đặc biệt, chốn điền viên thôn dã có vị trí quan trọng trong tâm thức văn hóa Trung Hoa Lòng sùng bái đời sống điền viên có lúc thấm nhuần trong đời sống văn hóa, việc “về vườn” trở thành nguyện vọng phong nhã, đẹp đẽ, thú vị nhất của nhiều học giả trí thức Trung Quốc Điều đó được minh chứng sống động nhất qua sự ra đời và phát triển của thi phái điền viên trong văn học Trung Hoa Được cho là khởi nguyên từ Đào Uyên

Trang 25

Minh (365 – 427) đời Tấn, đến thời nhà Đường, trong di sản Đường thi đồ

sộ, mảng thơ điền viên đã phát triển vô cùng rực rỡ, thi phái điền viên trở thành một thi phái lớn, chiếm giữ vị trí quan trọng trên thi đàn với những tên tuổi kiệt xuất như Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Trừ Quang Hy, Liễu Tông Nguyên, … và được tiếp nối ở nhiều thi sĩ thời đại sau Những sáng tác bất hủ đó có sức lay động tâm hồn nhân loại qua nhiều thời đại và tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của nhiều nền văn học, trong đó có văn học trung đại Việt Nam

Có thể nói thơ thiên nhiên đời Trần ảnh hưởng sâu sắc từ thơ điền viên của Trung Quốc, đặc biệt là thơ điền viên đời Đường Tác giả Trầm Thanh Tuấn trong Tiểu luận “Cảm hứng Thiền trong thơ thiên nhiên đời Trần” đã chỉ ra: “Không phải ngẫu nhiên mà Phan Huy Chú đã có hàng loạt những nhận xét thi phẩm của các thi nhân trong giai đoạn này trong thế đối sánh với Đường thi: thơ của Trần Thánh Tông "các bài đều có phong vị thơ Đường", còn thơ của Trần Minh Tông thì "lời thơ phần nhiều hào mại phóng khoáng,

có khí phách và cốt cách Đỗ - Lăng" và "thơ tứ tuyệt lại càng hay, không kém

gì thời thịnh Đường" [95] Không chỉ ảnh hưởng từ thể loại, thơ điền viên thời Trần còn vận dụng cả thi liệu văn học Trung Quốc tạo nên vẻ đẹp cổ điển cho bức tranh quê

1.3 Khảo sát, thống kê thơ điền viên thời Trần

* Tiêu chí khảo sát, thống kê

- Trên cơ sở khái niệm về thơ điền viên, luận văn khảo sát thơ điền viên thời Trần trên các yếu tố cơ bản: miêu tả cảnh sắc thiên nhiên thôn quê bình

dị, khắc họa sinh hoạt thôn dã, biểu đạt tâm thức thi nhân

- Các tác giả văn học thời Trần gồm vua, quan, tướng lĩnh, nho sĩ…

được tuyển chọn trong 2 tập Thơ văn Lí – Trần Riêng tác giả Nguyễn Trung Ngạn, luận văn khảo sát trong cuốn Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn

Trang 26

* Kết quả khảo sát, thống kê

Bảng Khảo sát, thống kê thơ điền viên thời Trần

TT Tác giả tiêu

biểu Tƣ liệu khảo sát

SL bài thơ khảo sát

SL bài thơ viết

về điền viên

Tên bài thơ

1.HạnhThiên Trường hành cung

1 Thiên Trường vãn vọng

2 Xuân hiểu 3.Xuân Cảnh

4 Vũ Lâm thu vãn

4 Bùi Tông Hoan

(? - ?)

Thơ văn Lý - Trần (Tập II)

11 3

1 Giang thôn tức sự

2 Đề Liêu Nguyên Long tống hoạ cảnh phiến

3 Chu trung độc chước

6 Huyền Quang

(1251 - 1331)

Thơ văn Lý - Trần (Tập II)

24 5

1 Ngọ thụy

2 Sơn vũ

3 Phiếm chu

Trang 27

3.Yên Tử giang trung

12 5

1 Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính

51 4

1 Thu nhật

2 Sơn trung ngẫu thành

Trang 28

3 Tiểu vũ

4 Nhâm Dần lục nguyệt tác

14

Phạm Nhữ Dực

(? - ?)

