BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN DIỆU CHI MAI ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ LÂM SÀNG CỦA CÁC CA BỆNH TIÊU CHẢY CẤP NHẬP VIỆN DO VI RÚT ROTA Ở TRẺ DƯỚI 2
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN DIỆU CHI MAI
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ LÂM SÀNG CỦA CÁC
CA BỆNH TIÊU CHẢY CẤP NHẬP VIỆN DO VI RÚT ROTA
Ở TRẺ DƯỚI 2 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN XANH PÔN, HÀ NỘI
TỪ THÁNG 11/2012 ĐẾN THÁNG 5/2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN DIỆU CHI MAI
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ LÂM SÀNG CỦA CÁC
CA BỆNH TIÊU CHẢY CẤP NHẬP VIỆN DO VI RÚT ROTA
Ở TRẺ DƯỚI 2 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN XANH PÔN, HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới
cô hướng dẫn khoa học là PGS.TS Đinh Thị Phương Hòa đã tận tình đóng góp
nhiều ý kiến quý báu trong việc xây dựng ý tưởng đề tài và hướng dẫn, hỗ trợ về
mặt tinh thần và chuyên môn trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương,
Khoa Dịch tễ, và đặc biệt là Khoa Sức khỏe cộng đồng và Chỉ đạo tuyến đã tạo
điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc, phòng Kế hoạch Tổng hợp và Khoa Nhi tổng hợp bệnh viện đa khoa Xanh Pôn – Hà Nội đã nhiệt tình hợp tác và hỗ trợ
trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo đã giúp đỡ, các bạn học viên lớp cao
học khóa 15 đã động viên và chia sẻ những kinh nghiệm quý báu trong quá trình
học tập và làm luận văn
Tôi luôn ghi nhớ và biết ơn sâu sắc các thành viên trong gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã luôn động viên chia sẻ mọi mặt để tôi vượt qua mọi khó khăn trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Học viên
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình tiêu chảy và tiêu chảy cấp do vi rút Rota trên thế giới và
Việt Nam 4
1.2 Đặc điểm dịch tễ học của tiêu chảy cấp do vi rút Rota 11
1.3 Đặc điểm lâm sàng và cơ chế bệnh sinh của vi rút Rota: 17
1.4 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu: 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu: 19
2.4 Phương pháp chọn mẫu: 19
2.5 Cỡ mẫu: 20
2.6 Phương pháp thu thập số liệu: 20
2.7 Biến số nghiên cứu: biến số nghiên cứu chi tiết trình bày trong phụ lục 2 21
2.8 Khái niệm, tiêu chuẩn: 21
2.9 Phương pháp phân tích số liệu: 22
2.10.Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 23
2.11.Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 23
Chương 3: KẾT QUẢ 25
3.1 Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota 25
3.2 Mô tả một số đặc điểm lâm sàng của các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota 30
3.3 So sánh đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và điều trị giữa nhóm tiêu chảy cấp
do vi rút Rota và tiêu chảy cấp không do vi rút Rota 34
Chương 4: BÀN LUẬN 49
4.1 Các đặc điểm dịch tễ học của các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở bệnh nhi dưới 2 tuổi bị tiêu chảy cấp đến khám và điều trị ở bệnh viện Xanh Pôn 49
4.2 Đặc điểm lâm sàng của các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở bệnh nhi dưới
2 tuổi bị tiêu chảy cấp đến khám và điều trị ở bệnh viện Xanh Pôn 57
Trang 5KẾT LUẬN 63
1 Đặc điểm dịch tễ học của các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota 63
2 Đặc điểm lâm sàng của các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota 63
3 So sánh đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và điều trị giữa nhóm tiêu chảy cấp do vi rút Rota và tiêu chảy cấp không do vi rút Rota 63
KHUYẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Phụ lục 1: Khung lý thuyết của nghiên cứu 72
Phụ lục 2: Biến số nghiên cứu 73
Phụ lục 3: Thông tin về đề tài của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương 75
Phụ lục 4: Trích lược bộ câu hỏi nghiên cứu của đề tài sử dụng cho luận văn 79
Phụ lục 5: Nội dung phỏng vấn sâu 81
Phụ lục 6: Phiếu hồi cứu bệnh án 82
Phụ lục 7: Thang điểm Vesikari 85
Phụ lục 8: Kế hoạch nghiên cứu 86
Trang 6DANH MỤC BẢNG
trang
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhiễm vi rút Rota trong số các ca TCC điều trị tại bệnh viện 25
Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm vi rút Rota trong số các ca bệnh TCC nằm điều trị tại bệnh viện theo giới tính 25
Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm vi rút Rota trong số các ca bệnh tiêu chảy cấp
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nhiễm vi rút Rota trong số các ca TCC điều trị tại bệnh viện theo tháng 26
Biểu đồ 3.3 Phân bố các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota theo giới tính 27
Biểu đồ 3.5 Phân bố các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota theo khu vực trẻ sinh sống (nội thành/ngoại thành) 29
Bảng 3.4 Các triệu chứng lâm sàng của các ca tiêu chảy cấp do vi rút
Bảng 3.5 Đặc điểm các triệu chứng tiêu hóa của các ca bệnh
Bảng 3.6 Phân loại sốt của các ca bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota 31
Bảng 3.7 Tình trạng mất nước của các ca bệnh tiêu chảy cấp do vi rút
Trang 7Bảng 3.11 Tình trạng lây nhiễm vi rut Rota tại bệnh viện trong các ca bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota 32 Bảng 3.12 Diễn tiến của các triệu chứng tiêu hóa của các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota 33
Biểu đồ 3.7 So sánh tỷ lệ mắc theo giới giữa 2 nhóm TCC do vi rút Rota
và TCC không do vi rút Rota 34
Biểu đồ 3.8 So sánh tỷ lệ mắc theo mùa giữa 2 nhóm TCC do vi rút Rota
và nhóm TCC không do vi rút Rota 35
Bảng 3.13 So sánh sự phân bố theo nhóm tuổi giữa 2 nhóm TCC do vi
rút Rota và TCC không do vi rút Rota 35
Bảng 3.14 So sánh sự phân bố theo khu vực sống giữa 2 nhóm TCC do
Bảng 3.15 So sánh tình trạng uống vắc xin phòng vi rút Rota giữa 2
Bảng 3.17 So sánh tình trạng lúc sinh giữa 2 nhóm TCC do vi rút Rota
Bảng 3.18 So sánh chế độ nuôi dưỡng giữa nhóm 2 TCC do vi rút Rota
và TCC không do vi rút Rota 40
Bảng 3.19 So sánh tình trạng dinh dưỡng khi nhập viện giữa 2 nhóm
Bảng 3.20 So sánh theo đặc điểm gia đình giữa 2 nhóm TCC do vi rút
Bảng 3.21 So sánh theo tuổi của bà mẹ giữa 2 nhóm TCC do vi rút Rota
Bảng 3.23 So sánh các triệu chứng lâm sàng giữa 2 nhóm TCC do vi rút
Bảng 3.24 So sánh đặc điểm các triệu chứng tiêu hóa giữa 2 nhóm TCC
Trang 8Bảng 3.25 So sánh tình trạng mất nước giữa 2 nhóm giữa 2 nhóm TCC
Bảng 3.26 So sánh tình trạng mắc bệnh phối hợp giữa 2 nhóm TCC do
Bảng 3.27 So sánh tính chất phân giữa 2 nhóm TCC do vi rút Rota và
Bảng 3.30 So sánh điều trị tiêu chảy bằng thuốc giữa 2 nhóm TCC do
Trang 9TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng hàng đầu gây bệnh tật và tử vong cho trẻ em Vi rút Rota lại là nguyên nhân chính gây nên tiêu chảy cấp tính nặng đe dọa tính mạng của trẻ em và chiếm 20-50% các ca tiêu chảy cấp nhập viện trên khắp thế giới Ở Việt Nam, trẻ dưới 2 tuổi chiếm từ 88-97% tổng số trẻ dưới 5 tuổi tiêu chảy cấp do vi rút Rota nhập viện
Để trả lời những câu hỏi: Hiện nay tỷ lệ tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở trẻ em dưới 2 tuổi bị tiêu chảy cấp nhập viện tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà Nội là bao nhiêu? Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của các ca bệnh tiêu chảy cấp nhập viện
do vi rút Rota ở trẻ em dưới 2 tuổi tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà Nội như thế nào?
