1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của biến đội khí hậu đến tăng trưởng bao trùm tại việt nam

137 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Tăng Trưởng Bao Trùm Tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Lan, Dương Ngọc Thủy, Nguyễn Quỳnh Hương, Xà Minh Thu
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư. Tiến Sĩ Phạm Thị Hoàng Anh
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phía các nghiên cứu trong nước, Trần Thức và Lê Nguyên Tường 2015 đã làm rõ tác động của BĐKH đối với tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, năng lượng, thủy sản và sức khỏe con ng

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI THAM DỰ CUỘC THI “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG NĂM HỌC 2021 - 2022

TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM TẠI VIỆT NAM LĨNH VỰC: TÀI CHÍNH

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH

Hà Nội, Tháng 05 Năm 2022

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!! 17014127929851000000

Trang 2

-

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI THAM DỰ CUỘC THI “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG NĂM HỌC 2021 - 2022

TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM TẠI VIỆT NAM LĨNH VỰC: TÀI CHÍNH

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH

Hà Nội, Tháng 05 Năm 2022

Trang 3

THÔNG TIN SINH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Tên đề tài: Nghiên cứu tác động của biến đội khí hậu đến tăng trưởng bao trùm tại Việt Nam

2 Lĩnh vực: Tài chính

3 Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

4 Giáo viên hướng dẫn:

Họ và tên: Phạm Thị Hoàng Anh

Học hàm, học vị: Phó Giáo sư Tiến sĩ

Chức vụ: Viện Trưởng Viện NCKH Ngân hàng, Học viện Ngân hàng

1 Nguyễn Thị Lan 22A4011104 K22CLCB Tài chính 3 0819378869 Lannguyen01.ba@gmail.com

2 Dương Ngọc Thủy 22A4010165 K22CLCB Tài chính 3 0774668862 duongngocthuyba@gmail.com

3 Nguyễn Quỳnh

Hương 22A4010485 K22TCH Tài chính 3 0963546062 quynhhuongba2001@gmail.com

4 Xà Minh Thu 22A4020032 K22KTDNI Kế toán –

Kiểm toán 3 0912703898 xmthu6NK@gmail.com

Trang 4

Ngoài việc tham khảo Sinh viên lựa chọn tham gia cuộc thi, Hội đồng Khoa học của Học viện sẽ xem xét quyết định

lựa chọn đề tài gửi dự thi theo các tiêu chí của các cuộc thi

Ngày tháng năm Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký và ghi rõ họ tên)

Cuộc thi cấp Bộ GDĐT X Cuộc thi Euréka

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Nhóm chúng tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu

tới tăng trưởng bao trùm tại Việt Nam” là một công trình nghiên cứu độc lập của nhóm

dưới sự hướng dẫn của Giảng viên hướng dẫn Học viện Ngân hàng Các số liệu được

trình bày trong nghiên cứu là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết

quả thu được chưa từng công bố trong bất cứ công trình khoa học nào Tất cả những

nghiên cứu tham khảo trước đó đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ Nhóm chúng

tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước bộ môn, khoa và nhà trường về sự cam đoan

này

Hà Nội, ngày 30 tháng 05 năm 2022

Người cam đoan

Nhóm nghiên cứu

Trang 6

2.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM 4 2.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN

Trang 7

1.1.3.1 Nhiệt độ (°C) 15

1.1.4.1 Tác động của biến đổi khí hậu tới tới tăng trưởng kinh tế 17 1.1.4.2 Tác động của biến đổi khí hậu tới nông nghiệp 18 1.1.4.3 Tác động của biến đổi khí hậu tới sức khỏe con người 19

1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng bao trùm 24 1.2.4.1 Tăng trưởng, việc làm và cơ sở hạ tầng kinh tế 25

1.3 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM

31 1.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu tới kinh tế 31 1.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu tới nông nghiệp 32 1.3.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến đời sống - xã hội 33 1.3.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến y tế - sức khỏe 33 1.3.5 Tác động của biến đổi khí hậu đến giao thông vận tải (đường bộ) 34 1.3.6 Tác động của biến đổi khí hậu đến năng lượng 34 1.3.7 Tác động của biến đổi khí hậu đến giáo dục 35 1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM 36

Trang 8

1.4.7 Tổng thiệt hại kinh tế do thiên tai tính theo tỷ trọng GDP 39

1.4.10 Tổng số người bị ảnh hưởng bởi thiên tai hàng năm 40

2.2 TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐO LƯỜNG TĂNG TRƯỞNG

2.3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

2.3.1.3 Mô hình nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến tăng trưởng bao

Trang 9

3.2.1 Thực trạng tốc độ tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam 68 3.2.2 Thực trạng các thành tố tác động đến tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam 71

4.1 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI SỐ NGƯỜI CHỊU ẢNH

4.2 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TỔN THẤT KINH TẾ DO

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nguyên nghĩa

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Quy ước đo hàm lượng khí CO2, CO, SO2, NOx 17Bảng 1.2: Tỷ trọng của bốn thành tố cho chỉ số TTBT 24Bảng 2.1: Thống kê và mô tả các chỉ tiêu ảnh hưởng đến TTBT 54

Bảng 3.1: Nhiệt độ cao nhất đo được tại một số điểm ở Việt Nam những năm gần đây

65Bảng 4.1: Tác động của BĐKH tới số người chịu ảnh hưởng bởi thiên tai 82Bảng 4.2: Tác động của BĐKH đến tổn thất kinh tế do thiên tai 86

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.2 Nhiệt độ trung bình năm giai đoạn 2006-2020 ở Hà Nội, Huế, Cà Mau 63Hình 3.3: Tổng lượng mưa năm giai đoạn 2006-2020 ở Hà Nội, Huế, Cà Mau 66Hình 3.4: Tốc độ TTBT ở Việt Nam giai đoạn 1985 - 2018 69Hình 3.5: Tốc độ tăng trưởng bao trùm của Việt Nam và 5 quốc gia khác trong giai

Hình 3.6: GDP của Việt Nam trong giai đoạn 1985 – 2020 72Hình 3.7: Hệ số Gini ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 74Hình 3.8: Chỉ số phát triển con người (HDI), giai đoạn 1990 – 2020 76Hình 3.9: Tỷ lệ tham gia BHYT của Việt Nam giai đoạn 1989 – 2020 78Hình 3.10: Tuổi thọ bình quân của Việt Nam qua các năm (1989 - 2020) 78Hình 3.11: Chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam giai đoạn 2013 – 2019 79

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU

Cụm từ “tăng trưởng bao trùm” được nhắc đến lần đầu tiên trong các báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và hiện tượng này đã, đang trở thành một trong những vấn đề nóng hổi nhất hành tinh và là mục tiêu, là đích đến cuối cùng mà các quốc gia muốn hướng tới trong các chương trình nghị sự quan trọng TTBT là một khái niệm rộng, nhiều khía cạnh, nhấn mạnh việc đảm bảo những lợi ích hay những cơ hội PTKT là kết quả từ quá trình tăng trưởng phải được chia sẻ bình đẳng cho tất cả các thành phần trong xã hội, nhất là những nhóm người nghèo Trong các Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên hợp quốc và Chiến lược APEC về tăng trưởng chất lượng giai đoạn đến năm 2020, tính “bao trùm” và “bền vững” của sự tăng trưởng cũng được đặc biệt nhấn mạnh Quan trọng là thế, tuy nhiên, TTBT không giống như tăng trưởng vì người nghèo, TTBT không kết thúc ở việc xóa đói giảm nghèo mà còn là phân bổ nguồn thu nhập trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới, hiện tượng này còn ảnh hưởng tới nhiều khía cạnh khác của

xã hội như bình đẳng trong tiếp cận các tài nguyên, ô nhiễm môi trường, đổi mới sáng tạo, hay vị thế của các tầng lớp khác nhau Như vậy có thể thấy rằng, ô nhiễm môi trường hay rộng hơn là BĐKH có sức ảnh hưởng nhất định đến TTBT

Đối với các nhà hoạch định chính sách thì BĐKH luôn là một vấn đề khó giải quyết và đầy thách thức, là một thách thức an ninh phi truyền thống mà mọi quốc gia phải đối mặt Theo Mai Văn Tâm: “Biến đổi khí hậu được định nghĩa như sự thay đổi của hệ thống khí hậu hiện tại và tương lai, bao gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển

và thạch quyển, do các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một khoảng thời gian,

cụ thể được tính bằng thập kỷ hoặc hàng triệu năm” Sự biến đổi này rất đa dạng, từ sự dao động nhỏ trong mức nhiệt trung bình cho tới những sự kiện thời tiết cực đoan trong một khu vực nhất định hoặc trên toàn thế giới

Việt Nam được cho là một đất nước rất dễ bị tổn thương trước các tác động nghiêm trọng của BĐKH Theo đánh giá hàng năm về các quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất do các hiện tượng khí hậu cực đoan giai đoạn 1999 - 2018, Việt Nam xếp thứ 6 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn (CRI) Ở Việt Nam, do tác động của BĐKH, tần suất xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan diện rộng dày hơn: hạn

Trang 14

hán tái diễn tại ĐBSCL trong năm 2019 - 2020 với phạm vi và cường độ tăng đột biến; lượng nước khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên liên tục giảm gây ra hiện tượng thiếu hụt trầm trọng; tần suất các cơn bão lớn cấp 4, cấp 5 tăng lên nhiều hơn trong hơn 3 thập kỷ qua, và chúng đã di chuyển dần xuống phía Nam trong vòng 50 năm trở lại đây Các hiện tượng bất thường của khí hậu đã khiến Việt Nam thiệt hại ước tính hơn 33.500 tỷ đồng, tương đương với 0,54% GDP năm 2020

Nghiên cứu này rất kịp thời bởi trong bối cảnh cuộc khủng hoảng COVID-19 gần đây có khả năng gây tác động tiêu cực cho cả bình đẳng và tăng trưởng Theo Furceri và cộng sự (2020), 2 trận dịch lớn trong thế kỷ này đã góp phần gây ra bất bình đẳng thu nhập (BBĐTN) và làm giảm tỷ trọng thu nhập xuống đáy, tác động xấu đến

cơ hội việc làm của những người có trình độ học vấn thấp, trong khi hầu như không ảnh hưởng đến những người có bằng cấp cao Họ đề nghị rằng đại dịch do vi-rút Corona có thể gây ra hậu quả tương tự trừ khi phản ứng chính sách giải quyết hiệu quả tình trạng bất bình đẳng (BBĐ) Ngoài ra, cuộc khủng hoảng COVID-19 đã làm lộ ra khoảng cách kỹ thuật số, đây là một dạng BBĐ khác làm gia tăng BBĐTN Cụ thể, những người có quyền truy cập vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số có thể tiếp tục làm việc

và học tập từ xa, ngược lại với những người bị hạn chế hoặc không có khả năng tiếp cận

Như vậy, với sự xuất hiện đột ngột và vận động phức tạp của BĐKH, dịch bệnh

đã và đang trở thành một trong những nguyên do chính tạo ra những thách thức an ninh khí hậu, tiềm ẩn rủi ro trong việc bảo đảm an sinh xã hội và phát triển đất nước Trong giai đoạn tới, nếu Chính phủ Việt Nam không có một lộ trình cụ thể để thích ứng với BĐKH thì nước ta sẽ còn phải đối mặt với những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, đặc biệt là đe dọa tới sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân như giảm thu nhập của tầng lớp lao động nghèo, tăng BBĐTN Đồng thời, Việt Nam có thể sẽ không đạt được mục tiêu của Đại hội XIII là "đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng",

"chuyển mạnh" nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng mới bền vững hơn, toàn diện hơn

Như vậy, dưới góc độ định tính, có thể thấy dường như có tồn tại sự tác động tiêu cực của BĐKH đến TTBT Cụ thể, BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi vấn

đề của Việt Nam như: cản trở tăng trưởng kinh tế (giảm thu nhập, gia tăng khoảng

Trang 15

cách giàu - nghèo ), làm bất ổn về xã hội (gián đoạn kế hoạch xóa đói giảm nghèo của Chính phủ ) Từ đó đặt ra một câu hỏi mang tính cấp thiết: BĐKH sẽ tác động như thế nào tới tăng trưởng của một quốc gia qua mọi lĩnh vực? Cần hành động gì để giúp đất nước đạt được mục tiêu TTBT, bền vững và toàn diện? Vậy nên, nhóm tác giả lựa chọn “Nghiên cứu tác động của BĐKH đến TTBT” làm đề tài nghiên cứu

2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Biến đổi khí hậu (BĐKH), bao gồm những thay đổi về thành phần hóa học của khí quyển, thay đổi nhiệt độ bề mặt, mực nước biển dâng, các hiện tượng khí hậu khắc nghiệt và BĐKH, đã và đang xảy ra trên phạm vi toàn thế giới Số lượng và mức độ nghiêm trọng của thiên tai đã tăng lên đáng kể, cụ thể những thay đổi này ảnh hưởng đến các hệ thống vật lý, sinh thái và kinh tế xã hội trên toàn thế giới, gây ra mối đe dọa đối với sự phát triển và tồn tại của tất cả các loài và hệ sinh thái Nghiên cứu về BĐKH, xác định các tác động của BĐKH và đề xuất các phương án thích ứng, đều sẽ giúp bảo vệ cuộc sống và đóng góp vào sự phát triển lâu dài của toàn cầu

BĐKH là một trong những thách thức môi trường cấp bách nhất của nhân loại, ảnh hưởng đến nền kinh tế tự nhiên, sức khỏe, đặc biệt là nông nghiệp Nghiên cứu của Manas Ranjan Senapati và các cộng sự (2013) đã xem xét các biện pháp thích ứng cần thiết bao gồm những thay đổi để giảm thiểu cải thiện lĩnh vực nông nghiệp ở Ấn

Độ Nhiệt độ, lượng mưa cực đoan, hạn hán, lũ lụt, bão, nước biển dâng và các mối đe dọa sức khỏe môi trường đều là những thay đổi có thể xảy ra do BĐKH Ước tính rằng

Ấn Độ cần 320 tấn ngũ cốc lương thực vào năm 2025 Phát triển nông nghiệp bền vững là rất quan trọng đối với Ấn Độ vì nó không chỉ cần thiết để đáp ứng nhu cầu lương thực mà còn để đạt được các mục tiêu xóa đói và giảm nghèo Do đó, đất nước phải xây dựng các chính sách quan trọng để thích ứng với ngành nông nghiệp và đối phó với những tác động tiêu cực của BĐKH trong bối cảnh này

Bên cạnh đó, nghiên cứu của Stephen Devereux & Jenny Edwards (2004) còn đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đối với an ninh thực phẩm Bài viết đã nghiên cứu dựa

số liệu trên bảng thống kê ảnh hưởng của BĐKH tới các vùng đất thích hợp cho ngũ cốc trên thế giới, giai đoạn từ năm 1961-1999 và dự đoán tới năm 2020 và năm 2050

Trang 16

Kết quả cho thấy các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới sẽ không thích hợp cho ngũ cốc bởi nơi đây nóng, khô và dễ bị hạn hán

Về phía các nghiên cứu trong nước, Trần Thức và Lê Nguyên Tường (2015) đã làm rõ tác động của BĐKH đối với tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, năng lượng, thủy sản và sức khỏe con người với các kết quả dựa trên một kịch bản giả định kéo dài từ năm 2000 đến năm 2070 Kết quả là vào năm 2070, nhiệt độ sẽ tăng từ 1,5

°C đến 2,5°C, với lượng mưa dao động từ -5% đến 10% Có thể thấy, BĐKH sẽ làm trầm trọng thêm các hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt Những bất ổn về khí hậu sẽ gây hại cho sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước về cả cường độ và tần suất xuất hiện, điều đó khiến cho đất nước cần phải có các kế hoạch thích ứng với BĐKH trong nước, trong đó các lĩnh vực dễ bị tổn thương và được sự quan tâm nhiều nhất như tài nguyên nước, nông nghiệp, vùng ven biển , năng lượng, giao thông vận tải và y

tế

Mai Hạnh Nguyên (2020) đã thực hiện nghiên cứu về tác động của BĐKH đến tài nguyên đất Tác giả chỉ ra rằng do vị trí địa lý và địa hình, điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đáng kể đến tài nguyên đất của Việt Nam Kết quả đánh giá tổng thể tác động đến tài nguyên đất cho thấy xâm nhập mặn xâm nhập sâu vào nội địa, diện tích đất khô hạn mở rộng, ngập úng, xói mòn, rửa trôi, sạt lở đất diễn ra thường xuyên, phức tạp

Nó đã ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng và trực tiếp đến đời sống của người dân và

sự phát triển kinh tế xã hội từ đó đến nay

2.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM

Những năm trở lại đây, các cuộc tranh luận về chủ đề Tăng trưởng bao trùm (TTBT) ngày càng có sức hút trong bối cảnh toàn cầu, cụ thể là gia tăng BBĐ kèm theo bất ổn kinh tế, chính trị, xã hội; tỷ lệ thất nghiệp cao; đói nghèo dai dẳng; ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng của BĐKH và thành tích đáng thất vọng về việc chuyển TTKT thành phát triển vững bền hoặc phúc lợi của con người Theo Cafod (2014), TTBT là một khái niệm khác biệt với TTKT, mục tiêu của nó là tạo ra một xã hội giảm đói nghèo và BBĐ đồng thời mang lại lợi ích cho những người dễ bị tổn thương nhất

Sử dụng mô hình Durbin và dữ liệu từ 281 thành phố ở Trung Quốc trong khoảng thời gian 2004 – 2016, nhóm Tao Ge (2020) đã kiểm tra ảnh hưởng của việc

Trang 17

hiệu quả điều tiết môi trường tới TTBT ở Trung Quốc Nhóm tác giả này đã chỉ ra rằng có những chiến lược không đối xứng dưới hình thức cạnh tranh bắt chước và cạnh tranh đi lên giữa các thành phố lân cận về mặt địa lý, điều này làm trầm trọng thêm việc mất hiệu quả điều tiết môi trường và kìm hãm sự TTBT trên cả quy mô quốc gia

và khu vực Tuy nhiên bài nghiên cứu này còn một số hạn chế, điển hình tác giả thông qua ITFP để chỉ ra TTBT nhưng không thể phản ánh đầy đủ các tác động và sắc thái của tăng trưởng toàn diện Ngoài ra, hiệu quả điều tiết môi trường chỉ là một khía cạnh ảnh hưởng của môi trường, nghiên cứu có thể được mở rộng sang các khía cạnh khác, như cường độ môi trường để có thể xác định rõ hơn ảnh hưởng này đối với TTBT

Ioana Manafia, Daniela Elena Marinescu (2013) đã trình bày ảnh hưởng của việc đầu tư giáo dục tới TTBT ở các nước EU, điển hình là Romania EU luôn ưu tiên đầu tư và phát triển giáo dục Chất lượng giáo dục là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiến bộ và văn minh của xã hội , cũng như sự thịnh vượng kinh

tế của một quốc gia Tuy nhiên, Romania có tỷ trọng tổng chi tiêu giáo dục công tính theo tỷ lệ phần trăm GDP thấp nhất trong EU, vì vậy Chính phủ nên khuyến khích đầu

tư vào các chương trình đào tạo và học tập để đảm bảo lực lượng lao động cạnh tranh trong tương lai Một trong những mục tiêu của chiến lược Euro 2020 là để 15% người lớn từ 25 đến 64 tuổi nên tham gia học tập suốt đời Romania có tỷ lệ học tập suốt đời thấp nhất trong số các nước thành viên EU, với 1,5 % năm 2008 và 1,6 % năm 2011

Theo Xiaoqing và cộng sự (2019), việc ứng dụng robot công nghiệp vào TTBT

là một ví dụ điển hình cho thấy các quốc gia trên thế giới đang hướng tới công nghệ 4.0 Các tác giả đã xem xét quá trình tự động hóa bằng robot ảnh hưởng như thế nào đến năng suất lao động và tổng số việc làm ở các nền kinh tế tiên tiến bằng cách sử dụng dữ liệu từ 74 quốc gia từ năm 2004 đến năm 2016, sau đó phản ánh các phát hiện trên TTBT của quốc gia đó

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra những ảnh hưởng này lại là

vô cùng nhỏ ở các nước đang phát triển Bởi vì ở các nước này, chỉ những người có trình độ giáo dục trung bình hoặc cao cấp mới được hưởng lợi từ sự phổ biến của robot Một kết quả khác thể hiện rằng việc làm của cả lao động nam và nữ có liên quan tích cực đến việc áp dụng robot công nghiệp ở các nền kinh tế phát triển, trong đó phụ

nữ thích nghi tốt hơn một chút với việc gia tăng sử dụng robot

Trang 18

Mối liên hệ giữa TTBT và mục tiêu vì người nghèo là tương đối (Ranieri & Ramos, 2013) Bởi hai tác giả nhận định rằng TTBT có ảnh hưởng tích cực đến cả người nghèo và người giàu Tuy nhiên, Rauniyar và Kanbur (2009) lại tin điều ngược lại Họ nhận xét rằng TTBT gắn liền với ý nghĩa giảm nghèo ủng hộ người dân có hoàn cảnh khó khăn Theo đó, hai tác giả đề xuất rằng quốc gia nên hòa nhập tập trung vào việc giảm BBĐTN bởi điều này trình bày rõ TTBT vì người nghèo

Về phía các nghiên cứu trong nước, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến chủ đề TTBT, cụ thể, báo cáo của Nguyễn Thắng (2016) đã làm rõ TTBT ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và cách mạng công nghệ Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại lợi ích cho TTBT và sự phát triển con người ở Việt Nam Đồng thời, tác giả đưa ra các khuyến nghị trong nước để tận dụng các cơ hội này, chẳng hạn như nâng cao năng lực và kỹ năng công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng nội tại Để tránh ' bẫy lắp ráp', Việt Nam cần có các thể chế và chính sách phù hợp để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, vượt qua những khó khăn do họ đặt ra.yêu cầu về vốn, quản lý rủi ro và nguồn nhân lực chất lượng cao Nếu không, ngay cả khi Việt Nam nỗ lực thúc đẩy quá trình hội nhập toàn cầu, các doanh nghiệp cũng khó có thể đi lên trong chuỗi hội nhập toàn cầu

Bên cạnh đó, nghiên cứu của Vũ Hoàng Đạt (2015) tập trung vào chỉ số TTBT gồm các vùng ở Việt Nam giai đoạn 2004 - 2012 Chỉ số TTBT của các vùng tập trung về: thu nhập, giáo dục, sức khỏe và điều kiện sống Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số thu nhập dần tăng lên trong quá trình nghiên cứu ở từng khu vực Tuy nhiên, trong thời gian này, tỷ trọng phân phối đã vượt xa mức tăng thu nhập bình quân ở cả ĐBSH và Đông Nam Bộ Ở hầu hết các vùng, cơ hội tốt nghiệp THPT và chỉ số tiếp cận vệ sinh của người dân đã được cải thiện Đặc biệt, chỉ số BHYT giảm trong năm 2006-2008 nhưng đã cải thiện đáng kể từ năm 2010 do hệ thống y tế ngày càng tập trung vào phát triển hàng đầu và đảm bảo an sinh xã hội

2.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM

“Tăng trưởng bao trùm” là một từ phổ biến trong giới chính sách, giữa các nước phát triển và đang phát triển cũng như trong các tổ chức quốc tế Tầm quan trọng của

nó ngày càng được công nhận và được nêu trong các kế hoạch và chiến lược làm việc

Trang 19

của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), G20, Châu Âu (Chang Christian, 2014) Tuy nhiên, trong quá trình giữ vững mục tiêu TTBT, các nước đã và đang chống chọi với nhiều thách thức, điển hình là BĐKH Những tổn thất do rủi ro BĐKH đặt ra những thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội-văn hóa ở các nền kinh tế đang phát triển

và mới nổi Hậu quả là gia tăng nghèo đói, bất ổn trong xã hội, ô nhiễm không khí,

và kìm hãm TTBT Như vậy, BĐKH có ảnh hưởng tiêu cực tới TTBT

Cụ thể, trong bài nghiên cứu của Sohail Ahmad, Mack Jong Choi (2010) đã nhấn mạnh các ảnh hưởng của BĐKH đến vùng đô thị Ấn Độ, đặc biệt là những người dân có khả năng thích nghi kém thông qua việc phân tích 2 yếu tố: phương tiện giao thông đô thị và chất thải rắn đô thị Trong đó, số lượng các phương tiện cá nhân ngày một gia tăng, chiếm nhiều diện tích lớn, gây ùn tắc giao thông và thải ra lượng khí thải nhiều hơn, gây ô nhiễm không khí Không chỉ vậy, đô thị Ấn Độ hàng năm còn tạo ra khoảng một lượng khổng lồ chất thải rắn đô thị cùng với việc quản lý chất thải kém đã phát thải KNK (khí nhà kính), ảnh hưởng đến BĐKH, gây ô nhiễm môi trường, làm giảm sức khỏe của nguồn nhân lực tiềm năng, kìm hãm động lực PTKT

Ngoài ra, Reneth Mano và Charles Nhe Machena (2016) đã xem xét các tác động kinh tế của BĐKH đối với nông nghiệp ở Zimbabwe bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận Ricardian và dữ liệu từ cuộc khảo sát 700 hộ gia đình Các hộ nông dân sản xuất nhỏ trên khắp đất nước đã được phỏng vấn Thực tiễn chứng minh rằng rằng các biến số khí hậu (nhiệt độ và lượng mưa) có tác động đáng kể đến hiệu quả kinh doanh của trang trại, cây trồng và vật nuôi do tác động tiêu cực của việc tăng nhiệt độ

và lượng mưa.giảm Nông dân đã sử dụng các chiến lược thích ứng để chống lại điều kiện khí hậu thay đổi, nhưng về lâu dài chúng đã chứng tỏ là không hiệu quả Do đó, nghiên cứu trong tương lai nên xem xét phân tích cấp độ vi mô của các chiến lược thích ứng, sử dụng các mô hình hành vi của nông dân để nghiên cứu cách nông dân đưa ra quyết định khi quyết định giữa các phương án thích ứng khác nhau

Dựa trên mô hình Trễ phân tán tự động hồi phục (ARDL), Denniso Osei Kyere (2018) đã xác định tác động ngắn hạn và dài hạn của BĐKH ở Châu Phi Trước mắt, nhóm tác giả đã chứng minh tác động tiêu cực của BĐKH đối với TTBT Thông qua

sự thay đổi nhiệt độ bất thường và sự gia tăng lượng khí thải CO2, tác giả đã quan sát thấy tác động đáng kể của BĐKH đối với TTBT Cả hai yếu tố này đều gây ra những

Trang 20

tác hại, chẳng hạn như vấn đề sức khỏe, tiết kiệm ngân sách và giảm năng suất lao động ở châu Phi Về lâu dài , các bằng chứng mà tác giả đưa ra cho thấy TTBT có tác động tích cực đến BĐKH, cả về nhiệt độ và lượng khí thải CO2 Giải thích vấn đề này

có thể là do sự thích nghi và cơ chế đối phó dễ dàng làm mất ảnh hưởng của BĐKH đối với TTBT

Jane Turpie và các cộng sự (2002) có đóng góp mới hơn khi phân tích ảnh hưởng của BĐKH đến bối cảnh GDP tại Nam Phi Đặt trong bối cảnh GDP của Nam Phi, đây được coi là một yếu tố quan trọng, mang giá trị thực tiễn cao GDP của Nam Phi năm 2000 là 874 tỷ Rupiah trong đó thiệt hại về giá trị tồn tại tương đương 0,3% GDP, thiệt hại về thu hoạch tự cung tự cấp lên tới 0,3% GDP, thiệt hại do sốt rét sẽ dẫn đến tổn thất chỉ hơn 0,1% GDP Thêm vào đó, BĐKH khiến sản lượng cây trồng

và rừng thiệt hại có thể lên tới dưới 0,1% GDP, thiệt hại về thủy sản theo cùng một mức độ và sản lượng chăn nuôi có thể tăng lên Thiệt hại tổng thể có thể ít nhất là 1,5% GDP, nhưng có thể cao hơn đáng kể, có thể trên 3%, tùy thuộc vào tác động đến

du lịch Khó khăn lớn nhất trong bài nghiên cứu ở Nam Phi là không có giải pháp cụ thể thích ứng đối phó với BĐKH Bởi vì, bất kỳ biện pháp nào trong số các biện pháp sau này sẽ được cho là rất tốn kém, thậm chí còn cao hơn những thiệt hại tiềm năng được chỉ ra trong nghiên cứu này

Rachel Warren và các cộng sự (2006) đã cụ thể hóa thiệt hại do các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt kìm hãm phát triển nền kinh tế trong ngắn hạn tại các khu vực điển hình trên thế giới: Đông Á, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Nam Phi, Tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan ngắn hạn như lũ lụt, bão gây ra cho những thiệt hại về sức khỏe con người, đất đai xói mòn, hơn 300.000 việc làm trong những lĩnh vực kinh tế chủ chốt bị trì hoãn Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của bài viết này là không thể giải quyết các tác động của việc điều chỉnh tần suất hoặc mức độ nghiêm trọng của các hiện tượng thời tiết cực đoan ngắn hạn, vậy nên các ước tính tác động được đưa ra ở đây có thể được xem xét một đánh giá thấp, bởi vì thiệt hại do các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt đã đáng kể cao

Đối với các nghiên cứu trong nước, Về đối nội , nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến tác động tiêu cực của BĐKH đối với thiên tai Điển hình là Nguyễn Mạnh Hải và cộng sự (2010) đã trình bày bài nghiên cứu của mình bằng phương pháp hồi quy hàm

Trang 21

năng suất để mô hình hóa các tiến bộ công nghệ và các biện pháp can thiệp chính sách nhằm cải thiện năng suất lúa đồng thời giảm tác động của BĐKH đối với năng suất Hơn nữa, nhiều kịch bản giả định vào năm 2030 và 2050 đã làm rõ sự gia tăng nhiệt

độ, lượng mưa và mực nước biển dâng để cho thấy mức tăng nhiệt độ ở vùng nông nghiệp phía Bắc lớn hơn so với vùng nông nghiệp phía Nam Lượng mưa giảm vào năm 2030 dự kiến sẽ lớn hơn so với năm 2050 Điều này cho thấy rằng những thay đổi

về lượng mưa do hiện tượng nóng lên toàn cầu có thể phức tạp hơn những thay đổi về nhiệt độ Lũ lụt và xâm nhập mặn cũng đã tác động đáng kể đến diện tích trồng lúa, khiến sản lượng lúa trung bình giảm khoảng 2,7 triệu tấn /năm

Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Lưu Thị Thanh Quế, Ninh Thị Thu An (2014)

có một điểm sáng là đã tiếp tục nghiên cứu vấn đề này theo hai con đường: cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến TTBT Đặc biệt, tác động trực tiếp sẽ gây áp lực lên hệ thống khu dân

cư, sức khỏe con người và hệ sinh thái Tác động gián tiếp có thể đe dọa làm gián đoạn

hệ thống phân bổ lương thực, vệ sinh an toàn thực phẩm, sử dụng nguồn lao động, Hơn nữa, nghiên cứu dựa trên báo cáo nghiên cứu của Bộ Tài nguyên và Môi trường

về các khu vực và đối tượng dễ bị tổn thương về khí hậu Do năng lực về cơ sở vật chất, kinh tế xã hội và dân số còn hạn chế, các khu vực có tỷ lệ nghèo cao dễ bị tổn thương hơn bởi BĐKH, kém khả năng chống chịu và kém thích ứng hơn Khó khăn của nghiên cứu là đã có các biện pháp ứng phó nhưng chưa có kết quả tích cực trong tình hình BĐKH hiện nay

Tóm lại, nhiều nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đã được thực hiện về tác động của BĐKH đến TTBT Họ đã cùng nhau phân tích các mô hình mới và toàn diện, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH nhằm từng bước hoàn thiện các kế hoạch về BĐKH quốc gia và khu vực riêng tương ứng

2.4 TÍNH MỚI CỦA NGHIÊN CỨU

Cho đến hiện tại, tại Việt Nam, chưa xuất hiện một bài báo cáo hay nghiên cứu khoa học nào trong nước nào chỉ ra cụ thể về tác động của BĐKH đến TTBT ở cả hai

cơ chế: số lượng người chịu ảnh hưởng bởi thiên tai và tổn thất kinh tế thiệt hại bởi thiên tai Do đó, dựa trên nội dung sơ bộ từ các bài nghiên cứu của các bậc tiền bối đi trước, nghiên cứu của chúng tôi có thêm các đóng góp mới sau đây về đề tài:

Trang 22

Thứ nhất, bài nghiên cứu tập trung đi sâu vào đánh giá tác động của BĐKH đến

TTBT tại Việt Nam trong chuỗi thời gian 1985 – 2020 qua 3 mô hình cụ thể: (1) Nghiên cứu tác động của BĐKH đến số người chịu thiệt hại bởi thiên tai; (2) Nghiên cứu tác động của BĐKH đến tổng thiệt hại nền kinh tế và từ đó đi đến mô hình (3) phân tích tổng quan nhất là nghiên cứu tác động của BĐKH đến TTBT ở Việt Nam

Thứ hai, biến số về BĐKH được biểu diễn bởi chỉ số nhiệt độ đo được tại 03 địa

điểm tại Việt Nam đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam bao gồm: Hà Nội, Huế và Cà Mau để đánh giá sự nhất quán của mô hình nghiên cứu

Thứ ba, thông qua kết quả định lượng, bài nghiên cứu chứng minh tác động tiêu

cực của BĐKH đến TTBT thông qua cả 02 cơ chế

Thứ tư, bài nghiên cứu đề ra các khuyến nghị phù hợp với kết quả định lượng

và định tính Các khuyến nghị đưa ra hướng tới mục tiêu giải quyết các vấn đề liên quan đến BVMT, giảm thiểu BĐKH, đảm bảo Việt Nam sẽ hoàn thành tốt kế hoạch TTBT đề ra Đồng thời, đưa ra các lộ trình phù hợp cho các Bộ, Ban, Ngành trung ương tuân thủ và bám sát thực hiện

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3.1 MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Bài nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đến TTBT tại Việt Nam, để từ đó

đề xuất những khuyến nghị phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam

3.2 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỤ THỂ

- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về BĐKH và TTBT, đồng thời làm rõ tầm ảnh hưởng của BĐKH đến TTBT

- Phân tích, đánh giá thực trạng BĐKH và việc thực hiện kế hoạch hướng tới TTBT ở Việt Nam

- Đo lường TTBT theo biến số tích hợp giữa biến số tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng biến số bất bình đẳng Gini

- Xây dựng một số mô hình kinh tế lượng để phân tích, đánh giá tác động của BĐKH đến TTBT

3.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:

- Câu hỏi 1: Thực trạng của BĐKH và TTBT tại Việt Nam là gì?

Trang 23

- Câu hỏi 2: BĐKH tác động như thế nào đến TTBT ở Việt Nam?

- Câu hỏi 3: Việt Nam cần làm gì để giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH đến TTBT?

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về TTBT và tác động của BĐKH đến TTBT

Phạm vi không gian: Đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tác động của BĐKH đến TTBT ở Việt Nam

Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1985 - 2020

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để xử lý các thông tin, dữ liệu đã được thu thập, bài viết sử dụng các phương pháp phân tích định tính: (i) Phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp các nghiên cứu trước nhằm làm rõ nội hàm về TTBT; (ii) Phương pháp so sánh (bao gồm so sánh chuỗi) nhằm phân tích các dữ liệu thống kê thứ cấp để đánh giá thực trạng BĐKH và TTBT Từ đó chỉ ra các bất cập trong thực trạng và mô hình TTBT ở Việt Nam, làm

cơ sở đề xuất các gợi ý giải pháp

Để đo lường TTBT, chúng tôi sử dụng một biến tích hợp giữa tăng trưởng GDP bình quân đầu người và chỉ số bất bình đẳng Gini áp dụng theo công thức của Son và Kakwani (2008) được trình bày chi tiết trong chương 2 - Phương pháp nghiên cứu Phương pháp định lượng qua việc chạy mô hình hồi quy tuyến tính để đánh giá

đo lường mối quan hệ của các biến số TTBT trong mô hình

5.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Sử dụng những dữ liệu có sẵn về các thông số nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển cũng như các thông số về TTBT như BBĐTN, giáo dục, y tế, kinh tế trong giai đoạn 1985 – 2020

Các nguồn cung cấp dữ liệu nghiên cứu: Tổng cục Thống kê, Thống kê tài chính quốc tế của IMF, Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới World Bank, Meteoblue

Trang 24

6 CẤU TRÚC BÀI NGHIÊN CỨU

Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nghiên cứu được kết cấu thành 5 chương như sau:

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM Ở VIỆT NAM

CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM Ở VIỆT NAM

CHƯƠNG 5: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

Trang 25

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI

KHÍ HẬU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM

1.1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.1.1 Khái niệm

United Nations (2020) định nghĩa về BĐKH (Climate change) “đề cập đến sự thay đổi dài hạn về nhiệt độ và các kiểu thời tiết” Chung ý tưởng, Met Office (2020) cũng có định nghĩa tương tự trên, thêm vào đó tác giả còn nhận định, kể từ giữa những năm 1800, con người đã góp phần thải CO2 ,các khí nhà kính khác vào không khí Điều này khiến nhiệt độ trên toàn thế giới tăng lên, kéo theo những thay đổi lâu dài đối với khí hậu Theo NASA (2014), BĐKH được hiểu là “sự thay đổi thời tiết thông thường được tìm thấy ở một nơi Đây có thể là sự thay đổi về lượng mưa mà một nơi thường nhận được trong một năm Hoặc nó có thể là sự thay đổi nhiệt độ thông thường của một nơi trong một tháng hoặc một mùa Thời tiết có thể thay đổi chỉ trong vài giờ nhưng khí hậu mất hàng trăm, thậm chí hàng triệu năm để thay đổi”

BĐKH, theo Amar Bhattacharya và cộng sự (2021), là kết quả của sự kết hợp của hai yếu tố chính: hiệu ứng nhà kính và gia tăng phát thải khí nhà kính từ hoạt động kinh tế Hành tinh của chúng ta đang ấm lên là kết quả của sự kết hợp này trong bầu khí quyển Thời tiết cũng trở nên bất ổn hơn, với các đợt nắng nóng thường xuyên hơn

và các đợt rét đậm, cũng như những cơn mưa xối xả và những đợt khô hạn cùng với sự bất ổn này làm tăng khả năng xảy ra các hiện tượng cực đoan tự nhiên như hạn hán, lũ lụt, lốc xoáy nhiệt đới và cháy rừng

Theo đó, nhóm chúng tôi đề xuất một khái niệm rộng hơn về "Biến đổi khí hậu" BĐKH được định nghĩa là sự thay đổi của khí hậu do cả hai yếu tố chủ quan và khách quan gây ra làm thay đổi các thành phần của bầu khí quyển trái đất, trong đó nổi bật nhất là tình trạng nóng lên toàn cầu và nước biển dâng tạo ra những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt

1.1.2 Nguyên nhân gây ra BĐKH

1.1.2.1 Nguyên nhân khách quan

Các vụ phun trào núi lửa, các dòng hải lưu, sự thay đổi của Mặt trời và sự thay đổi quỹ đạo Trái đất đều có tác động đến khí hậu Trái đất

Trang 26

Thứ nhất, Trái đất nguội đi do kết quả của các vụ phun trào núi lửa Khi núi lửa

phun trào thì một lượng lớn khí SO2, hơi nước, bụi và tro được thải vào bầu khí quyển Mặc dù các núi lửa phun trào xảy ra chỉ kéo dài vài ngày, nhưng chúng có tác động lâu dài đến các kiểu khí hậu SO2 sẽ được phát thải vào tầng khí quyển Các hạt nhỏ, bụi và tro bụi sẽ cản tia mặt trời khiến bầu không khí trở nên nguội lạnh

Thứ hai, một trong những nguyên nhân khách quan của BĐKH là các dòng hải

lưu Đại dương là một phần quan trọng của hệ thống khí hậu, chiếm khoảng 71% bề mặt trái đất và hấp thụ lượng bức xạ mặt trời nhiều gấp đôi so với bầu khí quyển hoặc

bề mặt đất liền Hướng gió thổi phương ngang với mặt biển làm hình thành các dòng hải lưu

Thứ ba, quỹ đạo của Trái đất thay đổi cũng là một nguyên nhân khác gây ra

BĐKH Mỗi năm, Trái đất hoàn thành một quỹ đạo hoàn chỉnh quanh mặt trời và chúng ta không thể đi qua các mùa mà không có độ nghiêng, cụ thể, mức độ nghiêm trọng theo mùa có thể bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về độ nghiêng của trái đất Ví

dụ, nếu có xu hướng lớn hơn, chúng ta sẽ có mùa hè nóng hơn và mùa đông lạnh hơn

1.1.2.2 Nguyên nhân chủ quan

Theo báo cáo của IPCC - Ủy ban liên chính phủ về BĐKH - có bằng chứng rõ ràng cho thấy con người đang làm khí hậu trái đất nóng lên và BĐKH do con người là nguyên nhân chính gây ra BĐKH Thời tiết trở nên khắc nghiệt hơn do thay đổi Hơn nữa, Liên Hợp Quốc (2010) đã công bố một báo cáo có tiêu đề Nguyên nhân của Biến đổi Khí hậu: Con người chịu trách nhiệm cho 90% nguyên nhân, trong khi thiên nhiên chịu trách nhiệm cho 10% Con người đang ngày càng ảnh hưởng đến khí hậu và nhiệt

độ trái đất bằng cách đốt nhiên liệu hóa thạch ( than, dầu và khí đốt), phát thải CO và N2O; phá rừng; quy trình công nghiệp (ô nhiễm từ các nhà máy, sản xuất sản phẩm, v.v.); nông nghiệp ( chuyển đổi đất đai, ); chuyển đổi đất rừng; phân hủy chất thải trong bãi rác… Điều này làm tăng thêm một lượng đáng kể khí nhà kính vào những khí đã có trong khí quyển, do đó làm khuếch đại hiệu ứng nhà kính

Theo báo cáo năm 2021 của IPCC, lượng khí thải "dường như do hoạt động của con người gây ra " đã làm tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu lên 1,1 ° C so với mức tiền công nghiệp và sẽ tiếp tục tăng Nếu không có ảnh hưởng của ô nhiễm trong bầu khí quyển, nhiệt độ sẽ tăng 0,5 ° C Có nghĩa là, khi xã hội sử dụng nhiều nhiên liệu hóa

Trang 27

thạch hơn, nhiệt độ sẽ tăng cao hơn nữa do giải phóng các chất ô nhiễm vào bầu khí quyển Nhiều nhà khoa học nghiên cứu cảnh báo rằng sự tăng hơn 1,5 °C so sánh với mức thời kỳ tiền công nghiệp có thể gây ra BĐKH thảm khốc, chẳng hạn như nắng nóng chết người

1.1.3 Các chỉ tiêu đo lường biến đổi khí hậu

1.1.3.1 Nhiệt độ (°C)

Nhiệt độ được coi là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến bBĐKH toàn cầu .Nhiệt độ đã tăng trong 30 năm qua Các nhà khoa học tin rằng hiệu ứng nhà kính đã khiến trái đất nóng lên vào năm 1950 Các nhà khoa học tin rằng nếu lượng khí thải không được kiểm soát, nhiệt độ trái đất sẽ tăng hơn 4,5°C Mức nhiệt này sẽ làm thay đổi hành tinh của chúng ta và làm suy yếu khả năng hỗ trợ một lượng lớn dân số của

nó Theo dữ liệu của NOAA, nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2013 là 14,52°C, cao hơn 0,62°C so với mức trung bình trong thế kỷ XX Nhiệt độ năm 2014 cao hơn 0,8°C

so với năm 1880 Khi nhiệt độ trung bình tăng cao, sẽ dẫn đến các đợt nắng nóng kéo dài hơn và hạn hán nghiêm trọng hơn, cả hai điều này sẽ gây ra những tác động nghiêm trọng đến con người và môi trường

Nhiệt độ đo bằng nhiệt kế và đo bằng các đơn vị khác nhau, có thể được thay đổi bằng các công thức dựa trên định luật thứ 2 của động lực học:

Đơn vị đo đại lượng vật lý T90 là kelvin, ký hiệu là K

Đơn vị đo đại lượng vật lý t90 là độ Celsius, ký hiệu là °C

t90 / °C = T90 / K – 273,15

1.1.3.2 Lượng mưa

Ngoài nhiệt độ, lượng mưa được coi là một chỉ số quan trọng của BĐKH Bởi

vì lượng mưa có thể gây ra những hậu quả sâu rộng đối với sức khỏe con người, hệ sinh thái và chất lượng cây trồng Lượng mưa hàng năm ở Việt Nam có xu hướng giảm ở phía Bắc nhưng tăng ở phía Nam, đặc biệt là khu vực Nam Trung Bộ trong nửa thế kỷ qua Miền Nam tuy có xu hướng mưa ngày càng tăng nhưng hầu như không đáng kể và không đạt mức ý nghĩa 10%

Trang 28

Renfro, được trích dẫn bởi Chow (1964), đã đề xuất phương trình sau để ước tính lượng mưa hiệu quả:

Re = (E × Rg) + A

Trong đó: Re là lượng mưa hữu hiệu (mm)

Rg là lượng mưa mùa đang phát triển (mm)

A là lượng nước tưới trung bình (mm)

E là tỷ lệ sử dụng nước tiêu thụ (CU) trên lượng mưa trong mùa trồng trọt (các giá trị được đưa ra bởi Renfro) Giá trị E ngụ ý mức độ mưa có thể được sử dụng để đáp ứng nhu cầu nước tiêu thụ

Chất gây ô nhiễm không khí chính trong tầng đối lưu là SO2 Được sinh ra do : núi lửa hoạt động, than đá, dầu mỏ, khí đốt, sinh khối… SO2 cực kỳ độc hại đối với cả con người và động vật, là nguyên nhân gây ra các bệnh về phổi và phế quản Nó phản ứng với hơi nước trong không khí và rơi xuống đất, tạo thành mưa axit Khí này thường được tìm thấy trong các nhà máy sản xuất hàng may mặc, nhà máy sản xuất nhôm,…

CO được tạo ra như một sản phẩm phụ của quá trình đốt cháy không hoàn toàn than, dầu và chất hữu cơ Nguồn ô nhiễm CO chính của thành phố là khí thải từ động

cơ ô tô và xe máy CO với nồng độ khoảng 250 ppm sẽ giết chết con người, với khoảng 600 triệu tấn khí CO được sản xuất trên toàn cầu mỗi năm

N2O là khí nhà kính được tạo ra từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, với hàm lượng toàn cầu tăng khoảng 0,2% -3 % mỗi năm

Để xác định mức CO2 , CO, SO2 và NOx, phải tuân theo các quy trình sau:

Trang 29

Bảng 1.1: Quy ước đo hàm lượng khí CO2, CO, SO2, NOx

±2×10−4%V hoặc ± 5 % (giá trị đọc)

±2×10−4%V hoặc ± 5 % (giá trị đọc)

±2×10−4%

V hoặc ± 5

% (giá trị đọc)

Nguồn: Văn bản kỹ thuật đo lường Việt Nam Lưu ý: Sai số của mối phép đo được xác định theo:

Độ lặp lại được tính theo độ lệch chuẩn s theo công thức:

S =

√ ∑𝑛𝑖=1 (𝑦𝑖−𝑦) 2 𝑛−1

Trong đó: n là số lần đo

Y là giá trị trung bình

Y là giá trị trung bình

1.1.4 Tác động chung của biến đổi khí hậu

Việt Nam là một trong những đất nước chịu hậu quả nặng nề nhất của BĐKH, theo IPCC - Ủy ban liên chính phủ về BĐKH BĐKH đã và đang trở thành nguyên nhân hàng đầu gây thiệt hại về kinh tế và các lo ngại đến sức khỏe con người Thêm vào đó, BĐKH còn là mối đe dọa tiềm tàng đối với sự phát triển và ổn định của mỗi quốc gia

1.1.4.1 Tác động của biến đổi khí hậu tới tới tăng trưởng kinh tế

Theo Nguyễn Thị Thảo (2018), BĐKH đã làm chậm TTKT và tạo ra các chu kỳ tăng trưởng không bền vững trong những thập kỷ gần đây Những thiệt hại kinh tế do

Trang 30

BĐKH gây ra, cũng như chi phí sửa chữa thiệt hại làm giảm mức độ tập trung kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển

Viện Re Swiss cảnh báo rằng tác động lớn nhất của BĐKH là nó có thể quét sạch tới 18% GDP của nền kinh tế toàn thế giới vào năm 2050 nếu nhiệt độ toàn cầu tăng 3,2°C Natalie Marchant (2021) cũng dự báo rằng các nền kinh tế châu Á sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi tác động của BĐKH, với 5,5% ảnh hưởng đến GDP trong trường hợp tốt nhất và 26,5% trong trường hợp nghiêm trọng

Dell, Jones và Olken (2008) chỉ ra rằng tập trung kinh tế là một yếu tố quan trọng trong việc giảm thiểu thiệt hại tiềm tàng mà một quốc gia có thể phải gánh chịu

do BĐKH bằng cách sử dụng dữ liệu nhiệt độ và lượng mưa trong khoảng thời gian 50 năm Nói cách khác, các đất nước nghèo có xu hướng chịu đựng các tác động của nó rất thấp Nhìn chung, nghiên cứu thực nghiệm ở trên cho thấy nhiệt độ, lượng mưa và các hiện tượng thời tiết cực đoan có ý nghĩa kinh tế, ảnh hưởng đáng kể đến kết quả kinh tế

1.1.4.2 Tác động của biến đổi khí hậu tới nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp sử dụng một tỷ lệ lớn dân số ở các nước đang phát triển , chiếm từ 60% đến 80% lực lượng lao động BĐKH có thể gây ra những hậu quả sâu rộng đối với nông nghiệp vốn phụ thuộc nhiều vào các phương pháp tưới tiêu tự nhiên (nhiệt độ và lượng mưa) Nhiệt độ cao hơn làm giảm năng suất cây trồng đồng thời thúc đẩy sự phát triển của cỏ dại và sâu bệnh Lượng mưa thay đổi làm tăng mất mùa trong ngắn hạn và giảm sản lượng trong dài hạn

Một nghiên cứu của Li và các cộng sự (2011) cho thấy tác động của BĐKH đối với năng suất ngô ở Hoa Kỳ và Trung Quốc trong giai đoạn 2008 và 2030 cho thấy sự kết hợp của thay đổi về cả nhiệt độ và lượng mưa có thể mang lại những tác động tích cực hoặc tiêu cực đến năng suất ngô Tùy vào điều kiện kinh tế và khí hậu khu vực sẽ làm cho tác động của BĐKH đến năng suất ngô về cơ bản là khác nhau ở các vùng khác nhau

Tác động của BĐKH với năng suất ngô ở Hoa Kỳ và Trung Quốc từ năm 2008 đến năm 2030 được mô tả trong một nghiên cứu của nhóm các tác giả mà dẫn đầu là

Li (2011) cho thấy sự kết hợp giữa các thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa có thể ảnh hưởng đến năng suất ngô theo chiều hướng hoặc tốt hoặc xấu Tác động của BĐKH

Trang 31

đến năng suất ngô sẽ khác nhau đáng kể tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khí hậu của khu vực

Amos Apraku và cộng sự (2021) đã sử dụng bằng chứng từ hai quốc gia khác nhau, Kenya và Nam Phi, để cho thấy việc sử dụng kiến thức bản địa rộng rãi như thế nào trong việc đối phó với các tác động của BĐKH BĐKH tác động đến nông nghiệp;

và, một lần nữa, nêu bật những điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình phát triển, truyền tải và tích hợp hệ thống tri thức bản địa với khoa học hiện đại giữa các quốc gia

và nền văn hóa châu Phi

Theo Nguyễn Thị Lan (2019), tác động của BĐKH ngày càng rõ nét, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp của Việt Nam Nếu mực nước biển dâng 1m mà không

có các biện pháp ngăn chặn hiệu quả, khoảng 40 % diện tích ĐBSCL , 11% ĐBSH và 3% các tỉnh ven biển khác sẽ bị ngập, gây ngập lụt nghiêm trọng Gần một nửa diện tích đất nông nghiệp ở ĐBSCL đã bị nhấn chìm và không thể canh tác được Nhiệt độ tăng và hạn hán sẽ có tác động đến sự phân bố cây trồng, đặc biệt là năng suất Cụ thể, năng suất lúa vụ xuân có xu hướng thấp hơn năng suất lúa vụ mùa; năng suất ngô vụ đông có xu hướng cao hơn ở Đồng bằng Bắc Bộ và thấp hơn ở các nơi khác

1.1.4.3 Tác động của biến đổi khí hậu tới sức khỏe con người

BĐKH là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với sức khỏe nhân loại Nó có những tác động nghiêm trọng trong ngắn hạn và dài hạn đối với sức khỏe con người, khiến các chuyên gia y tế trên toàn thế giới phải đối mặt với những hậu quả sức khỏe của cuộc khủng hoảng BĐKH gây ra

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, tác động của BĐKH có mối liên hệ chặt chẽ tới tình trạng sức khỏe con người Theo WHO (2021), BĐKH dự kiến sẽ gây ra thêm 250.000 ca tử vong mỗi năm từ năm 2030 đến 2050 Nó đã có tác động trên phạm vi rộng đối với sức khỏe, bao gồm tử vong và bệnh tật do các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt ngày càng thường xuyên như sóng nhiệt, bão và lũ lụt, gián đoạn hệ thống lương thực, gia tăng bệnh truyền nhiễm từ động vật và thức ăn, nước uống và tinh thần các vấn đề sức khỏe Hơn nữa, BĐKH đe dọa nhiều yếu tố xã hội quyết định đến sức khỏe, bao gồm sinh kế, bình đẳng và khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe và các cơ cấu hỗ trợ xã hội

Trang 32

Theo US Global Change Research Program (2016), BĐKH có nhiều tác động đến sức khỏe con người BĐKH không chỉ tác động xấu đến sức khỏe con người về yếu tố vật chất mà còn tác động xấu đến sức khỏe tinh thần, làm gia tăng tỷ lệ tự tử Lũ lụt và cháy rừng đang gây ra những tổn hại về tâm lý, cũng như mất đi nguồn lương thực, nhà cửa và sinh kế, dẫn đến trầm cảm Các cú sốc và chấn thương liên quan đến khí hậu có thể gây ra tình trạng đau khổ dai dẳng hoặc rối loạn căng thẳng sau chấn thương, lo âu và trầm cảm, đồng thời làm tăng nguy cơ tự tử ở một số người, đặc biệt

là những người trẻ tuổi

Kjellstrom và các cộng sự (2009) đã nhận định BĐKH ảnh hưởng đến sức khỏe nghề nghiệp do đó làm giảm đáng kể năng suất lao động và khả năng lao động của con người Sức khỏe người lao động bị ảnh hưởng khi môi trường làm việc nóng hơn, vượt quá nhiệt độ cơ thể bình thường của họ Hay nói cách khác, người lao động đã làm việc liên tục trong một khoảng thời gian không ngắn để đạt được mức sản lượng tương

tự như trước đây, điều này làm suy mòn sức khỏe của họ, đồng thời năng suất lao động cũng bị giảm sút

1.2 TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG BAO TRÙM

1.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

TTKT từ lâu đã được coi là một trong những vấn đề cấp bách trong các ấn phẩm kinh tế nói chung và PTKT nói riêng Các nhà kinh tế nói chung đồng ý rằng

"tăng trưởng kinh tế " được định nghĩa là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP), hoặc quy mô của tổng sản phẩm quốc dân , hàng hóa hoặc dịch vụ.tăng trưởng bình quân đầu người trong một khoảng thời gian cụ thể (thường là một năm) Tập trung kinh tế phụ thuộc vào hai quá trình: tích lũy tài sản và đầu tư tài sản hiệu quả hơn

Theo giáo trình Kinh tế phát triển trường Học Viện Ngân Hàng “TTKT là sự gia tăng về quy mô, khối lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Như vậy bản chất của TTKT phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế được thể hiện ở sự gia tăng tuyệt đối và tương đối hay là

sự tăng lên về quy mô và tốc độ của nó”

Theo Bách khoa toàn thư mở, TTKT được định nghĩa là sự gia tăng GDP, GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một khoảng thời gian nhất định Tuy nhiên,

Trang 33

ở một số nước có chỉ số BBĐTN tương đối cao, mặc dù có thu nhập bình quân cao nhưng nhiều người vẫn thất nghiệp, nghèo đói

Như vậy, tập trung kinh tế biểu thị sự thay đổi về lượng của nền kinh tế TTKT hiện nay phải đi đôi với bền vững Nói cách khác, đảm bảo chất lượng của các trung tâm kinh tế là rất quan trọng, do đó, trọng tâm là sự tăng trưởng liên tục và hiệu quả của hai chỉ tiêu: tổng GDP và tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người Hơn nữa, trong điều kiện cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, quá trình đó phải được tạo ra bởi các yếu

tố có vai trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn con người

TTKT là vấn đề cực kỳ bức thiết, liên quan trực tiếp đến sự hưng thịnh hay sa sút của một quốc gia Thúc đẩy TTKT phát triển đất nước và tạo ra thêm của cải cho

xã hội là tiền đề để giải quyết chuỗi vấn đề kéo theo như cân bằng cán cân ngân sách, đầu tư có hiệu quả, phúc lợi xã hội, đảm bảo chu cấp đầy đủ cho an ninh quốc phòng, Trái lại, nếu không gặt hái được thành công nhất định trên mặt TTKT thì quốc gia đó sẽ rất khó giải quyết các thách thức trên, đồng thời gia tăng khả năng nảy sinh những vấn đề mới

1.2.2 Khái niệm tăng trưởng bao trùm

TTBT nhanh chóng được tích hợp vào các tài liệu về phát triển và hoạch định chính sách của hầu hết các nước đang phát triển mặc dù thiếu đi sự đồng thuận về khái niệm TTBT Với mức độ sử dụng phổ biến của thuật ngữ này dựa trên tổng quan của các nghiên cứu trước đây, TTBT có thể hiểu là việc hướng đến một cuộc sống không

có sự phân biệt, tức là tất cả mọi người trên thế giới đều bình đẳng với nhau từ kinh tế đến xã hội Bởi vậy, TTBT "vẫn là một khái niệm trực quan và đơn giản nhưng khó nắm bắt” (Ranieri và Ramos, 2013) Cho đến nay xuất hiện rất nhiều cuộc tranh luận, các nghiên cứu để tìm ra một định nghĩa ngắn gọn nhất, đầy đủ nhất và nhận được sự nhất trí của tất cả mọi người

Khái niệm “tăng trưởng bao trùm” hay “tăng trưởng hài hòa” (Inclusive Growth) được đề cập đến đầu tiên trong cuốn “Thể chế là nguyên nhân cơ bản của tăng trưởng dài hạn” (Acemoglu & cộng sự, 2004) Điểm chính mà họ muốn đưa ra là các quốc gia và vùng lãnh thổ có thể đạt được trình độ phát triển cao và toàn diện bởi

vì họ đã thiết lập được một hệ thống thể chế kinh tế và chính trị bao trùm Nói cách khác, các quốc gia này đã cung cấp mức độ bảo hộ tương đối bình đẳng cho tất cả các

Trang 34

thành phần kinh tế Mặt khác, các nước kém phát triển hoặc không bền vững là kết quả của một hệ thống thể chế không bao trùm khiến kết quả kinh tế được phân bổ không đồng đều giữa các thành phần kinh tế

TTBT được Ravallion & Chen (2003) định nghĩa là tăng trưởng có lợi cho người nghèo Theo Habito (2009), TTBT được định nghĩa là tăng trưởng GDP làm giảm đáng kể tình trạng đói nghèo Trong bối cảnh này, thuật ngữ TTBT và tăng trưởng vì người nghèo có thể được sử dụng thay thế cho nhau Tuy nhiên, nhiều học giả và tổ chức đã cho rằng TTBT và vì người nghèo không đồng nghĩa Theo Kakwani

và Pernia (2000), TTBT đòi hỏi sự đóng góp và chia sẻ lợi ích Quá trình tham gia tích cực của các nhóm xã hội để đảm bảo tăng trưởng và tăng số lượng người đóng góp cho nền kinh tế được gọi là đóng góp ở đây Trong khi đó, theo Grinspun ( 2004), TTBT bao gồm cả giảm nghèo và giảm BBĐ, nghĩa là những người có thu nhập thấp hơn sẽ được hưởng lợi nhiều hơn từ TTBT so với những người có thu nhập cao hơn

Theo Ianchovichina và Lundstrom (2009), TTBT làm tăng tốc độ tăng trưởng

và quy mô nền kinh tế đồng thời tạo cơ hội việc làm và đầu tư cho người lao động trong xã hội Hơn nữa, Rauniyar & Kanbur (2010) phát hiện rằng, trong khi không có định nghĩa phổ quát về TTBT hoặc phát triển bền vững, thuật ngữ này được xem là tăng trưởng dựa trên các hệ thống kinh tế - xã hội và chính trị

Một khái niệm khác về TTBT là “tăng trưởng mang lại lợi ích cho tất cả xã hội, bao gồm người nghèo, người cận nghèo, nhóm thu nhập trung bình, và thậm chí cả những người giàu có” (Klasen, 2010) Định nghĩa này được đưa ra nhằm phản bác lại những ý kiến cho rằng TTBT chính là tăng trưởng tuyệt đối vì người nghèo của một số bài báo Phải thừa nhận rằng TTBT có liên quan mật thiết đến tăng trưởng vì người nghèo, bởi nó đòi hỏi phải giảm cả đói nghèo và BBĐ để phát triển bền vững hơn Tuy nhiên, theo khái niệm trên, khác với tăng trưởng vì người nghèo, TTBT không chỉ quan tâm đến xóa đói giảm nghèo và phân phối thu nhập; nó cũng quan tâm đến các khía cạnh khác của xã hội như bình đẳng tiếp cận tài nguyên, ô nhiễm môi trường và đổi mới, hoặc vị trí của các tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế xã hội của một quốc gia hoặc phát triển chính trị TTBT mang đến cho mọi cá nhân và tổ chức cơ hội đóng góp và hưởng lợi từ quá trình phát triển

Trang 35

Hơn nữa, có sự phân biệt rõ ràng giữa TTBT và TTKT Theo nhóm nghiên cứu, TTKT được định nghĩa là sự tăng lên của hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, cũng như sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời kỳ nhất định Có nghĩa là, để đạt được tốc độ tăng trưởng tốt , nền kinh

tế phải được mở rộng liên tục và hiệu quả, cũng như thu nhập bình quân đầu người Nhưng tăng thu nhập bình quân không có nghĩa là mức thu nhập của tất cả người dân trong một quốc gia đều tăng lên một lượng tương ứng Việc phân chia không đồng đều các cơ hội tham gia vào sự phồn thịnh và mở rộng của nền kinh tế rất dễ khiến người giàu ngày một giàu hơn, người nghèo thì phải gánh chịu những tác dụng phụ đi kèm sự TTKT không bền vững này Điều đó sẽ gây kéo giãn khoảng cách giàu - nghèo ngày một xa hơn, tình trạng BBĐ xã hội ngày một leo thang và dễ dẫn tới bất ổn xã hội Nó

đi ngược lại với mục tiêu cốt lõi của TTBT

Ngoài ra, TTBT còn có một ý nghĩa khác ít được chú ý hơn Đó là ngoài xoa dịu sự BBĐ trong thu nhập và phân phối lợi ích kinh tế một cách công bằng cho toàn

xã hội thì “TTBT liên quan đến nhiều khía cạnh hơn là chỉ xung quanh các vấn đề về kinh tế” (McKinley, 2010) Cụ thể là môi trường sống và vị thế của con người trong xã hội, cải tiến những khía cạnh này sẽ tạo thành tăng trưởng toàn diện

Qua đây, nhóm chúng tôi xin phép được tổng hợp một khái niệm tổng quát nhất

về TTBT, làm tiền đề và kim chỉ nam xuyên suốt bài nghiên cứu: TTBT là một khái

niệm đa nghĩa nhấn mạnh sự phát triển bền vững song song với công bằng xã hội, nâng cao mức thu nhập của người dân đồng thời giảm BBĐTN và đảm bảo rằng những thành công kinh tế kết tinh từ quá trình tăng trưởng được phân phối công bằng cho tất cả mọi người, tất cả các thành phần của xã hội, nhất là các nhóm yếu thế

1.2.3 Đặc điểm của tăng trưởng bao trùm

Dựa vào khái niệm nêu trên, có thể rút ra bốn đặc trưng cơ bản của TTBT như sau:

Thứ nhất, TTBT hướng tới mục tiêu bền vững lâu dài, đòi hỏi phải đảm bảo

rằng tập trung kinh tế gắn với công bằng xã hội hướng tới mục tiêu cuối cùng là phát triển con người

Trang 36

Thứ hai, TTBT tìm cách giảm nghèo và BBĐ cho các nhóm yếu thế trong cả

lĩnh vực thu nhập và phi thu nhập của cuộc sống (tiếp cận cơ sở hạ tầng kỹ thuật số, chăm sóc sức khỏe, )

Thứ ba, TTBT nhấn mạnh đến đóng góp hơn là thành tích Chính phủ phải đảm

bảo rằng mọi công dân đều có cơ hội đóng góp vào tăng trưởng chung, từ việc định hướng tăng trưởng đến tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tạo ra tăng trưởng này

Thứ tư, TTBT đảm bảo rằng các lợi ích của sự phát triển được phân phối đồng

đều trong toàn xã hội

1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng bao trùm

Terry McKinley (2014) đã đề xuất bốn thành tố cho Chỉ số tổng hợp TTBT:

Một là thành công trong việc đạt được tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và

giúp người dân tiếp cận cơ sở hạ tầng kinh tế - chiếm tỷ trọng 50%;

Hai là thành công trong việc giảm nghèo và BBĐ (bao gồm BBĐ theo chiều

dọc, chiều ngang và giới) - chiếm tỷ trọng 25%;

Ba là thành công trong việc phát triển con người toàn diện (về y tế, giáo dục,

khả năng tiếp cận nguồn nước sạch và mức độ vệ sinh) - chiếm tỷ trọng 15%

Bốn là thành tựu trong cung cấp các dịch vụ bảo trợ xã hội cơ bản (đặc biệt là

xóa nghèo cùng cực) - chiếm tỷ trọng 10%

2 Giảm nghèo và BBĐ (theo chiều dọc, chiều ngang và giới) 25%

3 Phát triển con người toàn diện (về y tế, giáo dục, khả năng

tiếp cận nguồn nước sạch và mức độ vệ sinh)

Trang 37

1.2.4.1 Tăng trưởng, việc làm và cơ sở hạ tầng kinh tế

* Về tăng trưởng kinh tế:

Nâng cao tốc độ tăng thu nhập bình quân là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy TTBT Vì thành công trong lĩnh vực này tạo nền tảng cho sự tiến bộ trong nhiều lĩnh

vực khác, Terry McKinley cho nó một trọng số đáng kể (25%) trong chỉ số tổng hợp

Để xác định xu hướng chuyển dịch của nền kinh tế, cần kết hợp tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người với thay đổi tỷ trọng giá trị thặng dư trong các ngành công

nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp Vậy, tác giả lựa chọn hai chỉ số là: tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người thực tế và tỷ trọng ba ngành: công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp trong tổng giá trị gia tăng

* Về tạo việc làm hiệu quả:

Mặc dù các nhà phân tích đã cảnh báo về sự gia tăng nạn thất nghiệp ở châu Á - Thái Bình Dương và các khu vực đang phát triển khác, họ nhấn mạnh việc làm là một khía cạnh quan trọng của TTBT nhưng vẫn thường bị bỏ qua Có lẽ một phần là do các chỉ số có sẵn để đánh giá tiến độ của việc làm có hiệu quả nói chung là không đầy đủ Tuy nhiên, Terry McKinley (2014) vẫn xem yếu tố này như là một chỉ số cần thiết

chiếm 15% tỷ trọng tổng chỉ số và gợi ý một số chỉ tiêu đã được kiểm định tính khả

dụng và tính hữu dụng thông qua nghiên cứu về một số nước điển hình:

- Tỷ lệ lao động (LĐ) được nhận trong ngành

- Tỷ lệ LĐ trong lĩnh vực sản xuất

- Tỷ lệ LĐ làm riêng và LĐ gia đình không được trả lương

- Tỷ lệ LĐ gia đình có thu nhập dưới mức chuẩn nghèo quốc tế về PPP là 2.50 USD/ngày/người

(Thu thập dữ liệu từ Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO))

* Về việc tiếp cận cơ sở hạ tầng kinh tế:

Đây là một khía cạnh quan trọng khác của TTBT Các chỉ số đo lường mức tiếp cận bình quân đầu người được xác định trong một số trường hợp, chẳng hạn như lượng

điện tiêu thụ bình quân một người Terry McKinley trao cho khía cạnh này 10% tổng chỉ số và đề xuất:

- Tỷ lệ dân số được sử dụng điện (sử dụng dữ liệu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế)

Trang 38

- Số thuê bao điện thoại di động trên 100 dân (sử dụng cơ sở dữ liệu Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ)

1.2.4.2 Thu nhập và bình đẳng chung

* Về các chỉ số đo lường mức độ nghèo đói:

(a) Tỷ lệ dân số dưới mức nghèo khổ do quốc gia xác định (sử dụng dữ liệu của World Bank hoặc Asia Development Bank)

(b) Tỷ lệ dân số dưới mức nghèo quốc tế 2,50 USD/ngày/người theo giá năm 2005 (sử dụng dữ liệu của World Bank)

* Về các thước đo BBĐ, theo chiều dọc:

- Hệ số Gini

- Tỷ lệ thu nhập của 60% dân số nghèo nhất Chỉ số này được thiết kế để trở thành thước đo rộng nhất về BBĐ theo chiều dọc (sử dụng dữ liệu của World Bank hoặc Asia Development Bank)

* Về các thước đo BBĐ, theo chiều ngang:

- Chênh lệch thu nhập hoặc chi tiêu giữa khu vực nông thôn và thành thị

- Chênh lệch thu nhập hoặc chi tiêu giữa các vùng hoặc các nhóm dân tộc chính

* Về bất bình đẳng giới:

a) Tỷ số nữ biết chữ trên nam giới trong độ tuổi từ 15 đến 24 biết chữ Chỉ

số này thể hiện tương ứng với sự BBĐ giữa nam - nữ trong tình trạng thiếu thốn giáo dục cùng cực, được đo lường bằng các dữ liệu của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO)

(b) Tỷ lệ nữ trên nam trong giáo dục THCS Điều này tương ứng với sự BBĐ

về mức độ thiếu thốn đào tạo và có thể được đo bằng các nguồn của UNESCO

(c) Tỷ lệ phần trăm các ca sinh có sự hỗ trợ của nhân viên y tế lành nghề

Bộ dữ liệu có thể lấy từ các nguồn của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

(d) Tỷ lệ phụ nữ làm việc trong các ngành phi nông nghiệp Đây là biến thể

của chỉ số được bao gồm trong phần về các biện pháp việc làm có năng suất và có thể lấy từ các nguồn ILO

Các thành phần nghèo về thu nhập và bình đẳng trong tổng trọng số là 25% được chỉ định cho chỉ số tổng hợp TTBT của bài báo Trong phạm vi 25% trọng số

Trang 39

này, 40% trọng số (10% tổng thể) được đưa ra cho tình trạng nghèo cùng cực và vừa phải (ước tính quốc gia); tỷ trọng 40% (tổng thể là 10%) cho sự BBĐ theo chiều dọc

và chiều ngang (ví dụ, tỷ trọng chi tiêu của 60% người nghèo nhất); và 20% (5% tổng thể) đối với bất bình đẳng giới

1.2.4.3 Phát triển con người toàn diện

Phát triển con người toàn diện cả về sức khỏe, giáo dục và môi trường sống được xem là mục tiêu bức thiết trong chiến lược TTBT Cụ thể, về mặt sức khỏe và dinh dưỡng, tác giả đề xuất tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi và người dưới 40 tuổi và

tỷ lệ trẻ em từ dưới 5 tuổi bị nhẹ cân vì đây là hai đối tượng cần quan tâm nhất Thêm vào đó, giáo dục và môi trường sống là nền tảng bắt buộc nếu chúng ta muốn loại bỏ

sự khác biệt hiện có trong xã hội Một số chỉ số tiềm năng được xác định để nâng cao năng lực con người được ứng dụng phổ biến và cần được hỗ trợ bởi sự sẵn có của dữ liệu Việc đánh giá các chỉ số này cần bao gồm sự phân tách kết quả theo khu vực và nhóm thu nhập:

(i) Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi, sử dụng dữ liệu của UNICEF và WHO; (ii) Tỷ lệ tử vong ở người dưới 40 tuổi, sử dụng dữ liệu của UNDP

(iii) Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị nhẹ cân, sử dụng dữ liệu của UNICEF và WHO; (iv) Tỷ lệ nhập học tiểu học ròng, sử dụng dữ liệu của UNESCO;

(v) Tỷ lệ nhập học trung học thực, sử dụng dữ liệu của UNESCO;

(vi) Tỷ lệ dân số được sử dụng nước an toàn, sử dụng dữ liệu của World Bank; (vii) Tỷ lệ dân số được tiếp cận với điều kiện vệ sinh đầy đủ, sử dụng các Chỉ

số Phát triển Thế giới của World Bank

Đối với chỉ số tổng hợp TTBT, trọng số là 15% được gán cho loại chỉ số

chung này Trong tổng số này, một phần ba (5% tổng thể) được trao cho nhóm sức khỏe và dinh dưỡng (tức là tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đến dưới 40 tuổi và tỷ lệ phần trăm trẻ em dưới 5 tuổi bị nhẹ cân), một- thứ ba (5% tổng thể) cho cụm giáo dục (tức là, tỷ lệ nhập học tiểu học và THCS thuần túy), và một phần ba (5% tổng thể) cho các chỉ số tiếp cận với nước và vệ sinh

1.2.4.4 Các khía cạnh toàn diện về bảo trợ xã hội

Vấn đề bảo trợ xã hội thường được ADB nhắc đến như một yếu tố bổ sung của chiến lược TTBT và đặc biệt tập trung áp dụng tính toàn diện, vì phần lớn trọng tâm là

Trang 40

người nghèo hay những người gặp khó khăn lớn ADB nhấn mạnh rằng: “Các thành phần chính của TTBT là tạo ra các cơ hội thông qua tăng trưởng bền vững, tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng cho tất cả mọi người và xóa bỏ nghèo đói” Do đó, nhu cầu xóa đói giảm nghèo đòi hỏi cần quan tâm tới bảo trợ xã hội hoặc mạng lưới an toàn xã hội

ADB đã triển khai công việc về chỉ số bảo trợ xã hội (Baulch và cộng sự 2008), chỉ số này có thể cho biết về chất lượng và độ bao phủ của bảo trợ xã hội ở mỗi quốc gia Chỉ số tổng hợp này có 4 thành phần: (i) tổng chi tiêu cho tất cả chính sách bảo trợ

xã hội tính theo tỷ lệ trên GDP, (ii) số người thụ hưởng các chính sách bảo trợ xã hội theo tỷ lệ chia cho tổng dân số tham chiếu cho các nhóm đối tượng chính, (iii) số đối tượng bảo trợ xã hội là người nghèo tỷ lệ với tổng dân số nghèo và (iv) chi tiêu bảo trợ

xã hội bình quân cho mỗi người nghèo tỷ lệ với chuẩn nghèo

Chỉ số này hiện có sẵn cho một số quốc gia và có sự kết hợp các chỉ số đầu vào Tuy nhiên, các thành phần này khác với một số chỉ số phát triển con người đã được khuyến nghị trong bài báo này để theo dõi tăng trưởng toàn diện, vì chỉ số này được thiết kế để ghi nhận kết quả Tuy nhiên, chỉ số mới này sẽ được đưa vào chỉ số tổng hợp TTBT, cùng với sơ đồ trọng số cho bốn thành phần của nó Đối với mục đích trình bày, bốn thành phần của chỉ số bảo trợ xã hội luôn có thể được đưa ra dưới dạng các

chỉ số riêng biệt Tỷ trọng 10% được gán cho chỉ số bảo trợ xã hội nói chung, thêm

trọng số cuối cùng vào tổng số cho bốn nhóm chỉ số chính của chỉ số TTBT

Thứ nhất, chỉ số phát triển con người - HDI - là chỉ số quan trọng nhất đóng

góp vào các tài liệu nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia HDI, được

sử dụng thay thế cho các thước đo truyền thống về phát triển đất nước, cung cấp một định nghĩa rộng hơn về hạnh phúc và một thước đo tổng hợp dựa trên các trọng số bằng nhau được quy cho ba chiều cơ bản của sự hoàn thiện của con người HDI là một thước đo tổng hợp phản ánh sự phát triển của con người về sức khỏe (được đo bằng tuổi thọ trung bình từ khi sinh ra), kiến thức (được đo bằng chỉ số giáo dục) và thu nhập (tính bằng tổng thu nhập quốc dân trên tổng dân số)

Công thức tính chỉ số HDI:

𝐻𝐷𝐼 = (𝐼𝑠ứ𝑐 𝑘ℎỏ𝑒 × 𝐼𝑔𝑖á𝑜 𝑑ụ𝑐 × 𝐼𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝)

1 3

Trong đó:

– 𝐼𝑠ứ𝑐 𝑘ℎỏ𝑒: Kỳ vọng sống tính từ lúc sinh; kỳ vọng mình sống được bao nhiêu năm

Ngày đăng: 05/12/2023, 19:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4] Cao Lực (2021), Biến đổi khí hậu “tấn công” nước giàu Sách, tạp chí
Tiêu đề: tấn công
Tác giả: Cao Lực
Năm: 2021
[1] Quốc hội (2008), Luật bảo hiểm y tế năm 2008 số 25/2008/QH12, ban hành ngày 14/11/2008 Khác
[2] Quốc hội (2013), Luật phòng chống thiên tai năm 2013 số 33/2013/QH13, ban hành ngày 19/06/2013 Khác
[3] Quốc hội (2014), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13, ban hành ngày 13/6/2014 Khác
[4] Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, ban hành ngày 17/11/2020 Khác
[5] Quốc hội (2021), Quyết định số 16/2021/QH15 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, ban hành ngày 27/07/2021 Khác
[6] Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, ban hành ngày 25/09/2012 Khác
[7] Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 2139/QĐ-TTG phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH, ban hành ngày 05/12/2011 Khác
[8] Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 2623/QĐ-TTg phê duyệt đề án Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với BĐKH giai đoạn 2013 – 2020, ban hành ngày 31/12/2013 Khác
[9] Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số 1670/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 – 2020, ban hành ngày 31/10/2017;SÁCH Khác
[1] Đỗ Văn Đức (2017), Giáo trình Kinh tế phát triển trường Học Viện Ngân Hàng Khác
[2] Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường (2017), Ứng phó với BĐKH ở Việt Nam Khác
[3] Vũ Cương, Phạm Văn Vận (2005), Giáo trình Kinh tế công cộng, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống Kê Khác
[1] ADB (2012), Tóm lược về Tác động của Biến đổi Khí hậu và Kế hoạch Ứng phó ngành giao thông vận tải đường bộ Khác
[2] ADB (2021), Tóm lược về Tác động của Biến đổi Khí hậu và Kế hoạch Ứng phó ngành năng lượng Khác
[3] Bộ Tài nguyên & Môi trường (2022), Thiên tai bất thường, gây thiệt hại lớn Khác
[6] Điệp, N. H. (2021), Việt Nam Dự COP 26: Chủ Động Ứng Phó Với Thời Tiết Khắc Nghiệt Khác
[7] Đỗ Thành (2012), Những tác động tới sức khỏe của Biến đổi khí hậu Khác
[8] Hà Chi (2021), Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Tác động và thích ứng Khác
[9] Hà Linh (2021), Nhà máy thủy điện khắp thế giới ”lao đao” vì biến đổi khí hậu [10] Joseph Johnson (2021), Internet activities of U.S. users 2019 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w