Thơ văn Lý - Trần (Tập III)

Trang 29

nhìn chân thực, sâu sắc hơn về dân tộc, nhất là về tâm hồn con người, tâm hồn nhân dân trong giai đoạn lịch sử đầy tự hào dưới thời nhà Trần Số lượng tác phẩm, tác giả đặc sắc về thơ điền viên cho thấy diện mạo của mảng thơ giàu tính dân tộc và tinh thần thời đại

Trang 30

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM THƠ ĐIỀN VIÊN THỜI TRẦN

Ở PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 2.1 Cảnh sắc thiên nhiên

Thời trung đại con người sống bằng nông nghiệp là chủ yếu, con người dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên mà sống Giữa con người và thiên nhiên

có mối quan hệ cộng sinh bền chặt Chính bởi vậy, thiên nhiên là đối tượng thẩm mỹ quan trọng của văn học, đặc biệt là văn học phương Đông Đối với văn học trung đại Việt Nam, thiên nhiên có một vị trí đặc biệt trong sáng tác của các thi nhân Thơ ca trung đại đề cập đến nhiều đề tài và có nhiều thi phái khác nhau, song dù ở đề tài nào, thi phái nào, các tác giả đều ít nhiều đưa hình ảnh thiên nhiên vào sáng tác để bộc lộ tình cảm và gửi gắm tâm tư Thi nhân trung đại Việt Nam vừa chịu ảnh hưởng của văn học Trung Hoa, vừa mang nặng tinh thần dân tộc, do đó cảnh điền viên trong sáng tác của họ mang vẻ đẹp đặc trưng, vừa tao nhã, mĩ lệ, đậm chất Đường thi, vừa mộc mạc, dân dã, vừa quen thuộc gần gũi mà cũng đầy mới lạ sáng tạo Sự hòa trộn những vẻ đẹp đối lập ấy tạo nên bức tranh rộng lớn, sinh động, đa sắc màu và đậm đà bản sắc làng quê Việt trong thơ ca trung đại Thơ điền viên thời Trần thể hiện

rõ đặc điểm ấy

2.1.1 Cảnh sắc thiên nhiên với vẻ đẹp mĩ lệ, Đường thi

Theo Từ điển Tiếng Việt, “mĩ lệ là từ văn chương có nghĩa là đẹp và thường nói về cảnh vật”, là từ “chỉ vẻ đẹp đạt đến đỉnh cao” Thiên nhiên mang vẻ đẹp mĩ lệ, Đường thi là thiên nhiên mang vẻ đẹp tao nhã, trang trọng,

cổ điển, phần nhiều mang màu sắc ước lệ và gợi sắc thái của thiên nhiên trong thơ Đường Thi nhân trung đại thường vận dụng các hình ảnh trong điển tích, điển cố văn học, những thi liệu mang tính ước lệ, tượng trưng như phong, hoa, tuyết, nguyệt, tùng, cúc, trúc, mai… để khắc họa thiên nhiên, khiến cảnh vật, dù là ở chốn đồng quê thuần phác, vẫn hiện lên trong sự tao nhã, mĩ lệ

Trang 31

Thơ ca thời nhà Trần phần lớn là sáng tác của vua quan, nho sĩ, thiền sư Nhưng các thi nhân không giam mình ở chốn quyền môn, thành quách mà luôn tìm về, hướng về chốn ruộng vườn thôn quê bình yên, thanh tịnh để được

tự do trải lòng với bao tình cảm thiết tha, trìu mến

Trần Quang Khải là một dũng tướng thường xông pha trận tiền, nhưng cũng không hiếm những phút xao lòng trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh sắc

nơi điền viên thôn dã Trong bài Đề dã thự (Đề thơ ở biệt thự đồng quê) tác

giả đã phác họa nên một bức tranh đồng quê đầy âm thanh và màu sắc:

Dã thự sơ khai cảnh vật tân Phương phi đào lý tứ thời xuân Nhất thanh ngưu địch thanh lâu nguyệt

Kỷ phiến nông soa bích lũng vân

(Biệt thự ở đồng quê vừa làm xong, cảnh vật mới mẻ Đào lý thơm tho bốn mùa tươi tốt