Sự khác biệt về đặc điểm dịch tễ và lâm sàng giữa bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota
và tiêu chảy do các tác nhân khác ở trẻ em dưới 2 tuổi tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà
Nội là như thế nào? chúng tôi tiến hành nghiên cứu « Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của các ca bệnh tiêu chảy cấp nhập viện do vi rút Rota ở trẻ dưới 2 tuổi tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà Nội từ tháng 11/2012 đến tháng 5/2013 »
Nghiên cứu mô tả cắt ngang (định lượng và định tính, sử dụng số liệu thứ cấp) được thực hiện từ tháng 11/2012 đến tháng 10/2013 Nghiên cứu sử dụng 273 phiếu phỏng vấn và kết quả xét nghiệm của đề tài gốc, kết hợp phỏng vấn định tính 10 bà
mẹ và hồi cứu bệnh án tại bệnh viện Nghiên cứu sử dụng các phân tích thống kê
mô tả và phân tích kiểm định khi bình phương và T-test
Tỷ lệ nhiễm vi rút Rota của các trẻ dưới 2 tuổi bị tiêu chảy cấp nằm điều trị tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội từ tháng 11/2012 đến hết tháng 5/2013 là 35,5%, cao nhất vào tháng 1 và thấp nhất vào tháng 3¸ phân bố ca bệnh ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ, phổ biến trong lứa tuổi từ 6 đến 24 tháng Triệu chứng phổ biến thường gặp là tiêu chảy kèm sốt và nôn Tỷ lệ các ca tiêu chảy nhiễm vi rút Rota do lây nhiễm tại bệnh viện là 5,5% Trẻ chưa uống vắc xin phòng vi rút Rota có nguy
cơ mắc bệnh cao gấp 7,18 lần so với những trẻ đã được uống vắc xin này Các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota có biểu hiện lâm sàng nặng hơn các ca bệnh tiêu chảy cấp không do vi rút Rota Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi đưa ra khuyến nghị cần đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền và hỗ trợ để trẻ em được uống vắc xin phòng
vi rút Rota, cần tuân thủ các khuyến nghị của Bộ Y tế về điều trị tiêu chảy và có các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm trong bệnh viện
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng hàng đầu gây bệnh tật và tử vong cho trẻ em Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới, tử vong do bệnh tiêu chảy chiếm 17%, xếp vào hàng thứ 2 trong tổng số các nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi [50] Vi rút Rota lại là nguyên nhân chính gây nên tiêu chảy cấp tính nặng đe dọa tính mạng của trẻ em và chiếm 20-50% các ca tiêu chảy cấp nhập viện trên khắp thế giới [34, 52] Mỗi năm, vi rút Rota gây ra khoảng 111 triệu lượt tiêu chảy cấp tính cần chăm sóc và điều trị tại nhà, 25 triệu lượt khám ở bệnh viện, 2 triệu ca cần điều trị nội trú và 352.000 - 592.000 ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi [54] Có thể nói rằng trong 5 năm đầu đời của hầu hết trẻ em trên thế giới, không phân biệt chủng tộc, điều kiện kinh tế xã hội tiên tiến hay lạc hậu, đều bị mắc một lượt tiêu chảy cấp do vi rút Rota với 1 trong 5 trẻ phải đi khám ở cơ sở y tế, 1 trong
65 trẻ phải nhập viện và 1/293 trẻ bị tử vong Phần lớn trẻ em tử vong do nhiễm vi rút Rota xẩy ra ở các nước thu nhập thấp, chiếm tới 82% số ca tử vong [50] Gánh nặng bệnh tật do tiêu chảy gây ra bởi vi rút Rota không chỉ ảnh hưởng lớn đối với sức khỏe của trẻ em của các nước đang phát triển mà còn đối với cả trẻ em ở mọi quốc gia trên toàn thế giới Ở các nước phát triển, do được điều trị sớm và đúng, tỷ
lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp nên tỷ lệ tử vong thấp, tuy nhiên tình trạng nôn và tiêu chảy nặng dẫn đến mất nước nặng ở trẻ nhỏ, cần nhập viện đã khiến tiêu chảy cấp
do vi rút Rota trở thành một gánh nặng bệnh tật và chiếm một khoản chi phí đáng kể đối với gia đình, hệ thống y tế và xã hội [11]
Ở Việt Nam, theo những nghiên cứu trước 1995, vi rút Rota chiếm 12% đến 25% các trường hợp tiêu chảy cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi trong bệnh viện, nhưng kết quả giám sát trong 5 năm từ 1998 đến 2003 của Mạng lưới giám sát vi rút Rota châu
Á tại 6 bệnh viện nhi toàn quốc cho thấy tỷ lệ vi rút nhiễm Rota chiếm 55% trường hợp tiêu chảy cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi [45] Năm 2009, kết quả giám sát bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota tại 3 bệnh viện của Việt Nam cho tỷ lệ nhiễm vi rút này
là từ 59,57 – 68,43% [10] Theo các nghiên cứu dịch tễ học tại các bệnh viện ở Việt Nam trong những năm gần đây, tỷ lệ trẻ tiêu chảy cấp nhập viện do nhiễm vi rút
Trang 11Rota ở nhóm dưới 24 tháng tuổi đều rất cao, chiếm từ 88-97% tổng số trẻ dưới 5 tuổi tiêu chảy cấp do vi rút Rota nhập viện [7, 8, 10, 14] Sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota là một thách thức lớn trong công tác chăm sóc và điều trị trẻ em ở nước ta Các biện pháp can thiệp phòng bệnh, phát hiện, điều trị sớm nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm mức độ nặng của bệnh đang được Bộ Y tế khuyến khích nghiên cứu và thực hiện
Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn đã tham gia vào giai đoạn 1 của Mạng lưới giám sát Vi rút Rota châu Á Kết quả giám sát tại bệnh viện từ 7/1998 đến 6/2000 cho thấy tỷ lệ nhiễm vi rút Rota ở trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy cấp nhập viện là 47% Từ năm 2000 đến nay, chưa có thêm 1 nghiên cứu nào về tiêu chảy cấp do vi rút Rota tại bệnh viện Xanh Pôn ở trẻ dưới 5 tuổi và đặc biệt ở trẻ dưới 2 tuổi là lứa tuổi bị ảnh hưởng nhiều nhất
Câu hỏi đặt ra là: Hiện nay tỷ lệ tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở trẻ em dưới 2 tuổi bị tiêu chảy cấp nhập viện tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà Nội là bao nhiêu? Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của các ca bệnh tiêu chảy cấp nhập viện do vi rút Rota
ở trẻ em dưới 2 tuổi tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà Nội như thế nào? Sự khác biệt về đặc điểm dịch tễ và lâm sàng giữa bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota và tiêu chảy do các tác nhân khác ở trẻ em dưới 2 tuổi tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà Nội là như thế
nào? Để trả lời những câu hỏi đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu « Đặc điểm dịch
tễ học và lâm sàng của các ca bệnh tiêu chảy cấp nhập viện do vi rút Rota ở trẻ dưới 2 tuổi tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà Nội từ tháng 11/2012 đến tháng 5/2013 » Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin cần thiết để phục vụ cho
việc xây dựng chiến lược phòng và điểu trị bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở trẻ
em tại các thành phố lớn như Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu được thực hiện dựa vào đề tài “Đánh giá hiệu quả của vắc xin phòng vi rút Rota đơn giá tại Hà Nội, Việt Nam” do Viện Vệ sinh Dịch tễ trung
ương tiến hành tại Khoa Nhi của Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn và Khoa Nhi - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11/2012 đến tháng 6/2013
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở trẻ dưới 2 tuổi điều trị tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà Nội từ tháng 11/2012 đến tháng 5/2013
2 Mô tả một số đặc điểm lâm sàng của bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở trẻ dưới 2 tuổi điều trị tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà Nội từ tháng 11/2012 đến tháng 5/2013
