1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam

91 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tác Động Của Hiệp Định Đối Tác Toàn Diện Và Tiến Bộ Xuyên Thái Bình Dương Đến Thu Hút Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại Việt Nam
Tác giả ThS. Nguyễn Thị Cẩm Giang, TS. Bùi Thị Mến, PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền, TS. Trần Ngọc Mai, ThS. Nguyễn Văn Tâm
Trường học Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Khoa Tài Chính
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Cấp Cơ Sở
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan nghiên cứu Nghiên cứu những yếu tố thu hút FDI và tác động của các hiệp định thương mại tự do nói chung và hiệp định CPTPP nói riêng đến thu hút đầu tư trực tiếp n

Trang 1

MÃ SỐ: DTHV.24/2020

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: ThS NGUYỄN THỊ CẨM GIANG

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

MÃ SỐ: DTHV.24/2020

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Cẩm Giang

Thư ký đề tài: TS Bùi Thị Mến Thành viên tham gia: PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền

TS Trần Ngọc Mai ThS Nguyễn Văn Tâm

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

STT Học hàm, học vị

Họ tên Vai trò Chức vụ, Đơn vị công tác

1 Ths Nguyễn Thị Cẩm Giang Chủ nhiệm Giảng viên Khoa Tài chính

2 TS Bùi Thị Mến Thư ký Phó chủ nhiệm BM Thuế - Tài

chính công, khoa Tài chính

3 PGS.TS Lê Thị Diệu Huyền Thành viên Phó trưởng khoa Tài chính

4 TS Trần Ngọc Mai Thành viên Phó chủ nhiệm BM Tài chính

doanh nghiệp, khoa Tài chính

5 ThS Nguyễn Văn Tâm Thành viên Giảng viên khoa Tài chính

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu: 5

6 Kết cấu: 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 7

1.1 Những vấn đề chung về hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 7

1.1.1 Hiệp định thương mại tự do 7

1.1.2 Hiệp định thương mại tư do thế hệ mới 9

1.1.3 Tổng quan về hiệp định CPTPP 11

1.1.4 Những nội dung của CPTPP tác động đến đầu tư nước ngoài 19

1.2 Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài 21

1.2.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài 21

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả thu hút và hiệu quả thu hút FDI 23

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đển thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 26

1.4 Tác động của hiệp định thương mại tự do tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CPTPP ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 33

2.1 Tổng quan tình hình kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 -2020 33

2.2 Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 36

2.2.1 Chính sách tài chính thu hút FDI 36

2.2.2 Chỉ tiêu về kết quả thu hút FDI 39

2.2.3 Chỉ tiêu hiệu quả thu hút FDI 47

2.3 Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ các nước thànnh viên CPTPP sau hai năm thực thi hiệp định 51

Trang 5

2.4 Đánh giá tác động của CPTPP đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt

Nam 56

2.4.1 Kết quả đạt được: 56

2.4.2 Hạn chế 58

2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 59

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH THỰC THI CPTPP 62

3.1 Định hướng và chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 62

3.2 Giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI trong bối cảnh thực thi các cam kết CPTPP 65

3.2.1 Nhóm giải pháp về ổn định chính trị và thể chế chính sách ưu đãi đầu tư đối với khu vực FDI 65

3.2.2 Nhóm giải pháp về kinh tế để tạo môi trường đầu tư ổn định và hiệu quả 66

3.2.3 Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 68

3.2.4 Nhóm giải pháp về khoa học, công nghệ và cơ sở hạ tầng 69

3.2.5 Nhóm giải pháp khác 70

3.3 Kiến nghị đối với Chính phủ 72

KẾT LUẬN 77

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, HÌNH, HỘP

Hộp 1.1 : Tổng quát các cam kết về thuế quan trong CPTPP dành cho Việt Nam 12

Hình 1.1 : Các kênh tác động của FTA đối với những yếu tố ảnh hưởng của FDI 31

Hình 2.1: Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm, 2006 – 2019 (%) 33

Hình 2.2: Hiệu quả đầu tư theo hệ số ICOR, 2011 - 2019 35

Hình 2.3: Diễn biến xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường CPTPP 36

Hình 2.4: Số lượng dự án FDI giai đoạn 2010-2020 40

Hình 2.5: Quy mô vốn FDI đăng ký giai đoạn 2010 - 2020 41

Hình 2.6: Tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành kinh tế từ sau khi kết thúc đàm phán CPTPP đến nay 45

Hình 2.7: Các nhà đầu tư FDI lớn của Việt Nam 46

Hình 2.8: Tỷ trọng của FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (%) 47

Hình 2.9: Đóng góp của các khu vực kinh tế trong tổng GDP cả nước giai đoạn 2010 - 2020 48

Hình 2.10: Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước 49

Hình 2.11: Tỷ trọng nhập khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước 50

Hình 2.12: Thu ngân sách nhà nước từ doanh nghiệp FDI 51

Bảng 2.1: Tổng đầu tư nước ngoài từ CPTPP vào Việt Nam năm 2019 54

Bảng 2.2: Tổng đầu tư nước ngoài từ CPTPP vào Việt Nam năm 2020 55

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN), khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển, trở thành một trong những khu vực năng động nhất của nền kinh tế, chứng tỏ vị trí quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững Tính lũy kế đến hết năm 2020, cả nước có gần 32 nghìn dự án FDI đang hoạt động với số vốn đăng ký lên đến 374 tỷ USD và tổng vốn thực hiện khoảng 204 tỷ USD, bằng 55% tổng vốn đăng ký có hiệu lực ĐTNN là nguồn lực quan trọng đóng góp lớn vào tổng vốn đầu tư phát triển xã hội (chiếm tỉ trọng trên 25%), đóng góp 15% tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) Khu vực này cũng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hiện nay gần 60% vốn ĐTNN tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, tạo

ra 50% giá trị sản xuất công nghiệp chủ lực …tạo nền tảng quan trọng trong định hướng phát triển Việt Nam thành quốc gia công nghiệp hóa – hiện đại hóa đến năm 2030 Ngoài ra việc thu hút và sử dụng ĐTNN trong thời gian qua góp phần tích cực hoàn thiện thể chế kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh theo các nguyên tắc của kinh tế thị trường; nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp và hỗ trợ cải cách

doanh nghiệp nhà nước cùng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Hiện nay theo xu hướng tất yếu, Việt Nam đứng trước quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới Trong đó, hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) ngoài việc xử lý các vấn đề truyền thống như cắt giảm hàng rào thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ, thương mại, hướng tới một số vấn đề mới như lao động, môi trường… CPTPP được coi như hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tiêu chuẩn cao và toàn diện đưa ra các yêu cầu và tiêu chuẩn cao về minh bạch hóa cũng như đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc và chặt chẽ Hiệp định này với 11 nước thành viên không có Mỹ nhưng cũng đang mở ra nhiều cơ hội cho tất cả các nước tham gia hiệp định

Hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam đang cần có động lực

để tiếp tục tăng trưởng và phát triển Vấn đề có tầm quan trọng đối với quốc gia là chất lượng và hiệu quả kinh tế- xã hội của khu vực FDI đang đòi hỏi phải thay đổi cơ bản định hướng và chính sách thu hút FDI để góp phần thực hiện chiến lược phát triển đất nước Với việc tham gia một số FTA trong đó là CPTPP đã có diễn biến tích cực, trong điều kiện có sự chuyển dịch vốn FDI ở châu Á Chính vì vậy, CPTPP cần được các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp chuẩn bị những điều kiện cần thiết để khi đi vào hoạt động

có thể chủ động ứng phó với thách thức và tận dụng cơ hội mới nhằm mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư với các nước thành viên khác Đặc biệt tận dụng lợi thế từ hiệp

Trang 9

định để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam, tăng cường thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài

Do đó đề tài “Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” trong điều kiện hội nhập sâu rộng như hiện nay được chọn để nghiên cứu là hết

sức cần thiết Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, với mong muốn

bổ sung về lý luận và thực tiễn về vấn đề này, góp thêm tiếng nói phản biện đối với các nhà làm chính sách, các doanh nghiệp khi đưa ra các quyết định, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút FDI trong bối cảnh thực thi những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

2 Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu những yếu tố thu hút FDI và tác động của các hiệp định thương mại tự

do nói chung và hiệp định CPTPP nói riêng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là chủ đề có tính hấp dẫn đối với nhiều chuyên gia kinh tế Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến vấn đề này, trong đó

có thể nêu ra những nghiên cứu tiêu biểu như sau

Tổng quan các nghiên cứu lý thuyết về yếu tố thu hút FDI

Từ những năm 1960 đã có nhiều nghiên cứu lý giải về các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI vào một quốc gia dưới nhiều góc độ khác nhau (góc độ của doanh nghiệp đi đầu tư, của nước chủ đầu tư, của nước nhận đầu tư…) Tổng hợp các nghiên cứu đi trước, Dunning (1977) đã xây dựng nên thuyết chiết trung (Electric Theory) với

mô hình OLI nổi tiếng kết hợp ba nhóm nhân tố lợi thế sở hữu (O), lợi thế địa diểm (L) và lợi thế nội bộ hóa (I) để lý giải FDI Trong đó L liên quan đến lợi thế của địa điểm đầu tư Đây là các nhân tố thuộc môi trường đầu tư của nước nhận đầu tư trong đó có nhóm các yếu tố về khung chính sách liên quan đến FDI

Nghiên cứu định lượng về các yếu tố thu hút tới FDI được thực hiện với nhiều quốc gia và nhiều mô hình nghiên cứu khác nhau Mugableh (2015) đã sử dụng mô hình ARDL – mô hình tự hồi quy phân phối trễ nhằm nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI của Malaysia trong giai đoạn 1977 – 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ giá hối đoái, GDP, tiền mở rộng và độ mở nền kinh tế có tác động tích cực tới thu hút FDI Trong khi đó CPI có tác động tiêu cực

Hasli và cộng sự (2015) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào Châu Á từ 1993 – 2013 bằng mô hình FEM và REM Kết quả nghiên cứu cho thấy lãi suất cho vay, độ mở của nền kinh tế và cung tiền đều có tác động cùng chiều tới dòng FDI vào Châu Á Mặt khác, tỷ lệ thất nghiệp và ô nhiễm môi trường lại là những yếu tố có tác động ngược chiều đến thu hút FDI Hơn nữa, Khamphengvong và cộng sự (2018)

Trang 10

sử dụng mô hình GMM nghiên cứu tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến FDI tạo Lào từ năm 1995 đến năm 2015 Kết quả cho thấy FDI chịu ảnh hưởng của chính nó trong năm trước đó, GDP, độ mở cửa nền kinh tế, chi phí nhân công, tỉ giá hối đoái và tỉ lệ lạm phát Ngoài ra, kết quả ước lượng cũng cho thấy khoảng cách từ nước chủ nhà đến nước nhận đầu tư, sự chia sẻ biên giới chung không ảnh hưởng đến dòng vốn FDI

Ngoài ra, một số các nghiên cứu định lượng tiêu biểu ở Việt Nam như nghiên cứu của Hoàng Thị Thu (2007) áp dụng mô hình OLS trên cơ sở dữ liệu giai đoạn 1998 – 2005 Tác gải chỉ ra các yếu tố có tác động tích cực đến FDI là: tăng trưởng GDP, mật độ điện thoại bình quân trên 100 dân và độ mở thương mại Mặt khác, chất lượng lao động và thời điểm gia nhập ASEAN không tác động đáng kể đến thu hút FDI, trong khi đó cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1998 là nhân tố tích cực, thúc đẩy dòng vốn FDI vào nước ta Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Anh và Nguyễn Thắng (2007) đánh giá tác động tới FDI tại từng tỉnh thành ở Việt nam từ năm 1988 đến 2006 bằng mô hình nhị thức âm và mô hình OLS Kết quả cho thấy dòng vốn FDI phụ thuộc triển vọng thị trường, nhân tố lao động và cơ sở hạ tầng; trong khi chỉ số năng lực cạnh tranh PCI cấp tỉnh không tác động đáng kể Trịnh Hoài Nam và Nguyễn Mai Quỳnh Anh (2015) sử dụng mô hình OLS kết luận: GDP, độ mở nền kinh tế, tỷ giá hối đoái và giáo dục trung học có tác động dương đến thu hút FDI trong khi đó tỉ lệ lạm phát, chi tiêu chính phủ có tác động âm Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Nhung (2016) có sử dụng mô hình ARDL nghiên cứu các yếu tố như độ mở thương mại, chỉ số can thiệp, tỉ giá thực, quy

mô thị trường và việc gia nhập WTO là các biến độc lập trong mô hình Trong đó, yếu

tố chỉ số can thiệp đề cập đến việc điều hành chính sách tỉ giá thả nổi có quản lý và giữ độc lập tiền tệ của Ngân hàng nhà nước có ảnh hưởng đến quy mô dòng vốn FDI Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các biến số có tác động tích cực đến FDI là độ mở của nền kinh tế, GDP trong khi đó chỉ số can thiệp và tỉ giá hối đoái thực có tác động ngược chiều Tuy vậy, các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến FDI trong ngắn hạn hoặc tại phạm vi không gian cụ thể mà chưa có những kết quả dự báo trong dài hạn

Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến tác động của hiệp định thương mại tự do đến thu hút FDI