Một tiếng sáo trẻ chăn trâu làm xanh ánh trăng trên lầu Mấy mảnh áo tơi nhà nông biếc đám mây dưới lũng) Bức tranh đồng quê qua cái nhìn của một danh tướng hiện lên thật mới

mẻ, nên thơ, vừa quen vừa lạ, vừa sinh động, tự nhiên, vừa phảng phất nét đẹp

cổ điển, Đường thi Có hương sắc của đào mận, có âm thanh tiếng sáo làm xanh cả ánh trăng, mảnh áo tơi nông phu làm biếc hẳn đám mây dưới lũng…

Sự hòa điệu của hương thơm, màu sắc, âm thanh làm nên một bức tranh đầy sức sống và những đường nét dân dã cũng trở nên khoáng đạt, thanh tao, mĩ lệ hơn bao giờ hết Và trong khoảnh khắc ấy, con người mở rộng lòng mình cùng thiên nhiên tương giao trong cảm xúc thanh thuần màu nhiệm Cảm hứng anh hùng – thi nhân đã tạo nên những vần thơ tao nhã: “Câu thơ bắt nguồn từ cảm xúc trong đáy lòng người viết, nghe như có nhuốm ý vị siêu thực: chỉ một tiếng sáo chài cất lên mà ánh trăng trên lầu bỗng xanh hơn; vài mảnh tơi lá của mấy bác nông phu nổi rõ dưới thung lũng khiến cả vầng mây

Trang 32

thêm biếc Tình yêu nồng thắm của nhà thơ thấm được vào hồn cảnh vật, làm cảnh vật như hư như thực” [15,tr.77]

Trong Phúc Hưng viên (Vườn Phúc Hưng) bức tranh vườn quê được

Trần Quang Khải vẽ lên qua những hình ảnh thiên nhiên vừa thực vừa mang tính ước lệ, tượng trưng: mai, trúc, tuyết, mây, châu ngọc gợi vẻ đẹp trang trọng, tao nhã, đậm sắc thái cổ điển:

Mai ổ tuyết tiêu châu bội lỗi Trúc đình vân quyển bích lang can

(Bờ mai, khi tuyết tan, nụ lóng lánh hạt châu Đình trúc, lúc mây cuốn, lá xanh cành biếc) Tương tự như vậy, vẻ đẹp mĩ lệ, đậm chất Đường thi của cảnh sắc chốn điền viên được Trần Nguyên Đán làm nổi bật qua bức họa về sắc trời thu

trong Thu nhật (Ngày thu):

Lâm lưu mao xá bản phi quynh Tiểu phố thu thâm hứng chuyển thanh Mai tảo cúc phương hiền tử đệ

Tùng thương trúc sấu lão công danh

(Ngôi nhà tranh bên sông khép cánh cửa ván Trong vườn nhỏ giữa mùa thu, cảm thấy rất thanh thú Mai nở sớm, cúc đưa hương, các đệ tử đều là người hiền Thông xanh, trúc gầy giống như công khanh già)

Thiên nhiên mùa thu nên thơ, gợi cảm, cho nên thu vốn là thi hứng muôn đời của thi nhân Có biết bao áng thi ca bất hủ về mùa thu trong kho tàng văn thơ nhân loại, đặc biệt là văn học trung đại phương Đông Ở đây, bức tranh một ngày thu hiện ra từ một khu vườn xanh mát, thanh nhã với sắc mai, hương cúc, dáng trúc, bóng thông… vừa gợi sự yên bình trong sáng của vùng đồng quê vừa phảng phất sắc màu Đường thi quen thuộc Trong khung cảnh đất trời nên thơ ấy, thi nhân hiện lên trong dáng vẻ của một tao nhân mặc khách đang say sưa thưởng ngoạn thiên nhiên

Trang 33

Trần Nhân Tông, một vị vua tài ba, một nhà chính trị kiệt xuất, một thiền sư, triết gia lỗi lạc, đồng thời cũng là một nhà thơ tài hoa, đã có những vần thơ thật trang nhã, thấm đượm phong vị Đường thi về cảnh vật nơi thôn

quê Trong Vũ Lâm thu vãn (Chiều thu ở Vũ Lâm), bức tranh chiều thu nơi

xóm nhỏ hiện lên vừa thực vừa mơ hồ:

Hoạ kiều đảo ảnh trám khê hoành, Nhất mạt tà dương thuỷ ngoại minh

Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc, Thấp vân hoà lộ tống chung thanh

(Chiếc cầu chạm vẽ đảo bóng vắt ngang dòng suối, Một vệt nắng chiều rực sáng bên ngoài ngấn nước

Nghìn núi lặng tờ, lá đỏ rơi, Mây ướt giăng như mộng, tiếng chuông xa vẳng) Buổi chiều thu ở Vũ Lâm có núi non lặng lẽ, mây giăng hư ảo, lá đỏ rụng rơi, có vệt nắng cuối ngày rực lên lần cuối khiến có thể thấy lòng suối in bóng cầu hoa… Tiếng chuông chùa xa vẳng khiến cho cảnh vật trở nên tĩnh lặng, mơ màng Cảnh rõ và thật, đẹp như một bức tranh thủy mặc

Bài thơ Xuân cảnh (Cảnh mùa xuân) được cho là ra đời khi vua Trần

Nhân Tông đã nhường ngôi cho con và lên Yên Tử để toàn tâm toàn ý với Đạo Cảnh mùa xuân nơi am thanh chiều vắng hiện lên thật nhẹ nhàng, thanh thoát trong con mắt của thi nhân – thiền gia:

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì, Hoa đường thiềm ảnh mộ vân phi,

(Sâu trong khóm hoa dương liễu, chim hót chậm rãi Dưới bóng thềm ngôi nhà chạm vẽ, mây chiều lướt bay) Dương liễu nở hoa, tiếng chim hót líu lo, thềm am rợp bóng mây chiều bay thong thả… Đó là mùa xuân của đất trời, xuân của đất nước, xuân của lòng người, tất cả đều đẹp trong sự trong sáng, thanh cao, an nhiên, tự tại, nên thơ mà vô cùng thoát tục

Trang 34

Bùi Tông Hoan là nhà thơ từng làm quan dưới thời Trần Anh Tông (1293-1314), sáng tác còn lại rất ít (ba bài) nhưng đều rất đặc sắc Trong

Giang thôn thu vọng (Ngắm cảnh thu ở xóm bên sông), cảnh sắc mùa thu nơi

xóm nhỏ ven sông được nhà thơ gợi lên qua những đường nét, sắc màu tao

nhã và gợi cảm:

Phi y độc tự lập giang thiên, Thu sắc thùy tương đáo nhãn biên

Lữ nhạn hàng hàng qua biệt phố Khách phàm điểm điểm lạc tình thiên

(Khoác áo đứng một mình ở bên sông

Ai đã đem sắc mùa thu đến ngay bên mắt Chim nhạn đi xa, từng hàng bay qua bến nọ Buồm khách từng chấm, rơi giữa trời quang) Mùa thu, thi nhân một mình khoác áo đứng lặng bên sông và bất chợt nhận ra sắc thu mênh mông đang trải ra ngay trước mắt Những hình ảnh phần nhiều mang tính ước lệ: sắc thu, chim nhạn, cánh buồm… gợi về bức tranh thu vừa đẹp vừa buồn, vừa nên thơ, mĩ lệ vừa vắng lặng, man mác, gợi cảm giác Đường thi quen thuộc Bức tranh mùa thu nơi một xóm nhỏ bình dị ven sông dường như trở nên tao nhã, thanh thoát hơn qua cái nhìn và nghệ thuật của tác giả

Như vậy, có thể thấy, cảnh sắc điền viên trong thơ đời Trần hiện lên phong phú, đa dạng, từ một buổi sáng mùa xuân đến buổi sớm mùa thu, từ cảnh đêm trăng nơi thanh vắng đến cảnh chiều hư ảo, từ bờ mai rặng trúc đến cánh đồng xa… Sự chi phối của những ước lệ, quy phạm đã đem đến cho những cảnh sắc thôn quê ấy sắc thái mĩ lệ, trang trọng, tao nhã Bức tranh điền viên mang vẻ đẹp tao nhã, mĩ lệ phần lớn được các tác giả Thịnh Trần sáng tác, thể hiện niềm tự hào sâu sắc cùng tình yêu giang sơn cẩm tú của các thi nhân

