Mục tiêu tổng quát Bài nghiên cứu đánh giá tác động của Chính phủ Điện tử trong việc thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp FDI của một số quốc gia Châu Á, từ đó rút ra một số khuyến nghị c
Trang 1ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
DỰ THI CẤP HỌC VIỆN NĂM HỌC 2021 – 2022
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ ĐẾN DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI
CHÂU Á BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
HÀ NỘI – 2022
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
DỰ THI CẤP HỌC VIỆN NĂM HỌC 2021 – 2022
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
ĐẾN DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CHÂU Á
BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nhóm sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Hà My - K22KDQTC – 22A4050347 Nguyễn Văn Đạt - K22KDQTB - 22A4050494
Lê Thị Trung Khuê - K22DQTB – 22A4050002 Trần Nguyệt Minh - K22KDQTB – 22A405289
Giảng viên hướng dẫn:
PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh - Viện NCKH Ngân hàng
Trang 3THÔNG TIN SINH VIÊN
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Nghiên cứu tác động của chính phủ điện tử đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Châu Á – Bài học cho Việt Nam
- Lĩnh vực: Kinh tế
2 Chuyên ngành: Kinh doanh quốc tế
3 Giáo viên hướng dẫn
Họ và tên: Phạm Thị Hoàng Anh
Học hàm, học vị: Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ
Chức vụ: Viện trưởng Viện NCKH Học viện Ngân hàng
Điện thoại Email
tế
nguyenhamy 291001@gma il.com
2 Nguyễn
Văn Đạt 22A4050494
K22KDQTB
Kinh doanh quốc tế
3 0949491962 tnminh208@g
mail.com
Trang 45 Lựa chọn đề tài tham dự các cuộc thi
Ngoài việc tham khảo Sinh viên lựa chọn tham gia cuộc thi, Hội đồng Khoa học của
Học viện sẽ xem xét quyết định lựa chọn đề tài gửi dự thi theo các tiêu chí của các cuộc thi
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TRONG
Trang 61.1.2.1 Khái niệm 26 1.1.2.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 26 1.1.2.3 Những lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài 29 1.1.2.3.1 Lý thuyết dựa trên thị trường hoàn hảo 29 1.1.2.3.2 Lý thuyết dựa trên thị trường không hoàn hảo: 29 1.1.2.3.3 Lý thuyết về hình thức xâm nhập 29 1.2 Tác động của Chính phủ Điện tử trong việc thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp
1.2.1 Tác động của Chính phủ Điện tử đến FDI thông qua cơ chế giảm tham nhũng
38 1.2.2 Tác động của Chính phủ Điện tử đến FDI thông qua cơ chế giảm thiểu chi phí
1.2.3 Tác động của Chính phủ Điện tử đến FDI thông qua cơ chế giảm bất cân xứng
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
Trang 73.1.1 Biến phụ thuộc 54
4.1 Xu hướng Chính phủ Điện tử tại các quốc gia Châu Á và Việt Nam 68 4.1.1 Xu hướng Chính phủ Điện tử ở Châu Á 68 4.1.2 Xu hướng Chính phủ Điện tử ở Việt Nam 68 4.2 Xu thế chung dòng vốn FDI nước ngoài tại các quốc gia Châu Á và Việt Nam 73
4.3 Khuyến nghị chính sách phát triển Chính phủ Điện tử tại VN 80
4.3.2 Nội dung khuyến nghị để phát triển Chính phủ Điện tử: 84
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH 21 QUỐC GIA CHÂU Á THUỘC PHẠM VI NGHIÊN
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ CHẠY DỮ LIỆU ĐỐI VỚI CÁC BIẾN TRONG NƯỚC
Trang 82.4 Chạy mô hình FEM 104
2.8 Kiểm định phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) cho mô hình REM106 2.9 Kiểm định lỗi tự tương quan(Autocorrelation) cho mô hình REM 107 2.10 Khắc phục tương quan, phương sai thay đổi 107 2.11 So sánh các mô hình OLS, FEM, REM, GLS 108 PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ CHẠY DỮ LIỆU ĐỐI VỚI CÁC BIẾN TRONG NƯỚC (PULL FACTOR) VÀ CÁC BIẾN NƯỚC NGOÀI (PUSH FACTOR) 109