Theo Alenfeld (1971), Voss (1981), Mann (1982) là những tác giả đầu tiên nghiên cứu về hiệp định tự do song phương Các nghiên cứu này sử dụng phương pháp

mô tả truyền thống và tập trung vào phân tích một số điều khoản của các hiệp định song phương Công trình nghiên cứu đầu tiên kết hợp giữa tổng hợp, phân tích định tính và nghiên cứu định lượng về tác động của hiệp định song phưpưng đến dòng vốn FDI của các tác giả Vadevelde, Aranda và Zimny (1998) Từ đó đến nay đã có thêm nhiều các

Trang 11

nghiên cứu định lượng về chủ đề này Hầu hết các nghiên cứu này sử dụng các dữ liệu kinh tế vĩ mô để đánh giá tác động của việc ký kết hoặc phê chuẩn một hiệp dịnh hoặc

số lượng FTA đã ký kết ảnh hưởng như thế nào đến quy mô vốn FDI Các mô hình phổ biến là mô hình trọng lực, ước lượng ảnh hưởng bất biến, ước lượng ảnh hưởng ngẫu nhiên với các dữ liệu bảng và dạng chuỗi thời gian Mẫu và thời gian cũng rất da dạng Kết luận của các nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau Các nghiên cứu của Vadevelde, Aranda và Zimny (1998), Tobin (2005), Gallagher và Birch (2006) kết luận rằng hiệp định song phương ít hoặc không có ảnh hưởng tích cực đến thu hút FDI Ngược lại, Egger (2004), Neumayer và Spess (2005), Kerner (2009) cho rằng có tác động tích cực Một số nghiên cứu cho thấy tác động này không rõ ràng của Aisbett (2009), Pinto (2010) và Tortian (2012)

Trong nghiên cứu của Delios và cộng sự (2008) “Tax competition and FDI: Case

of developing countries” đã cho thấy Nhật Bản kí kết các hiệp định thương mại tự do

với các nước, thường chủ động đưa thêm các điều khoản ưu đãi đặc biệt tăng sức hấp dẫn lớn cho các nhà đầu tư Bằng cách sử dụng dữ liệu về lựa chọn địa điểm đầu tư của công ty Nhật Bản từ năm 1990 – 2000, nhóm tác giả đã nghiên cứu và đối chiếu sự khác biệt về thuế suất và các ưu đãi khác về thu hút vốn đầu tư nước ngoài giữa các nước phát triển và đang phát triển Từ đó đưa ra kết luận là những điều khoản ưu đãi về đầu tư song phương hay đa phương mà Nhật Bản ký kết sẽ có tác động đến sự lựa chọn nơi đầu

tư của các doanh nghiệp Nhật Bản

Bên cạnh đó Barthel và cộng sự (2009) trong nghiên cứu “The relationship between double taxation treaties and foreign direct investment” đã kết luận việc kí kết các hiệp định tránh đánh trùng thuế kích thích lượng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển tăng thêm từ 27-31%/năm và các cam kết thương mại tạo động lực thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài giữa các thành viên tham gia

Trong một nghiên cứu khác “The impact of free trade agreements on foreign direct investment: the case of Korea” cuả Bae và Jang (2013) đã nhấn mạnh tác động của các hiệp định tư do thương mại đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc và xu hướng đầu tư ra ngoài nước của các doanh nghiệp tại nước này Bằng kiểm định mô hình vốn tri thức (Knowledge Capital Approach) với dữ liệu từ 2000 - 2010, nhóm đã đưa ra kết luận là với các FTA tạo ra môi trường đầu tư thân thiện sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế Hàn Quốc trong việc thu hút vốn đầu tư từ các nước phát triển và tạo lợi thế khi đầu tư ra nước đang phát triển Ngoài ra khẳng định mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa chi phí thương mại với đầu tư theo chiều ngang (horizontal FDI) và

ngược lại với đầu tư theo chiều dọc (vertical FDI)

Trang 12

Trong nghiên cứu của VCCI (2021) cho thấy trực tiếp tác động từ kí kết CPTPP

sẽ tác động tới phân bổ nguồn lực và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Mặc dù không nghiên cứu trực tiếp tác động đến thu hút FDI nhưng nghiên cứu cũng cho thấy CPTPP góp phần tăng trưởng kinh tế nhờ phá bỏ được những rào cản thương mại, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên đã tạo điều kiện thông thoáng hơn cho dòng vốn vào và ra đối với thị trường Việt Nam Các nghiên cứu này cho thấy khi tham gia các hiệp định FTA đều có những tác động nhất định tới thu hút FDI đối với các nước thành viên thông qua hợp tác trên nhiều lĩnh vực

Tựu chung lại, mỗi nghiên cứu thực hiện trong phạm vi lựa chọn đã đạt những kết quả nhất định như đánh giá được mối quan hệ của FTA đó đến thực trạng FDI của quốc gia nghiên cứu theo các kết luận có hoặc không tác động và mức độ ảnh hưởng, song vẫn còn một số vấn đề cần nghiên cứu phân tích rõ ràng và toàn diện hơn, cụ thể là: hội nhập quốc tế tác động như thế nào đến thu hút đầu tư nước ngoài, có sự khác nhau trong đầu tư theo ngành và theo địa phương hay không; hiệp định CPTPP (hay cụ thể các chương liên quan đến đầu tư) có ảnh hưởng như thế nào đến thực trạng thu hút FDI hiện nay ở Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ khung cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của hiệp định thương mại tự do đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2020, sự thay đổi của dòng vốn trước và sau khi kết thúc đàm phán hiệp định CPTPP

- Đánh giá tác động của CPTPP đến đến thu hút đầu tư trực tiếp từ các nước thành viên trong hiệp định CPTPP vào Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh thực thi CPTPP

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trước và sau khi hiệp định CPTPP kết thúc đàm phán

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào phân tích các chỉ số thu hút FDI của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020, tác động trước và sau kết thúc đàm phán CPTPP

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Về dữ liệu: phần thực trạng định tính các dữ liệu thu thập cập nhật mới nhất từ Tổng cục thống kê, Bộ Tài chính, Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và đầu

Trang 13

tư, Tổng cục thuế, Tổng cục Hải quan Ngoài ra trong phần phân tích hồi quy, liên quan đến các nước, đề tài sử dụng dữ liệu tổng hợp từ nguồn dữ liệu công khai của Ngân hàng thế giới (Worldbank) và Quỹ tiền tệ thế giới (IMF)

- Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu định tính (phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê để xử lý số liệu) đánh giá tác động của CPTPP đến các yếu tố thu hút

FDI vào Việt Nam từ các nước nội khối và ngoại khối

6 Kết cấu:

Ngoài lời mở đầu và kết luậnề tài gồm 3 chương chính:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đến

thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của CPTPP đến thu hút FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020

- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh thực thi CPTPP

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI 1.1 Những vấn đề chung về hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

1.1.1 Hiệp định thương mại tự do

Sơ lược về lịch sử hiệp định thương mại tự do, Anh và Pháp ký hiệp định thương mại hiện đại đầu tiên vào ngày 23 tháng 1 năm 1860, gọi là Hiệp ước Cobden-Chevalier, Pháp dỡ bỏ tất cả các lệnh cấm nhập khẩu đối với hàng hóa sản xuất của Anh giới hạn hầu hết các loại thuế ở mức 30% (25% sau năm 1865) Đổi lại, Anh đồng ý dỡ bỏ hoàn toàn các rào cản nhập khẩu đối với tất cả ngoại trừ 48 mặt hàng của Pháp trong khi giảm đáng kể thuế quan đối với rượu vang và rượu mạnh của Pháp (Ashley, 1904) Đến năm

1875, hầu như toàn bộ châu Âu đã tham gia vào một khu vực thuế quan thấp do không

có một mạng lưới các hiệp định bao gồm điều khoản MFN cốt lõi Khi Hiệp định chung

về Thuế quan và Thương mại (GATT) có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 1948, nó đánh dấu hiệp định đầu tiên trong chuỗi các hiệp định thương mại đa phương GATT đã kết hợp hơn 45.000 nhượng bộ thuế quan của 23 nước ký kết ban đầu, đồng thời cung cấp một khuôn khổ rộng hơn để điều chỉnh thương mại quốc tế Vòng đàm phán Uruguay, được ký kết bởi 123 thành viên và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 1995, đã thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Trải qua các vòng đàm phán tập trung vào việc giảm thuế quan (thuế hải quan) đối với hàng hóa nhập khẩu Kết quả của các cuộc đàm phán, vào giữa những năm 1990, thuế suất của các nước công nghiệp đối với hàng công nghiệp đã giảm đều đặn xuống dưới 4% (Gene M Grossman, 2016)

Đối xử tối huệ quốc (MFN) là nguyên tắc cơ bản của hệ thống thương mại đa phương, nghĩa là mức thuế hải quan thấp hơn mà một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra cho một quốc gia khác phải được mở rộng cho tất cả các thành viên khác của WTO Tuy nhiên, một quốc gia có thể tham gia hiệp định thương mại tự do (FTA) hoặc liên minh thuế quan dành đối xử thuận lợi hơn cho các quốc gia khác so với các thành viên WTO khác nếu quốc gia đó tuân thủ các điều kiện nhất định được quy định trong các điều khoản liên quan của các hiệp định WTO, được quy định trong Điều XXIV của GATT đối với thương mại hàng hóa và Điều V của GATS đối với thương mại dịch vụ

Theo Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, “Hiệp định thương mại tự do là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều quốc gia trong đó các quốc gia đồng ý về các nghĩa vụ nhất định ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa và dịch vụ cũng như các biện pháp bảo vệ nhà đầu

tư và quyền sở hữu trí tuệ, trong số các chủ đề khác.”

Trang 15

Bộ ngoại giao và thương mại Austrailia, cho rằng “Hiệp định thương mại tự do

là hiệp ước giữa hai hoặc nhiều quốc gia được thiết kế để giảm bớt hoặc loại bỏ một số rào cản đối với thương mại và đầu tư, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy thương mại và quan hệ thương mại chặt chẽ hơn giữa các quốc gia tham gia.”

Theo Tổ chức Investopia, “Hiệp định thương mại tự do là một hiệp định giữa hai hoặc nhiều quốc gia nhằm giảm bớt các rào cản đối với xuất nhập khẩu giữa các quốc gia đó Theo chính sách thương mại tự do, hàng hóa và dịch vụ có thể được mua và bán qua biên giới quốc tế với ít hoặc không có thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp hoặc các lệnh cấm của chính phủ để ngăn cản trao đổi của chúng.”

Như vậy, Hiệp định thương mại tự do là một hiệp ước giữa hai hoặc nhiều quốc gia với nhau về việc cắt giảm và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, hướng đến thành lập một khu vực mậu dịch tự do

Có ba loại hiệp định thương mại Hiệp định thương mại đơn phương xảy ra khi một quốc gia ủng hộ hoặc áp đặt các hạn chế thương mại và không có quốc gia nào khác tham gia Các hiệp định thương mại song phương xảy ra khi hai nước đồng ý nới lỏng các hạn chế thương mại để mở rộng cơ hội kinh doanh Hiệp định thương mại đa phương

là hiệp định giữa ba quốc gia trở lên và là hiệp định khó đàm phán và thống nhất Theo thống kê của WTO, 339 hiệp định thương mại tự do khu vực có hiệu lực (WTO, 2021) Lợi ích của các hiệp định thương mại tự do

- Các hiệp định thương mại tự do không chỉ giảm và loại bỏ thuế quan mà còn giúp giải quyết các rào cản phía sau biên giới có thể cản trở dòng chảy của hàng hóa và dịch vụ; khuyến khích đầu tư; và cải thiện các quy tắc ảnh hưởng đến các vấn đề như sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử và mua sắm chính phủ

- Các hiệp định thương mại tự do đóng góp vào hoạt động kinh tế và tạo việc làm lớn hơn, đồng thời mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp hưởng lợi từ thương mại và đầu

tư lớn hơn

- Các hiệp định thương mại tự do mang lại cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng khả năng tiếp cận đa dạng hơn với nhiều loại hàng hóa và dịch vụ có giá cạnh tranh, công nghệ mới và thực tiễn sáng tạo

- Các hiệp định thương mại tự do giúp các nước có thể thu được nhiều lợi ích hơn từ đầu

tư nước ngoài Các hiệp định thương mại tự do thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực và xây dựng các cách tiếp cận chung về thương mại và đầu tư các đối tác thương mại của chúng tôi Các hiệp định thương mại tự do có thể mang lại cơ hội thương mại và đầu tư nâng cao góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế kém phát triển

Trang 16

1.1.2 Hiệp định thương mại tư do thế hệ mới

a Quan niệm về Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Các vòng đàm phán của WTO gần đây, gần nhất là vòng đàm phán thứ chín của WTO gần đây- vòng đàm phán Doha (DDA) đã không đạt được sự đồng thuận về chính sách thương mại do bất đồng về quan điểm của các nước thành viên, do đó các thỏa thuận đã không được thông qua, cản trở tự do thương mại Chính vì vậy, các quốc gia có xu hướng quay trở lại việc ký kết các FTA với mục đích thúc đẩy thương mại, đầu tư

và hợp tác kinh tế của các quốc gia Đó là sự ra đời của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (New generation free trade agreements – FTAs)

Thuật ngữ “thế hệ mới” ở đây hoàn toàn mang tính tương đối, để phân biệt một cách tương đối với các FTA trước đó hay các FTA “truyền thống” Dùng để nói về các FTA mang tính toàn diện, đột phá, vượt ra ngoài khuôn khổ thương mại hàng hóa tự do của các FTA trước đó, với mức độ cam kết sâu nhất được đàm phán và ký kết vào thời điểm thương mại quốc tế có những biến động sâu sắc