3 So sánh đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và điều trị của các ca bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota với các ca bệnh tiêu chảy cấp không do vi rút Rota ở trẻ dưới 2 tuổi điều trị tại bệnh viện Xanh Pôn – Hà Nội từ tháng 11/2012 đến tháng 5/2013
Trang 13Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình tiêu chảy và tiêu chảy cấp do vi rút Rota trên thế giới và
Việt Nam
1.1.1 Khái niệm
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, trẻ bị tiêu chảy khi đi ngoài từ 3
lần trở lên, phân lỏng và nhiều nước hơn bình thường [49] Tiêu chảy là một bệnh
thường gặp và là một nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em Tác nhân gây
tiêu chảy khá đa dạng, nhiều nghiên cứu mô tả 26 các loại tác nhân khác nhau như
vi rút, vi khuẩn hoặc ký sinh trùng
Tiêu chảy cấp do vi rút Rota là bệnh cấp tính do vi rút Rota gây nên, thường
gặp ở trẻ nhỏ với các triệu chứng nôn ói, tiêu chảy, đau bụng, mất nước dễ dẫn đến
trụy mạch và tử vong nếu không điều trị kịp thời Bệnh có mã trong ICD-10 là
A08.0 (Rotaviral enteritis) Bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota thuộc nhóm B trong
Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm của Việt Nam [17]
1.1.2 Tình hình tiêu chảy trên thế giới và Việt Nam
Tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tỷ lệ mắc bệnh và tử
vong cao ở trẻ em, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Theo ước tính của Tổ
chức Y tế thế giới (WHO), năm 2003 có khoảng 1,87 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong
do tiêu chảy, trong đó 80% là trẻ từ 0-2 tuổi Trung bình, trẻ dưới 3 tuổi mắc từ 3
đến 4 đợt tiêu chảy, thậm chí có những trẻ bị 8-9 đợt mỗi năm.[50] Theo đánh giá
gánh nặng bệnh tật năm 2004, tiêu chảy chiếm 17% các nguyên nhân tử vong ở trẻ
em dưới 5 tuổi và là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây tử vong ở lứa tuổi này đặc
biệt là các nước đang phát triển [54] Trên thế giới ước tính có 712.000 trường hợp
tử vong do tiêu chảy và chiếm 9,9% trong tổng số 6,9 triệu trường hợp tử vong ở trẻ
em dưới 5 tuổi [30]
Trong những thập kỷ qua rất nhiều tác giả đã tiến hành những nghiên cứu và
công bố kết quả về tử vong do tiêu chảy Kosek và cộng sự đã phân tích 60 nghiên
cứu về tỷ lệ mắc và tử vong do tiêu chảy được công bố trong những năm 1990-2000
Trang 14đã đưa ra kết luận rằng tử vong do tiêu chảy chiếm 21% các trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi và gây ra 2,5 triệu trẻ tử vong mỗi năm Tuy nhiên một nghiên cứu khác do Murray và cộng sự tiến hành năm 2000 đã đưa ra con số 1,4 triệu tử vong
do tiêu chảy mỗi năm, chiếm 13% tất cả các trường hợp tử vong Tất cả các con số này đều cho thấy rằng tiêu chảy vẫn là một trong các nguyên nhân tử vong hàng đầu
ở trẻ em mặc dù tỷ lệ này đã giảm đáng kể từ những năm năm mươi cho đến nay [44, 52, 57]
Có nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy bao gồm vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng Với các kỹ thuật mới hiện nay, khoảng trên 75% các trường hợp đến khám tại
cơ sở y tế và 50% các trường hợp nhẹ tại cộng đồng có thể xác định được căn nguyên gây bệnh Bên cạnh một số các nguyên nhân gây tiêu chảy cấp nhưng ít gặp
và khó chẩn đoán như Norovirus, Adenovirus, Aeromonas hydrophila, Plesiomonas shigelloides, Vibrio parahaemolyticus, Yersinia enterocolitica, Giardia lamblia, Entamoeba histolytica, Isospora belli và một số các tác nhân gây bệnh quan trọng khác có tính chất địa phương và gây dịch như phẩy khuẩn tả (V.cholera), thương hàn (Samonella), các nguyên nhân gây tiêu chảy cấp phổ biến ở trẻ em tất cả các nước phát triển như virút Rota, Escherichia coli, Shigella, Campylobacter và Cyptosporidium Trong các nguyên nhân nói trên virút Rota là nguyên nhân phổ biến nhất gây tiêu chảy nặng ở trẻ nhỏ trên khắp thế giới, ở cả các nước phát triển
và đang phát triển [43, 57]
Tiêu chảy hiện nay cùng với nhiễm khuẩn hô hấp cấp vẫn là hai nguyên nhân gây mắc bệnh và tử vong cao nhất ở trẻ em tại Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2005, bệnh tiêu chảy có nguồn gốc nhiễm khuẩn là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng bệnh tật và
tử vong ở Việt Nam Ở nước ta, tiêu chảy được đưa vào trong số 26 bệnh báo cáo thường xuyên Số ca bệnh tiêu chảy trong năm 2012 ở 28 tỉnh miền Bắc là 433.000, chỉ đứng thứ 2 sau số ca có triệu chứng cúm (870.000)[32] Số ca tử vong ước tính (năm 2005) là 9600-124000 ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi do tiêu chảy Trong năm
2005, ước tính chi phí điều trị trực tiếp cho những trường hợp tiêu chảy lên đến 3,1
Trang 15triệu đô la Mỹ, 685.000 đô la cho chi phí trực tiếp khác và 1,5 triệu đô la dành cho chi phí gián tiếp [39] Trong số trẻ dưới 5 tuổi, 15% sẽ phải nhập viện do tiêu chảy
và 1/5 sẽ phải đi khám tại cơ sở y tế, 1/65 sẽ nhập viện và 1/293 sẽ tử vong (Biểu đồ 1.1) Trẻ em tại các nước nghèo chiếm 82% trong tổng số tử vong này [54] Tuy nhiên, con số này trong những năm 2000 – 2004 đã tăng lên 527.000 trẻ tử vong (dao động từ 475.000–580.000) chiếm 29% tất cả các trường hợp tử vong ở trẻ dưới
5 tuổi [52]
Biểu đồ 1.1 Gánh nặng bệnh tật do vi rút Rota
(Nguồn: Umesh D Parashar, 2003)
440.000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong
2 triệu lượt nhập viện
25 triệu lượt đến khám tại cơ sở y tế
111 triệu lượt cần điều trị tại nhà
1:293
1:65
1:5
1:1
Trang 16Trong số 10 nước có số trẻ tử vong cao nhất, có 6 nước thuộc Châu Á Do vậy giảm gánh nặng bệnh tật tại Châu Á là mục tiêu hàng đầu để có thể làm giảm gánh nặng chung do bệnh này trên toàn cầu bởi vì Châu Á tập trung đông dân cư và những nước đông dân có tình trạng kinh tế xã hội thấp Khoảng >55% tất cả các trường hợp tử vong do vi rút Rota xảy ra tại khu vực Châu Á (Biểu đồ 1.2) [27]
Biểu đồ 1.2 Phân bố các trường hợp tử vong do vi rút Rota theo khu vực
(Nguồn: Joseph S Bresee, 2005)
Ở châu Á, theo kết quả của Mạng lưới giám sát vi rút Rota châu Á (Asian Vi rút Rota Surveilance Network) trên 36 thành phố ở 9 nước châu Á trong năm đầu tiên (2001) cho thấy tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp do vi rút Rota phổ biến và tăng hơn trước: Việt Nam 59%, Malaysia 57%, Myanmar 53%, Indonesia 52%, Thái Lan và Trung Quốc 44%, Hồng Kông 28% [43] Nhiều nghiên cứu khác ở châu Á cũng cho thấy vi rút Rota được phát hiện ở 20% phân trẻ tiêu chảy ở Bangladesh, 40 nghiên cứu từ năm 1976 đến 1997 trên 13.000 trẻ dưới 12 tuổi điều trị nội trú tại Ấn Độ cho thấy tỷ lệ mắc là 18% Ở Philippin theo dõi trong 25 tháng từ 1988 đến 1990 trên 236 trẻ em dưới 12 tuổi điều trị nội trú vì tiêu chảy tỷ lệ mắc là 69% Tại Hàn Quốc, qua 11 nghiên cứu tại bệnh viện từ năm 1979 đến 1999 cho thấy tỷ lệ mắc ở trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi là 46% [11]
Trang 17Nhiều nghiên cứu khác ở Mỹ La Tinh cho thấy tỷ lệ mắc từ 34% (Argentina), 50% đến 60% (Costarica), ở Trung Á: Pakistan (20%) đến 69% (Bahrain) Ở Châu Phi trên 43 nghiên cứu ở nhiều nước từ năm 1975 đến 1992 cho thấy vi rút Rota tìm thấy trung bình 24% (13 đến 55%) ở trẻ tiêu chảy nhập viện và 23% (7 đến 40%) ở bệnh nhi ngoại trú 81% những trường hợp nhập viện đều ở trẻ dưới 1 tuổi và 38%
là trẻ em dưới 6 tháng [11]
Tương tự như các nước đang phát triển, tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp do vi rút Rota
ở trẻ em các nước công nghiệp tiên tiến cũng cao: Anh (43%), Phần Lan (54%), Mỹ (6,5%), Australia (50%) Không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc tiêu chảy do Rotavirus
ở các nước đã và đang phát triển [26]
Nước phát triển Nước đang phát triển
Biểu đồ 1.3 Nguyên nhân gây tiêu chảy nặng ở trẻ em các nước phát triển và
đang phát triển
(Nguồn: Kapikian AZ, Hoshino Y, Chanock RM 2001)
Tiêu chảy cấp do vi rút Rota là bệnh phổ biến ở trẻ em dưới 24 tháng tuổi gây ảnh hưởng đáng kể tới gánh nặng kinh tế và y tế đối với gia đình, hệ thống y tế và
xã hội Tiêu chảy cấp tính gây ảnh hưởng cả về chi phí y tế trực tiếp như khám bệnh, thuốc men, chăm sóc, xét nghiệm, viện phí Những chi phí gián tiếp như cha
Trang 18mẹ phải nghỉ việc trông con ảnh hưởng tới thu nhập, chưa kể tới những lo lắng sợ hãi khi trẻ bị tiêu chảy nặng ảnh hưởng tới tinh thần cha mẹ Nhiều nghiên cứu tại nhiều nước về gánh nặng kinh tế của tiêu chảy cấp do vi rút Rota cho thấy tình trạng thu nhập ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ tử vong [11]
Những nước có thu nhập thấp, tỷ lệ tử vong cao, thì tiêu chảy cấp tính là gánh nặng về cả tử vong và kinh tế Những nước thu nhập cao tỷ lệ tử vong thấp nhưng lại là gánh nặng về kinh tế Ở Mỹ, tiêu chảy cấp tính do vi rút Rota gây tử vong rất thấp (20 đến 40 trẻ/năm) nhưng với 2,7 triệu trẻ 6 tháng đến 5 tuổi mắc tiêu chảy đã cần đến 500.000 lượt khám bệnh và 50.000 nhập viện mỗi năm đòi hỏi 264 triệu USD cho chi phí y tế, 66% cho nhập viện và 1 tỷ USD cho bảo hiểm xã hội[11] Các nước khác như Australia hàng năm chi 15-18 triệu USD, Hồng Kông 9,6 triệu USD, Agentina 9 triệu USD Do nguy cơ lây chéo trong bệnh viện nên ở Mỹ khoảng 16.000 đến 19.000 trường hợp nhập viện hàng năm vì lây nhiễm chéo, chưa
kể tới thời gian kéo dài nằm viện [11]
1.1.3.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về vi rút Rota mới được bắt đầu từ năm 1980 và
đã khẳng định vi rút Rota là nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em Kết quả trong một số nghiên cứu cho thấy rằng có đến hơn một nửa số trẻ nhập viện do viêm dạ dày ruột cấp là do nhiễm vi rút Rota Hàng năm, số trẻ chết do vi rút Rota chiếm từ 4-8% trong tổng số tử vong trẻ dưới 5 tuổi [39]
Mặc dù Việt Nam không phải là một trong 10 nước có số trẻ tử vong do vi rút Rota cao nhất, nhưng cũng là một trong những nước có số tử vong cao tại Châu Á, khoảng gần 3.000 trẻ mỗi năm [27]
Trang 19Biểu đồ 1.4: Phân bố trường hợp tử vong do vi rút Rota tại các nước châu Á
(Nguồn: Joseph S Bresee, 2005)
Việt Nam là một trong những nước tham gia Mạng lưới giám sát vi rút Rota châu Á được thiết lập năm 1999 nhằm đưa ra con số chính xác về gánh nặng bệnh tật do vi rút Rota gây nên Từ những năm 1998-2003, đã có 5.768 trẻ em nhập viện
do tiêu chảy tại 6 bệnh viện của 4 tỉnh/thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Khánh Hoà và thành phố Hồ Chí Minh được theo dõi trong mạng lưới giám sát Kết quả giám sát cho thấy 56% trường hợp nhập viện do nhiễm vi rút Rota, gấp đôi tỷ lệ 21% đã được báo cáo từ một nghiên cứu trước đó được tiến hành tại Việt Nam từ 1981-1984 [28] Kết quả giám sát trong 2 năm đầu đã cho những con số ngoài dự kiến với tỷ lệ vi rút Rota được phát hiện là 56% cao hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển có mức thu nhập thấp Ước tính vi rút Rota gây ra 2.700 – 5.400 tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam mỗi năm tương đương tỷ lệ tử vong do bệnh này là 3,6/1.000 trẻ sơ sinh đẻ ra sống, chiếm 4,3% - 8,5% tử vong chung ở lứa tuổi này Gần 2/3 số trẻ nhập viện là trẻ trai (trẻ trai 64%, trẻ gái 36%) Tỷ lệ này cũng tương tự như tỷ lệ nhập viện do tiêu chảy chung giữa trẻ trai và trẻ gái Kết quả của nghiên cứu này còn cho thấy mùa cao điểm ở miền Bắc là 5 tháng liên tiếp của mùa đông và mùa xuân trong khi miền Nam không có mùa rõ rệt mà vi rút Rota xuất hiện quanh năm [45]
Trang 20Kết quả giám sát trong 3 năm tiếp theo cho thấy tỷ lệ nhập viện nhiễm vi rút Rota vẫn ở mức tương đương, khoảng 55% Tuy nhiên, số trẻ tử vong dưới 5 tuổi
tử vong do vi rút Rota ước tính cao hơn 2 năm trước, 5.300 - 6.800 trẻ tương đương 3,5 - 4,9 tử vong/1000 trẻ chiếm 8% - 11% tử vong chung ở lứa tuổi này Tỷ lệ tử vong do vi rút Rota ở trẻ dưới 5 tuổi là 1/200 đến 1/285, trẻ dưới 3 tháng tỷ lệ mắc lại thấp, 70% trẻ nhập viện ở lứa tuổi 6 - 24 tháng, 50% trẻ nhiễm ở dưới 12 tháng tuổi Yếu tố mùa không rõ rệt ở phía Nam, trong khi các tỉnh phía Bắc vẫn có xu hướng tăng cao vào mùa đông xuân [44]
Các kết quả giám sát còn cho thấy mỗi năm ước tính khoảng 820.000 lượt khám bệnh, 122.000 - 140.000 trường hợp nhập viện và trung bình 4.300 trẻ tử vong mỗi năm do vi rút Rota gây ra tổn thất đáng kể cho Việt Nam Các chi phí từ phía gia đình bệnh nhân cho tiêu chảy do Rota ước tính lên tới 5.285 triệu USD trong đó 3,1 triệu USD cho chi phí y tế trực tiếp, 685.000 USD cho chi phí trực tiếp không y tế và 1,5 triệu USD cho chi phí gián tiếp Ngoài ra chính phủ phải chi trả khoảng 5,3 triệu USD mỗi năm cho việc điều trị [25] Như vậy không chỉ ở các nước phát triển mà ngay cả Việt Nam, chi phí điều trị hàng năm cho các trường hợp tiêu chảy cấp do vi rút Rota là rất lớn
1.2 Đặc điểm dịch tễ học của tiêu chảy cấp do vi rút Rota
1.2.1 Tác nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota là vi rút Rota được Ruth Bishop phát hiện trong phân những trẻ bị tiêu chảy tại Úc từ năm 1973 và sau đó vi rút này được đặt tên là vi rút Rota vì khi quan sát qua kính hiển vi điện tử người ta
nhận thấy vi rút có hình bánh xe (Rota tiếng Latin là bánh xe) Tên này chính thức
được Uỷ ban Quốc tế về Phân loại Vi rút công nhận 4 năm sau đó Năm 1976 các
vi rút tương tự được phát hiện ở một vài loài động vật khác cũng gây tiêu chảy cấp
cả ở trên người Sau đó các típ huyết thanh của vi rút Rota được phát hiện năm
1980
Trang 21Vi rút Rota là một loại vi rút không có vỏ bọc được xếp vào giống Reovirus thuộc họ Reoviridae Vi rút dạng hình khối cầu 20 mặt, đường kính trung bình 65-
70 nm Acid nucleic là ARN hai sợi, nằm ở trung tâm hạt vi rút, đường kính 38 nm
và được bao bọc bởi hai sợi capsid Capsid gồm 3 lớp: lớp ngoài, lớp trong và lớp lõi 60 cái gai dài 120 A0 trên bề mặt nhẵn nhụi của lớp ngoài Các capsome của lớp ngoài tạo nên hình vòng Do vậy, các vi rút này mới có tên Rota (Rota = bánh xe)
Vi rút được phân làm 7 nhóm A, B, C, D, E, F, G theo tính kháng nguyên và 2 phân nhóm phụ I và II dựa trên protein VP6 Cả 7 nhóm này đều gây bệnh trên động vật Nhóm A là phổ biến nhất chiếm hơn 90% các trường hợp tiêu chảy do Rota trên toàn thế giới nhất, gây ra hầu hết các vụ dịch tiêu chảy nặng ở trẻ em, nhóm B và C thường gây các vụ dịch lẻ tẻ, hay gặp ở trẻ lớn và người trưởng thành Trên thế giới, ghi nhận chủ yếu là 4 chủng G1P8, G3P8, G4P8, G2P4; ở Việt Nam, chủng G1P8 chiếm đa số [17, 38]
Vi rút Rota có thể sống nhiều ngày trong môi trường tự nhiên và hàng tháng trong phân ở nhiệt độ thường Tuy nhiên vi rút này bị bất hoạt nhanh chóng trong môi trường EDTA (ethylendiamintetracetic acid) Chúng dễ bị bất hoạt ở pH nhỏ hơn 3 và lớn hơn 10, nhưng có sức đề kháng tốt với với clo và ete [17]
1.2.2 Đường lây truyền và nguồn bệnh
Vi rút Rota chủ yếu lây truyền qua đường phân - miệng, phổ biến nhất là từ người sang người hoặc qua tay, các bề mặt hoặc đồ vật nhiễm bẩn Tuy nhiên vi rút Rota cũng có thể lây truyền qua thức ăn hoặc nước uống nhiễm bẩn và cũng có một
tỷ lệ nhỏ có thể lây qua đường hô hấp thông qua các hạt khí dung mang mầm bệnh Yếu tố truyền bệnh là phân của bệnh nhân hoặc người lành mang vi rút Rota Phân sẽ làm ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nguồn nước Ngoài ra, có thể gây ô nhiễm thực phẩm và các vật dụng khác Vi rút theo thức ăn, bàn tay bẩn vào miệng hoặc vi rút tồn tại nhiều ngày ở đồ vật, đồ chơi lây vào trẻ em qua đường miệng Sau khi nhiễm vi rút Rota bệnh nhân thường trải qua giai đoạn ủ bệnh từ 1-3 ngày sẽ có các dấu hiệu của bệnh Vi rút được đào thải qua phân từ khi có triệu
Trang 22chứng đầu tiên cho đến khi hết hoàn toàn các triệu chứng bệnh Lượng vi rút thải ra trong phân tối đa trong 4 ngày đầu sau khi có triệu chứng bệnh nhưng vẫn có thể phát hiện vi rút 7 ngày sau khi có triệu chứng tiêu chảy Thời kỳ lây truyền có thể kéo dài tới 3 tuần, tuy nhiên nguy cơ nhất là trong khoảng 7-8 ngày kể từ lúc bệnh bắt đầu Phân thường có dịch nhầy nhưng ít khi tìm thấy bạch cầu và chỉ khoảng 15% trường hợp có hồng cầu trong phân Phân của người bệnh có thể chứa hơn 10 nghìn tỷ phần tử Rota trong 1 gram, trong khi chỉ cần khoảng 10-100 phần tử là có thể đủ để lây truyền sang người khác Do vậy nếu không có biện pháp xử lý phân bệnh nhân hợp vệ sinh, bệnh sẽ lây lan rất nhanh chóng và khi đã có dịch xảy ra thì rất khó dập tắt ngay
1.2.3 Tính cảm nhiễm và miễn dịch:
Phần lớn những trẻ sau khi nhiễm vi rút Rota đều hình thành hệ miễn dịch tại chỗ và hình thành hệ thống có thể phòng hoặc giảm nhẹ triệu chứng của các đợt nhiễm vi rút Rota sau đó Một nghiên cứu trên 200 trẻ dưới 2 tuổi tại Mexico cho thấy khả năng lây nhiễm vi rút Rota các lần tiếp theo sau khi trẻ đã từng bị lây nhiễm giảm dần Mức độ nặng của các triệu chứng cũng giảm dần ở các lần nhiễm tiếp theo và sau 2 lần lây nhiễm không có trẻ nào có biểu hiện triệu chứng ở mức độ trung bình và nặng [36] Triệu chứng bệnh nặng nhất thường gặp ở độ tuổi 3 đến 24 tháng, sau đó mức độ nặng của bệnh giảm dần trong những năm tiếp theo trùng hợp với những thời điểm trẻ bắt đầu cai sữa mẹ, kháng thể từ cơ thể mẹ giảm và có thể
có những thay đổi trong ruột như thiếu các cơ quan cảm thụ đối với vi rút tại các tế bào ruột Một nghiên cứu khác tại Guinea-Bissau, Tây Phi theo dõi 200 trẻ từ lúc mới sinh đến khi trẻ 2 tuổi cho thấy nhiễm Rota trong những tháng đầu ít có biểu hiện triệu chứng và sau đó phổ biến nhất ở độ tuổi 9 – 11 tháng Đối với trẻ được 18
- 24 tháng khi nhiễm vi rút Rota thường không có triệu chứng tiêu chảy Ở trẻ dưới
2 tuổi, tỷ lệ nhiễm vi rút Rota khoảng 74% Trong khoảng 3 tháng đầu 17% trẻ bị nhiễm vi rút Rota lần đầu có triệu chứng tiêu chảy trong khi tỷ lệ này ở độ tuổi 9 -
11 tháng là 60% Từ sau 18 tháng, hầu hết tất cả các trường hợp nhiễm vi rút Rota
là không có triệu chứng Nghiên cứu còn cho thấy quá trình nhiễm vi rút Rota tự
Trang 23nhiên có tác dụng bảo vệ cho các lần tái nhiễm, đây chính là cơ sở cho việc phát triển vắc xin sống phòng các bệnh do vi rút Rota, dùng đường uống Trẻ em có thể
bị nhiễm vi rút Rota nhiều lần trong những năm đầu đời Các triệu chứng của bệnh viêm dạ dày ruột do vi rút Rota thường xuất hiện khi trẻ bị nhiễm vi rút Rota lần đầu, tương tự như vậy các triệu chứng nặng cũng thường chỉ xuất hiện khi trẻ nhiễm
vi rút lần đầu Nhiễm vi rút Rota tự nhiên có tác dụng bảo vệ cho cơ thể khỏi các bệnh viêm dạ dày ruột ở những lần nhiễm lần sau Tác dụng bảo vệ phòng tiêu chảy cấp do vi rút Rota được chứng minh là tăng lên tới 77% sau lần đầu nhiễm vi rút Rota, và 83% và 92% sau lần nhiễm thứ 2 và 3 Tương tự như vậy, tác dụng bảo vệ phòng các triệu chứng viêm dạ dày ruột thể vừa và nặng được chứng minh là tăng lên tới 87% sau lần nhiễm vi rút Rota đầu tiên và tới 100% sau 2 lần nhiễm Mặc dù
có một vài báo cáo cho thấy tác dụng bảo vệ của những lần nhiễm vi rút Rota là không toàn vẹn và chỉ kéo dài 6 tháng nhưng cũng đều khẳng định sức đề kháng đối với bệnh nặng vẫn được duy trì trong suốt thời thơ ấu của trẻ [35]
1.2.4 Các nghiên cứu về dịch tễ học tiêu chảy cấp do vi rút Rota:
Vi rút Rota chiếm khoảng 20% các trường hợp tiêu chảy và 50% các trường hợp trẻ tiêu chảy nặng nhập viện Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh xảy ra nhiều nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi Ở các nước đang phát triển, hàng năm có khoảng trên 125 triệu ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở trẻ em dưới 5 tuổi Vì vậy đã
có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về dịch tễ học của tiêu chảy cấp do vi rút Rota
Do không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở các nước đã và đang phát triển [26], nói cách khác, tiêu chảy cấp do vi rút Rota là mối quan tâm lo ngại của rất nhiều quốc gia trên thế giới nên các nước trên 5 châu lục đều tiến hành các nghiên cứu về dịch tễ học của tiêu chảy cấp do vi rút Rota Một nghiên cứu tổng hợp tài liệu cho thấy từ 1990 đến 2011 đã có 242 nghiên cứu trên khắp thế giới về
tử vong do tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở trẻ dưới 5 tuổi [30]
Trung tâm phòng chống bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) và Tổ chức y tế thế giới (WHO) và các đối tác đã thiết lập Mạng lưới giám sát vi rút Rota châu Á từ năm
1998 Trong giai đoạn đầu của mạng lưới, 9 quốc gia và vùng lãnh thổ đã thu thập
Trang 24số liệu dịch tễ về tiêu chảy cấp do vi rút Rota theo khung thiết kế của WHO Giain đoạn 2 có 14 quốc gia tham gia với 37 điểm giám sát
Các nghiên cứu cho thấy hầu hết trẻ em dưới 5 tuổi đều mắc ít nhất một lần tiêu chảy cấp do vi rút Rota trong khi người lớn hiếm khi mắc vi rút này Trẻ càng nhỏ càng có nguy cơ nhiễm bệnh, thường hay gặp ở trẻ dưới 2 tuổi Đối với các vùng ôn đới, người ta thấy rằng vi rút Rota lưu hành cao điểm trong mùa đông tại
Mỹ, và cao điểm vào mùa thu hoặc mùa xuân ở những vùng khác Ở các vùng nhiệt đới, tính chất mùa khó phân biệt hơn và thường không có mùa rõ rệt Tại hầu hết các nước này trên thế giới vi rút xuất hiện tất cả các mùa trong năm [56]