Trang 35

2.1.2 Cảnh sắc thiên nhiên với vẻ đẹp dân dã, bình dị

Bên cạnh vẻ đẹp mĩ lệ, đậm chất Đường thi, cảnh sắc thiên nhiên điền viên trong thơ đời Trần còn hiện lên trong sự dân dã, bình dị Đó là thiên nhiên sinh động, đa sắc màu nhưng gần gũi, chất phác, quen thuộc, mang đậm hơi thở của cuộc sống nông thôn Thiên nhiên ấy là nơi nương náu, trú ngụ trong lành mà các thi nhân xưa tìm về để di dưỡng tinh thần, để tìm sự bình yên cho tâm hồn giữa thời cuộc đầy biến động Cho nên, cảnh sắc ruộng vườn hiện lên trong thơ vừa thuần phác tự nhiên, vừa ẩn chứa nhiều tâm tình tâm sự của các tác giả Về mặt nghệ thuật, đó cũng là biểu hiện rõ nét cho việc phá

vỡ tính quy phạm và xu hướng bình dị, vượt qua những ước lệ trang trọng để trở về gần hơn với hiện thực cuộc sống của các thi nhân thời Trần

Gần dân, thương dân và sẵn có tâm hồn thi sĩ, nhiều vua Trần đã không khỏi rung động trước cảnh sắc đồng quê bình dị, dân dã mà thơ mộng, từ đó

mà sáng tạo nên những vần thơ đầy ắp hình ảnh về thiên nhiên chốn đồng

ruộng thôn quê Trong Thiên Trường vãn vọng (Ngắm cảnh chiều ở Thiên

Trường), Trần Nhân Tông đã khắc họa thật tài tình vùng quê Thiên Trường trong vẻ đẹp thật yên bình, thân thuộc:

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý quy ngưu tận, Bạch lộ song song phi hạ điền

(Trước xóm sau thôn tựa khói lồng Bóng chiều dường có lại dường không Mục đồng sáo vẳng trâu về hết,

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng) Cảnh làng quê có khói lam chiều bảng lảng, những đứa trẻ dong trâu về trong tiếng sáo trong veo, cánh cò trắng chao liệng giữa ruộng đồng xanh mướt bao la… Bức tranh thôn quê thật gần gũi, chân thực mà cũng thật mới

mẻ, sống động qua cách miêu tả của nhà thơ: Đàn trâu thong thả đi về trong

Trang 36

tiếng sáo, đôi cò trắng từ từ hạ cánh xuống đồng lúa trong buổi chiều yên ả, thơ mộng… Cũng là hình ảnh cánh cò, cánh chim, nhưng nếu trong Đường thi

là “cao phi tận” (Lý Bạch), “thướng thiên thanh” (Đỗ Phủ), thì trong cái nhìn của vị vua Đại Việt là “phi hạ điền” – cánh cò sà xuống, trở về với đồng ruộng, với cuộc sống của người dân quê Trong cái nhìn và cảm xúc vừa tinh

tế, vừa ấm áp, chan hòa của thi nhân, cảnh sắc làng quê hiện lên trong vẻ đẹp

tự nhiên, bình dị, thuần phác, vừa trong sáng vừa thơ mộng… đánh thức những ấn tượng sâu sắc về quê hương trong mỗi người dân Việt Rõ ràng

“Thơ ông có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời ở đấy cũng thể hiện sự hòa hợp khó chia tách giữa một ngòi bút vừa cung đình vừa bình dị, dân dã” [15, tr.452] Đọc bài thơ, người đọc nhận ra hình ảnh tác giả đang hướng tới đón nhận những âm thanh, hương sắc của cuộc sống, thiên nhiên đồng ruộng dân dã bằng cả tấm lòng của một bậc vua hiền “chăn nuôi muôn dân”, từ đó mà tạo nên một trong những thi phẩm đặc sắc nhất của thơ ca trung đại

