1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Người lái đò sông đà

20 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Người Lái Đò Sông Đà
Tác giả Nguyễn Tuân
Thể loại Tùy Bút
Năm xuất bản 1960
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 69,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và ông chỉ hướng mình về quá khứ, đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại, cái mà ông ưu ái gọi là “Vang bóng một thời.”  Sau Cách mạng tháng Tám : phong cách Nguyễn Tuân có những

Trang 1

- Nguyễn Tuân -

I KHÁI QUÁT TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

1 TÁC GIẢ:

- Nguyễn Tuân là nhà văn có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo

và sâu sắc:

Trước Cách mạng tháng Tám: phong cách nghệ thuật Nguyễn

Tuân có thể thâu tóm trong một chữ "ngông", mỗi trang viết của ông đều muốn chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác; mọi sự vật được tác

giả miêu tả quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật Và

ông chỉ hướng mình về quá khứ, đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại, cái mà ông ưu ái gọi là “Vang bóng một thời.”

Sau Cách mạng tháng Tám : phong cách Nguyễn Tuân có những

thay đổi quan trọng: Mặc dù ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ nhưng giờ đây ông

còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở cả nhân dân đại chúng

Còn giọng khinh bạc thì chủ yếu chỉ là để ném vào kẻ thù của dân tộc hay những mặt tiêu cực của xã hội Ông đã tìm thấy mối quan hệ giữa quá khứ - hiện tại và tương lai Đồng thời, giọng văn trong người

nghệ sỹ ấy cũng trở nên đôn hậu, tin yêu đến lạ thường.

- Ông quan niệm: “Đời là một trường du hí” - sống là để trải nghiệm,

để chơi, để khám phá và sáng tạo nghệ thuật mang một nét độc đáo,

đậm chất riêng cho chính mình Là một người theo "chủ nghĩa xê dịch",

Nguyễn Tuân đã bộc lộ và thể hiện những tính cách phi thường, những tình cảm, cảm xúc mãnh liệt của những phong cảnh tuyệt mĩ, của thiên

nhiên, đất nước và con người qua ngòi bút nội lực của một “bậc thầy

sáng tạo ngôn ngữ Tiếng Việt”.

- Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng nghề nghiệp của mình

Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí

"khổ hạnh" - và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỷ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy Thậm chí ông còn tự nhận mình

là người "sinh ra để thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa" - Nguyễn

Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết Ông có nhiều phải đôi mắt của người nghệ sỹ nào cũng cảm nhận và đưa vào trang viết của phát hiện hết sức độc đáo về núi sông, cây cỏ trên đất nước mình mà chẳng mình một cách tinh tế như ông

Trang 2

- Nguyễn Tuân là một người rất mực tài hoa Không những viết văn mà

ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác như: hội họa, điêu khắc, sân

khấu, con mắt của điện ảnh Ông còn là một diễn viên kịch nói và là một trong những diễn viên điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam Nguyễn Tuân

thường vận dụng nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương

- Nguyễn Tuân là “hiện thân về định nghĩa người nghệ sỹ” (Nguyễn Đăng Mạnh) Đối với ông, văn chương trước hết phải là văn chương,

nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật, và đã là nghệ thuật thì phải

có phong cách độc đáo Nhưng Nguyễn Tuân, xét từ bản chất, không

phải là người theo chủ nghĩa hình thức Tài phải đi đôi với tâm Ấy là

"thiên lương" trong sạch, là lòng yêu nước thiết tha, là nhân cách cứng cỏi trước uy quyền phi nghĩa và đồng tiền phàm tục

- Ông còn được mệnh danh là “cây bút duy mỹ” bởi ông luôn khám

phá, tìm tòi và mở ra những cái đẹp bất cứ nơi nào trên khắp mọi miền tổ quốc

2 TÁC PHẨM

Hoàn cảnh ra đời:

- Người lái đò sông Đà là bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960)

- Tác phẩm là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc - vừa thỏa mãn thú

phiêu lãng vừa để tìm kiếm vẻ đẹp thiên nhiên và “chất vàng mười đã qua thử lửa” trong tâm hồn của những con người lao động và chiến đấu

trên miền sông núi hùng vĩ và thơ mộng đó

- Bố cục (3 phần):