Tại Việt Nam, mãi đến năm 1980 mới có nghiên cứu và xác định vi rút Rota là nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em Việt Nam đã tham gia vào Mạng lưới giám sát vi rút Rota châu Á từ năm 1998 với điểm giám sát là 6 bệnh viện lớn trong giai đoạn một Từ đó đến nay, số liệu về dịch tễ học của tiêu chảy cấp do vi rút Rota vẫn thường xuyên được cập nhật thông qua các điểm giám sát này [7,8,9,10,14,15,16] Theo các số liệu nghiên cứu dịch tễ học tại các bệnh viện ở Việt Nam trong những năm gần đây, tỷ lệ trẻ tiêu chảy cấp nhập viện do vi rút Rota ở nhóm tuổi dưới 24 tháng tuổi chiếm từ 88-97% trên tổng số trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp nhập viện có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút Rota [7, 8, 10, 14] Kết quả cũng cho thấy ở miền Bắc, bệnh thường xảy ra vào mùa thu đông kéo dài tới mùa xuân (khi thời tiết mưa, lạnh, ẩm ướt) Ở miền Nam, bệnh xảy ra quanh năm, nhiều nhất là vào tháng ba và tháng chín Có khoảng 56% số trẻ nhập viện do viêm dạ dày ruột cấp là do nhiễm vi rút Rota và số trẻ tử vong do nhiễm vi rút Rota chiếm từ 4 - 8% trong tổng số trẻ dưới 5 tuổi tử vong do mọi nguyên nhân [11] Ngoài ra cũng có các nghiên cứu được thực hiện với quy mô nhỏ hơn, nhưng chủ yếu là tại các bệnh viện, rất ít nghiên cứu có số liệu về tỷ lệ nhiễm vi rút Rota tại cộng đồng [1, 3, 5, 6, 18, 21, 23] Hẩu hết các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đều cho thấy số trẻ nam mắc tiêu chảy cấp do vi rút Rota nhiều hơn trẻ nữ
Trang 251.2.5 Các yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ tiêu chảy cấp do vi rút Rota:
Các yếu tố nguy cơ của tiêu chảy cấp do vi rút Rota được xác định thông qua các nghiên cứu bệnh chứng Một nghiên cứu tổng hợp tài liệu đã xác định những yếu tố nguy cơ của tiêu chảy cấp do vi rút Rota cho thấy các yếu tố xã hội như giới tính là nam, điều kiện kinh tế, bà mẹ dưới 20 tuổi, mẹ hút thuốc không liên quan có
ý nghĩa thống kê với việc nhập viện Sống trong điều kiện tập thể hoặc tiếp xúc với người bị bệnh truyền nhiễm đường tiêu hóa là những yếu tố nguy cơ nhiễm vi rút Rota đối với trẻ dưới 16 tuổi ở Anh Ở châu Âu, trẻ dưới 5 tuổi đi mẫu giáo có tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp do vi rút Rota cao hơn [38]
Nghiên cứu ở nhiều nước đang phát triển cho thấy không bú mẹ là một yếu tố nguy cơ Một nghiên cứu ở 928 trẻ dưới 5 tuổi ở Bangladesh cho thấy không bú mẹ
là yếu tố nguy cơ của tử vong do tiêu chảy cấp vì vi rút Rota [60] Một số nghiên cứu ở các nước đang phát triển cũng cho kết quả tương tự Tuy nhiên, điều này không rõ lắm ở các nước phát triển như châu Âu Một nghiên cứu nhỏ ở Anh cho thấy bú bình (có hoặc không cùng bú mẹ) có liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ tiêu chảy cấp do vi rút Rota Những nghiên cứu trên cho thấy bú mẹ hoàn toàn là yếu tố bảo vệ chống lại vi rút Rota [38]
Ở Mỹ người ta đã tìm ra mối liên quan có ý nghĩa giữa viêm dạ dày ruột nhập viện do vi rút Rota và nhẹ cân khi sinh (OR= 2, 95% CI: 1.2 – 3,5) Một nghiên cứu được thực hiện ở khoa chăm sóc tăng cường sơ sinh ở Mỹ cho thấy trẻ sơ sinh dương tính với vi rút Rota đi ngoài phân lỏng nhiều hơn, phân nhầy mũi nhiều hơn trẻ sơ sinh âm tính với vi rút Rota Trẻ đẻ non cũng bị phân máu nhầy nhiều hơn (p= 0,001) chướng bụng hơn (p= 0,03) và giãn ruột hơn (p= 0,016) so với trẻ đủ tháng [34]
Một nghiên cứu bệnh chứng khác tại 3 bệnh viện ở Mỹ cũng cho kết quả các yếu tố nguy cơ của tiêu chảy cấp do vi rút Rota là bú mẹ ở trẻ dưới 6 tháng (OR= 5,1; 95% CI: 1,2 – 13,2), nhẹ cân khi sinh (<2500 g) (OR= 2,8; 95% CI: 1,6 – 5,0),trẻ đi nhà trẻ, đặc biệt là đối với trẻ bằng hoặc trên 24 tháng tuổi (OR= 3,0; 95% CI: 1,8 – 5,3) Một yếu tố khác liên quan đến trẻ dưới 2 tuổi nhập viện do vi rút Rota là
Trang 26sống cùng nhà với trẻ khác dưới 24 tháng tuổi Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mẹ dưới 25 tuổi (OR= 1,4; 95% CI: 1,0 - 2,0) và mẹ có trình độ học vấn thấp (OR= 1,5; 95% CI: 1,0 – 2,3) cũng làm tăng nguy cơ nhập viện do vi rút Rota[55]
Tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu bệnh chứng để xác định các yếu tố nguy cơ của tiêu chảy cấp do vi rút Rota Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Cúc chỉ ra rằng trẻ từ 6-24 tháng, được nuôi hỗn hợp, cai sữa mẹ trước 1 tuổi, tình trạng thiếu vệ sinh trong sinh hoạt là những yếu tố liên quan đến tiêu chảy cấp do vi rút Rota [5] Nghiên cứu của Lương Cao Đồng cho thấy các yếu tố nguy cơ là tiếp xúc với trẻ bệnh, trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ và yếu tố mùa đông xuân [6]
1.3 Đặc điểm lâm sàng và cơ chế bệnh sinh của vi rút Rota:
1.3.1 Cơ chế bệnh sinh của vi rút Rota:
Vi rút Rota nhân lên trong liên bào nhung mao ruột non phá hủy cấu trúc liên bào và làm cùn nhung mao ruột non Tế bào hấp thu trưởng thành của nhung mao tạm thời bị thay thế bởi những tế bào chưa trưởng thành không thể hấp thu hữu hiệu đường và thức ăn, gây bài tiết nước và chất điện giải ở ruột non, dẫn tới tiêu chảy thẩm thấu do kém hấp thu Sự hấp thu thức ăn trở nên bình thường lúc các nhung mao ruột tái sinh và các tế bào nhung mao trưởng thành
1.3.2 Đặc điểm lâm sàng của tiêu chảy cấp do vi rút Rota:
Vi rút Rota gây tiêu chảy cấp rất đặc trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các triệu chứng tiêu chảy phân nước, sốt và nôn Các triệu chứng thường xuất hiện sau giai đoạn ủ bệnh từ 2 đến 3 ngày và thường kéo dài 6 ngày Mức độ nghiêm trọng của bệnh có thể là từ không thể hiện triệu chứng đến tiêu chảy mất nước dẫn đến tử vong Nôn và mất nước là các đặc điểm điển hình quan sát thấy ở hầu hết các trường hợp tiêu chảy cấp do vi rút Rota cấp tính và ít thấy hơn tại các ca bệnh tiêu chảy cấp không phải do vi rút Rota
Trang 271.3.3 Các nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của tiêu chảy cấp do vi rút Rota:
Một nghiên cứu thuần tập giám sát trẻ từ khi sinh cho đến 2 tuổi tại Mexico cho thấy khoảng 50% các trường nhiễm vi rút Rota là không có triệu chứng [36] Các đợt lây nhiễm lần đầu thường nặng hơn các đợt lây nhiễm lần sau Trong số các trẻ có triệu chứng bệnh 62% có biểu hiện ở mức độ nhẹ, 35% mức độ trung bình, 3% mức độ nặng và 7% cần phải nhập viện Ở một nghiên cứu khác trên trẻ bị tiêu chảy cấp do vi rút Rota, các biểu hiện bệnh thường là nôn sốt (64%), có 14% số trẻ
bị mất nước và 18% phải nhập viện Bệnh thường khởi phát đột ngột với triệu chứng nôn và sốt sau đó tiêu chảy toé nước nhiều lần trong ngày, có thể kéo dài đến
10 ngày Trẻ thường không có máu trong phân nhưng khoảng 20% có nhày mũi So sánh giữa trẻ tiêu chảy do Rota và tiêu chảy do các tác nhân khác cho thấy, trẻ bị nhiễm vi rút Rota thường hay có triệu chứng tiêu chảy phân nước, buồn nôn, kém
ăn, đau bụng và bị mất nước Phần lớn trẻ (63%) có tất cả các triệu chứng sốt, nôn
và tiêu chảy Tuy nhiên, cũng có những trẻ chỉ có 2 hoặc thậm chí 1 trong các triệu chứng nói trên [58] (Biểu đồ 1.5)
Biểu đồ 1.5 Các triệu chứng thường gặp ở trẻ nhập viện do vi rút Rota
(Nguồn: Staat MA., 2002)
Các nghiên cứu cũng cho thấy những trẻ tiêu chảy cấp do vi rút Rota thường nôn nhiều hơn so với trẻ tiêu chảy do những nguyên nhân khác (96% và 58%)
Trang 28Tương tự như vậy, tỷ lệ mất nước ở trẻ tiêu chảy cấp do vi rút Rota cao gấp đôi so với các nguyên nhân khác (83% và 40%) Vi rút Rota tìm thấy trong phân không khác biệt theo giới và sắc tộc nhưng khác biệt theo tuổi và số triệu chứng xuất hiện
Vi rút Rota được đào thải qua phân được tìm thấy nhiều nhất ở những trẻ có cả 3 triệu chứng: tiêu chảy, nôn và sốt (56%), thấp hơn ở những trẻ có 2 triệu chứng: 38% ở trẻ có cả tiêu chảy và nôn, 19% ở trẻ có tiêu chảy và sốt, 13% ở trẻ có nôn và sốt; và thấp nhất ở những trẻ chỉ có 1 triệu chứng: 3% ở trẻ có tiêu chảy, 11% ở trẻ
có nôn và 6% ở trẻ có sốt Khoảng 9% trẻ không có triệu chứng tiêu chảy đào thải
vi rút Rota và những trẻ nhập viện không có triệu chứng tiêu chảy thường có khả năng nhiễm vi rút nếu trẻ mắc tiêu chảy trong quá trình nằm viện Nhìn chung những trẻ > 6 tháng tuổi thường lây nhiễm vi rút Rota cao (41%) hơn trẻ < 6 tháng (17%, P<0,001)[58]
Tại Việt Nam cũng đã tiến hành những nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của tiêu chảy cấp do vi rút Rota, chủ yếu là ở trẻ dưới 5 tuổi [1, 3, 5, 6, 12, 18, 19, 21] Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy triệu chứng lâm sàng đặc trưng của tiêu chảy cấp
do vi rút Rota là nôn nhiều và mất nước
Mặc dù lây nhiễm vi rút Rota ở cộng đồng chịu trách nhiệm chính về tỷ lệ mắc và tử vong ở trẻ em, nguy cơ lây nhiễm vi rút Rota tại các bệnh viện vẫn là một vấn đề và đó là một trong những nhiễm khuẩn bệnh viện chính ở trẻ em (31-87%)[37,58] Tại các bệnh viện, nguồn lây nhiễm là những trẻ đã mắc bệnh, và đường truyền có thể là đồ chơi hoặc vật dụng mà trẻ cầm nắm vào, cũng có thể là qua bàn tay của bà mẹ hoặc nhân viên y tế đã không rửa tay đúng cách Nhiễm khuẩn bệnh viện khiến trẻ phải nằm viện dài ngày hơn và gây tốn kém chi phí kinh
tế và xã hội hơn [33]
1.4 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu:
Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn là bệnh viện đa khoa hạng 1 của thành phố Hà Nội, hàng năm khám và điều trị cho khoảng 12000 lượt bệnh nhi Bệnh viện đã tham gia vào giai đoạn 1 của Mạng lưới giám sát Vi rút Rota châu Á Kết quả giám sát tại bệnh viện từ 7/1998 đến 6/2000 cho kết quả tỷ lệ nhiễm vi rút Rota ở trẻ dưới
Trang 295 tuổi bị tiêu chảy cấp nhập viện là 47% Theo số liệu của phòng Kế hoạch Tổng hợp của bệnh viện đa khoa Xanh Pôn từ 1/2010 đến 11/2012, số lượt trẻ đến khám
do tiêu chảy tăng mạnh vào thời kỳ đông xuân, thường chiếm khoảng 50% số lượt khám cả năm Tỷ lệ tiêu chảy cấp nhập viện trong các tháng đông xuân cũng cao nhất, phù hợp với mùa dịch tễ của tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở miền Bắc Bệnh
viện Xanh Pôn tham gia đề tài “Đánh giá hiệu quả của vắc xin phòng vi rút Rota đơn giá tại Hà Nội, Việt Nam” phối hợp cùng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương là
một cơ hội nhằm xác định lại tỷ lệ nhiễm vi rút Rota ở trẻ tiêu chảy cấp nhập viện
và đánh giá hiệu quả của việc phòng bệnh bằng vắc xin tại Hà Nội
Trang 30Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được phối hợp thực hiện với đề tài “Đánh giá hiệu quả của vắc xin Rota vi rút đơn giá tại Hà Nội, Việt Nam” của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
và sử dụng các đối tượng, địa bàn, thời gian tiến hành của đề tài (phụ lục 3)
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các ca bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 2 tuổi: Là các trẻ bệnh dưới 2 tuổi
tại thời điểm điều tra, nằm điều trị tại khoa Nhi- bệnh viện đa khoa Xanh Pôn với chẩn đoán là tiêu chảy cấp theo định nghĩa sau:
+ Đi ngoài phân lỏng từ 3 lần trở lên trong vòng 24 giờ, và
+ Khởi phát trong vòng 14 ngày trước khi nhập viện
- Các ca bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở trẻ em dưới 2 tuổi: Là các trẻ
bệnh dưới 2 tuổi tại thời điểm điều tra, nhập viện điều trị tại khoa Nhi- bệnh viện đa khoa Xanh Pôn với các tiêu chí sau:
+ Được chẩn đoán là tiêu chảy cấp, và
+ Được xác định có nhiễm vi rút Rota bằng xét nghiệm
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: từ tháng 11/2012 đến hết tháng 05/2013
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Nhi - Bệnh viện Xanh Pôn
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang (định lượng và định tính, sử dụng số liệu thứ cấp)
2.4 Phương pháp chọn mẫu:
- Chọn mẫu định lượng: Chọn mẫu toàn bộ trẻ em dưới 2 tuổi (tại thời điểm điều tra) thỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu bắt đầu từ tháng 11/2012 đến tháng 5/2013 Theo số liệu trong 3 năm 2010, 2011, 2012 số ca tiêu chảy cấp nhập viện trung bình hàng tháng từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau tại bệnh viện Xanh Pôn là 370-440 ca
- Chọn mẫu định tính: chọn 10 bà mẹ có con từ 2 tháng đến 12 tháng đang điều trị tiêu chảy cấp tại khoa Nhi tổng hợp bệnh viện đa khoa Xanh Pôn
Trang 31n: cỡ mẫu tối thiểu
Z: hệ số tin cậy = 1.96, độ tin cậy 95%
p = 0,5 (ước tính tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp do vi rút Rota do không có số liệu chính xác về tỷ lệ mắc của trẻ dưới 2 tuổi)
d= 0,06 (mức độ chính xác kỳ vọng)
Thay số vào công thức, ta tính được n = 267
Trong nghiên cứu này có 273 ca được chọn vào nghiên cứu (đạt 100%)
2.6 Phương pháp thu thập số liệu:
2.6.1 Các số liệu được sử dụng trong luận văn:
- Sử dụng số liệu thứ cấp của đề tài: phần thông tin về các ca bệnh tiêu chảy cấp nhập viện ở trẻ dưới 2 tuổi tại bệnh viện Xanh Pôn (kết quả xét nghiệm, phiếu phỏng vấn)
- Số liệu hồi cứu bệnh án
- Thông tin phỏng vấn sâu bà mẹ/người chăm sóc trẻ chính
2.6.2 Kỹ thuật thu thập số liệu:
- Hồi cứu bệnh án tại bệnh viện
- Phỏng vấn sâu tại bệnh viện
2.6.3 Công cụ thu thập số liệu:
- Phiếu hồi cứu bệnh án: một số thông tin lâm sàng được trích lục từ bệnh án của tất cả các bệnh nhân tiêu chảy trong đối tượng nghiên cứu(phụ lục 4)
Trang 32- Câu hỏi phỏng vấn sâu: phỏng vấn sâu bà mẹ/người chăm sóc trẻ chính về thực hành chăm sóc và xử trí trẻ bị tiêu chảy và tiêm chủng (phụ lục 5)
2.6.4 Quy trình thu thập số liệu:
- Nghiên cứu viên sử dụng bảng thông tin lập sẵn để trích lục thông tin lâm sàng
từ bệnh án của các ca bệnh đủ tiêu chuẩn nghiên cứu
- Phỏng vấn sâu tại bệnh viện một số bà mẹ/người chăm sóc trẻ chính
2.7 Biến số nghiên cứu: biến số nghiên cứu chi tiết trình bày trong phụ lục 2
Các nhóm biến số chính:
- Thông tin về trẻ: gồm 12 biến số về tuổi, giới tính, tình trạng lúc sinh, tình trạng dinh dưỡng khi nhập viện, chế độ nuôi dưỡng, hoàn cảnh gia đình, tình trạng tiêm chủng trong lần nhập viện này
- Thông tin về bà mẹ: tuổi và trình độ học vấn (2 biến)
- Thông tin lâm sàng: gồm 12 biến về dấu hiệu khởi phát, các thông tin về các triệu chứng lâm sàng, tình trạng mắc bệnh, tình trạng nhiễm vi rút Rota, thông tin về điều trị
- Thông tin định tính: lý do cụ thể vì sao bà mẹ chưa cho trẻ uống vắc xin, nguồn thông tin về vắc xin, kiến nghị về vắc xin phòng chống tiêu chảy
2.8 Khái niệm, tiêu chuẩn:
- Định nghĩa ca bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota: là những ca bệnh tiêu chảy cấp
và được khẳng định có nhiễm vi rút Rota bằng xét nghiệm [17]
Trang 332.8.2 Tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn phân loại sốt: theo “Tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em” của
Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 4121/QĐ-BYT ngày 28 tháng 10 năm 2009[20]
- Tiêu chuẩn phân loại mất nước: theo “Tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em” của Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 4121/QĐ-BYT ngày 28 tháng 10 năm 2009 [20]
- Tiêu chuẩn đánh giá mức độ nặng của ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota theo thang điểm Vesikari [41](phụ lục 7)
- Tiêu chuẩn đánh giá lây nhiễm vi rút Rota trong bệnh viện bao gồm:[29, 34, 48] + Lý do nhập viện không phải là do tiêu chảy
+ Khởi phát các triệu chứng tiêu chảy cấp sau 48h nhập viện
+ Có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút Rota
2.8.3 Phương pháp xét nghiệm: Mẫu phân đã được xét nghiệm tại Viện Vệ sinh
Dịch tễ Trung ương bằng phương pháp ELISA, sử dụng bộ sinh phẩm chẩn đoán gắn enzyme Rotaclone Kit (hãng sản xuất Meridian Diagnostic, USA), là phương pháp được dùng để phát hiện kháng nguyên của vi rút Rota nhóm A với độ nhậy 100% và độ đặc hiệu 100%
2.9 Phương pháp phân tích số liệu:
- Phiếu điều tra ca bệnh, phiếu hồi cứu bệnh án và mẫu bệnh phẩm của từng đối tượng nghiên cứu được sử dụng chung 1 mã số duy nhất
- Phiếu điều tra được nhập bằng phần mềm EpiData và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
- Xử lý thông tin trên bộ câu hỏi, lập các bảng tần số và tỷ lệ để mô tả và so sánh
tỷ lệ mắc vi rút Rota Sử dụng các test thống kê phù hợp để so sánh sự khác biệt
về tỷ lệ (Khi bình phương, T-test)
Trang 342.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
- Đề tài “Đánh giá hiệu quả của vắc xin Rota vi rút đơn giá tại Hà Nội, Việt
Nam” đã được Hội đồng đạo đức Viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương thông qua
Học viên tham gia đề tài và được chủ nhiệm đề tài đồng ý cho sử dụng một phần
thông tin của đề tài để thực hiện luận văn này
- Vai trò của học viên trong đề tài:
+ Thu thập mẫu bệnh phẩm và phiếu phỏng vấn từ bệnh viện Xanh Pôn đưa về
Viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương
+ Làm sạch phiếu phỏng vấn và nhập số liệu
+ Học viên đã sử dụng số liệu để tự phân tích trong luận văn của mình
- Nghiên cứu được tiến hành sau khi Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng đồng ý bằng văn bản
- Bộ câu hỏi không có vấn đề nhạy cảm, riêng tư nên không ảnh hưởng đến tâm lý
và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu Trước khi điều tra đối tượng nghiên cứu
được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu và có sự chấp thuận tham gia, trường
hợp không thích hợp đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối không tham
- Các số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, kết quả nghiên cứu
được thông báo đến bệnh viện và khuyến nghị một số đề xuất phòng chống tiêu chảy
cấp do vi rút Rota nhằm làm tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe trẻ em
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
2.11.1 Hạn chế của nghiên cứu:
- Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian ngắn nên không mô tả được đầy đủ
đặc điểm dịch tễ học theo mùa
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đối tượng nghiên cứu của đề tài nên bị hạn
chế trong phạm vi thu thập số liệu
- Nghiên cứu chỉ dừng lại ở mô tả cắt ngang nên không xác định được các yếu tố
nguy cơ làm tăng tỷ lệ tiêu chảy cấp do vi rút Rota
Trang 352.11.2 Sai số và biện pháp khắc phục:
Có thể có sai số:
- Sai số do chọn mẫu
- Sai số do thu thập số liệu
- Thông tin thu thập bằng bộ câu hỏi có thể gặp sai số nhớ lại
Biện pháp khắc phục:
- Tập huấn cho cán bộ tham gia nghiên cứu về câu hỏi điều tra và tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều giải thích về mục đích, yêu cầu về nội dung nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu nếu có những vấn đề khó khăn thắc mắc được giải thích cụ thể rõ ràng
- Cán bộ tham gia nghiên cứu là những người có kinh nghiệm, nhiệt tình và có chuyên môn về nhi, trong thời gian nghiên cứu không thay đổi cán bộ tham gia nghiên cứu
- Tất cả những phương tiện nghiên cứu được bảo quản và sử dụng trong suốt thời gian nghiên cứu
Trang 36Chương 3: KẾT QUẢ
3.1 Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota
Từ tháng 11/2012 đến hết tháng 5/2013, tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn có
tổng cộng 273 ca tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 2 tuổi nhập viện được đưa vào nghiên
cứu Trong số đó có 97 ca có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút Rota (chiếm
35,5%) và 176 ca có kết quả xét nghiệm âm tính với tác nhân này (chiếm 64,5%)
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhiễm vi rút Rota trong số các ca TCC điều trị tại bệnh viện
Tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp do vi rút Rota trong các ca tiêu chảy cấp nhập viện ở
trẻ dưới 2 tuổi tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội từ tháng 11/2012 đến hết
tháng 5/2013 là 35,5%
3.1.1 Tỷ lệ nhiễm vi rút Rota trong số các ca bệnh tiêu chảy cấp điều trị tại bệnh
viện theo giới, tuổi
Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm vi rút Rota trong số các ca bệnh TCC nằm điều trị
tại bệnh viện theo giới tính
n= 97 (35.5%) n= 176
(64.5%)
TCC do vi rút Rota TTC không do vi rút Rota
Trang 37Kết quả bảng 3.1 cho thấy tiêu chảy cấp do vi rút Rota ở trẻ dưới 2 tuổi nằm điều trị tại bệnh viện Xanh Pôn từ tháng 11/2012 đến hết tháng 5/2013 xảy ra ở cả 2 giới tính Tuy nhiên, tỷ lệ TCC do vi rút Rota trong số các ca bệnh tiêu chảy nằm điều trị tại bệnh viện của trẻ nam (33,0%) thấp hơn tỷ lệ mắc của nữ (40,4%)
Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm vi rút Rota trong số các ca bệnh tiêu chảy cấp điều trị tại
bệnh viện theo nhóm tuổi
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nhiễm vi rút Rota trong số các ca TCC điều trị tại bệnh viện
Tháng 1/2013
Tháng 2/2013
Tháng 3/2013
Tháng 4/2013
Tháng 5/2013
Số ca TTC Số ca TTC do vi rút Rota Tỷ lệ mắc TCC do vi rút Rota
Trang 38tháng 1/2013 với 57,9%, sau đó giảm dần trong tháng 2/2013 và tháng 3/2013 (27,8% và 16,7%) Trong tháng 3 năm 2013 có số ca mắc tiêu chảy cấp nhập viện cao thứ nhì so với các tháng đông xuân nhưng tỷ lệ TCC do vi rút Rota thấp nhất, chỉ có 16,7% Đến tháng 4 và tháng 5 năm 2013, tỷ lệ mắc lại có xu hướng tăng dần với 20,6% và 25,7%
3.1.2 Phân bố ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota trong số các ca bệnh tiêu chảy cấp điều trị tại bệnh viện
Biểu đồ 3.3 Phân bố các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota theo giới tính
Trong 97 ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota, tỷ lệ phân bố ca bệnh gặp ở trẻ nam
là 59 ca (60,8%) cao hơn trẻ nữ với 38 ca (39,2%)
Biểu đồ 3.4 Phân bố tiêu chảy cấp do vi rút Rota theo nhóm tuổi
n= 59 (60,8%)
Trang 39Biểu đồ 3.4 cho thấy trong số 97 ca tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 2 tuổi do vi rút Rota điều trị tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội từ tháng 11/2012 đến hết tháng 5/2013, số ca mắc thấp nhất ở nhóm dưới 6 tháng tuổi (15 ca, chiếm tỷ lệ 15,5%), số ca bệnh ở nhóm tuổi từ 6 đến 12 tháng và nhóm từ 12 đến 24 tháng bằng nhau (41 ca, chiếm tỷ lệ 42,25%)
Bảng 3.3 Phân bố tiêu chảy cấp do vi rút Rota theo các quận/huyện
Trang 40Biểu đồ 3.5 Phân bố các ca tiêu chảy cấp do vi rút Rota theo khu vực
trẻ sinh sống (nội thành/ngoại thành)
Trong số các trẻ TCC do vi rút Rota có 66 trường hợp (chiếm 68%) sống ở
các quận nội thành của Hà Nôi và 31 trường hợp (32%) sống ở ngoại thành Hà Nội
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ trẻ được uống vắc xin phòng vi rút Rota
Trong số 97 trẻ TCC do vi rút Rota, có 6 trẻ đã được uống vắc xin (chiếm
6,2%) và 91 trẻ chưa được uống vắc xin chiếm 93,8%
66 68%
31 32%
Nội thành Ngoại thành
n=6 (6,2%)
n=91 (93,8%)
n=97 n=176
Số trẻ TTC do vi rút Rota
Số trẻ TTC không do vi rút Rota
Số trẻ đã được uống vắc xin
Số trẻ chưa được uống vắc xin