Xúc cảm trước cái đẹp của thiên nhiên thôn dã là cảm quan chung của thi sĩ dưới thời nhà Trần Có thể thấy điều đó trong nhiều sáng tác của các tác giả là quan lại, tướng lĩnh, nho sĩ… Trần Quang Triều vốn là tôn thất nhà Trần, là cháu nội Trần Quốc Tuấn, được các vua Trần biệt đãi Khi mới 14 tuổi, ông đã được phong tước Văn Huệ Vương Tuy vậy ông không ham công danh, phú quý mà có tình cảm đặc biệt với chốn điền viên dân dã Trong bài

Đề Liêu Nguyên Long tống hoạ cảnh phiến (Đề chiếc quạt có vẽ cảnh do Liêu

Nguyên Long tặng) ông viết:

Nam quốc na kham nhập hoạ đồ, Tân An trì quán trưởng cô bồ

Niên niên lãnh lãm nhàn phong nguyệt

Trúc ngoại nhất thanh đề giá cô

(Phong cảnh nước Nam khó có thể đưa vào tranh vẽ, Trong ao bên quán Tân An cỏ năn, cỏ lác mọc

Trang 37

Hàng năm thâu lượn cảnh trăng gió thảnh thơi, Ngoài rặng trúc, một tiếng chim đa đa kêu.) Phong cảnh nước Nam nên thơ, đa dạng, không dễ để “đưa vào tranh vẽ”, nhưng có thể dễ dàng cảm nhận được từ ngay những vẻ đẹp bình dị, gần gũi với cỏ năn, cỏ lác, rặng trúc, tiếng chim đa đa bên cạnh cảnh trăng thâu

gió mát… Trong bài Giang thôn tức sự (Tức cảnh xóm bên sông) nhà thơ có

những khám phá thú vị về vẻ đẹp của một xóm nhỏ bên sông:

Tây lân thôn hạng cách đông lân,

Kê khuyển tương văn cận yếu tân

Hải yến nhật tà đê lộng ảnh, Giang hoa phong tế viễn tùy nhân

Đạo phùng mai vũ liên vân thục, Tàm đáo tang thiên trước diệp tân

Khước tiếu ngâm ông tham thắng thưởng, Ngọc kinh quy trạo dĩ kiêm tuần

(Ngõ xóm Tây cách với xóm Đông Tiếng gà gáy chó sủa vọng sang nhau gần bến sông chính Dưới ánh trời tà, én biển là là bay giỡn bóng

Trong làn gió nhẹ, hoa bên sông xa xa hướng theo người Lúa gặp mưa mai, chín liền đến chân mây

Tằm đến mùa dâu, theo lá mà đổi khác Buồn cười cho nhà thơ mải ngắm cảnh đẹp

Đi thuyền về kinh sư đã trọn tuần) Bức tranh thôn quê hiện lên với những hình ảnh thật đời thường, bình dị: có tiếng gà gáy, tiếng chó sủa, có gió nhẹ, nắng chiều, hoa bay, có cánh đồng lúa chín tận chân mây và tằm đến mùa dâu mới trổ đầy lá non… Những sắc màu, âm thanh, chuyển động hòa điệu cùng nhau trong một không gian mênh mông khoáng đạt qua cái nhìn quyến luyến, say mê của tác giả Cái quen thuộc của cảnh gợi những xúc cảm thân thương, ấm áp về quê hương

Trang 38

trong lòng người Đằng sau bức tranh cảnh sắc chân thực ấy, người đọc nhận

ra sự gắn bó tha thiết của tâm hồn thi nhân với tất cả những gì bình dị, thân thuộc nhất của chốn thôn quê Có thể nhận ra, không gian quen thuộc trong thơ Trần Quang Triều là không gian của miền quê, với thiên nhiên thân thuộc, gần gũi, với cuộc sống bình dị, dân dã Bước vào không gian đó, người đọc luôn nhận ra một nhà nho thích thú với ruộng đồng, với chuyện của nhà nông

và luôn hòa mình vào thế giới thôn quê bằng cả trái tim thi sĩ tinh tế, giàu cảm xúc