3.8 Kiểm định phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) cho mô hình REM112 3.9 Kiểm định lỗi tự tương quan(Autocorrelation) cho mô hình REM 113 3.10 Khắc phục tương quan, phương sai thay đổi 113 3.11 So sánh các mô hình OLS, FEM, REM, GLS 114
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Lợi thế làm phát sinh FDI 27
Bảng 1.2: Dự đoán của mô hình Buckley – Casson về hình thức xâm nhập 33
Bảng 2.1: Các biến trong mô hình……….………… 45
Bảng 2.2: Mô tả các biến và nguồn lấy dữ liệu của mô hình 46
Bảng 3.1: Mô tả dữ liệu thống kê biến trong nước (Pull factors) 49
Bảng 3.2: Mô tả dữ liệu thống kê biến trong nước và nước ngoài (Pull factors và Push factors) 49
Bảng 3.3: Kết quả mô hình sử dụng các biến trong nước (Pull factors) 52
Bảng 3.4: Kết quả mô hình sử dụng các biến trong nước (Pull factors) và nước ngoài (Push Factor) 53
Bảng 3.5: So sánh các mô hình đối với dữ liệu từ các biến trong nước (Pull Factor) 53
Bảng 3.6: So sánh các mô hình đối với dữ liệu từ các biến trong nước (Pull Factor) và nước ngoài (Push Factor)……… 54
Bảng 4.1: Các chính sách của Chính phủ Điện tử trong bối cảnh Covid - 19 62
Bảng 4.2: Xếp hạng EGDI của Việt Nam (2014 – 2020) 66
Trang 11LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của chúng tôi Các số liệu trong nghiên cứu là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả của nghiên cứu chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Hà Nội, ngày 24 tháng 5 năm 2022
Người cam đoan Nhóm nghiên cứu
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ hiện nay, hội nhập là xu hướng chung trên thế giới, góp phần thúc đẩy quá trình tham gia vào nền kinh tế toàn cầu của các quốc gia Cùng với đó, sự ra đời của các tổ chức quốc tế như WTO (World Trade Organization), OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development),… đã và đang tạo điều kiện giao lưu, hợp tác kinh tế giữa các nước Đây là yếu tố giúp Thương mại Quốc tế hay Đầu tư Trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) phát triển mạnh mẽ trong thời đại này Bên cạnh
đó, sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và sự biến động của kinh tế
kỹ thuật số đã tạo ra những thách thức nhất định đối với dòng vốn FDI Vấn đề này đòi hỏi các quốc gia cần có những chính sách, hướng đi phù hợp Trong số đó, Chính phủ Điện tử (E - Government) là một bước phát triển mới ấn tượng, có vai trò đặc biệt trong việc thu hút dòng Đầu tư Trực tiếp nước ngoài giữa các quốc gia
Chính phủ Điện tử là một dịch vụ công của chính phủ nhằm cung cấp khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ dễ dàng thông qua các kênh kỹ thuật số Với mục tiêu này, các tổ chức chính phủ áp dụng các công nghệ mới để cải thiện dịch vụ khách hàng của họ, bằng cách triển khai các dịch vụ điện tử liên quan đến các lĩnh vực: giáo dục, y tế, ngân hàng,
Có thể nói rằng, Chính phủ Điện tử là tương lai của chính phủ thời đại công nghệ - kỹ thuật
số Ngoài ra, sự bùng nổ của đại dịch COVID - 19 đã phần nào thúc đẩy quá trình số hóa các dịch vụ công cộng trên toàn cầu Điều này buộc hầu hết các cơ quan công quyền phải chuyển sang các nền tảng trực tuyến để tiếp tục cung cấp thông tin và dịch vụ cho công chúng Qua đó, chứng minh lợi ích của việc đẩy nhanh số hóa các dịch vụ công trong việc giảm tham nhũng, tăng tính minh bạch, cải thiện chất lượng dịch vụ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, từ đó kích thích khối lượng đầu tư nước ngoài vào quốc gia
Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là: Việc phân tích tác động của Chính phủ Điện tử đến dòng vốn Đầu tư Trực tiếp nước ngoài có thật sự quan trọng hay không? Chính phủ Việt Nam cần có những định hướng như thế nào để tối ưu hóa tác động trên? Để giải quyết vấn đề