Phần 1 (từ đầu đến “cái gậy đánh phèn”): Vẻ đẹp hung bạo, dữ dội

của con sông Đà

Phần 2 (tiếp đó đến “dòng nước sông Đà”): Cuộc sống của con

người trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà

Phần 3 (còn lại): Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà

 Tùy bút “Người lái đò sông Đà” là một bài ca được viết nên từ tình yêu quê hương, đất nước da diết, say đắm nói chung và ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở mảnh đất Tây Bắc nói riêng

Tác phẩm là sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn; ngôn ngữ hiện đại kết hợp với ngôn ngữ cổ xưa Không

những thế; trong tác phẩm còn sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo: liên tưởng, tưởng tượng thú vị; so sánh nhân hóa mới lạ -Một số nhận định hay về Nguyễn Tuân và “ Người lái đò sông Đà”:

II PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

Trang 3

1) Lời đề từ

* Tác phẩm có 2 lời đề từ, lời đề từ thứ nhất có thể dùng cho phần khái quát hoặc dẫn dắt vào những đé bài liên quan hình tượng người lái đò sông Đà; còn lời đề từ thứ hai của Nguyễn Quang Bích dùng cho các đề liên quan tới hình tượng con sông Đà

- Lời đề từ thứ nhất: “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sóng”

Câu thơ trên của nhà thơ, nhà cách mạng Ba Lan đã thể hiện

cảm xúc dáng trào mãnh liệt của tác giả trước vẻ đẹp của tiếng hát trên dòng sông

 Tiếng hát trên dòng sông ở đây gợi ra nhiều liên tưởng thú vị cho người đọc

Đó có thế là tiếng hát của người lao động vùng núi Tây Bắc

khí họ đang làm việc

 Hoặc phải chăng là tiếng róc rách của dòng chảy đang hòa vào những thanh âm sôi nổi ở đôi bờ của con người và chim muông, tạo nên một lời ca tuyệt diệu

Cũng có thể là tiếng hát say mê của đời của nhà văn khí

ngắm nhìn thiên nhiên Tây Bắc

 Dù hiểu theo cách nào thi lời đề từ trên cũng đã bộc lộ được

cảm hứng chủ đạo của tác phẩm đó là tình yêu thiết tha của nhà văn với thiên nhiên và con người Tây Bắc; mà ở đó hình tượng con người là trung tâm của bức tranh thiên nhiên rộng

lớn, khoáng đạt, hoang sơ, kì vĩ

-Lời đề từ thứ hai: “Chúng thủy giai Đóng táu – Đà Giang độc Bắc lưu” (Mọi dòng sông đều chảy về phía Đông, chỉ có sông đã là chảy theo

hướng Bắc) (Nguyễn Quang Bích)

Với việc sử dụng những câu thơ chữ Hán, tác giả đã tăng thêm tính trang trọng đồng thời nhấn mạnh đến sự đặc biệt, khác

thường của con sông Đà

 Mọi con sông đều chảy về Đông như quy luật của tự nhiên, duy chỉ

có con sông Đà chảy về phương Bắc như thế tự nó tạo nên một cuộc hành trình của riêng mình, không đi vào lối mòn của số đông cũng không chấp nhận sự sắp đặt từ tạo hóa

Từ “độc” được sử dụng vô cùng hiệu quả để thể hiện sự độc nhất,

cá tính khác biệt của con sông

Lời đề từ thể hiện được nét đẹp hoang sơ nhưng không kém phần độc đáo của sông Đà, đồng thời thể hiện sự mạnh mẽ của con

sông khi chảy qua một vùng núi non hiểm trở như Tây Bắc chênh vênh đỉnh cao, núi đèo

 Mặc dù lời thơ tuy không phải của Nguyễn Tuân nhưng lại được ông sử dụng rất đắt giá trong vị trí lời đề từ của bài tùy bút Câu thơ ấy không chỉ

bộc lộ được vẻ đẹp độc đáo, dữ dội của sông Đà mà còn vô cùng phù hợp với phong cách “ngông” của Nguyễn Tuân, một con người luôn tìm tòi

Trang 4

cái mới, sáng tạo ra những gì chưa có bằng tài năng uyên bác, cá tính hơn người của mình

 Con sông Đà hung dữ là nguồn cảm hứng mãnh liệt thôi thúc nhà văn Nguyễn Tuân khám phá, tìm tòi trong giai đoạn xây dựng kinh tế mới ở miền bắc Sông Đà rộng lớn, hoang sơ ẩn chứa nhiều bí ẩn là mảnh đất màu mỡ để Nguyễn Tuân bộc lộ sự tài hoa của mình; bởi

chính ông cũng là một “Đà giang độc bắc lưu” trên dòng chảy văn học Việt.

2 Hình tượng dòng sông Đà:

“ Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một con Sông Đà không phải là thiên nhiên vô trí, vô giác, mà là một sinh thể có hoạt động, có tính cách, cá tính, có tâm trạng hẳn hoi và khá phức tạp Nó có hai nét tính cách cơ bản đối lập nhau như tác giả nói - “hung bạo và trữ tình ”

(Nguyễn Đăng Mạnh)

a Dòng sông hung bạo, dữ dội:

Vách đá thành bờ sông:

- Tác giả đã sử dụng nhiều trường liên tưởng độc đáo cùng hệ thống từ

ngữ phong phú để khắc họa vẻ dữ dội, hiểm trở của con sông ở khúc

này

“mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”: gợi ra được độ cao và diễn tả một cách tinh tế sự lạnh lẽo, âm u của khúc sông

chốn đây

 “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu”: lối so sánh

độc đáo nhà văn đã diễn tả sự nhỏ bé, eo hẹp của dòng chảy 

gợi ra lưu tốc rất lớn; nhất là vào mùa nước lũ với bao nhiêu nguy hiểm rình rập khiến ai đi qua chốn đây cũng chẳng tránh khỏi sự khiếp sợ, hoảng hốt

 Những so sánh và liên tưởng khá độc đáo khiến con sông Đà hiện ngay ra trước mắt người đọc như thành quách sừng sững, đứng án ngữ ngay trước mặt những du khách khi đặt chân đến đây; tạo nên những

áp lực tinh thần vô hình khi lần đầu ta chứng kiến khung cảnh ấy

Nó khiến ta tưởng tượng răng nếu con thuyền nào mà kẹt vào cái khe

ấy thì tiến không được, lùi cũng không xong - chỉ chờ sóng nước và đá đập cho tan xác

- Với trường liên tưởng độc đáo, Nguyễn Tuân đã tiếp tục khắc họa đậm nét hơn nữa về những vách đá lạnh lẽo, tăm tối, ở khúc sông

nhỏ và hẹp: "ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”:

Trang 5

 Một ý văn dài nhưng chẳng hề khiến người đọc hoang mang, rối bời trong sự trúc trắc của ngôn từ mà khiến ta buộc phải hình dung, tưởng tượng tình thế mà tác giả đang khắc họa

 Tác giả đã sử dụng một loạt các cảm giác quen thuộc giúp người đọc có được những trải nghiệm chân thực và như đắm minh trong quang cảnh ấy

 “Cây bút duy mỹ” ấy như một người họa sỹ khắc họa ngày một rõ nét sự hiểm trở, âm u của chốn vách đá thành bờ sông trên con sông Đà dữ dội

Lối so sánh vừa chính xác, tinh tế, lại vừa bất ngờ và lạ lùng

Nó khiến người đọc có cảm giác như Nguyễn Tuân luôn “lục lọi” đến tận cùng những ngôn từ để diễn tả sự hiểm nguy đến kinh

người ở chốn sông núi hung bạo

Quãng mặt ghềnh Hát Loóng:

- Nhà văn tiếp tục chứng minh sự thu hút đầy mãnh liệt trong ngòi bút miêu tả đặc sắc của mình, khi khắc họa hình ảnh dòng sông nơi quãng mặt ghềnh Hát Loóng:

 “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”:

 với việc sử dụng một loạt ý văn ngắn trong cùng một câu tác giả

đã mở ra trước mắt người đọc trận địa của thiên nhiên hiểm nguy một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đò <đòi nợ một cách vô lý càng cho thấy tính cách ngông cuồng, “không coi ai ra gì” của dòng sông>

 câu văn ngắn, nhịp văn dồn dập khiến những khó khăn trởi ngại của thiên nhiên như trùng điệp, nối tiếp; chỉ trực chờ gây trở ngại cho con người

- Nguyễn Tuân chẳng xem sông Đà như một thứ vô trị, vô giác của tự

nhiên nữa mà ông đã nhân hóa dòng sông như một sinh thể có hồn Đó

là kẻ đi đòi nợ thuê với gương mặt dữ dằn, tàn bạo và đầy sát khí

 Câu văn với nhịp điệu dồn dập, điệp từ, điệp cấu trúc được vận dụng linh hoạt (“nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió") kết hợp với các thanh trắc liên tiếp đã tạo nên âm hưởng dữ dội, nhịp điệu khẩn trương, dồn dập như vừa xô đẩy, vừa hợp sức của sóng, gió và đá khiến cho cả ghềnh sông như sôi lên, cuộn chảy dữ dằn, tạo nên một mối đe dọa thực sự đối với bất

kì người lái đò nào (“quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”.)

 Mặc dù không có từ nào trực tiếp tả ghềnh đá nhưng với sự tài hoa trong việc sử dụng ngôn từ và các biện pháp nghệ thuật tinh tế; người đọc

đã hình dung rõ diện mạo con sông Quãng dài ghềnh đá nổi trên mặt sông, nước mạnh xô ghềnh tạo sóng dữ, sóng cuộn trào sinh ra gió thổi rít lên gùn ghè, gùn ghè quanh năm suốt tháng Con sông đến đây đã trở thành một kẻ thù nguy hiểm của con người

Ở Tà Mường Vát:

Trang 6

- Sự hung bạo còn được thể hiện ở những cái hút nước tàn độc, được

giăng mắc trên khắp khúc sông, như trực lấy mạng của con người bất cứ lúc nào “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở

và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”

- Để tô đậm thêm sự nguy hiểm của cái hút nước, nhà văn đã phối hợp giữa “tả” và “kể” Ở đây, yếu tố tự sự góp phần quan trọng kích thích trí tưởng tượng của người đọc

- Không những thế, để tái hiện sự khủng khiếp của những cái hút nước, Nguyễn Tuân đã như một người nghệ sỹ quay phim, chụp ảnh điêu luyện

Ông lia máy quay ở nhiều chiều kích khác nhau, cho người đọc một cái nhìn toàn diện, đầy đủ nhất – để kể cả những người chưa bao giờ có

dịp ghé thăm nơi đây cũng có thể nhắm mắt lại và tưởng tượng ở các

“góc độ” khác nhau, sông Đà gây ấn tượng với diện mạo như thế nào :

 Khi nhìn từ trên xuống thì mặt nước sông “giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”

 Từ dưới lòng sông nhìn ngược lên: “thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan u vào ”

 Kết hợp so sánh với các động từ mạnh, Nguyễn Tuân đã thực sự thanh công trong việc hoàn thiện bức họa về con sông ở quãng này; đồng thời gây sự tò mò và cả cảm giác rụt rè cho người đọc khi nghĩ đến khung cảnh nơi đây

Bên cạnh ấy, để giúp người đọc cảm nhận được rõ hơn, tác giả còn đưa ra những vị thế cảm nhận khác nhau:

Với người quay phim thì như “ngồi vào một cái thuyền thúng tròn

vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà ”  đem đến những trải nghiệm đầy táo bạo và mạo hiểm

Với người xem phim lại như “thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt

ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn ”  người đọc như đang rơi vào tình thế hiểm nguy và cảm nhận sự sống mong manh

- Phải nói rằng với những trải nghiệm và góc nhìn phong phú, Nguyễn

Tuân đã cho người đọc cảm nhận đầy đủ mức độ nguy hiểm tột cùng

của dòng sông Đà mà ở đây là những cái hút nước

- Tác giả đã vận dụng kiến thức điện ảnh một cách tài tình để gia tăng

thêm sự thu hút, thuyết phục cho đoạn văn khiến đoạn trích không chỉ đem tới hình dung về một bức họa, mà còn thực sự là một thước phim đầy sống động

→ Chính sự tài hoa trong lối sử dụng ngôn từ, trường liên tưởng, so sánh

ấy của Nguyễn Tuân đã khiến độc giả như được đắm chìm như được

chứng kiến tận mắt cũng nghe cận kề bên tai sự dữ dội, hiểm nguy của con sông nơi chốn Tây Bắc hoang vu, hẻo lánh

Trang 7

Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:

- Nhưng sự nguy hiểm của Sông Đà không dừng lại ở những hung bạo ở

các quãng ấy Nó còn “thu phục” được những trợ thủ đắc lực như những hòn đá sẵn sàng bày binh bố trận, gây áp lực cho người nào đi qua

ngay từ khi ở xa

- Nguyễn Tuân đã chỉ điểm ra vài giọng điệu của con thác nghe như

"oán trách", "van xin", rồi thì "khiêu khích" và "giọng gằn mà chế nhạo"

 oán trách: giọng đay nghiến, ỉ ôi

 van xin: giọng nài nỉ, tha thiết

 khiêu khích: giọng đầy thách thức

 giọng gần mà chế nhạo: ghìm giọng xuống như chê bai, giễu cợt

 Với thủ pháp nhân hóa, con thác giờ đây chẳng còn là một vật thể giữa

chốn thiên nhiên bao la, rộng lớn nữa - mà nó đã trở thành một sinh thể

có hồn, có cảm xúc, chất chứa bao nỗi niềm hỉ nộ ái ố như con

người ta vẫn hay giận hờn, oán trách, nài nỉ hay van xin

Liên hệ:

Những âm thanh đáng sợ, hỗn độn ấy của thiên nhiên khiến ta chợt nhớ đến những vần thơ của người nghệ sỹ Xứ Đoài mây trắng Quang Dũng :

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét"

Câu thơ ấy cũng khắc họa thật rõ nét những thanh âm bí ẩn của thiên nhiên Tây Bắc hoang vu vang lên mỗi buổi chiều như một thói quen của tạo hóa, khiến cho con người phải khiếp sợ

Hay trong bài thơ “Nhớ sông quê”, nhà thơ Hoàng Minh Tuấn cũng đã viết:

“Cũng có khi sông hờn, sông rỗi,

Lũ đầu nguồn chảy mãi về xuôi, Nước sông cứ thế dâng hoài,

Để cho làng xóm mọi người đều lo!”

 Hóa ra, trong góc nhìn đầy thấu hiểu và cảm xúc của những người nghệ sĩ, dòng chảy nào cũng có câu chuyện riêng, tính cách và cảm xúc riêng như thế

- Nhưng cái âm thanh đáng sợ kia của thác nước chưa được Nguyễn Tuân dừng lại trong việc miêu tả Ông bất ngờ phóng âm thanh to lên hết cỡ:

"nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa", "rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng"

 Âm thanh của thác nước sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả không khác gì âm thanh của một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử Lấy lửa để tả nước, lấy rừng để tả sông quả là một điều gì đó rất

“ngông” , rất Nguyễn Tuân

Trang 8

- Nguyễn Tuân đã dùng sức mạnh điêu khắc của ngôn từ để thổi hồn

vào từng thớ đá: "Cả một chân trời đá" mặt hòn nào trông cũng ngỗ

ngược", "nhăn nhúm", "méo mó"

 Nhờ vào thủ pháp nhân hóa, người đọc nhận ra từng sắc diện người trong những hình thù đá vô tri

 Sử dụng đa dạng những từ láy khắc họa diện mạo không mấy thiện cảm của con người như “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm”, “méo mó” khiến những hòn đá vốn chẳng có cảm xúc gì bỗng trở nên dữ tợn, ngang tàn giữa thiên nhiên hoang sơ

Ba vòng trùng vây thạch trận

Nguyễn Tuân đã khắc họa hình ảnh người lái đò trong mối tương quan với dòng sông Đà, đặc biệt trong trận thủy chiến ở ba vòng trùng vi thạch trận

Ở trùng vây thạch trận thứ nhất:

- Cây bút duy mỹ” Nguyễn Tuân đã khiến người đọc ấn tượng với những câu văn tả đá vô cùng sinh động Chúng vốn là những vật vô tri vô giác

nay đã được nhân hóa như một đội quân, một đoàn binh hùng hậu,

dữ tợn như kẻ thù số một của con người: “đá tiền vệ có hai hòn canh cửa đá trông như là sơ hở, nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ cái

thuyền đi vào sâu hơn nữa, vào tận tuyến giữa rồi nước luồng mới đánh khuýp quật vu hồi lại” đã bày ra thạch trận với “năm cửa, có bốn cửa tử

và một cửa sinh”

- Không những thế, nhà văn còn sử dụng một loạt động từ trùng điệp, nối tiếp nhau để tô đậm sức mạnh của đội quân đá nào là: “mai phục”,

“nhổm cả dậy”, rồi “đứng nằm tùy theo sở thích”; chúng “ăn chết”,

‘canh cửa” và “hất hàm ”

- Hòn đá mà trước đó ta đã kịp hình dung với sự nhăn nhúm, méo mó, ngang ngược; nay tiếp tục tạo thêm sự uy hiếp con người bằng các động tác đầy hung tợn của một kẻ ở tư thế sẵn sàng tấn công

- Không chỉ mỗi đá mà nước cũng “phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá”, tạo nên âm thanh dữ dội tăng thêm không khí chiến đấu ác liệt Sóng nước biết tung ra các đòn đánh nguy hiểm như đanh giáp lá cà, đánh khuýp quật vô hồi, đá trái, thúc gối Tất cả đều

để đanh đòn tâm lý vào tinh thần của đối thủ

 Với những động từ, tính từ giàu sức gợi ở trên, bậc thầy trong việc sử dụng và sáng tạo tiếng Việt – Nguyễn Tuân đã làm nổi bật sự hung bạo, ghê tợn của đá sông - tạo thành thế trận không cân sức với ông lái đò chỉ có một mình đơn phương độc mã; từ đó gieo vào lòng người đọc bao phấp phỏng, hồi hộp

Phải nói rằng nhà văn Nguyễn Tuân đã vận dụng sự uyên bác tài hoa của mình cùng kho tàng ngôn từ phong phú, đa dạng kết hợp với kiến

Trang 9

thức trong nhiều lĩnh vực như: quân sự, thể thao, điện ảnh để miêu tả

sự hung bạo và dữ tợn của đá nước sông Đà

- Đây đồng thời còn là nghệ thuật mà ta từng bắt gặp trong văn học cổ:

“vẽ mây đẩy trăng” – miêu tả sự hung bạo, mãnh liệt của con sông để gián tiếp ca ngợi trí dũng song toàn của ông lái đò Bởi đối thủ căng mạnh, người anh hùng của chúng ta càng có cơ hội để khẳng định khả năng của bản thân Qua trùng vi thạch trận thứ nhất, tác giả đã ca ngợi ông lái đò có sức chịu đựng phi thường “ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt cuống lái” chiến thắng trùng vi thạch trận đầu tiên đầy hiểm nguy

- Trái ngược với một con sông ồn ã, vồn vã với những đòn tấn công liên tiếp; ông đò lúc nào cũng bình tĩnh, kiệm lời, điềm đạm và cósức mạnh hơn người

Trùng vây thạch trận thứ hai:

- Ở vòng này đã tăng thêm nhiều cửa tử như tăng thêm độ khó, sự thử thách cho người chèo đò: “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế

mạnh”, “bốn năm thủy quân không ngớt khiêu khích” Tác giả tiếp tục

sử dụng những động từ mạnh kết hợp với phép tu từ so sánh nhân hóa rất độc đáo - biến sóng nước thành hùm thiêng, một con quỷ dữ tàn bạo nhằm tăng thêm sức mạnh đến đỉnh điểm của Đà giang để tôn lên sứcmạnh kiên cường của ông lái đò

Trùng vây thứ 3:

Ở trùng vi này mặc dù độ nguy hiểm và khó khăn để người lái đò vượt qua tăng lên gấp nhiều lần: “Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác” – nhưng dòng sông vẫn không thắng nổi ông lái đò dũng cảm, mưu trí  Cuối cùng sông Đà – kẻ thù số 1 của nhân dân lao động chốn đây vẫn phải nhận lấy cái kết đắng trong trận chiến thiên nhiên – con người

 Phải nói rằng mặc dù con Sông Đà như một loài thủy quái hung

hăng, bạo ngược, một thứ thiên nhiên Tây Bắc với “diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một” nhưng cũng mang một màu sắc riêng biệt không thể nhầm lẫn với bất kì con sông nào khác Đó là lý do mà nó lọt vào tầm mắt và được “cây bút duy mỹ” như Nguyễn Tuân “thu” vào trang viết của mình một cách đặc sắc

Hình tượng con sông Đà hung bạo, dữ dội dường như cũng là một "điểm tựa” để ngòi bút Nguyễn Tuân tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trên sông nước hùng vĩ

b)Sông Đà thơ mộng , trữ tình:

Để có một cách nhìn khái quát và chân thực đến từng chi tiết trên Đà giang, Nguyễn Tuân đã quan sát sông Đà ở nhiều góc độ:

Trang 10

Từ trên cao nhìn xuống:

- Ở điểm nhìn từ trên cao ấy tác giả đã hình dung con sông Đà giống như

một người con gái kiều diễm với áng tóc trữ tình đằm thắm: “con

sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đất nương xuân.”

- Điệp ngữ “tuôn dài, tuôn dài” :

 Mở ra trước mắt của người đọc độ dài vô tận của dòng sông

 Mái tóc của Đà giang như nối dài, trùng điệp mãi giữa bạt ngàn màu xanh lặng lẽ của núi rừng

- Phép so sánh “như một áng tóc trữ tình” :

 Tạo cho người đọc một sự xuýt xoa trước vẻ đẹp diễm tuyệt của

sông Đà

 Chữ “áng” thường gắn với áng thơ, áng văn, nay được cây bút họ Nguyễn gắn với “tóc” thành “áng tóc trữ tình”  Như muốn thi vị hóa dòng sông ấy để bao nét thướt tha, tươi trẻ như quyện hòa vào dông chảy

 Nguyên cả cụm từ ấy đã nói lên hết cái chất thơ, chất trẻ trung và đẹp đẽ, thơ mộng của dòng sông Cảnh vì thế mà vừa thực lại vừa mộng

Liên hệ:

Nếu Hoàng Phủ Ngọc Tường ngắm nhìn sông hương như một “bản trường

ca của rừng già ” với nhiều âm điệu và tiết tấu thì sông Đà trong cách cảm nhận của Nguyễn Tuân lại như một người con gái kiều diễm của núi rừng Tây Bắc

- Hai chữ “ẩn hiện” :Càng tăng lên sự bí ẩn và trữ tình của dòng sông  như một cô gái đang e thẹn đang dấu mình sau làn mây trời trong veo 

vẻ đẹp nữ tinh lạ thường

- Không những thế tác giả còn sử dụng động từ “bung nở” và từ láy “cuồn cuộn” kết

hợp với hình ảnh “hoa ban nở trắng rừng, hoa gạo đỏ rực hai bên bờ” làm người đọc liên tưởng mái tóc như được trang điểm bởi mây trời, như cài thêm hoa ban hoa gạo và đẹp mơ màng như sương khói mùa xuân

 Thiên nhiên như đang dồn lực điểm tô cho nàng ái nữ sông Đ

Sự nhân cách hóa đó làm sông Đà gợi cảm đến lạ thường

Khi đi thuyền hai bên sông

- Nhà văn nhận ra màu nước biển đổi theo mùa “Tôi đã nhìn say sưa

làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu

mà nhìn xuống dòng nước sông Đà”

- Phải nói rằng chính vẻ đẹp của mây trời đã tạo cho con sông Đà một vẻ đẹp riêng không trộn lẫn, một vẻ đẹp độc đáo, riêng biệt mà chẳng giống bất kì dòng sông nào khác

Ngày đăng: 08/12/2023, 16:41

w