Không chỉ trong sự quan sát trực tiếp, vẻ đẹp của thiên nhiên thôn quê bình dị còn hiện lên trong hình dung cùng nỗi nhớ da diết của người xa xứ Khi đi sứ, nơi đất khách, hình ảnh quê nhà hiện lên trong tâm trí, trong xúc cảm của Nguyễn Trung Ngạn là nương dâu, nong tằm, cánh đồng lúa chín thơm hương, cua béo…

Lão tang diệp lạc tàm phương tận, Tảo đạo hoa hương giải chính phì

Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo, Giang Nam tuy lạc bất như quy

(Dâu già lá rụng tằm vừa chín, Lúa sớm nở hoa thơm, cua đang lúc béo

Nghe nói ở nhà, dẫu nghèo vẫn tốt, Đất Giang Nam tuy vui cũng chẳng bằng về nhà.) Những hình ảnh giản dị nhưng chan chứa bao hương sắc nồng đượm thân thuộc chốn quê nghèo luôn gợi niềm vui và khao khát được trở về của thi nhân trong những ngày nơi quê người xa cách

Nguyễn Sưởng sống cùng thời với Trần Quang Triều và Nguyễn Trung Ngạn Ông từng làm quan dưới triều Trần, nhưng sớm chán công danh và lui

về ẩn dật, bầu bạn với thiên nhiên Thơ ông vì thế luôn tràn đầy cảm hứng về

cảnh sắc thôn quê Trong bài thơ Thôn cư (Ở làng), bức tranh làng quê đầu

mùa hạ hiện lên sôi động và trong sáng với tiếng chim rộn rã dưới vòm cây,

Trang 39

bóng hoa lay động dưới ánh trăng, làn gió bên cửa sổ, khóm trúc mát xanh, tiếng gà xao xác…

Thông thông xuân dĩ hạ, Thụ để điểu thanh mang

Thiềm nguyệt di hoa ảnh, Song phong tá trúc lương

(Thấm thoát đã hết xuân sang hạ, Dưới vòm cây tiếng chim kêu rộn rã

Ánh trăng dưới mái hiên di chuyển bóng hoa Làn gió bên cửa sổ mượn hơi mát của khóm trúc) Cùng tham gia nhóm thi xã Bích Động và là bạn thơ thân thiết với Trần Quang Triều, Nguyễn Ức cũng có những vần thơ đặc sắc về cảnh ruộng vườn

thôn quê Trong Xuân nhật thôn cư (Ngày xuân ở làng) ông viết:

Trúc kính âm âm, thảo sắc thê, Sài môn thâm toả, trú yên mê

Chi đầu hoa trọng phong tu phấn, Liêm ngạch cần hương yến tử nê

(Lối trúc râm mát, màu cỏ xanh tươi, Cửa sài đóng chặt, khói ban ngày mờ toả

Phấn ở hoa đầu cành làm nặng râu ong, Bùn ở khóm rau cần trước mành cửa làm thơm dấu chân chim én)

Ngày xuân ở làng quê hiện lên trong màu xanh tươi mát của trúc, của

cỏ, trong mùi thơm của bùn đất ruộng đồng, trong hương sắc của hoa đầu cành, trong hình ảnh ong đi tìm mật, chim én về làm tổ… Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự bình dị, gần gũi mà tràn đầy sức sống, gợi lên bao hương sắc thân thuộc của mùa xuân thôn dã

Trong thơ của Nguyễn Phi Khanh, cảnh làng quê lại hiện lên với với ao

hồ, lau lách, cỏ cây, tiếng ếch nhái, tiếng cuốc kêu, hoa xoan nở, triền đê, bến

Trang 40

sông… Đó là không gian gần gũi bình dị, có nét gần với không gian ẩn dật

trong thơ Trần Quang Triều Bài Khách xá (Quán khách) có những câu thật

Trong bài Thôn cư (Ở làng), tác giả sáng tác trong lúc thi hứng được

gợi lên từ những hình ảnh chân thực, giàu cảm xúc:

Sổ duyên thư thất yểm bồng cao, Trì thảo viên lâm mộng nhập tao Phú ốc sương quân thiên ngõa trọng, Xâm môn nhập thượng bán ly cao