Liên minh Châu Âu (EU) là khu vực đã ban hành chính sách về các FTA thế hệ mới lần đầu tiên vào ngày 3 tháng 10 năm 2006 Hàn Quốc, Ấn Độ, Brazil và ASEAN được xác định là các ưu tiên cho các FTA thế hệ mới với EU Theo đó, Các FTA thế hệ mới rất toàn diện liên quan đến tự do hóa thương mại trong một số lĩnh vực, bao gồm xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tự do hóa hơn nữa trong dịch vụ, đầu tư, cạnh tranh, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, (Der-Chin Horng, 2019)

Theo European United Left (2019), các FTA thế hệ mới có phạm vi rộng hơn và không chỉ bao gồm thương mại mà còn bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ, quyền tiếp cận bảo hộ của cộng đồng và cái gọi là "bảo hộ đầu tư"

Cụ thể, có thể hiểu “Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới” được sử dụng

để chỉ các FTA với những cam kết sâu rộng và toàn diện, bao hàm những cam kết về tự

do thương mại hàng hóa và dịch vụ như các “FTA truyền thống”; mức độ cam kết sâu nhất (cắt giảm thuế gần như về 0%, có thể có lộ trình); có cơ chế thực thi chặt chẽ và hơn thế, nó bao hàm cả những lĩnh vực được coi là “phi truyền thống” như: Lao động, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, minh bạch hóa, cơ chế giải quyết tranh chấp về đầu tư… (Lê Quang Thuận, 2019)

b Đặc điểm của Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới:

Mặc dù nội dung cam kết trong các FTA chủ yếu liên quan đến vấn đề mở cửa thị trường hàng hóa, cắt giảm thuế quan song vẫn có những điều khoản liên quan trực tiếp đến mở cửa thị trường dịch vụ, đầu tư và chính sách đối với nhà đầu tư nước ngoài Đây chính là những đặc điểm để phân biệt các FTA thế hệ mới so với các FTA trước

Trang 17

đó Theo Tổ chức Asia Business Consulting (2019), cho rằng đặc điểm của các FTA thế hệ mới gồm:

Thứ nhất, các FTA thế hệ mới bao gồm những vấn đề được coi là “phi thương mại” như: lao động, môi trường, cam kết phát triển bền vững và quản trị tốt…

Thứ hai, các FTA thế hệ mới bao gồm các vấn đề mới như: đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển cũng như đưa ra thời gian chuyển đổi hợp lý để các nước sau này có thể điều chỉnh chính sách theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của mình

Thứ ba, các FTA thế hệ mới này giải quyết các vấn đề mới tồn tại trong các FTA cũ một cách sâu sắc hơn như: Thương mại hàng hóa; bảo vệ sức khỏe động thực vật trong thương mại quốc tế; thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ; phòng vệ thương mại; quy tắc xuất xứ; minh bạch và chống tham nhũng; giải quyết tranh chấp giữa

Như vậy, có thể thấy những đặc điểm của các FTA thế hệ mới gồm:

Một là, tự do thương mại sâu nhất Các FTA thế hệ mới thường Xóa bỏ gần như 100% các dòng thuế quan, mở của mạnh mẽ các ngành hàng hóa dịch vụ…

Hai là, mở rộng phạm vi vượt khỏi tự do thương mại Các FTA thế hệ mới còn phải cam kết những lĩnh vực mới chưa từng được cam kết trước đó, như: doanh nghiệp nhà nước; mua sắm chính phủ; và cả những cam kết gắn với những vấn đề “phi thương mại” như lao động- công đoàn; môi trường…Phải thực hiện hàng loạt chính sách liên quan sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, phòng vệ thương mại, hàng rào kỹ thuật về kiểm dịch động vật Áp dụng các nguyên tắc quan trọng như: không phân biệt đối xử giữa nhà đầu

tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, không áp dụng một số biện pháp ảnh hưởng đến các nhà đầu tư của bên kia (như các yêu cầu: nhà đầu tư phải đạt một tỷ lệ hàm lượng nội địa nhất định; ưu tiên mua hàng nội địa; ràng buộc tỷ lệ nhập khẩu với xuất khẩu; hạn chế việc bán hàng trên lãnh thổ nước đó; xuất khẩu hàng đạt một tỷ lệ nhất định; chuyển giao công nghệ, quy trình, bí quyết sản xuất cho chủ thể của bên kia…)

Ba là, lộ trình của các FTA thế hệ mới thường được đẩy nhanh hơn Việc xóa bỏ hàng rào thuế quan thường áp dụng ngay ở một số mặt hàng, một số mặt hàng từ 5-10 năm

Bốn là, các FTA thế hệ mới có cơ chế pháp lý mới trong giải quyết tranh chấp phát sinh Bằng việc Nhà nước kiện Nhà nước hoặc nhà đầu tư kiện Nhà nước mà các FTA trước đó không có

Năm là, cơ chế giám sát cao hơn, chặt chẽ hơn của các FTA thế hệ mới trong quá trình thực thi Việc gian lận xuất xứ hoặc nước xuất khẩu không hợp tác xác minh xuất

xứ có thể bị tạm ngừng các ưu đãi thuế quan của FTA

Trang 18

1.1.3 Tổng quan về hiệp định CPTPP

Hiệp định CPTPP là viết tắt của Hiệp định Đối tác và Toàn diện Xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Trans-Pacific Partnership), đây là Hiệp định tiếp nối của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sau khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP TPP được đàm phán từ tháng 3/2010, chính thức ký ngày 4/2/2016 và dự kiến sẽ

có hiệu lực từ năm 2018, gồm 12 nước thành viên Canada, Mexico, Peru, Chile, New Zealand, Úc, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia, Việt Nam và Hoa Kỳ Tuy nhiên, tháng 1/2017, Hoa Kỳ tuyên bố rút khỏi hiệp định, khiến TPP không thể có hiệu lực như dự kiến Đến tháng 5/2017, các nước còn lại của quyết định sẽ tiếp tục thực hiện TPP theo hình thức thích hợp, dù không có Hoa Kỳ và tháng 11/2017 ra Tuyên bố chung thống nhất đổi tên TPP thành CPTPP, cũng như điểu chỉnh một số nội dung trong CPTPP CPTPP được chính thức ký kết vào ngày 08/3/2018 gồm 11 nước thành viên còn lại của TPP gồm: Việt Nam, Canada, Mexico, Peru, Chile, New Zealand, Úc, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia

So với TPP, CPTPP tiếp nối hầu như toàn bộ các cam kết trong TPP ngoài một

số điều chỉnh về các cam kết riêng của Hoa Kỳ hoặc với Hoa Kỳ, cùng với khoảng 20 nhóm quy định Tạm hoãn thực thi và một số Thư song phương sửa đổi hoặc điều chỉnh giữa các bên của CPTPP CPTPP tiếp tục là một Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, toàn diện và tiến bộ thể hiện ở phạm vi cam kết rộng và mức độ dự do hóa sâu

Văn kiện Hiệp định gồm 30 chương, bao trùm nhiều vấn đề từ thương mại truyền thống (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư), các vấn đề thương mại ít hoặc chưa có trong các FTA khác (mua sắm của Chính phủ, Doanh nghiệp nhà nước, trợ cấp và thương mại điện tử…), đến cả những vấn đề khác (môi trường, lao động…)

Trên cơ sở các chương của Văn kiện CPTPP, ngoài chương 1 và chương 30 là các chương giới thiệu và tổng kết, có thể tóm lược những vấn đề cơ bản của Hiệp định theo các nội dung như sau:

a Thương mại hàng hóa: là các cam kết về Thuế quan và mở của thị trường đối với hàng hóa và các quy tắc về thương mại hàng hóa

Chương 2: Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa

Chương này quy định về các nguyên tắc, các cam kết và các vấn đề khác liên quan tới việc mở cửa thị trường hàng hóa giữa các nước thành viên CPTPP

Thứ nhất, cam kết về thuế quan Các cam kết về thuế quan trọng CPTPP bao gồm

02 nhóm: cam kết về thuế nhập khẩu và cam kết về thuế xuất khẩu Các cam kết về thuế quan được chi tiết theo từng dòng thuế trong Biểu thuế; mỗi nước CPTPP sẽ có một Biểu cam kết thuế quan riêng áp dụng cho từng đối tác (4 nước gồm: Nhật Bản, Mexico, Canada, Chile, nội dung các dòng thuế cho các đối tác phần lớn giống nhau, chỉ khác

Trang 19

nhau ở một số dòng) hoặc cho tất cả các đối tác CPTPP (7 nước gồm: Singapore, Việt Nam, Úc, Brunei, Peru, Malaysia, New Zealand)

Ưu đãi thuế quan trong CPTPP theo 03 hình thức:

- Cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi CPTPP chính thức có hiệu lực: thuế quan sẽ là 0% vào thời điểm CPTPP có hiệu lực;

- Cam kết loại bỏ thuế quan theo lộ trình: Thuế quan sẽ được đưa về 0% sau một khoảng thời gian nhất định (lộ trình), phần lớn là lộ trình 3-7 năm, một số trường hợp lộ trình là

10, 15, 20 năm

- Cam kết hạn ngạch thuế quan: thuế quan giảm hoặc xóa bỏ với một số lượng, khối lượng hàng hóa…nhất định (gọi là mức hạn ngạch); còn vượt ra khỏi mức hạn ngạch thì thuế quan sẽ cao hơn (hoặc thuế quan không được ưu đãi)

Biểu cam kết thuế quan chi tiết từng dòng thuế chi tiết đến HS 8, 9 hoặc 10 số tùy thuộc từng nước; kèm theo các phụ lục về Hạn ngạch thuế quan, Biện pháp tự vệ đối với nông sản, Thỏa thuận song phương, Danh mục các mặt hàng có cam kết thuế quan khác nhau

áp dụng quy tắc xuất xứ riêng

Hộp 1.1 : Tổng quát các cam kết về thuế quan trong CPTPP dành cho Việt Nam

- Xóa bỏ thuế quan ngay khi CPTPP có hiệu lực cho khoảng từ 78-95% số dòng thuế

- Cuối lộ trình giảm thuế, sẽ xóa bỏ đến 97-100% số dòng thuế (thông thường là khoảng từ 5-10 năm, hàng hóa nhạy cảm là trên 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan)

Tổng quát các cam kết về thuế quan của Việt Nam cho các nước khác trong CPTPP

- Việt Nam đưa ra một Biểu thuế quan ưu đãi theo từng dòng thuế và áp dụng chung cho tất cả các đối tác CPTPP

- 65,8% số dòng thuế sẽ được loại bỏ (thuế suất 0%) ngay khi Hiệp định có hiệu lực;

- 86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực;

- 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực;

- Các mặt hàng còn lại cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu với lộ trình xóa bỏ thuế tối đa vào năm thứ 16 hoặc theo hạn ngạch thuế quan

* Cam kết về thuế xuất khẩu đối với hàng hóa: Trong CPTPP, Việt Nam xóa bỏ thuế xuất khẩu đối với phần lớn các sản phẩm và chỉ giữ lại quyền áp dụng thuế xuất khẩu đối với 70 sản phẩm thuộc các nhóm: Nhóm khoáng sản; Nhóm quặng; Nhóm vàng…

Nguồn: Văn kiện Hiệp định CPTPP, Bản tóm tắt của Trung tâm WTO và Hội nhập, 2019

Trang 20

Thứ hai, Về tạo điều kiện thương mại hàng hóa và các quy tắc thương mại CPTPP yêu cầu các nước Thành viên không được áp dụng các biện pháp có tính hạn chế xuất/nhập khẩu sau: - yêu cầu về giá xuất khẩu, nhập khẩu, ngoại trừ các trường hợp thực hiện các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp; biện pháp cấp phép nhập khẩu dựa trên tiêu chí về hoạt động (performance requirement), ví dụ yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu tối thiểu, yêu cầu về mức độ nội địa hóa…; cho phép tham gia nhập khẩu hoặc cho phép nhập khẩu một loại hàng hóa nếu có quan hệ hợp đồng hoặc quan hệ khác với một nhà phân phối nội địa…

Thứ ba, CPTPP yêu cầu tuân thủ các quy tắc trong Hiệp định về Thủ tục cấp phép nhập khẩu của WTO (có chơ chế minh bạch và thông báo giữa các thành viên với nhau); nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT) trong GATT 1994 của WTO;

Thứ tư, Về trợ cấp nông sản: CPTPP cấm các nước trợ cấp xuất khẩu cho nông sản sang các nước Thành viên khác CPTPP không có cam kết về trợ cấp nội địa đối với nông sản

Chương 3, Quy tắc xuất xứ và các thủ tục chứng nhận xuất xứ

Gồm các quy định về quy tắc xuất xứ và thủ tục chứng nhận xuất xứ, cùng với các Phụ lục chi tiết, trong đó có Phụ lục: Quy tắc xuất xứ cụ thể cho từng nhóm hàng hóa (trừ dệt may) CPTPP có quy định riêng về quy tắc xuất xứ từ CPTPP khác biệt so với các FTA khác

Chương 4, Dệt may

Quy định riêng về một số vấn đề liên quan tới sản phẩm dệt may, như: quy tắc xuất xứ riêng đối với các sản phẩm dệt may; quy định về biện pháp tự vệ đối với dệt may, các vấn đề về hợp tác hải quan, chương trình giám sát, xác minh xuất xứ

Chương 5, Hải quan và tạo thuận lợi thương mại

Chương này quy định một số nội dung nhằm Mỗi bảo đảm rằng thủ tục hải quan của nước thành viên được áp dụng một cách có thể dự đoán, nhất quán và minh bạch

Chương 6, Phòng vệ thương mại

Quy định về các biện pháp phòng vệ thương mại chung, gồm: các biện pháp tự vệ ngoài tự vệ toàn cầu (tự vệ theo WTO) và CPTPP cho phép các nước thực hiện tự vệ trong thời gian chuyển đổi; Chống bán phá giá: CPTPP không có cam kết về cơ chế riêng mà đề nghị các nước tuân thủ nguyên tắc của các Hiệp định về chống bán phá giá

và Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO

Chương 7, Các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS)

Chương này quy định biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) trong CPTPP theo Hiệp định SPS của WTO CPTPP mở rộng hơn so với WTO là

Trang 21

về hợp tác và tham vấn kỹ thuật; tăng cường minh bạch trong công nhận hệ thống quản

lý và các biện pháp SPS của nhau, công nhận điều kiện vùng và khu vực (chứng nhận

và kiểm tra nhập khẩu đối với hàng hóa nông sản thực phẩm nhập khẩu

Chương 8, Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT)

TBT của CPTPP bao gồm các yêu cầu tuân thủ các nguyên tắc của WTO về vấn

đề và bổ sung thêm một số cam kết riêng Các cam kết mới trong CPTPP liên quan tới quy trình đánh giá sự phù hợp và và yêu cầu về nội dung các tiêu chuẩn TBT đối với một số sản phẩm

b Dịch vụ xuyên biên giới, đầu tư và di chuyển thể nhân:

Chương 9, Đầu tư

Nội dung gồm 02 nhóm chính: Nguyên tắc trong đối xử của nước nơi nhận đầu tư với nhà đầu tư đến từ các nước khác và các cam kết về thủ tục giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước nơi nhận đầu tư trong CPTPP

- Các nguyên tắc về đầu tư:

+ Nhóm các nguyên tắc mở cửa thị trường, xóa bỏ rào cản đầu tư: Về cơ bản bao gồm những nguyên tắc khá phổ biến trong nhiều FTA thế hệ mới Đó là:

Nguyên tắc không phân biệt đối xử: (NT và MFN) về cơ bản là tuân thủ theo nguyên tắc này của WTO, tuy nhiên CPTPP vẫn cho phép các nước được thực thi các thủ tục hay quy định riêng biệt cho nhà đầu tư nước ngoài so với trong nước nếu các thủ tục này không làm ảnh hưởng đáng kể đến mức độ bảo hộ nhà đầu tư theo nguyên tắc của CPTPP

Nguyên tắc về “các yêu cầu về hoạt động” (Performance Requirements): Nguyên tắc là này là một điểm khác biệt so với các nguyên tắc khác được quy định trong CPTPP,

nó sẽ được áp dụng cho tất cả các nước đầu tư vào nước thành viên CPTPP kể cả các nước không phải là thành viên của CPTPP Theo đó, nguyên tắc này cấm Nhà nước nơi nhận đầu tư đặt ra các hạn chế bắt buộc trên để xem xét cấp phép đầu tư hay cấp các ưu đãi đầu tư Cụ thể: các quy định về việc thành lập, quản lý, vận hành của các khoản đầu

tư (như khống chế phải xuất khẩu một tỷ lệ sản phẩm nhất định; phải đạt tỷ lệ nội địa hóa; phải mua hay sử dụng sản phẩm của một chủ thể chỉ định; phải chuyển giao công nghệ, quy trình hay kiến thức cho chủ thể của nước đó; phải đạt tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu/nhập khẩu…) Tuy nhiên, các nước được phép đạt ra yêu cầu về sử dụng lao động nội địa trong CPTPP

+ Nguyên tắc về “Nhân sự quản lý cao cấp và Ban lãnh đạo”: theo đó không được đặt

ra yêu cầu về quốc tịch bắt buộc của nhân sự quản lý cao cấp hay Ban lãnh đạo Chí có thể có quyền yêu cầu đa số các thành viên của Ban lãnh đạo doanh nghiệp đầu tư nước

Trang 22

ngoài từ CPTPP phải có quốc tịch của một nước hoặc phải cư trú trên lãnh thổ nước mình

+ Nhóm các nguyên tắc nhằm đảm bảo các quyền lợi cơ bản của nhà đầu tư

Nguyên tắc “Chuẩn đối xử tối thiểu”: CPTPP yêu cầu các đối xử phải phù hợp với “tập quán pháp luật quốc tế”, tức là tuân theo các nguyên tắc quốc tế về bảo vệ đầu

tư nước ngoài đã trở thành tập quán chung được các quốc gia áp dụng phổ biến và liên tục và coi đó như nghĩa vụ bắt buộc của mình Bên cạnh đó khẳng định việc Nhà nước

có một chính sách khác với dự kiến của nhà đầu tư sẽ không bị coi là vi phạm “chuẩn đối xử tối thiểu”, kể cả gây ra thiệt hại cho nhà đầu tư, nhằm hạn chế tình trạng nhà đầu

tư kiện đòi Nhà nước bồi thường cho mình khi không được như kỳ vọng trước đó của nhà đầu tư

Nguyên tắc Bảo vệ tài sản của nhà đầu tư trước các biện pháp tịch thu, cưỡng chế, quốc hữu hóa: thoe đó, chỉ được tịch thu, cưỡng chế hay quốc hữu hóa (gọi chung là tước quyền sở hữu) các khoản đầu tư của nhà đầu tư CPTPP vì mục đích công cộng Quá trình phải thực thi công khai, minh bạch, công bằng và đúng giá thị trường

Nguyên tắc Bảo đảm việc chuyển vốn tự do: Nước nhân đầu tư phải cho phép các nhà đầu tư được tự do chuyển vốn, lợi nhuận liên quan tới khoản đầu tư, trừ một số trường hợp pháp lý (phá sản, vi phạm, tố tụng…)

- Mở cửa đầu tư:

Các nước trong CPTPP thực hiện cam kết mở cửa đầu tư theo phương thức bỏ (khác với phương thức kiểu chọn-cho trong WTO) Các nước phải mở cửa đầu tư ở tất cả các lĩnh vực theo nguyên tắc đầu tư ở trên, ngoại trừ các hạn chế trong đầu tư thuộc các lĩnh vực trong Danh mục các biện pháp không tương thích (danh mục này cho phép các nước bảo lưu không phải thực hiện một số nghĩa vụ trong Dịch vụ qua biên giới và đầu tư một số lĩnh vực)

chọn Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước ((Investorchọn State Disputes Settlement - ISDS)

((Investor-Nhà đầu tư CPTPP được kiện ((Investor-Nhà nước nhận đầu tư ra Trọng tài quốc tế độc lập với Tòa án hay Cơ quan giải quyết tranh chấp của Nhà nước đó Quy định chi tiết các nội dung, nguyên tắc của việc khởi kiện

Chương 10, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới

Quy định của CPTPP về vấn đề này gồm các nguyên tắc, quy định chung về dịch vụ qua biên giới mà các nước phải tuân thủ, áp dụng đối với tất cả các dịch vụ được cung cấp qua biên giới giữa các nước thành viên CPTPP, bao gồm các dịch vụ: các dịch vụ từ cung cấp từ lãnh thổ này sang lãnh thổ khác của các thành viên; tại lãnh thổ của một

Trang 23

nước cho chủ thể của nước thành viên khác hoặc được cung cấp bởi chủ thể của thành viên nào đó trên lãnh thổ của Thành viên khác Không áp dụng cho các dịch vụ được cung cấp trên lãnh thổ của một thành viên bởi một khoản đầu tư của nhà đầu tư của một nước thành viên khác Một số dịch vụ loại trừ như: dịch vụ tài chính, mua sắm công, dịch vụ công, hàng không…Đối với mở cửa thị trường dịch vụ, cam kết mở cửa thị trường dịch vụ theo phương thức “chọn-bỏ”

Chương 11, Dịch vụ tài chính; Chương 13, Viễn thông và Chương 14, Thương mại điện tử

Quy định này chi tiết cho dịch vụ tài chính, Viễn thông và hoạt động Thương Mại điện tử, về các nguyên tắc và cam kết mở cửa thị trường về cơ bản tương tự như đối với thương mại dịch xuyên biên giới Quy định chi tiết cho từng lĩnh vực trong dịch vụ tài chính ở mỗi nước, lĩnh vực Viễn Thông và hoạt động Thương mại điện từ

Chương 12, Nhập cảnh tạm thời cho khách kinh doanh

Chương 12 trình bày về điều kiện, thủ tục đối với việc nhập cảnh tạm thời của người quản lý, người lao động, người cung cấp dịch vụ trong khuôn khổ mức mở cửa Trong đó đặc biệt có quy định về việc nhập cảnh tạm thời của “khách kinh doanh” Khi một cá nhân tham gia hoạt động thương mại dịch vụ hoặc tiến hành đầu tư ở một nước Thành viên CPTPP thì cá nhân đó được mang quốc tịch hoặc được hưởng quy chế định cư như người có quốc tịch của nước nhận đầu tư Một loại hình kinh doanh sẽ có điều kiện nhập cảnh tạm thời, phần lớn các nước đều áp dụng nguyên tắc “có qua có lại” ở các cấp độ khi cam kết

c Mua sắm công và Doanh nghiệp nhà nước:

Chương 15, mua sắm của Chính phủ:

Gồm cam kết về: các nước phải cam kết các gói thầu mua sắm Chính phủ phải mở cửa cho các nhà thầu từ các nước CPTPP tham gia Đồng thời, có các quy định về nghĩa vụ bắt buộc của Nhà nước /bên mời thầu về thủ tục, quy trình và điều kiện bắt buộc phải tuân thủ trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu

Chương 17, Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp độc quyền chỉ định

Chương 17 bao gồm các các nguyên tắc mà DNNN thuộc diện điều chỉnh phải tuân thủ; các yêu cầu trong các cơ chế, chính sách đối với các DNNN thuộc diện điều chỉnh đối với các Nhà nước và nguyên tắc minh bạch hóa DNNN

d Sở hữu trí tuệ:

Chương 18, Sở hữu trí tuệ:

Bao gồm cam kết về vấn đề bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ Cụ thể với 4 nhóm

Trang 24

Nhóm cam kết chung: là các cam kết gia nhập các Công ước về SHTT được liệt kê (Việt Nam được hưởng lộ trình 2-3 năm tùy Công ước); đối xử quốc gia, minh bạch; hợp tác giữa các nước trong bảo vệ quyền SHTT

Nhóm các cam kết về các tiêu chuẩn bảo hộ quyền SHTT: CPTPP có các tiêu chuẩn bảo hộ hầu hết các loại tài sản SHTT như nhãn hiệu, quyền tác giả sáng chế, ,kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý (một số trường hợp cam kết CPTPP cao hơn so với các tiêu chuẩn tương ứng của Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT của WTO (TRIPS))

Nhóm cam kết một số sản phẩm SHTT đặc thù: CPTPP có các cam kết riêng về một số sản phẩm SHTT đặc thù như: nông hóa phẩm, giống cây trồng, dược phẩm, , các vấn đề SHTT lĩnh vực CNTT…

Nhóm cam kết việc thực thi quyền SHTT: gồm các cam kết tăng cường mức độ thực thi và bảo hộ các quyền SHTT và xử lý nghiêm các vi phạm quyền SHTT

e Lao động và môi trường:

Chương 19, Lao động

Quy định về các nguyên tắc về lao động và một số vấn đề khác liên quan (đặc biệt là cơ chế giải quyết tranh chấp lao động) Về cơ bản các nguyên tắc này tuân thủ theo tiêu chuẩn lao động trong Tuyên bố 1998 của ILO về Những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động và các vấn đề về điều kiện lao động Đồng thời, CPTPP có các cam kết mang tính khuyến nghị (không bắt buộc) về việc cải thiện điều kiện lao động, hợp tác giữa các nước CPTPP trong lĩnh vực lao động…

Chương 20, Môi trường

CPTPP có đưa ra một số yêu cầu cụ thể về bảo vệ môi trường mà các nước phải tuân thủ Đồng thời, yêu cầu các nước thực thi hiệu quả cam kết trong các Công ước về môi trường mà nước mình tham gia, tập trung vào các Công ước mà các nước thành viên CPTPP đã tham gia như: Nghị định thư MONTREALvề các chất làm suy giảm tầng ozon; Công ước MARPOL về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu biển) và Công ước CITES- Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã đang bị đe dọa

f Canh tranh, doanh nghệp nhỏ và vừa, hợp tác và phát triển

Chương 16, chính sách cạnh tranh

Không bao gồm các cam kết về các chính sách cạnh tranh cụ thể mà chỉ chủ yếu đưa ra các nguyên tắc chung nhằm đảm bảo khuôn khổ cạnh tranh bình đẳng trong khu vực qua đó thúc đẩy mục tiêu về thương mại và đầu tư của Hiệp định

Trang 25

Chương 21, Hợp tác và nâng cao năng lực

Nội dung quy định việc thực hiện và tăng cường các hoạt động hợp tác và nâng cao năng lực thực hiện CPTPP

Chương 22, tính cạnh tranh và thuận lợi hóa kinh doanh

Mục đích để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế mỗi thành viên trong nước, trên khu vực và trên toàn cầu, cũng như thúc đẩy hội nhập kinh tế và phát triển trong khu vực thương mại tự do

Chương 23, phát triển

Cá cam kết đẩy mạnh và củng cố một môi trường thương mại và đầu tư cởi mở nhằm cải thiện phúc lợi, giảm đói nghèo, nâng cao tiêu chuẩn sống và tạo thêm cơ hội việc làm để hỗ trợ phát triển., phụ nữ, giáo dục và khoa học

Chương 24, doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chương này trong CPTPP bao gồm các cam kết dành riêng cho SME nhưng nội dung không phải là đặt ra các ưu đãi hay cơ chế riêng cho SME mà liệt kê các biện pháp nhằm tăng cường việc cung cấp thông tin (minh bạch hóa) mà các nước CPTPP phải thực hiện cho các SME Mục tiêu là nhằm tạo điều kiện để nhóm SME có thể tận dụng được tốt nhất các lợi ích từ CPTPP

g, Minh bạch, chống tham nhũng, thể chế và giải quyết tranh chấp

Chương 25, Hài hòa các quy định

Theo đó, các nước phải cam kết ngay lập tức, và không muộn hơn một năm kể từ CPTPP

có hiệu lực phải công bố phạm vi chính sách thuộc diện điều chỉnh, nhằm đảm bảo gắn kết môi trường chính sách, thực hành tốt về chính sách trong quá trình xây dựng, thiết kết, ban hành, thực thi

Chương 26, Minh bạch hóa và chống tham nhũng

Minh bạch hóa được quy định trong chương này là các cam kết về nghĩa vụ minh bạch chung của các nước phải thực hiện chưa được quy định trong các chương trước đó (chương 6, chương 15,…) Cũng như quy định các cam kết về chống tham nhũng trong CPTPP (loại trừ hối lộ và tham nhũng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi của CPTPP)

Chương 27, Các điều khoản hành chính và thể chế

Quy định về thành lập Hội đồng Đối tác Xuyên Thái Bình Dương

Chương 28, giải quyết các tranh chấp

Quy định các nội dung của Cơ chế giải quyết tranh chấp cấp Nhà nước, tức giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên của CPTPP

Trang 26

1.1.4 Những nội dung của CPTPP tác động đến đầu tư nước ngoài

Việc lựa chọn nước đầu tư thường được cân nhắc dựa trên 3 nhân tố của nước nhận đầu tư, đó là: nhóm nhân tố về chính sách về sự ổn định (kinh tế, chính trị, xã hội, đầu tư, cạnh tranh, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, tư nhân hóa, chính sách thương mại và các hiệp định thương mại quốc tế…); nhóm thứ hai là các yếu tố kinh tế thúc đẩy việc thu hút đầu tư nước ngoài (gồm: quy mô nền kinh tế, thị trường, thu nhập, tốc độ tăng trường, khả năng tiếp cận thị trường thế giới, nguồn cung ứng nguyên liệu, nhân lực, tài nguyên, công nghệ và cơ sở hạ tầng…); và nhóm cuối cùng là các yếu tố kinh doanh (xúc tiến đầu tư, mạng lưới kinh doanh, chi phí không chính thức…) (UNCTAD, 1988)

Hiệp định CPTPP là một trong những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới toàn diện và sâu rộng Một trong những kỳ vọng là thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước thành viên Một số nội dung của CPTPP tác động đến đầu tư nước ngoài

Thứ nhất, Thương mại hàng hóa:

CPTPP là một trong những hiệp định có mức đọ tự do hóa thưng mại được đánh giá là cao nhất CPTPP yêu cầu việc mở cửa hoàn toàn thị trường thương mại hàng hóa các nước thành viên trong một lộ trình rất ngắn, chỉ còn một số rất ít hàng hóa nhạy cảm

sẽ thông qua cơ chế song phương Đối với hàng hóa công nghiệp, hầu hết các dòng thuế được xóa bỏ ngay lập tức, các doanh nghiệp không bị áp dụng các yêu cầu để thực hiện việc ưu đãi thuế quan Đối với hàng hóa nông nghiệp, các nước sẽ cắt giảm phần lớn thuế quan và các chính sách hạn chế, bỏ trợ cấp xuất khẩu và không cho phép sử dụng biện pháp tự vệ đặc Đồng thời, CPTPP còn tạo thuận lợi hóa hoạt động thương mại bằng cách tuân thủ các nguyên tắc về thương mại, hải quan và hàng hóa theo các nguyên tắc WTO và các nguyên tắc riêng của CPTPP Việc thương mại hàng hóa tự do là yếu

tố tích cực trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các nước trong CPTPP và các từ các nước ngoài CPTPP Mức độ mơr của của CPTPP được đánh giá là thuộc FTA có mức độ cao trọng các FTA trên thế giới với quy mô thị trường rộng lớn, từ đó tác động đến dòng vốn đầu tư quốc tế vào các nước trong Hiệp định

Trong CPTPP nguyên tắc xuất xứ là một nguyên tắc quan trọng trong việc hưởng

ưu đãi thuế quan và thị trường Do đó, các nước ngoài CPTPP muốn tận dụng những ưu đãi này thường có xu hướng đầu tư vào các nước thành viên để cung ứng nguyên liệu hoặc sản phẩm trung gian cho sản xuất và hướng tới xuất khẩu trong CPTPP

Các cam kết về mở cửa thị trường hàng hóa sẽ thúc đẩy dòng vốn đầu tư vào các nước CPTPP, đặc biệt là các nước đang phát triển hướng tới phát triển công nghiệp phụ trợ và tham gia sâu rộng hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

Trang 27

Thứ hai, Thương mại dịch vụ

Về tự do thương mại dịch vụ và mở cửa thị trường dịch vụ, CPTPP hầu như nhắc lại các nguyên tắc của WTO như đối xử quốc gia, tối huệ quốc, không áp dụng các hạn chế định lượng không yêu cầu thành lập các thực thể pháp phú hay liên doanh cụ thể Điểm khác biệt lớn là trong CPTPP là cách tiếp cận “chọn-bỏ” thay cho cách tiếp cận

“chọn- cho” trước đây của WTO và các FTA khác Nếu trước đây nhà đầu tư nước ngoài chỉ được lựa chọn đầu tư vào một số danh mục lĩnh vực được quy định thì nay nhà đầu

tư nước ngoài được đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực nào miễn không thuộc danh mục bảo lưu, đặc biệt là các dịch vụ tài chính (được quy định trong 1 chương cụ thể) đã có độ mở hơn rất nhiều Thực tế, danh mục bảo lưu hiện nay còn rất ít và lộ trình sẽ xóa bỏ trong các thành viên CPTPP Theo đó, đầu tư nước ngoài của các thành viên trong CPTPP đã được

mở rộng hơn rất nhiều, giúp thúc đẩy đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ

Thứ ba, Đầu tư

Chương Đầu tư trong CPTPP đưa ra các nguyên tắc: không phân biệt đối xử; không trưng thu không vì mục đích công cộng, không theo quy trình thủ tục và không

có bồi thường; tự do chuyển vốn và lợi nhuận đầu tư; nhiệm cấm cá thực hiện yêu cầu

về kinh doanh (tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, tỷ lệ xuất khẩu…); và tự do bổ nhiệm quản lý Các nguyên tắc này đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài từ các nước thành viên CPTPP vào nước thành viên khác

Đồng thời cũng như trong thương mại dịch vụ, trong chương Đầu tử của CPTPP, các nước trong CPTPP thực hiện cam kết mở cửa đầu tư theo phương thức chọn-bỏ (khác với phương thức kiểu chọn-cho trong WTO), tức là các nước phải mở cửa đầu tư

ở tất cả các lĩnh vực trừ các trường hợp bảo lưu, phạm vi đầu tư đã được mở rộng rất nhiều

Ngoài ra, CPTPP cũng đưa ra Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư nước

ngoài với Nhà nước ((Investor-State Disputes Settlement - ISDS) Nhà đầu tư CPTPP

được kiện Nhà nước nhận đầu tư ra Trọng tài quốc tế độc lập với Tòa án hay Cơ quan giải quyết tranh chấp của Nhà nước đó Quy định chi tiết các nội dung, nguyên tắc của việc khởi kiện Đây là cơ sở để bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài

d Các cam kết khác:

Các cam kết khác trong CPTPP về thể chế, nhà nước, thủ tục hành chính (Chương 5,15,17,26) với các tiêu chuẩn cao thúc đẩy các thành viên phải cải cách môi trường thể chế, pháp lý, hành chính… hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế, “sân chơi” toàn cầu Cũng như các cam kết về cạnh tranh, công bằng (Chương 16,22,24,25…) hướng tới một môi trường kinh doanh thuận lợi và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 28

CPTPP cũng có các quy định về phát triển bền vững, lao động và môi trường (chương 19,20,23) và một số cam kết về các lĩnh vực công nghệ cao (Chương 13,14,18…), giúp hạn chế bớt những công nghệ lạc hậu và thúc đẩy phát triển các công nghệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, thân thiện với môi trường các nhà đầu tư sẽ đầu

tư chiều sâu nhiều hơn Do đó, chất lượng đầu tư nước ngoài sẽ được cải thiện, tạo động lực cho phát triển nền kinh tế các nước thành viên

CPTPP cũng có những cam kết về việc gắn kết, hợp tác giữa các thành viên trong Hiệp định nhằm hướng tới sự phát triển hài hòa và cùng có lợi (chương 21,28) từ đó là một sự khẳng định tuân thủ các cam kết, là sự khẳng định với các nước trong CPTPP cũng như các nước ngoài Hiệp định về một môi trường đầu tư thuận lợi, thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong và ngoài hiệp định

1.2 Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài không còn là thuật ngữ mới mà trước đó đã được nhiều nghiên cứu bàn luận và định nghĩa trên nhiều phương diện khác nhau Cẩm nang cán cân thanh toán của IMF (2004), FDI được coi là “loại hình đầu tư quốc tế trong đó một chủ thể kinh tế thuộc một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một chủ thể kinh tế thuộc nền kinh tế khác Đầu tư trực tiếp bao hàm mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp, và một mức độ ảnh hưởng nhất định của nhà đầu tư đối với công tác quản trị hoạt động tại doanh nghiệp nhận khoản vốn đầu tư” Vốn FDI bao gồm 3 phần: (1) vốn cổ phần của doanh nghiệp (vốn của tất cả các chi nhánh và các vốn khác như máy móc thiết bọ hoặc cổ phần của doanh nghiệp được mua bởi nhà đầu tư FDI; (2) lợi nhuận để lại có liên quan lợi ích của nhà đầu tư FDI trong doanh nghiệp; (3) các khoản vốn khác tương ứng với các khoản vay hoặc cho vay giữa các nhà đầu tư Fdi và doanh nghiệp FDI hoặc giữa hai doanh nghiệp FDI mà nhà đầu tư FDI đều có cổ phần

Theo OECD (1996) thì FDI được xem là việc đầu tư được thực hiện nhằm thu được lợi ích lâu dài của một chủ thể đầu tư ở một quốc gia (nhà đầu tư trực tiếp) vào một chủ thể kinh tế ở một quốc gia khác (quốc gia nhận đầu tư) Lợi ích lâu dài bao hàm sự tồn tại của một mối quan hệ trong dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp tiếp nhận vốn, và một mức độ ảnh hưởng nhất định của mối quan hệ này lên công tác quản trị hoạt động của doanh nghiệp Đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm các giao dịch ban đầu giữa hai chủ thể kinh tế và các giao dịch kế tiếp sau liên quan đến vốn của các chủ thể này với các chi nhánh và đơn bị liên kết Hơn nữa theo quan điểm này, nhà đầu

tư trực tiếp nước ngoài cần nắm giữ ít nhất 10% cổ phần hoặc quyền bỏ phiếu trong doanh nghiệp liên kết, hoặc giá trị tương đương đối với doanh nghiệp không liên kết

Trang 29

OECD nhận thấy ở một số quốc gia, khoản vốn đầu tư nước ngoài dưới 10% cổ phần hoặc quyền bỏ phiếu cũng được coi là vốn FDI rồi thì trong trường hợp này, OECD đề xuất cần tách riêng các khoản đầu tư dưới 10% cổ phần hoặc quyền bỏ phiếu khi so sánh với dòng vốn FDI của quốc gia khác

Trong báo cáo của UNCTAD (2012), FDI là việc đầu tư dài hạn gắn liền với lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể đầu tư ở một quốc gia này (công ty mẹ hay nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài) vào một công ty ở quốc gia khác (công ty con hay doanh nghiệp nhận đầu tư) Không giống quan điểm của OECD về tỉ lệ chiếm giữ cổ phần, UNCTAD định nghĩa FDI trên khía cạnh định tính và mục tiêu của khoản đầu tư UNTAD cho rằng cần xem xét thận trọng các khoản đầu tư ngắn hạn trong nền kinh tế và phân loại khoản vốn FDI trong giao dịch thương mại thực tiễn

Nhìn chung, dù FDI được diễn giải theo nhiều cách khác nhau nhưng tựu chung lại bản chất của FDI là:

Thứ nhất, Hoạt động FDI là sự thiết lập quyền sở hữu về tư bản của công ty của một

quốc gia khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận lâu dài Khi thực hiện hoạt động đầu tư nước ngoài, chủ đầu tư không chỉ di chuyển nguồn tài chính ra khỏi lãnh thổ quốc gia trong dài hạn mà còn chuyển giao cả kỹ năng quản lý, công nghệ sản xuất, thượng hiệu, ứng dụng kỹ thuật…Trong suốt thời gian đầu tư, chủ đầu tư sử dụng và quản lý các nguồn lực của mình một cách chặt chẽ và hiệu quả nhàm thu được giá trị thặng dư tối

đa cũng như hỗ trợ nước tiếp nhận đầu tư thực hiện một số mục tiêu cụ thể để phát triển kinh tế

Thứ hai, hoạt động FDI có liên quan đến sự kết hơp giữa quyền sở hữu với quyền quản

lý các nguồn vốn đã đầu tư Cụ thể, các nhà đầu tư nước ngoài phải có mức độ ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp tiếp nhận vốn như nắm giữ một lượng

cổ phần nhất định, hoặc các yếu tố trong mối quan hệ trực tiếp như đại diện của công ty mẹ trong ban giám đốc của công ty con tham gia vào quyết định quan trọng trong kinh doanh… Sâu sa hơn thì FDI thực chất là sự mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia Đây là những công ty thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ của ít nhất hai quốc gia trở lên, Tuy nhiên không phải công ty đa quốc gia nào cũng được coi là doanh nghiệp FDI Tùy theo quan điểm khuyến khích và mục tiêu đầu tư của từng dự án cũng như mục tiêu phát triển riêng của từng nước nên mỗi quốc gia có tiêu chuẩn riêng khi phân loại doanh nghiệp FDI

Đặc điểm của FDI:

Thứ nhất, mục tiêu hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận Nguồn thu của các doanh

nghiệp FDI hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của DN mà họ đầu tư vốn Nhà đầu tư chủ động hoàn toàn trong hoạt động kinh doanh của mình, toàn quyền đưa ra các

Trang 30

quyết định tài chính và chịu trách nhiệm về khả năng sinh lời của khoản đầu tư Do vậy nhìn chung dự án FDI thường đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn so với các hình thức đầu tư khác

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp, nên lợi

nhuận và rủi ro được san sẻ cho các bên Nếu dự án FDI có vốn nước ngoài 100% thì chủ đầu tư toàn quyền quản lý và ra quyết định điều hành công ty Nếu liên doanh thì họ phải san sẻ quyền lợi và trách nhiệm với các nhà đầu tư khác Theo IMF (2004) mặc dù số vốn góp tương đương nhưng mức độ ảnh hưởng của nhà đầu tư nước ngoài thường lớn hơn các nhà đầu tư trong nước

Thứ ba, FDI không tạo ra ràng buộc về chính trị – ngoại giao và không để lại gánh nặng

nợ cho quốc gia tiếp nhận Mặc dù FDI phụ thuộc và chính sách đầu tư của mỗi nước song ít bị lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa nước đi và nước nhận đầu tư do đây là hình thức kinh doanh có lợi nhuận và nhà đầu tư trực tiếp tham gia quản lý, điều hành Tuy nhiên một số rủi ro liên quan đến tính minh bạch và công bằng môi trường kinh doanh của nước sở tại có thể bị ảnh hưởng nếu phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn này

Thứ tư, FDI thường đi kèm với việc chuyển giao công nghệ Bên cạnh vốn bằng tiền và

tài sản hữu hình thì nhà đầu tư còn chuyển giao quy trình kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, các phát minh sáng chế và kỹ năng quản lý đến quốc gia nhận đầu tư Đây là một trong

ưu điểm lớn của FDI đặc biệt đối với các nước tiếp nhận có trình độ khoa học còn hạn chế

Thứ năm, FDI có tác động trực tiếp và lâu dài tới cơ cấu kinh tế, trình độ phát triển của

quốc gia tiếp nhận Do thời gian đầu tư thường dài, có ảnh hưởng không nhỏ đến thay đổi cơ cấu chuyển dịch ngành nghề trong nền kinh tế Nếu không chọn lọc FDI tốt thì rất dễ gây kích thích kinh tế tăng trưởng ảo, cán cân thương mại mất cân bằng do nhập siêu, tình trạng lạm phát diễn ra gây tác động tiêu cực đến nước sở tại

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả thu hút và hiệu quả thu hút FDI

Hoạt động thu hút FDI được đánh giá theo nhiều khía cạnh khác nhau, song tựu chung lại biểu hiện qua 2 phương diện chính: (1) kết quả thu hút và thực hiện FDI thông qua quy mô và cơ cấu dòng vốn; (2) hiệu quả của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế xã hội;

1.2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá về kết quả thu hút FDI

- Quy mô vốn đăng ký: là tổng số vốn góp bằng tiền hoặc tài sản hợp pháp, lợi nhuận để lại và các hình thức đầu tư khác do nhà đầu tư nước ngoài cam kết vào nước tiếp nhận

để tiến hành các hoạt động đầu tư trực tiếp (World Bank, 2018) Vốn đăng ký bao gồm vốn cam kết của nhà đầu tư nước ngoài theo giấy phép cấp mới đối với dự án thực hiện lần đầu và cấp bổ sung đối với dự án đầu tư trong giai đoạn mở rộng quy mô Quy mô

Trang 31

vốn đăng ký cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư và mức độ tin cậy của nhà đầu

tư bên ngoài với điều kiện kinh doanh trong nước

- Quy mô vốn thực hiện: là số vốn đầu tư thực tế do các nhà đầu tư nước ngoài đã thực chi cho hoạt động kinh doanh tại nước tiếp nhận, bao gồm: chi phí xây dựng các công trình, nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị…Chỉ tiêu này phản ảnh hiệu quả của hoạt động xúc tiến đầu tư, mức độ thông thoáng của hành lang pháp lý đối với đầu tư nước ngoài Về lý thuyết, vốn FDI thực hiện thường nhỏ hơn vốn đăng ký ban đầu Do đó khi xem xét về khoảng cách này thể hiện mức độ giải ngân vốn và tiến độ thực hiện hoạt động đầu tư theo từng năm ký kết Quy mô vốn FDI đăng ký và thực hiện càng lớn càng thể hiện quốc gia đó thành công trong việc thu hút FDI Theo UNCTAD (2016) FDI ngày càng được quan tâm thu hút hơn ở các nước đang phát triển Năm 2015, FDI toàn cầu chảy vào các nước đang phát triển đã tăng 9%, đạt kỷ lục gần 800 tỷ USD Song, khi xem xét khoảng cách giữa quy mô vốn đăng ký và thực hiện có thể đánh giá được mức độ thực hiện của hoạt động đầu tư trong năm đó, thông qua mức độ giải ngân Đây là tỉ lệ phần trăm của vốn FDI thực hiện trên tổng vốn FDI đăng ký theo thời gian, được tính bằng công thức:

Tỷ lệ này càng lớn là tín hiệu tốt cho thấy mức độ thực hiện tiến gần với cam kết ban đầu Ngược lại tỷ lệ này thấp thể hiện vướng mắc trong quá trình giải ngân vốn, nguyên nhân đến từ nhiều phía: có thể từ cơ chế chính sách nước sở tại hoặc do dự của nhà đầu

tư nước ngoài hoặc biến động khách quan của nền kinh tế…

Ngoài ra, một số chỉ tiêu quy mô vốn trên một dự án được sử dụng để xem xét về độ lớn và mức độ ảnh hưởng của dự án đó tại nước tiếp nhận

Quy mô vốn dự án FDI đăng ký = x 100%

Quy mô vốn dự án FDI thực hiện = x 100%

Khi so sánh quy mô vốn của một dự án cụ thể với chỉ tiêu trên có thể dự đoán được phản ứng của nhà đầu tư nước ngoài theo các kịch bản khác nhau ( như tăng cường, đầu tư bổ sung hoặc thoái vốn) trước những thay đổi về chính sách và môi trường kinh doanh tại nước sở tại

Quy mô vốn thực hiện

Quy mô vốn đăng ký

Quy mô tổng số vốn đăng ký

Tổng số dự án

Tổng số dự án Quy mô tổng số vốn thực hiện

Trang 32

(3) Cơ cấu FDI: được phân theo tiêu chí khác nhau như hình thức đầu tư, ngành kinh tế, vùng kinh tế… Nhóm chỉ tiêu này cho phép đánh giá sự thay đổi về cơ cấu dòng vốn tại quốc gia tiếp nhận Xét theo xu hướng đầu tư, FDI thông qua thương vụ M&A xuyên quốc gia chiếm ưu thế và có xu hướng tăng lên, trong khi các dự án đầu tư mới giảm xuống Xét theo ngành kinh doanh, đa số FDI toàn cầu có xu hướng chảy nhiều nhất vào lĩnh vực dịch vụ chiếm hơn 60%, UNCTAD (2016) gấp hơn 2 lần lĩnh vực công nghệ

1.2.2.2 Hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả thu hút FDI

Hiệu quả thu hút FDI là sự hài hòa giữa quy mô, cơ cấu và chất lượng của việc thực hiện FDI Nhóm chỉ tiêu này được thể hiện thông qua phần đóng góp của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế tại quốc gia tiếp nhận vốn Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm: (1) Đóng góp của khu vực FDI vào tổng đầu tư xã hội: là tỷ lệ phần vốn FDI trong tổng nguồn vốn đầu tư xã hội của nước tiếp nhận Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đều cho thấy FDI có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của nước nhận vốn FDI tăng, kích thích tăng trưởng trong tổng nguồn vốn đầu tư xã hội, đồng thời tạo ra tác động tràn đến đầu tư nội địa, thị trường lao động và công nghệ của nước chủ nhà

Do vậy, đóng góp của FDI vào tổng đầu tư toàn xã hội càng cao cho thấy hiệu quả kinh

tế của FDI là lớn

Đóng góp của FDI trong tổng đầu tư xã hội = x 100%

Tuy nhiên xét về tổng thể, tỷ lệ FDI/ tổng nguồn vốn đầu tư xã hội còn phụ thuộc vào sự thay đôủ đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước và ngoài nhà nước Vì vậy, cần đánh giá chỉ tiêu này trong mối tương quan với chỉ tiêu đóng góp vào tăng trưởng kinh tế để biết sự tương xứng về đóng góp kinh tế và tiềm năng của khu vực FDI

(2) Đóng góp của FDI vào tăng trưởng kinh tế: được thể hiện qua tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào GDP quốc gia

Đóng góp của FDI vào tăng trưởng kinh tế = x 100%

Đóng góp vào GDP lớn là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận biết hiệu quả kinh tế cao của khu vực FDI Tuy nhiên, cần xem xét các chỉ tiêu này trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác trong nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế FDI để đánh giá toàn diện (3) Tác động của FDI đối với cán cân thanh toán quốc tế: được thể hiện thông qua giá trị xuất khẩu ròng của khu vực FDI tại nước tiếp nhận vốn Một mặt dòng vốn FDI chảy vào góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nhờ tận dụng được lợi thế về chi phí, vị thế sẵn có của các công ty đa quốc gia (MNCs) trên thị trường Mặt khác, các doanh nghiệp

Quy mô vốn thực hiệnTổng nguồn vốn đầu tư xã hội

Tổng GDP cả nướcGDP của khu vực FDI

Trang 33

FDI vẫn phải nhập khẩu hàng hóa, máy móc vào nước chủ nhà Đây là một bộ phận đáng kể trong tổng kim ngạch nhập khẩu Khi giá trị xuất khẩu ròng của khu vực này tăng lên, cho biết FDI có tác động bổ sung vào thặng dư cán cân vốn, từ đó cải thiện cán cân thanh toán Bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế của khu vực FDI còn được thể hiện qua đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách nhà nước thông qua các chỉ tiêu khác như: hiệu quả thu nhập (được tính bằng tiền lương trung bình của một lao động trong khu vực FDI so sánh với khu vực kinh tế khác); thu ngân sách nhà nước (được tính bằng tỷ lệ phần trăm thu NSNN từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên tổng thu NSNN) và khả năng hỗ trợ quốc gia nhận vốn thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiến lược phát triển kinh tế của mình Đóng góp của khu vực FDI trong mối quan hệ với thành phần kinh tế khác càng lớn, càng thể hiện hoạt động sử dụng FDI càng cao và có chất lượng Nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy, không phải lúc nào kết quả thu hút FDI tốt cũng đi cùng với hiệu quả kinh tế cao Do đó, cần xem xét các khía cạnh khác như: đóng góp của khu vực FDI có tương xứng với tiềm năng hay quy mô vốn đã thu hút được hay không; nội lực hấp thụ vốn của nền kinh tế có đủ khả năng hấp thụ và khai thác tối ưu những lợi ích từ nguồn vốn này hay không

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đển thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đã có nhiều mô hình lý thuyết giải thích các yếu tố thu hút FDI của một quốc gia, hay nói cách khác là các yếu tố tác động đến sự lựa chọn địa điểm đầu tư của các công

ty đa quốc gia Các nhà đầu tư nưóc ngoài tìm kiếm các vị trí dồi dào tài nguyên thiên nhiên hoặc các nguồn lực khác như cơ sở hạ tầng tốt, môi trường kinh doanh hấp dẫn, nguồn lao động dồi dào giá rẻ và có trình độ Việc lựa chọn địa điểm đầu tư cũng bị ảnh hưởng từ động lực đầu tư của các công ty; tìm kiếm thị trường, tìm kiếm hiệu quả hoặc tìm kiếm tài sản chiến lược Không thể phủ nhận lợi thế về vị trí được coi là yếu tố cốt lõi của quá trình ra quyết định đầu tư

Tính đến nay có rất nhiều lý thuyết nghiên cứu và lý giải các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI như Agarwal (1980), Parry (1985) Itaki (1991), Dunning (1977) Trong

số đó, nổi tiếng và được nhiều người biết đến nhất là mô hình cổ điển phân tích các yếu

tố quyết định tới luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI nổi tiếng với công trình nghiên cứu của Dunning (1977) về mô hình OLI (Ownership – Location – Internalization) Mô hình OLI trong kinh tế học được gọi là mô hình chiết trung Đối với Dunning, ba yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến FDI bao gồm:

Lợi thế về chủ sở hữu (O): đề cập đến lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp muốn

đi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đó có thể là lợi thế về nhãn hiệu, kỹ thuật sản xuất, kỹ năng kinh doanh, lợi nhuận theo quy mô Lợi thế cạnh tranh của các công ty đầu tư càng lớn thì họ càng có nhiều khả năng tham gia vào mạng lưới sản xuất ở nước ngoài

Trang 34

Lợi thế về địa điểm nhận đầu tư (L): đề cập đến các yếu tố thuộc nước tiếp nhận đầu

tư Nước nhận đầu tư càng sở hữu nhiều tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo thì khả năng nhận đầu tư từ nước ngoài càng lớn Đây thực chất là lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư về mặt cung ứng các yếu tố đầu vào, cần thiết cho nhà đầu tư trong quá trình sản xuất

Lợi thế nội địa hóa (I): đề cập đến những lợi ích do thực hiện các giao dịch trong nội bộ một công ty đa quốc gia (công ty mẹ – công ty con) thay vì hợp tác với bên ngoài như thỏa thuận hợp tác, cấp phép hoặc liên doanh Lợi ích của việc nội bộ hóa là tránh được độ trễ về thời gian, việc mặc cả khi mua bán và tình trạng thiếu thốn người mua, hoặc tránh tình trạng ăn cắp bản quyền, xâm phạm bí mật công nghệ và những giá trị cốt lõi của công ty

Trong khi yếu tố “O” và “I” là những yếu tố liên quan đến chủ đầu tư thì yếu tố thứ hai “L” là yếu tố liên quan đến nước nhận đầu tư Do có nhiều yếu tố ở nước nhận đầu

tư có thể tác động tới FDI, một nỗ lực tích hợp tất cả các yếu tố này vào một mô hình duy nhất đã được thực hiện trong báo cáo về đầu tư của thế giới (WIR) do UNCTAD phát hành năm 1998

Theo UNCTAD (2012), một nhà đầu tư nước ngoài khi lựa chọn địa điểm đầu tư

sẽ quan tâm đến 3 nhóm yếu tố chính của nước tiếp nhận là: yếu tố chính sách; yếu tố kinh tế; yếu tố kinh doanh

Các yếu tố chính sách liên quan đến ổn định kinh tế, chính trị và xã hội; quy định

về gia nhập và hoạt động; đối xử với doanh nghiệp nước ngoài; chính sách cạnh tranh; chính sách tư nhân hóa; chính sách thương mại và các hiệp định FDI quốc tế

Các yếu tố kinh tế được phân loại dựa vào mục đích của FDI Với mục đích tìm kiếm thị trường, các yếu tố được quan tâm như: quy mô thị trường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ gia tăng thị trường; khả năng tiếp cận thị trường khu vực và toàn cầu; sở thích của người tiêu dùng nội địa và cấu trúc thị trường Với mục đích tìm kiếm nguồn lực, nhà đầu tư quan tâm đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, trình độ công nghệ và cơ sở hạ tầng của nước tiếp nhận Với mục đích tìm kiếm hiệu quả thì lương, năng suất lao động, các chi phí khác như vận chuyển, liên lạc, sản phẩm trung gian và mạng lưới doanh nghiệp khu vực là yếu tố quan trọng

Cuối cùng, các yếu tố kinh doanh như xúc tiến đầu tư, khuyến khích đầu tư, chi phí không chính thức do tham nhũng và thủ tục hành chính…cũng là những yếu tố tác động đến nhà đầu tư nước ngoài

Xuất phát từ nền tảng lý thuyết nói trên, nhiều nhân tố khác nhau đã được đề xuất trong các nghiên cứu thực nghiệm để giải thích về dòng vốn FDI theo mô hình PEST của Chapman (2010) nghiên cứu về các nhân tố môi trường vĩ mô Bao gồm: (1) nhân

Trang 35

tố chính sách và thể chế; (2) nhân tố nền kinh tế; (3) nhân tố xã hội; (4) nhân tố cơ sở

hạ tầng kỹ thuật;

Nhân tố thể chế chính sách: bao gồm (1) cơ chế phân cấp quản lý nhà nước; (2)

hệ thống chính sách nói chung và FDI nói riêng Nhân tố thể chế chính sách có liên quan mật thiết đến sự ổn định của môi trường kinh tế- chính trị – xã hội Theo Quere và cộng sự (2007), một cấu trúc thể chế chính sách tốt có thể thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời giảm chi phí cho hoạt động đầu tư (chi phí tham nhũng, hành chính) Tác động của nhân tố này có thể được phân tích trên hai khía cạnh: công tác xây dựng và hiệu lực thực thi Thể chế và hệ thống chính sách của chính phủ được xây dựng càng ổn dịnh và hoàn thiện thì tiềm năng thu hút và khả năng khai thác FDI càng hiệu quả Hệ thống chính sách của quốc gia tiếp nhận tốt, ổn định là cơ sở để quốc gia đó sẽ có mức đầu tư tăng trưởng cao hơn các quốc gia có hệ thống chính sách kém hoàn thiện hơn Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa dòng vốn FDI và nhân tố thể chế chính sách đưa ra kết luận tương đối thống nhất rằng dòng vốn FDI có

xu hướng chảy vào các vùng, địa phương có chính sách hiệu quả Nghiên cứu JulanDu, Yilu, Zhigang Tao (2007) trên hơn 6000 công ty đa quốc gia của Mỹ đầu tư vào Trung Quốc giai đoạn 1993 – 2000 cho thấy dòng vốn FDI của Mỹ có xu hướng vào các vùng, địa phương có chính sách bảo vệ tốt quyền sở hữu, quyền thực thi hợp đồng và chính sách chính phủ thông thoáng, ít can thiệp Kết luận tương tự nghiên cứu, nghiên cứu của Nguyễn Quang Việt và cộng sự (2014) đối với 20 tỉnh của Việt Nam trong giai đoạn

2006 – 2010 khẳng định rằng tính minh bạch của hệ thống chính sách có tác động tích cực lên dòng vốn FDI

Nhóm nhân tố kinh tế: bao gồm các nhân tố như quy mô thị trường, tăng trưởng

thị trường, mức độ cạnh tranh của thị trường, đầu tư chính phủ, thu nhập bình quân đầu người, tăng trưởng kinh tế… Các nhân tố này tác động trực tiếp lên doanh thu, chi phí, lợi nhuận và rủi ro của nhà đầu tư nước ngoài, từ đó ảnh hưởng đến dòng vốn FDI chảy vào nước chủ nhà Thước đo phổ biến nhất được sử dụng trong các nghiên cứu thực hiện là tăng trưởng kinh tế GDP hoặc thu nhập bình quan đầu người (GDP bình quân đầu người) Nhân tố này xuất hiện ở hầu hết các nghiên cứu, và được xem là yếu tố tác động lên FDI nhiều nhất trong các nghiên cứu định lượng (Artige & Nicoloni, 2005) Trong nghiên cứu của Jordan (2004), FDI được cho là có xu hướng di chuyển tới các quốc gia có thị trường mở rộng hơn và sức mua lớn hơn, nơi mà các công ty có thể thu được lợi nhuận cao hơn từ khoản đầu tư của họ Cùng quan điểm trên, Charkabarti (2001) cho rằng quy mô thị trường lớn là điều kiện cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực và khai thác được lợi thế kinh tế theo quy mô Về kết quả nghiên cứu định lượng về mối quan hệ giữa FDI và quy mô thị trường cho thấy GDP bình quân đầu người cao sẽ cho triển vọng tốt hơn đối với khả năng thu hút FDI tại nước chủ nhà (Schneider & Frey

Trang 36

(1985); Tsai (1994); Asiedu (2002); Parletun (2008) và Ang (2008) cùng thống nhất quan điểm có tác động tích cực của GDP đối với FDI

Tỷ lệ lạm phát: Tỷ lệ lạm phát là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến dòng vốn FDI do hoạt động sản xuất và xuất khẩu quốc tế dễ bị ảnh hưởng bởi sự biến động của giá cả và tỷ giá hối đoái Theo Sinha (2007), tỷ lệ lạm phát thấp hơn làm cho nước chủ nhà có lợi thế hơn trong việc thu hút FDI Mối quan hệ giữa lạm phát và FDI được cho là tiêu cực vì tỷ lệ lạm phát cao thúc đẩy mức định giá và lãi suất, gây ra sự mất giá tiền tệ, làm giảm động lực đầu tư và năng suất từ các khoản đầu tư

Do đó, chi phí kinh doanh tương đối cao trong trường hợp lạm phát cao (Sinha 2007) Trevino và cộng sự (2002) cũng cho thấy tác động bất lợi mà lạm phát cao gây ra đối với các khoản đầu tư Rodrik (1996) tuyên bố rằng niềm tin của nhà đầu tư bị ảnh hưởng tiêu cực bởi lạm phát cao Các nghiên cứu thực nghiệm khác cũng cho kết quả tương tự

về mối quan hệ giữa lạm phát và FDI Trong nghiên cứu về sự không chắc chắn của lạm phát và FDI ở Nigeria trong giai đoạn 1970 đến 2005, Udoh và Egwaikhide (2008) chỉ

ra mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và FDI và tác động của lạm phát là đáng chú ý về mặt thống kê Trong cuộc điều tra về tác động của xúc tiến đầu tư đối với dòng vốn FDI vào Ghana từ năm 1970 đến năm 2009, lạm phát có liên quan tiêu cực đến FDI (Djokoto 2012) Bên cạnh đó, Sayek (1999) cho thấy trong nghiên cứu của mình rằng tỷ lệ lạm phát ở Thổ Nhĩ Kỳ tăng 7% sẽ làm giảm lượng FDI từ Hoa Kỳ xuống 1,9% Một số nghiên cứu trước đây chỉ ra mối quan hệ tiêu cực của lạm phát và FDI vào ở các nước đang phát triển Nước chủ nhà sẽ có thêm khả năng cạnh tranh trong việc hấp thụ dòng vốn FDI nếu chính phủ nước đó áp dụng các chính sách ổn định lạm phát hiệu quả để giữ tỷ lệ lạm phát ổn định Do đó, quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp hơn sẽ hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài

Nhóm nhân tố xã hội: bao gồm yếu tố nguồn nhân lực, tài nguyên và vị trí địa

lý Nhân tố xã hội cũng thể hiện qua yếu tố nguồn nhân lực, yếu tố này ảnh hưởng đến thu hút FDI trên hai phương diện là chi phí nhân công và chất lượng nhân công Về lý thuyết, chi phí lao động rẻ là nhân tố quan trọng quyết định điểm đến đầu tư của các công ty đa quốc gia Tuy nhiên theo các nghiên cứu thực nghiệm thì tác động của chi phí nhân công đến thu hút FDI có các kết quả khác nhau: tác động tích cực (Tsai, 1994); không có tác động đáng kể (ODI, 1997); tác động tiêu cực (Goldsbrough, 1979; Saunders, 1982…) Đặc biệt theo Charkrabati (2001) đây là nhân tố gây tranh cãi nhiều nhất trong số các nhân tố quyết định đến dòng vốn FDI Về chất lượng lao động, nhân

tố này đánh giá thông qua nhiều thang đo khác nhau như trình độ người lao động, thái độ, kỳ luật của người lao động Mỗi nghiên cứu sử dụng các thang đo khác nhau Như nghiên cứu của Nguyen & Hans-Rimbert (2002) sử dụng thước đo “phần trăm công nhân có bằng cấp trên tổng số lao động” tìm ra tác động dương của chất lượng lao động

Trang 37

đến FDI Lê Việt Anh (2004) sử dụng thước đo “lương hàng tháng của lao động” thấy tác động ngược chiều với thu hút FDI

Nhân tố cơ sở hạ tầng, khoa học - kỹ thuật

Nhân tố này hàm ý nền tảng cơ sở vật chất (hạ tầng và công nghệ) phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội Theo Jordan (2004) hệ thống cơ sở hạ tầng chất lượng cao và phát triển sẽ làm tăng hiệu quả tiềm năng của các khoản đầu tư, từ đó kích thích dòng chảy FDI vào nước chủ nhà Hơn nữa sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ giúp các nhà đầu tư nước ngoài tiết kiệm được chi phí vận chuyển các sản phẩm trung gian từ nơi khác đến từ đó tinh giản hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo hướng chỉ giữ lại những khâu chính trong chuỗi giá trị và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh Đối với các nước có thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được xem là rào cản để thu hút FDI ngoại trừ nước chủ nhà cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào lĩnh vực này

Xét một cách tổng thể, nhân tố thị trường, tài nguyên là những nhân tố phi chính sách, do đó không thể tác động trực tiếp lên các nhân tố này để nâng cao hiệu quả thu hút FDI, tuy rằng các nhân tố này có thể được cải thiện thông qua việc hoàn thiện thể chế chính sách, song tác động không đáng kể Theo Trần Văn Thọ (2015) hoàn thiện chính sách thể chế cũng thúc đẩy các yếu tố ngoại lực khác như công nghệ và tri thức kinh doanh…có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư

1.4 Tác động của hiệp định thương mại tự do tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Liên kết kinh tế khu vực nói chung và các hiệp định thương mại tự do nói riêng có thể tác động tới các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư, qua đó tác động đến luồng vốn FDI vào các nước thành viên Mức độ tác động phụ thuộc vào phạm vi và độ sâu của cam kết hội nhập đó Ngày nay, các FTA thế hệ mới với mức độ hội nhập kinh tế sâu, phạm

vi cam kết rộng sẽ ảnh hưởng đến luồng vốn FDI thông qua nhiều kênh khác nhau theo tác động trực tiếp và gián tiếp

Trang 38

Hình 1.1 : Các kênh tác động của FTA đối với những yếu tố ảnh hưởng của FDI

Nguồn: Phùng Xuân Nhạ (2016) Thứ nhất, cam kết xóa bỏ thuế quan và tạo thuận lợi hàng hóa thương mại trong

FTA tác động trực tiếp đến yếu tố kinh tế thông qua mở rộng thị trường và giảm chi phí sản xuất Các hàng rào thương mại được xóa bỏ hình thành nên một thị trường khu vực lớn hơn so với thị trường nội địa trước đó Tham gia FTA cũng mang lại lợi ích về tăng trưởng kinh té và gia tăng thu nhập cho các nước thành viên, dẫn đến mở rộng hơn nữa quy mô của thị trường Bên cạnh đó, FTA giúp giảm chi phí vận chuyển và sản xuất, thúc đẩy sự dịch chuyển sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng giữa công ty mẹ ở nước đầu tư và chi nhánh nước ngoài đặt ở nước tiếp nhận, thúc đẩy FDI giữa các nước thành viên Đây là các yếu tố hấp dẫn đối với FDI nhằm tìm kiếm thị trường và tìm kiếm hiệu quả

Thứ hai, cam kết mở cửa dịch vụ tác động trực tiếp đến yếu tố chính sách, loại

bỏ rào cản thâm nhập thị trường cho các nhà đầu tư nội khối Sự phát triển của thị trường dịch vụ có thể gián tiếp làm giảm chi phí cho doanh nghiệp hoạt động tại khu vực (yếu tố kinh tế), cải thiện môi trường kinh doanh (yếu tố kinh doanh), tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng đầu tư vào khu vực Cam kết mở cửa dịch vụ

Thứ ba, cam kết tự do hóa đầu tư hướng tới không phân biệt đối xử và đảm bảo

đầu tư sẽ có tác động tích cực đến yếu tố chính sách và yếu tố kinh doanh; gián tiếp làm giảm chi phí hoạt động cho doanh nghiệp nội khối (yếu tố kinh tế) Các cam kết này có

Trang 39

vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi trong khu vực, nhờ đó thúc đẩy lưu chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế

Thứ tư, các FTA thế hệ mới như CPTPP còn mở rộng phạm vi sang một số nội

dung khác nhằm tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi; giảm chi phí giao dịch và rủi ro trong kinh doanh do thiếu thông tin, gánh nặng thủ tục hành chính và rủi ro xâm phạm bí mật bản quyền công nghệ Không thể phủ nhận FTA thế hệ mới thúc đẩy hình thành mạng lưới doanh nghiệp nội khối Nhà đầu tư thực hiện được chuyên môn hóa sản xuất cao, khai thác hiệu quả phân công lao động quốc tế Để tăng thị phần trong khu vực các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng sản xuất bằng cách xây dựng mới hoặc mua lại và sáp nhập các cơ sở hiện có, do đó làm tăng dòng vốn FDI

Thứ năm, việc ký kết các FTA đồng nghĩa với cam kết thực hiện những điều

khoản nghiêm ngặt trong hiệp định với tinh thần đôi bên cùng có lợi, điều này mang lại sự đảm bảo về một môi trường chính trị và thể chế tốt hơn, giúp gia tăng niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài và cải thiện dòng vốn FDI vào các nước thành viên

Các FTA còn tạo sự gắn kết về môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp trong khu vực, thúc đẩy việc đầu tư, mở rộng đầu tư của các doanh nghiệp nhằm thực hiện chuyên môn hóa, xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm nhằm tận dụng được lợi thế của các thành viên trong khu vực về mọi mặt như: tài nguyên, lao động, năng lực… Như vậy, có thể thấy FTA nói chung và FTA thế hệ mới nói riêng là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy luồng vốn FDI

Trang 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CPTPP ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

2.1 Tổng quan tình hình kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 -2020

- Về tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Sau hơn 30 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt

được những thành tựu đáng ghi nhận trong phát triển kinh tế – xã hội nói chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng Theo đó, Việt Nam đã tập trung hơn vào đối mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, hướng tới cải thiện chất lượng tăng trưởng cũng như chất lượng công tác điều hành phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là từ năm 2012 Kết quả là tăng trưởng Việt Nam thời gian qua đã có sự dịch chuyển chủ yếu theo chiều rộng đã bước đầu chuyến biến theo chiều sâu

Cụ thể, tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010 – 2020 dần được cải thiện, đạt mức khá cao trong những năm gần đây và luôn nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực và trên thế giới Tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm giai đoạn 2010 – 2015 chỉ đạt 5,91%/năm; giai đoạn 2016 – 2020 đạt 6,7%/năm Mức tăng trưởng năm 2019 đạt 7,02% chỉ giảm nhẹ so với mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2018 (7,08%), qua đó góp phần duy trì tăng trưởng trung bình giai đoạn

2016 – 2019 cao hơn so với những giai đoạn trước đó (giai đoạn 2011 – 2015: 6,21%/năm; giai đoạn 2016 – 2020: 6,84%/năm, cả giai đoạn 2010 – 2020 ước khoảng 6,35%/năm)

Hình 2.1: Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm, 2006 – 2019 (%)

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê

Tuy vậy, xét về dài hạn, tăng trưởng GDP có xu hướng giảm dần Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 – 2020 có thể thấp hơn đáng kể so với các giai đoạn trước đó Điều này đặt ra thách thức cho Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế và yêu cầu thu hẹp và bắt kịp trình độ phát triển của các quốc gia tiên tiến trong khu vực và trên thế gưới và trở thành nước có thu nhập cao trong vài thập kỷ tới

Ngày đăng: 05/12/2023, 19:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Agnieszka Chidlow (2008), “Foreign Direct Investment in Africa: The Role of Natural Resources, Market Size, Government Policy, Institutions and Political Instability”, University of Kansas Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Direct Investment in Africa: The Role of Natural Resources, Market Size, Government Policy, Institutions and Political Instability
Tác giả: Agnieszka Chidlow
Năm: 2008
3. Aisbett, E. K. (2009), “Bilateral Investment Treaties and Foreign Direct Investment: Correlation versus Causation” (in: Karl P. Sauvant; Lisa E. Sachs, The Effect of Treaties on Foreign Direct Investment), Oxford University Press, 395–435 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bilateral Investment Treaties and Foreign Direct Investment: Correlation versus Causation
Tác giả: Aisbett, E. K
Năm: 2009
9. Bae, Chankwon & Jang, Yong Joon, 2013. "The Impact of Free Trade Agreements on Foreign Direct Investment: The Case of Korea," East Asian Economic Review, Korea Institute for International Economic Policy, vol. 17(4), pages 417-444, December Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Impact of Free Trade Agreements on Foreign Direct Investment: The Case of Korea
12. Bevan Estrin (2004), “How Does Foreign Direct Investment Affect Economic Growth?”, Journal of International Economics, Vol. 45 (June), The USA, pp.115-135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: How Does Foreign Direct Investment Affect Economic Growth
Tác giả: Bevan Estrin
Năm: 2004
62. Tobin, J. and Rose-Ackerman, S. (2005), “Foreign Direct Investment and the Business environment in developing countries: The Impact of bilateral investment treaties”, Yale Law School Center for Law, Economics, and Public Policy Research Paper, No. 293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Direct Investment and the Business environment in developing countries: The Impact of bilateral investment treaties
Tác giả: Tobin, J. and Rose-Ackerman, S
Năm: 2005
65. Tortian K (2012), “Do investment agreements attract investment? Evidence from Latin America”, The Journal of World Investment and Trade, Volume 7, (December): 961–973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Do investment agreements attract investment? Evidence from Latin America
Tác giả: Tortian K
Năm: 2012
66. Trần Thị Trang, Đỗ Thị Mai Thanh (2019), Những tác động nổi bâtj của FTA thế hệ mới đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Hội thảo quốc gia Kinh tế Việt Nam 2018 vàtriển vọng năm 2019 “ Hướng tới chính sách tài khóa bền vững và hỗ trợ tăng trưởng”, 60-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới chính sách tài khóa bền vững và hỗ trợ tăng trưởng
Tác giả: Trần Thị Trang, Đỗ Thị Mai Thanh
Năm: 2019
74. Vadevelde, Aranda, Zimny (1998), “Foreign direct investment and its determinants in emergingeconomies”, Journal of Development Economics, Vol. 59 No. 2, pp. 233 - 252 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign direct investment and its determinants in emergingeconomies
Tác giả: Vadevelde, Aranda, Zimny
Năm: 1998
16. Chapman, Alan (2010), Pest market analysis tool PEST analysis method and examples, with free PEST template, 14http://www.businessballs.com/pestanalysisfreetemplate.htm Link
33. Investopia, What Is a Free Trade Agreement (FTA), Agreement (FTA)?,available at: https://www.investopedia.com/terms/f/freetrade.asp#:~:text=A%20free%20trade%20agreement%20is,prohibitions%20to%20inhibit%20their%20exchange. (accessed by 7 March, 2020) Link
1. Agarwal L (1980), FDI and Economic Growth: Evidence from Nigeria, AERC Research Paper 165, African Economic Research Consortium, Nairobi Khác
4. Alenfeld (1971), A Theory of Foreign Direct Investment. In Charles P. Kindleberger, editor,the determinants of spatial distribution, Development and Policies Research Center & Center for Analysis and Forecasting Khác
5. Ang M., Tomio, B. T., Raboch, H., (2008), Determinants of foreign direct investment in Latin America, Globalization Competitiveness & Governability Journal, Vol 4, No 3, pp. 116-133 Khác
6. Artige & Nicoloni, (2005), The determinants of foreign direct investment into European transition economies, Journal of Comparative Economics, Vol. 32(4), pp. 775-787 Khác
7. Asia Business Consulting (2019), The impact of new generation Free Trade Agreements on the Vietnam economy, p14 -26 Khác
8. Asiedu Elizabeth (2002); On the Determinants of foreign direct investment to developing countries: is Africa different?, World Development, 2002, Vol.30, Issue 1, 107 – 119 Khác
10. Báo cáo Năng suất của APO (2016), Một số điểm nhấn trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015, Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế – xã hội quốc gia Khác
11. Barthel F, Busse M và Eric N (2009), The relationship between double taxation treaties and foreign direct investment, Contemporary Economic Policy, Western Economic Association International Khác
13. Billington (1999) Advice on Taxation and Tax Incentives for Foreign Direct Investment, Paper presented at the FIAS Seminars on FDI Issues: Knowledge Gains.Washington D.C Khác
14. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Các kênh tác động của FTA đối với những yếu tố ảnh hưởng của FDI - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 1.1 Các kênh tác động của FTA đối với những yếu tố ảnh hưởng của FDI (Trang 38)
Hình 2.2: Hiệu quả đầu tư theo hệ số ICOR, 2011 - 2019 - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 2.2 Hiệu quả đầu tư theo hệ số ICOR, 2011 - 2019 (Trang 42)
Hình 2.3: Diễn biến xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường CPTPP - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 2.3 Diễn biến xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường CPTPP (Trang 43)
Hình 2.4: Số lượng dự án FDI giai đoạn 2010-2020 - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 2.4 Số lượng dự án FDI giai đoạn 2010-2020 (Trang 47)
Hình 2.5: Quy mô vốn FDI đăng ký giai đoạn 2010 - 2020 - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 2.5 Quy mô vốn FDI đăng ký giai đoạn 2010 - 2020 (Trang 48)
Hình 2.6: Tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành kinh tế từ sau - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 2.6 Tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành kinh tế từ sau (Trang 52)
Hình 2.7:  Các nhà đầu tư FDI lớn của Việt Nam - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 2.7 Các nhà đầu tư FDI lớn của Việt Nam (Trang 53)
Hình 2.9: Đóng góp của các khu vực kinh tế trong tổng GDP cả nước giai đoạn - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 2.9 Đóng góp của các khu vực kinh tế trong tổng GDP cả nước giai đoạn (Trang 55)
Hình 2.10: Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 2.10 Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất (Trang 56)
Hình 2.11: Tỷ trọng nhập khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch nhập - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 2.11 Tỷ trọng nhập khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch nhập (Trang 57)
Hình 2.12: Thu ngân sách nhà nước từ doanh nghiệp FDI - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Hình 2.12 Thu ngân sách nhà nước từ doanh nghiệp FDI (Trang 58)
Bảng 2.1: Tổng đầu tư nước ngoài từ CPTPP vào Việt Nam năm 2019 - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Bảng 2.1 Tổng đầu tư nước ngoài từ CPTPP vào Việt Nam năm 2019 (Trang 61)
Bảng 2.2: Tổng đầu tư nước ngoài từ CPTPP vào Việt Nam năm 2020 - Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương (cptpp) đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt  nam
Bảng 2.2 Tổng đầu tư nước ngoài từ CPTPP vào Việt Nam năm 2020 (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w