này, nhóm lựa chọn: “Nghiên cứu tác động của Chính phủ Điện tử đến dòng vốn đầu tư
Trang 13nước ngoài tại Châu Á - Bài học cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
năm học 2021 - 2022
2 Tổng quan nghiên cứu
Những năm gần đây, tầm quan trọng của Chính phủ Điện tử ngày càng gia tăng, thu hút nhiều sự quan tâm đến từ các nhà nghiên cứu Chính vì thế một khối lượng lớn các bài nghiên cứu khoa học đã xuất hiện để tập trung làm rõ tác động của Chính phủ Điện tử đối với việc giảm tham nhũng, tăng trưởng kinh tế nói chung và nền kinh tế kỹ thuật số nói riêng Những tác động trên đã góp phần làm nổi bật tác động của Chính phủ Điện tử trong việc thu hút dòng vốn FDI vào các quốc gia trên thế giới
Theo bài nghiên cứu của Ali J Al-Sadiq năm 2021 đã đưa ra cái nhìn tổng quan về tác động của Chính phủ Điện tử trong việc thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tác giả sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng cho 178 quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 2003-2018, bằng chứng thực nghiệm được trình bày trong nghiên cứu này ủng hộ giả thuyết rằng các quốc gia có dịch vụ Chính phủ Điện tử hiệu quả thì kích thích nguồn vốn FDI tốt hơn Trong đó, Chính phủ Điện tử có thể nâng cao hiệu quả của các chức năng và quy trình nội bộ của chính phủ bằng cách liên kết các bộ và cơ quan khác nhau thành một địa điểm Điều này cải thiện luồng thông tin nội bộ của chính phủ, giảm thời gian
xử lý và giảm các thủ tục phê duyệt quan liêu Nó cũng làm cho chính phủ dễ tiếp cận hơn,
có trách nhiệm và minh bạch hơn, giúp giảm tham nhũng Có thể cho rằng, Chính phủ Điện
tử giúp giảm chi phí kinh doanh và nâng cao lợi tức đầu tư tiềm năng- những yếu tố hấp dẫn đối với nhà đầu tư FDI Trong nghiên cứu này, tác giả cũng nhận thấy tốc độ tăng trưởng GDP và dân số cũng là những yếu tố tạo tiền đề cho tiềm năng thị trường, nơi các nhà đầu tư nước ngoài đang hướng tới
Vào năm 2018, Renáta Máchová, Jolana Volejníková và Martin Lněnička đã cho ra đời bài nghiên cứu “Tác động của sự phát triển Chính phủ Điện tử tới mức độ tham nhũng:
đo lường những tác động của những chỉ số liên quan theo thời gian” Bài viết nghiên cứu
đã sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để nói về tác động của sự phát triển của Chính phủ Điện tử tới tham nhũng trong nền kinh tế hiện nay, đo lường những chỉ số phụ của những chỉ số liên quan từ 2002 đến 2016 Bài viết đã khẳng định rằng có một mối quan hệ nhất
Trang 14định giữa sự phát triển của Chính phủ Điện tử và tham nhũng đối với quy mô quốc gia Kết quả cho thấy rằng tham nhũng tăng nhanh hơn sự phát triển của Chính phủ Điện tử và Sự phát triển của Chính phủ Điện tử sẽ dự đoán tham nhũng trong tương lai Một trong những yếu tố có thể dự đoán chính xác nhất chính là NRI Mối quan hệ giữa mức độ tham nhũng
và các chỉ số được thể hiện rõ nhất ở các chỉ số phụ liên quan đến môi trường, cách sử dụng các chỉ số phụ và chỉ số phụ về cơ sở hạ tầng viễn thông Trái ngược lại, các khía cạnh liên quan đến nguồn lực và kỹ năng của người lao động chỉ tác động một phần đến mức độ tham nhũng
Ở bài viết “Tham nhũng tác động tích cực hay tiêu cực tới dòng vốn FDI? Bằng chứng thực nghiệm từ Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latin”, Abdul Jali, Amina Quresh, Mete Feridun đã cho rằng tham nhũng đã có ảnh hưởng tích cực tới dòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Châu Á và Châu Phi tuy nhiên lại có ảnh hưởng tiêu cực đến khu vực Nam
Mỹ Bằng phương pháp đồng kết hợp dữ liệu bảng cũng như dò và sửa lỗi, các tác giả cũng cho rằng tham nhũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới dòng chảy FDI Ngoài ra, kích thước của nền kinh tế, độ mở, chính sách chi tiêu của chính phủ, gánh nặng
nợ xấu và lạm phát cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới dòng chảy của FDI Trên hết, yếu
tố tham nhũng sẽ có sự ảnh hưởng khác nhau tới dòng chảy FDI đối với từng nước Vì vậy không nên áp dụng một bộ chính sách riêng về kiểm soát tham nhũng cho tất cả các quốc gia
Bài nghiên cứu của Muhammad Tariq Majeed và Amna Malik năm 2017 đã chỉ ra được ảnh hưởng của Chính phủ Điện tử trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Dựa trên
mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình Arrelano Bond (AB), tác giả nhận thấy Chính phủ Điện tử có tác động tích cực làm tăng GDP Ngoài
ra, GDP cũng có tác động ngược trở lại: sự điều hành, tổ chức của Chính phủ Điện tử có mang lại hiệu quả hay không cũng dựa vào tốc độ tăng trưởng GDP của 1 đất nước Cùng với đó, bài nghiên cứu “Các Chính phủ Điện tử có thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển không? Một phân tích thực nghiệm” (2020) của Muhammad Tariq Majeed tập trung nghiên cứu mối liên hệ này trên 122 quốc gia đang phát triển cũng cho ra kết quả tương tự Việc triển khai Chính phủ Điện tử ở các nền kinh tế đang phát triển gây ra tác
Trang 15ý rằng mức tăng 1% trong Chính phủ Điện tử giúp tăng trưởng kinh tế 0,20% Tuy nhiên, hai bài nghiên cứu ở trên chỉ đưa ra số liệu trong giai đoạn 2003 đến 2015 mà chưa làm rõ được tác động của Chính phủ Điện tử đang ngày càng nổi bật hơn trong thời kỳ dịch Covid-
19 hiện nay
Bài phân tích thực nghiệm của Yan Han và cộng sự (2021) đã chỉ ra rằng: Việc áp dụng và triển khai Chính phủ Điện tử có khả năng cải thiện sự tương tác giữa chính phủ và các MNEs Ngoài ra bài nghiên cứu còn phân tích tác động của trợ cấp chính phủ trong việc thu hút dòng vốn FDI Tác giả cho rằng trợ cấp của Chính phủ đóng một tác động trung gian trong việc thu hút MNE và có tương quan thuận với hiệu quả của Chính phủ Điện tử Mặc dù nghiên cứu này chỉ xem xét FDI vào Trung Quốc, nhưng vẫn có thể được khái quát hóa do dựa trên mẫu quan sát lớn (1.275.844 doanh nghiệp trong 1 năm quan sát bao gồm 410.274 doanh nghiệp độc nhất) Kết quả cuối cùng cho thấy Chính phủ Điện tử ảnh hưởng tích cực đến FDI, và trợ cấp của chính phủ có tác động tích cực đến hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài bằng cách đóng tác động trung gian giữa hiệu quả của Chính phủ Điện tử và FDI
3 Tính mới của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan, nhóm cho rằng nghiên cứu này có những đóng góp cụ thể sau:
Thứ nhất, đây là nghiên cứu đi sâu đánh giá tác động của Chính phủ Điện tử trong
việc thúc đẩy dòng vốn FDI tại Châu Á
Thứ hai, đây là bài nghiên cứu đầu tiên chứng minh sự hiện diện của Chính phủ kỹ
thuật số dưới hình thức dịch vụ Chính phủ Điện tử có thể kích thích dòng vốn FDI tại Việt Nam
Trang 164 Mục tiêu của đề tài
4.1 Mục tiêu tổng quát
Bài nghiên cứu đánh giá tác động của Chính phủ Điện tử trong việc thúc đẩy dòng vốn đầu
tư trực tiếp (FDI) của một số quốc gia Châu Á, từ đó rút ra một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
- Đề xuất một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu Chính phủ Điện tử và tác động của Chính phủ Điện
tử tới FDI của các quốc gia trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tác động của Chính phủ Điện tử trong việc thúc đẩy dòng vốn FDI giai đoạn 2010 - 2020 của 21 quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Tác động của Chính phủ Điện tử trong việc thúc đẩy dòng vốn FDI được
biểu hiện như thế nào?
- Câu hỏi 2: Một số khuyến nghị và lộ trình phát triển Chính phủ Điện tử tại Việt
Nam trong tương lai?
Trang 177 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng lượng hồi quy dữ liệu bảng (panel data): phương pháp hồi quy Pool OLS cho chuỗi dữ liệu, phương pháp hồi quy hiệu ứng cố định cho chuỗi dữ liệu (FEM), phương pháp hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên cho chuỗi dữ liệu (REM) và ước lượng tác động ngẫu nhiên FGLS để đánh giá tác động của của Chính phủ Điện tử tới dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
7.2 Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau Chúng bao gồm dữ liệu của 21 quốc gia thuộc khu vực châu Á trong giai đoạn 10 năm (2010 -2020) Đồng thời sử dụng phần mềm Stata để phân tích, ước lượng, hồi quy và kiểm định các giả thuyết thống kê liên quan đến mô hình
8 Cấu trúc bài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài được kết cấu thành chương chính như sau:
- Chương 1: Tổng quan tác động của Chính phủ Điện tử trong việc thúc đẩy dòng vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Mô hình đánh giá tác động của Chính phủ Điện tử trong việc thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Chương 4: Khuyến nghị chính sách
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TRONG VIỆC THÚC ĐẨY DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
và các tổ chức khác của chính phủ Những công nghệ này có thể phục vụ nhiều mục đích khác nhau: cung cấp tốt hơn các dịch vụ của chính phủ cho người dân, cải thiện tương tác với doanh nghiệp và ngành, trao quyền cho công dân thông qua tiếp cận thông tin hoặc quản lý chính phủ hiệu quả hơn Các lợi ích mang lại có thể là ít tham nhũng hơn, tăng tính minh bạch, thuận tiện hơn, tăng doanh thu và/hoặc giảm chi phí
Định nghĩa của Liên hợp Quốc: “Chính phủ Điện tử” có thể được định nghĩa là việc
sử dụng CNTT-TT để cung cấp một cách hiệu quả hơn các dịch vụ của chính phủ cho người dân và doanh nghiệp nhằm đạt được mục đích công cộng bằng các phương tiện kỹ thuật số Nguyên tắc cơ bản của Chính phủ Điện tử là cải thiện hoạt động nội bộ của khu vực công thông qua cách giảm chi phí tài chính và thời gian giao dịch để tích hợp tốt hơn các quy trình công việc cũng như cho phép sử dụng nguồn lực hiệu quả trên các cơ quan khu vực công khác nhau hướng tới các giải pháp bền vững Nhờ Chính phủ Điện tử, các chính phủ trên toàn thế giới có thể vận hành hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của công dân về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình
Theo Kamal và M Themistocleous (2009): Chính phủ Điện tử (hay E-government, chính phủ kỹ thuật số, chính phủ trực tuyến hoặc trong một bối cảnh nhất định là chính phủ chuyển đổi) đề cập đến việc sử dụng công nghệ internet như một nền tảng để trao đổi thông tin, cung cấp dịch vụ và giao dịch với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức khác của chính phủ Chính phủ Điện tử có thể được áp dụng bởi các cơ quan lập pháp, tư pháp hoặc
Trang 19hành chính, nhằm nâng cao hiệu quả nội bộ, việc cung cấp các dịch vụ công hoặc các quy trình quản trị dân chủ
Từ những định nghĩa trên, có thể rút ra rằng: Chính phủ Điện tử (E-government) là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của chính phủ, cung cấp các dịch vụ công cộng, thực hiện các hoạt động của chính phủ trên các nền tảng như internet, tạo ra nhiều cơ hội cho người dân có thể tương tác trực tiếp với chính phủ cũng như chính phủ có thể cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho người dân của mình
1.1.1.2 Phân loại
Dựa vào nhu cầu của các chủ thể tham gia, Chính phủ Điện tử được chia làm 4 loại chính:
G2C (Government to Citizens) (Dịch vụ Chính phủ Điện tử cung cấp cho công dân):
Đây là loại hình chiếm tỷ lệ lớn nhất, phổ biến nhất G2C tập trung hướng tới sự tương tác giữa chính phủ và công dân, cho phép người dân tiếp cận với các chính sách và dịch vụ mới của chính phủ qua Internet
Mục tiêu của loại hình này là cung cấp thông tin và tối giản hóa những quy trình phức tạp
để tiết kiệm thời gian và chi phí cho người dân Công dân có thể truy cập vào các website của chính phủ cung cấp một cách hoàn toàn tự do - ở bất cứ đâu, bất kỳ lúc nào Một số dịch vụ trước đây phải ra ủy ban hoặc phải đợi rất lâu mới được giải quyết thì nay có thể được diễn ra nhanh chóng hơn qua Chính phủ Điện tử Ví dụ như công dân có thể điền và nộp các mẫu đơn qua các website của chính phủ, bỏ phiếu, nộp thuế qua Internet Thậm chí, người dân có thể gửi ý kiến đóng góp, nhận xét cho cơ quan chính phủ
G2B (Government to Business) (Dịch vụ Chính phủ Điện tử cung cấp cho doanh
nghiệp): Loại hình này hướng tới sự tương tác giữa chính phủ và các doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách nhanh chóng và chính xác các chính sách, quy định liên quan đến mô hình kinh doanh của họ
Với hình thức này, cả chính phủ và doanh nghiệp đều có thể kiểm soát lẫn nhau qua đó tăng cao tính minh bạch và giảm chi phí Doanh nghiệp có thể theo dõi những thay đổi trong quy định về luật mới, đăng ký kinh doanh từ xa và nộp thuế qua Internet Đặc biệt là Chính
Trang 20phủ có thể theo dõi doanh nghiệp, hạn chế gây ra các tình trạng như trốn thuế, làm ăn trái phép, buôn bán chất cấm,
G2E (Government to Employees) (Dịch vụ Chính phủ Điện tử cung cấp cho người lao
động): Dịch vụ cho phép các công nhân, cán bộ, người lao động nói chung có thể tiếp cận tốt hơn với các thông tin, quy định từ chính phủ
Nhân viên có thể truy cập các websites khác nhau để nhận được quy định về lương thưởng
và lợi ích của chính mình Ví dụ như nghĩa vụ bảo hiểm của xã hội, trợ cấp thất nghiệp, lương hưu,
Mục tiêu của G2E là loại bỏ sự chậm trễ trong việc xử lý và tiếp cận thông tin, bảo vệ lợi ích của người lao động Ngoài ra, loại hình này cũng góp phần nâng cao trình độ nguồn nhân lực để đón đầu làn sóng công nghệ thông tin trên toàn thế giới
G2G (Government to Government) (Dịch vụ Chính phủ Điện tử trao đổi giữa cơ quan
trong Chính phủ với nhau và giữa các Chính phủ): Hình thức này hỗ trợ sự tương tác giữa các tổ chức chính phủ, hệ thống quan chức Nhờ G2G, các cấp, ngành trong hệ thống bộ máy nhà nước có thể phối hợp một cách nhuần nhuyễn hơn trong việc quản lý và điều hành đất nước
G2G giúp cải thiện các tình trạng nhức nhối hiện nay như việc cung cấp thông tin không minh bạch, không thống nhất giữa các cấp, ban, ngành Với sự thống nhất qua hệ thống G2G, thông tin và quy định sẽ được chuẩn hóa và tập trung hóa, giúp các vấn đề của người dân có thể được giải quyết một cách nhanh chóng, hợp tình, hợp lý hơn
Các loại hình này chỉ phát huy được tác dụng cao nhất khi được xây dựng dựa trên một nền tảng công nghệ thông tin vững chắc, phát triển Thông tin phải được phát ra một cách nhanh nhất tuy nhiên vẫn giữ được độ tin cậy, chính xác và đảm bảo tính bảo mật, an toàn Ngoài ra, phải có sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa 4 loại hình vì chúng có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời
1.1.1.3 Đo lường
Chỉ số EGDI là trung bình cộng của ba chỉ số thành phần thuộc các lĩnh vực quan trọng nhất của Chính phủ Điện tử, gồm cung cấp dịch vụ công trực tuyến (Online Service
Trang 21- TII) và nguồn nhân lực (Human Capital Index - HCI) Chỉ số phát triển Chính phủ Điện
tử có giá trị tương đối, phản ánh tương quan giữa từng nước được xếp hạng với nước được xếp hạng cao nhất và thấp nhất (cao nhất được đánh giá 1 điểm, thấp nhất là 0 điểm)
Biểu đồ 1.1: Các chỉ số thành phần của chỉ số Chính phủ Điện tử - EGDI
Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo – Cục Công nghệ Thông tin
Báo cáo phát triển Chính phủ Điện tử của Liên hợp quốc công bố định kỳ 2 năm một lần vào khoảng giữa các năm chẵn, còn việc thu thập, xác thực số liệu cho chỉ số Dịch vụ công trực tuyến được nhóm nghiên cứu tiến hành bằng cách đánh giá trực tiếp từ giữa năm trước đó, nên thường số liệu có độ trễ khoảng 1 năm Riêng số liệu về chỉ số hạ tầng viễn thông và chỉ số nguồn nhân lực được lấy từ nguồn tương ứng của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP)
Chỉ số phát triển Chính phủ Điện tử (EGDI):
Trong đó, các yếu tố thành phần trong ba chỉ số trên như sau:
Thành phần Chỉ số Dịch vụ công trực tuyến (OSI): Đánh giá dựa trên 05 tiêu chí
(tính hiệu lực; tính tin cậy; tính mở; tính bao trùm; trách nhiệm giải trình) trực tiếp từ Cổng thông tin quốc gia, các Cổng thông tin cung cấp dịch vụ điện tử cũng như website của các
Trang 22Bộ quản lý lĩnh vực y tế, giáo dục, an sinh xã hội, phát triển kinh tế, lao động và việc làm, bảo vệ môi trường, an ninh - trật tự
Thành phần Chỉ số về Hạ tầng viễn thông (TII) gồm: (1) Số người dùng Internet
trên 100 người; (2) Số thuê bao băng rộng cố định trên 100 người; (3) Số thuê bao băng rộng di động (3G/4G) trên 100 người; (4) Số thuê bao điện thoại cố định trên 100 người; (5) Số thuê bao điện thoại di động trên 100 người
Biểu đồ 1.2: Thành phần Chỉ số về hạ tầng cơ sở viễn thông (TII)
Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo – Cục Công nghệ Thông tin
Thành phần Chỉ số về Nhân lực (HCI) gồm: (1) Tỷ lệ người lớn biết đọc biết viết;
(2) Tỷ lệ đăng ký nhập học chung; (3) Số năm học kỳ vọng; (4) Số năm học trung bình
1.1.1.4 Các nhân tố tác động đến Chính phủ Điện tử