(Vài gian nhà học khuất trong lau lách,

Cỏ cây bên ao vườn đưa vào hồn thơ

Sương phủ trên mái nhà, trĩu nặng ngàn viên ngói, Mặt trời lẩn vào cửa, lên cao tới lưng giậu)

Những lau lách, cỏ cây, ao vườn, sương phủ, lưng giậu… khiến cảnh vật trở nên tĩnh vắng, đơn sơ, dân dã hơn bao giờ hết Đó là cuộc sống yên bình, thanh đạm chốn thôn quê mà một nho sĩ trí thức, một thi nhân đã lựa chọn để “lánh đục về trong” và nuôi dưỡng hồn thơ

Như vậy, có thể thấy, cảnh sắc thiên nhiên chốn ruộng vườn trong thơ điền viên thời Trần hiện lên vừa mĩ lệ, tao nhã, đậm chất Đường thi, vừa chân thực, bình dị, dân dã Thiên nhiên ấy đã góp phần làm nên bức tranh đẹp về làng quê Việt, nơi gửi gắm, kí thác tình cảm, tâm sự của thi nhân và đánh thức những cảm xúc thân thuộc, sâu sắc về quê hương ở người đọc Đặc biệt, thiên nhiên chốn ruộng vườn thôn quê luôn là nơi hướng tới với tất cả niềm ưu ái của thi nhân xưa: “Bởi những vùng đồng bằng trồng lúa nước là nơi tập trung dân cư từ ngàn xưa, là nơi bảo tồn nhiều giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc

Ngày đăng: 23/12/2023, 16:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.J. Gurêvich (1996), Các phạm trù văn hóa trung cổ, Hoàng Ngọc Hiến dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phạm trù văn hóa trung cổ
Tác giả: A.J. Gurêvich
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
2. Arixtốt (1964), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtốt
Nhà XB: Nxb Văn hóa Nghệ thuật
Năm: 1964
3. Đào Duy Anh (2003), Từ điển Hán Việt, tái bản, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
4. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
5. Lại Nguyên Ân - Bùi Văn Trọng Cường (2001), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX, tái bản lần thứ 4, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân - Bùi Văn Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
6. Lê Bảo, Hà Minh Đức, Đỗ Kim Hồi... (2000), Giảng văn văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn văn học Việt Nam
Tác giả: Lê Bảo, Hà Minh Đức, Đỗ Kim Hồi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
7. Trần Lê Bảo (2011), Giải mã văn học từ mã văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã văn học từ mã văn hóa
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2011
8. Phan Văn Các, Lại Cao Nguyện (1989), Sổ tay từ Hán Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay từ Hán Việt
Tác giả: Phan Văn Các, Lại Cao Nguyện
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1989
9. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Trần Văn Chánh (1993), Từ điển Hán Việt hiện đại và cổ, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt hiện đại và cổ
Tác giả: Trần Văn Chánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1993
11. Nguyễn Kim Châu (2000), Thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX
Tác giả: Nguyễn Kim Châu
Năm: 2000
12. Nguyễn Đổng Chi (1993), Việt Nam cổ văn học sử, tái bản, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam cổ văn học sử
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1993
13. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên) (1977), Thơ văn Lý Trần, tập 1,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý Trần
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1977
14. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên) (1978), Thơ văn Lý Trần, tập 3, Nxb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý Trần
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi (chủ biên)
Năm: 1978
15. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên) (1989), Thơ văn Lý Trần, tập 2 (quyển thượng), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý Trần
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989
16. Nguyễn Huệ Chi (1992), “Con đường giao tiếp của văn học cổ”, Tạp chí Văn học, (1), tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường giao tiếp của văn học cổ”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1992
17. Nguyễn Huệ Chi (2013), Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
18. Nguyễn Đình Chú (1999), “Vấn đề văn sử triết bất phân trong văn học trung đại Việt Nam”, Tạp chí Văn học, số (5), tr.38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề văn sử triết bất phân trong văn học trung đại Việt Nam”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1999
19. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí (tập IV, phần Văn tịch chí), Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1961
20. Thiều Chửu (2002), Hán Việt tự điển, Tái bản, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt tự điển
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN