1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

luận văn Đặc điểm tiêu đề trên báo điện tử Đồng Nai (tt)

26 311 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 569,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá cao tính năng động trong sử dụng và tận dụng những vốn quí trong ngôn ngữ, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu này, tập trung nghiên cứu tiêu đề của thể loại tin tức và

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Hiệp

Phản biện 1: PGS.TS Phạm Văn Tình

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học Xã hội 15 giờ, ngày 18 tháng 10 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu tiêu đề của bài báo là lĩnh vực thuộc giao thoa giữa ngôn ngữ học và báo chí học Nghiên cứu tiêu đề nói chung và tiêu đề ở báo điện tử

ở địa phương là một đề tài chưa được tiến hành trước đây

Giao tiếp là một trong những chức năng chính của ngôn ngữ Con người dùng ngôn ngữ một cách rất tự nhiên Nhưng từ góc độ khoa học, để giúp cho ngôn ngữ có hiệu quả hơn, với những ứng dụng ngày càng phong phú,

đa dạng, nhà nghiên cứu phải nghiên cứu sâu về ngôn ngữ, tiến hành cập nhật đồng thời hệ thống hóa những cách dùng, vốn từ mới Báo chí chính

là mảnh đất thể hiện sự tìm tòi và sáng tạo từ mới của các nhà báo trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan, thực tiễn xã hội Đánh giá cao tính năng động trong sử dụng và tận dụng những vốn quí trong ngôn ngữ, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu này, tập trung nghiên cứu tiêu

đề của thể loại tin tức và phóng sự trên báo điện tử Đồng Nai

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tầm quan trọng của tiêu đề văn bản là vấn đề đã được đặt ra từ lâu Trong tác phẩm Thánh Thán toàn tập, nhà phê bình lừng danh thời Thanh (Trung Quốc) Kim Thánh Thán đã có nhận định: "Tiêu đề là cái đẻ ra văn" Nhà văn Nga Chekhov thì cho rằng: "Toàn bộ thực chất nằm ngay trong tiêu đề tác phẩm" Nhiều nghiên cứu ngữ văn ở Việt Nam những năm gần đây đều dành một phần để khảo sát tiêu đề tác phẩm Chẳng hạn, trong Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thái Hà (Khoa Ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội, 2012) mang tên Đặc điểm tiếng Việt thể hiện trong phần lời ca của ca khúc trữ tình cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954-1975 dành riêng một tiểu mục để bàn về Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa của nhan đề các ca khúc Trong lĩnh vực báo chí vốn được khai sinh từ phương Tây, tầm quan trọng của tiêu đề bài báo được nhà báo danh tiếng Loic Hervouet, Tổng Giám đốc Đại học báo chí Lille nhận định: "Tít hấp dẫn làm cho ngay cả độc giả lười nhất cũng cảm thấy không cưỡng lại nổi ( ) Số phận bài báo tùy thuộc rất nhiều vào tít" Trong giới Việt ngữ học, những người tiên phong trong nghiên cứu tiêu đề báo chí phải kể tới là Bùi Khắc Việt và Hồ Lê qua những bài viết trên Tạp chí Ngôn ngữ vào những thập niên 70 và 80

Trang 4

của thế kỷ trước Năm 1978, tác giả Bùi Khắc Việt công bố bài viết Phong cách ngôn ngữ trong tên các bài báo của chủ tịch Hồ Chí Minh trên Tạp chí Ngôn ngữ số 3, từ trang 1 đến trang 8 Bốn năm sau, 1982, Hồ Lê lại

có bài viết Nhờ đâu những tiêu đề bài báo có sức hấp dẫn trên Tạp chí Ngôn ngữ số phụ, tháng 1, từ trang 21 đến trang 22, trong đó ông quan niệm tiêu đề bài báo chính là một phát ngôn, một biến thể của câu cơ sở như những phát ngôn khác Sang đến đầu thập niên 90, Cao Xuân Hạo trong công trình Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991) khi phân loại câu theo quan điểm ngữ pháp chức năng đã xếp tiêu đề văn bản (trong

đó có tiêu đề tác phẩm báo chí ) vào loại câu đặc biệt Ông viết: "Xét về chức năng thông báo, tiêu đề là một thứ chủ đề mà phần thuyết là cả bài văn, bài báo kia" Trần Ngọc Thêm trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (1999) thì phân tiêu đề ra thành ba loại: tiêu đề nêu luận điểm, tiêu đề nêu chủ đề và tiêu đề gợi ý Một chuyên luận đi sâu vào nghiên cứu tiêu đề

là tác phẩm của Trịnh Sâm mang tên Tiêu đề văn bản tiếng Việt (1996), trong đó ông chia ra các vấn đề nhỏ của tiêu đề gồm: khái niệm, cấu trúc, chức năng và đặc điểm của tiêu đề trong các loại văn bản khác nhau Trong giới Việt ngữ học có bàn tới vấn đề nghiên cứu nhan đề tác phẩm báo chí Bên cạnh đó, có thể kể tới một số bài viết đăng rải rác trên các tạp chí chuyên ngành những năm qua và một số khóa luận tốt nghiệp của sinh viên cũng nghiên cứu về tiêu đề bài báo Ở khu vực các bài viết, có thể kể tới hai bài viết của Hoàng Anh mang tên: Thử phân loại tiêu đề trên các tiêu đề văn bản báo chí (Ngôn ngữ và đời sống, số 9/1999 ) và Về cách sử dụng thành ngữ tục ngữ trên báo chí (Ngôn ngữ và đời sống, số 10/2003) Tác giả Trần Thanh Nguyên (Ngôn ngữ và đời sống, số 10/2003) cũng có bài Về kiểu tiêu đề mô phỏng trên các văn bản báo chí

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nỗ lực mà luận văn hướng tới là nhận diện các đặc điểm hình thức ngữ pháp, nội dung ngữ nghĩa và chức năng giao tiếp của TĐVB ở hai thể loại có những nét riêng, có tầm quan trọng và ưu thế, sức nặng nhất định đối với báo điện tử Đồng Nai Cụ thể, chương 1 tập trung nêu cơ sở lí luận cho các khảo sát ở các chương còn lại, chương 2 nêu đặc điểm cấu tạo của tiêu

đề, chương 3 làm rõ các đặc điểm phong cách và ngữ dụng của tiêu đề

Trang 5

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là 450 tiêu đề ở 2 thể loại tin tức và phóng sự trên báo điện tử Đồng Nai từ năm 2015 đến 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê: Được sử dụng để thống kê 450 tiêu đề ở hai thể loại chính mà đề tài quan tâm là phóng sự và tin tức

Phương pháp phân tích: Phân loại các văn bản có cùng một chủ đề thành nhóm và phân tích ý nghĩa nội dung tiêu đề trên các bình diện phong cách, ngữ dụng

Phương pháp miêu tả: Miêu tả các loại nghĩa tình thái, ẩn dụ

Việc trích dẫn các dẫn chứng được tuân theo nguyên tắc: đúng nguyên bản và nếu cần thiết thì đặt trong ngữ cảnh để người xem có thể hiểu được vấn đề

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn

Báo chí là chiếc cầu nối giữa nhân dân và các cơ quan quyền lực, đội ngũ lãnh đạo nên chủ đề giao tiếp trên báo chí là không giới hạn vào một số ít các lĩnh vực phản ánh Khảo sát cách đặt tiêu đề dựa trên nguồn ngữ liệu này có đặc điểm mang tính ứng dụng cao trong hoạt động giao tiếp báo chí

và lĩnh vực lân cận là truyền thông

Báo chí và tiêu đề báo chí là địa hạt thú vị mà đã từ lâu nằm trong mối quan tâm đặc biệt của cá nhân người viết Quan sát thấy bất kì diễn ngôn viết,Thật vậy, trong hoạt động thực tiễn của mình nhà báo và các biên tập viên sau quá trình thâm nhập thực tiễn cộng với góc nhìn riêng hứa hẹn tạo ra những bài viết chứa cách dùng ngôn từ sáng tạo, linh hoạt, mới mẻ Thật vậy, trong hoạt động thực tiễn của mình bất kì diễn ngôn viết, tác phẩm báo chí nào cũng là sản phẩm của một quá trình lao động trí

óc vất vả Nhưng sự hấp dẫn độc giả có từ đâu ngoài những góc nhìn và cách sử dụng từ ngữ có chọn lọc Từ những nghiên cứu khảo sát trên ngữ liệu báo chí dưới góc nhìn ngữ pháp văn bản và phong cách đối với ngữ vực nhất định là báo chí để tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu này, và mong rằng các kết quả nghiên cứu có thể làm tư liệu tham khảo cho những cách diễn đạt, nhất là ứng dụng để đặt tiêu đề cho những văn bản có bối cảnh giao tiếp tương tự

7 Bố cục của luận văn

Trang 6

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và thư mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương Trong đó:

Chương 1 nêu cơ sở lí luận

Chương 2 nêu cấu tạo ngữ pháp của các tiêu đề

Chương 3 nêu đặc điểm phong cách và ngữ dụng của tiêu đề

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Hệ thống phong cách và phong cách ngôn ngữ báo chi

1.1.1 Hệ thống phong cách tiếng Việt

Cho đến nay, số lượng phong cách ngôn ngữ, cơ sở lý luận và việc vận dụng tiêu chí để phân loại phong cách chức năng là chưa thống nhất và rất khác nhau

Nhìn chung các công trình quan niệm có từ 4 đến 6 phong cách Trong đó, phong cách ngôn ngữ báo chí được nhìn nhận như một phong cách độc lập

và được đưa vào danh sách miêu tả muộn hơn so với các phong cách khác Chúng tôi chọn cách phân chia các phong cách chức năng theo quan điểm của tác giả Đinh Trọng Lạc trong công trình Phong cách học tiếng Việt, theo đó các PCCN của hoạt động lời nói trong tiếng Việt gồm

+Phong cách hành chính – công vụ

+Phong cách khoa học

+Phong cách báo chí – công luận

+PC chính luận

+Phong cách sinh hoạt hàng ngày

1.1.2 Đặc điểm của ngôn ngữ báo chí

Ngôn ngữ báo chí có tính khuôn mẫu

Đó là những công thức, ngôn từ có sẵn được dùng lặp đi lặp lại nhằm tự động hóa quy trình thông tin Khuôn mẫu này có trong nhiều phong cách chức năng Nhờ khuôn mẫu các nhà báo mới thuận lợi trong phản ánh hiện thực, sự kiện nóng hổi, có kèm theo nhận định của họ về hiện tượng gần như tức thời

Ngôn ngữ báo chí còn phải là một thứ ngôn ngữ văn hóa chuẩn mực

Chuẩn ngôn ngữ cần được xét trên hai phương diện: phải mang tính quy ước xã hội tức được xã hội chấp nhận và sử dụng, và phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn

Trang 7

Ngôn ngữ báo chí có tính biểu cảm

Để thực hiện được chức năng tác động thì cần tới các yếu tố biểu cảm trong diễn đạt, giao tiếp báo chí Độc giả không chỉ đọc để lấy thông tin

mà còn cần sự định hướng và lối thuyết phục dễ gây hiệu quả nhất là tác động vào tình cảm của con người Trên báo chí tồn tại nhiều phong cách chức năng trong đó phong cách nghệ thuật có đặc điểm giúp người đọc đề cao và hướng đến giá trị thẩm mĩ, thái độ nhân văn nhân bản

Ngôn ngữ báo chí có tính đại chúng

Đối tượng độc giả của báo chí là đa dạng Ngôn ngữ sử dụng trên báo chí

là hướng đến chuẩn mực và sự phù hợp với mọi đối tượng, tức là có tính phổ cập rộng rãi

1.1.3 Chức năng và đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí

Theo Hữu Đạt [4,7] Phong cách báo chí có các đặc điểm chính như sau:

- Chức năng thông báo

- Chức năng hướng dẫn dư luận và tác động

sự kiện, ngắn gọn và công luận

Ngôn ngữ sự kiện mang tính định lượng cao: chính xác về thời gian không gian của sự kiện, định lượng cả về mặt ngôn từ Ngôn ngữ sự kiện mang tính hấp dẫn gây ra bởi bản chất phản ánh được vấn đề và giá trị của thông tin

Tính ngắn gọn đó nói lên năng lực của một nhà báo giỏi “Thật ra viết ngắn không phải là mục đích tự thân của báo chí, trong thực tế câu dài hay ngắn tùy thuộc vào nội dung phản ánh Nhưng viết ngắn thể hiện được tài của nhà báo và làm người đọc dễ tiếp thu”

Trang 8

Tính công luận nghĩa là tờ báo mang dấu ấn của mọi tầng lớp, độ tuổi, giới

1.2 Giao tiếp báo chí

1.2.1 Quan điểm về hoạt động giao tiếp

Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin của con người, đã gắn với con người từ rất xa xưa Nhắc đến lí thuyết thông tin phải kể đến lí thuyết thông tin của C.E.Shannon và W Weaver vào thế kỉ XX Từ góc nhìn của

lí thuyết thông tin giao tiếp được xem như quá trình lập mã và giải mã Sau này ứng dụng lí thuyết thông tin vào nghiên cứu ngôn ngữ, R.Jacobson, một đại diện thuộc trường phái Praha cho mỗi hành vi giao tiếp ngôn ngữ gồm các yếu tố như:

Tuy vậy muốn hiểu được một thông điệp người ta phải dựa vào

1 người phát 2 thông điệp 3.người nhận

4 bộ mã 5 sự tiếp xúc 6.bối cảnh giao tiếp

Đây là 6 nhân tố không thể thiếu trong một cuộc giao tiếp

1.2.2 Quan điểm giao tiếp báo chí

Giao tiếp báo chí cũng có những đặc điểm trên ngoài ra còn có những đặc thù riêng Dựa vào mô hình giao tiếp của R.Jacobson, chúng ta có thể hiểu quá trình giao tiếp báo chí như sau:

Nhà báo có vai trò thực hiện hành động quan sát, suy xét về thế giới bên ngoài chứa vô số những sự kiện diễn ra, sau đó sử dụng ngôn ngữ để mã hóa thông tin thành thông điệp của bài viết Thông điệp này như vậy vừa phản ánh thế giới bên ngoài vừa thể hiện quan điểm của người viết (về sự kiện phản ánh) Muốn làm được điều này, nhà báo phải dùng ngôn ngữ để thuyết phục trong đó bao gồm việc sáng tạo lối hành văn và dựng lại sự kiện ở góc độ quan sát nhận định của mình

Thời đại thông tin bùng nổ, người đọc ngày càng tiếp nhận thông tin một cách không thụ động Do có nhiều nguồn để tiếp cận thông tin, họ có thể tiến hành so sánh sau khi giải mã và phản hồi ý kiến của riêng mình theo hướng đồng tình hay không đồng tình

Như vậy giao tiếp báo chí một mặt nào đó là giao tiếp hai chiều, từ người tạo ngôn đền người thụ ngôn Sau đó, người thụ ngôn tiếp nhận thông điệp

Trang 9

sẽ có thông tin phản hồi Sự phản hồi này có thể là thuận hoặc nghịch chiều với người tạo ngôn/ với thông điệp đưa ra của người tạo ngôn

1.2.3 Báo điện tử Đồng Nai

Các phát minh và sự phát triển vượt bậc trong khoa học công nghệ và thông tin đã đưa lại cho con người các phương tiện cơ sở vật chất ngày càng hiện đại hơn, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu con người Báo chí điện tử cũng là một trong những phương tiện nếu khai thác hiệu quả có thể giúp con người nhanh chóng có được lượng thông tin mới mỗi ngày, mỗi giờ, trong mọi lĩnh vực Là một loại hình truyền thông đại chúng đang có xu hướng phát triển mạnh cùng với sự bùng nổ của Internet, có thể coi báo mạng điện tử là sự hội tụ những đặc điểm của các loại hình báo chí khác nhau Con người nhận diện thông tin không chỉ bằng chữ mà còn có các

hỗ trợ hình ảnh âm thanh qua các video clip

Đặc điểm của Báo điện tử là sử dụng ngôn ngữ viết truyền tải thông tin, hình ảnh qua đường truyền Internet Báo có các đặc điểm cơ bản:

- Tính thời sự và tính phi định kỳ

- Khả năng tương tác cao

- Khả năng truyền đạt thông tin không hạn chế [10, 8]

1.3 Chuẩn ngôn ngữ báo chí và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

1.3.1 Chuẩn ngôn ngữ

Chuẩn ngôn ngữ vừa là một phạm trù ngôn ngữ, vừa là một phạm trù xã hội lịch sử Có thể hiểu chuẩn là những cấu trúc diễn đạt vừa được cấu trúc ngôn ngữ cho phép, vừa được xã hội chấp nhận và sử dụng rộng rãi

Xung quanh khái niệm chuẩn ngôn ngữ có nhiều ý kiến khác nhau

1.3.2 Chuẩn ngôn ngữ báo chí và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc (Humbold) Việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ phải được nhận thức rõ bởi các lực lượng trí thức xã hội trong đó có cơ quan báo chí Song sự phong phú trong quan niệm thế nào

là chuẩn ngôn ngữ ở phần trước cho thấy chuẩn ngôn ngữ là điều hoàn toàn không dễ và khó đạt sự nhất trí cao, với chuẩn ngôn ngữ báo chí tình hình cũng tương tự Phục vụ cho đối tượng đa dạng độc giả đòi hỏi báo chí

có những sự điều chỉnh trong ngôn ngữ nhưng những sự điều chỉnh đó

Trang 10

không nên đi ra ngoài sự chuẩn mực Giáo sư John Hohenberg đã nhấn mạnh: “Không thể cẩu thả trong việc sử dụng ngôn ngữ ở các ngành truyền thông được Ngôn ngữ ở đây phải chuyển được tin tức, ý kiến và tư tưởng tới quần chúng càng hữu hiệu càng tốt Cũng không thể hạ giá văn phạm, trình độ văn phạm của báo chí ít ra cũng phải cao bằng trình độ của học giả hoặc khán thính giả co học thức Nếu không báo chí mất ngay sự kính trọng của quần chúng[…] Sự chuẩn xác của ngôn ngữ làm sắc bén thêm ý nghĩa của sự kiện Vì thế sự kiện và chuẩn xác phải luôn luôn đi đôi với nhau.”

1.3.3 Các hiện tượng trên báo chí cần hướng đến chuẩn hóa

Thứ nhất các yếu tố ngoại, thứ hai là vấn đề sử dụng ngôn ngữ viết tắt

*Vấn đề xử lí chệch chuẩn và chuẩn mực trên báo ĐT Đồng Nai

Trên báo điện tử Đồng Nai, các hiện tượng liên quan đến chuẩn như chính

tả, viết tắt, từ ngoại lai, từ Hán Việt được xử lí theo hướng tích cực, ít bắt gặp lỗi sai Trường hợp ngoại lệ là từ ngoại lai, từ tắt chủ yếu ở các TĐ lĩnh vực kinh tế vì phù hợp với xu thế thời đại là công nghiệp hóa hiện đại hóa và tạo điều điện cho hợp tác giao lưu kinh tế và thúc đẩy quá trình tự tìm hiểu nâng cao kiến thức của người dân Đây cũng là hướng xử lí của các tờ báo lớn khác ở TP HCM

khoa học tự nhiên

Bài giảng, sách giáo khoa, luận

án, bài báo Báo chí-

công luận

Cung cấp tin tức, phản ánh công luận, thông tin quảng cáo

Tin, điều tra, phóng sự, tác phẩm, rao vặt

Chính luận

Nghị luận chính trị, nghị luận kinh tế, nghị luận xã hội

Lời kêu gọi, báo cáo chính trị, xã luận

Trang 11

Tác giả Trần Thanh Nguyên xuất phát từ quan điểm cho rằng đặc điểm chức năng của ngôn ngữ chi phối việc tổ chức văn bản chia văn bản báo chí thành bốn nhóm thể loại:

1.Tin tức báo chí: Thực hiện chức năng thông báo, thông tin bản chất sự kiện, ngôn ngữ mang tính khách quan, không có màu sắc biểu cảm

2.Ký báo chí: thực hiện chức năng phản ánh, tái hiện sự kiện theo chủ quan của tác giả, ngôn ngữ biểu cảm, sinh động, có tính văn học

3.Bình luận báo chí: thực hiện chức năng tác động, nhận xét, đánh giá sự kiện, ngôn ngữ giàu tính chiến đấu, vừa khúc chiết, rõ ràng, biểu cảm, sinh động 4.Trao đổi công luận: thực hiện chức năng ngôn luận, trao đổi ý kiến bạn đọc, ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu

Thật ra theo truyền thống, báo chí phương Tây có cách phân chia đơn giản hơn: tin và phóng sự

Cho nên về bản chất, hầu hết các văn bản báo chí đều xoay quanh phản ánh sự kiện Có thể nói cái cốt lõi cho mỗi bài báo là sự kiện hoặc, với những nhà báo có năng lực thì nhờ sự kiện mà nhà báo có thể tạo ra cái có giá trị thông tin cốt lõi gởi đến người đọc

Có quan điểm cho rằng lưu ý trên thực tế không phải tất cả những gì hiện diện trên báo đều là tác phẩm báo chí và không phải tất cả tác phẩm báo chí nào cũng đều đạt đến tiêu chí của một thể loại

Thể loại phóng sự trên báo điện tử Đồng Nai

Mang tính chất của tờ báo địa phương, phóng sự ở báo điện tử ĐN có đề tài chủ yếu phản ánh con người, hoạt động của chủ thể trong bối cảnh vừa

có tính hoài niệm vừa mang dấu ấn hơi thở của thời đại, của nền kinh tế thị trường và đổi mới

Thể loại phóng sự của báo điện tử Đồng Nai là sự bổ sung cho sự phong phú của các kiểu bút pháp khác có liên quan như thể loại tùy bút, tiểu phẩm Nó là sự kết hợp giữa thể loại phóng sự và thể loại ký bởi tính chất miêu tả nhân vật chiếm dung lượng lớn trong kết cấu và rất ít bài viết có

đề cập đến giải pháp xuất phát từ bản thân nội dung của đề tài đó là chỉ thiên về phản ánh con người, các trường hợp gương tiêu biểu điển hình trong địa bàn của tỉnh

Thể loại tin trên báo ĐT Đồng Nai

Trang 12

Tin là dạng VB báo chí ngắn nhất phản ánh một cách ngắn gọn những sự kiện, tình hình thời sự vừa mới xảy ra Đây là thể loại đáp ứng nhanh chóng, đa dạng nhu cầu thông tin, đóng vai trò chủ lực của báo chí Ngôn ngữ trong tin nhìn chung là ngắn gọn, khái quát, ít màu sắc biểu cảm (đối với tin điển dạng) nhằm thông tin thời sự, phản ánh sự kiện chứ không đi sâu phân tích vấn đề Việc tổ chức ngôn ngữ trong các kiểu loại tin cũng

Thứ hai chính vì số lượng tiêu đề lớn như vậy nên ngoại trừ những tiêu đề rất đặc biệt, rất hấp dẫn, khó có thể được độc giả lưu nhớ và nhắc lại Khi đã không nhớ tiêu đề, họ cũng rất khó có thể nhớ nội dung bài Trong khi đó nếu không nhớ tên sách, độc giả vẫn nhớ cốt truyện nhận vật hoặc khi quên tên ca khúc họ vẫn có thể nhắc được toàn bộ một phần của ca từ hay giai điệu Thứ ba, đời sống của tiêu đề báo ngắn ngủi, xét về mặt nào đó, nó chỉ sống trong khoảng thời gian giữa hai kỳ ra báo Trong khi đó tít sách và tít tác phẩm âm nhạc tồn tại lâu dài hơn, nhất là những tên sách, tên ca khúc đã chiếm được cảm tình của đại bộ phận độc giả

Thứ tư, tiêu đề báo đòi hỏi sự hấp dẫn cao hơn

Tiểu kết

Muốn nghiên cứu đặc điểm tiêu đề phải dựa trên nền tảng cơ sở lí luận liên ngành báo chí và ngôn ngữ thì các nhận định mới có tính khoa học, khách quan và phù hợp thực tiễn Trong chương này chúng tôi đã nêu

lí thuyết giao tiếp, và các lí thuyết phong cách học, đặc điểm của phong cách ngôn ngữ báo chí, và thể loại Yếu tố thể loại là yếu tố chi phối đến quá trình đặt tiêu đề văn bản Chúng tôi cũng đề cập đến vấn đề chuẩn và lệch chuẩn trên báo chí nói chung và báo điện tử Đồng Nai nói riêng

Trang 13

CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM TIÊU ĐỀ VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO

CỦA TIÊU ĐỀ BÁO ĐIỆN TỬ ĐỒNG NAI

Định nghĩa

Tiêu đề văn bản được xem như là một bộ phận của VB, có chức năng “đánh dấu đầu vào của VB” và chuyển tải nội dung cô đọng, súc tích, ngắn gọn của VB Nó có thể thể hiện đề tài được phản ánh (sự việc nói đến), cũng có thể thể hiện chủ đề (vấn đề chủ yếu) của VB Đồng thời, TĐVB có tác dụng làm cho người đọc biết VB nói về điều gì hay vấn đề

gì [8, 41]

Tiêu đề báo điện tử Đồng Nai

Đặc điểm tiêu đề văn bản

Đặc điểm dễ nhận thấy của tiêu đề đó là: ngắn gọn, hàm súc và khái quát

Bên cạnh đó, tiêu đề thường rõ ràng, dễ hiểu và gây phản ứng kích thích, khơi gợi cảm xúc về tri nhận bằng những phương tiện từ ngữ đắt và chọn lọc, trong đó có vị từ mạnh, các từ ngữ có giá trị biểu cảm Nội dung

sự kiện nêu trong tiêu đề vừa cần chính xác vừa phải cụ thể, nêu bật tính độc đáo Trừ tin tức điển hình thì trong TĐ phản ánh thể lập trường người viết và mục đích bài báo

2.2 Cấu trúc ngữ pháp của TĐVB

Tiêu đề văn bản có tính chất độc lập cao và khác về chất so với phát ngôn trong văn bản Nó giữ vai trò định danh cho văn bản Phát ngôn trong tiêu đề không bị ràng buộc và chi phối bởi yếu tố trước và sau nó như phát ngôn trong văn bản Nếu tách khỏi văn cảnh, TĐ có đủ tư cách như một yếu

tố đại diện cho VB Nói rõ hơn, trong TĐVB, có một mối quan hệ chặt chẽ giữa các cấu tố làm nên chỉnh thể TĐ về hình thức và nội dung

2.3 Cấu trúc ý nghĩa của TĐVB

Tóm lại Hồ Lê công thức hóa cấu trúc nội dung của tiêu đề như sau Nội dung tiêu đề = YNHH +YNHÂ I (YNHÂ1 (nếu có)+ YNHÂ2) +YNHÂII

Ngày đăng: 12/12/2017, 14:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w