Đánh giá các yếu tố môi trường vi mô ảnh hưởng đến Chính phủ Điện tử là điều cần thiết để giảm ảnh hưởng của chúng đối với việc áp dụng Chính phủ Điện tử, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động Hiểu tác động của các yếu tố PEST sẽ giúp các quốc gia giảm khoảng cách giữa thiết kế Chính phủ Điện tử và những khó khăn trong thực tế trong các tình huống
cụ thể mà mỗi quốc gia phải đối mặt
Trang 23Chính trị
Theo định nghĩa của O’Brien năm 2015, nghiên cứu các yếu tố chính trị là quá trình xem xét cách thức tác động của những chính sách chính phủ đến môi trường kinh doanh và giao dịch Các mục cần xem xét bao gồm quy định về thuế, mức độ tham nhũng, các rào cản thương mại, sự ổn định của chính phủ, việc làm và các quy định hoạt động Hầu hết các mục này đều được bao gồm và chịu ảnh hưởng bởi Chính phủ Điện tử Cụ thể hơn, Hazem
M Bani Abdoh và các cộng sự chỉ ra rằng yếu tố chính trị sẽ đề cập đến sự ổn định chính trị, các quy định và chính sách của chính phủ liên quan đến Chính phủ Điện tử, mức độ tham nhũng, sự bất cập của chính phủ trong tài trợ, minh bạch trong các quy trình của chính phủ
Ổn định chính trị có thể được hiểu là một chính phủ được bầu ra có thể duy trì hoạt động một cách ổn định, độc lập và không có nguy cơ bị xáo trộn hoặc bị lật đổ trước khi kết thúc nhiệm kỳ được chỉ định Sự ổn định của chính trị có khả năng thúc đẩy các thay đổi chính sách và cải cách quản trị, bao gồm cả Chính phủ Điện tử, theo Ahn & Bretschneider, 2011 Chỉ khi có sự ổn định về mặt chính trị, nhà nước mới có thể có được lòng tin của người dân, từ đó người dân sẽ có xu hướng tham gia tích cực hơn vào những sáng kiến, chính sách hay những thay đổi mà chính phủ đề ra ví dụ như việc sử dụng Chính phủ Điện tử để thay thế cho hầu hết các thủ tục trước đây
Thêm vào đó, việc áp dụng thành công Chính phủ Điện tử sẽ phụ thuộc phần lớn ở
sự đúng đắn trong quá trình ban hành các quy định và chính sách của nhà nước liên quan đến Chính phủ Điện tử Khi triển khai Chính phủ Điện tử, các nhà hoạch định chính sách cần phải xem xét một cách kỹ lưỡng liệu quy định và chính sách của mình sẽ ảnh hưởng như thế nào tới việc thi hành Chính phủ Điện tử Vì chỉ cần một bước đi sai lầm trong chính sách của mình, chính phủ có thể mất đi vị thế, niềm tin và tầm ảnh hưởng của mình trong đại đa phần công chúng Nghiên cứu của Dr Rabee M Reffat cho rằng, chính phủ có thể thay đổi nhận thức của người dân về chất lượng dịch vụ công kém và lấy lại niềm tin của công chúng bằng cách đặt người dân làm trung tâm của bất kỳ dịch vụ hay sáng kiến cải tiến nào Việc này đòi hỏi chính phủ phải cung cấp dịch vụ Chính phủ Điện tử với những
Trang 24quy định theo một cách hoàn toàn mới như loại bỏ thời gian chờ đợi và các thủ tục rườm
rà
Cuối cùng, Chính phủ Điện tử sẽ không thể đạt được hiệu quả mong đợi nếu nhà nước thi hành có mức độ tham nhũng cao, thiếu minh bạch hay vẫn tồn tại những bất cập trong tài trợ Theo Bertot, Jaeger và Grimes (2010), một trong những lĩnh vực chính của giá trị công dân liên quan đến truyền thông Chính phủ Điện tử là tính minh bạch Công dân
sẽ có xu hướng chấp nhận và sử dụng Chính phủ Điện tử nhiều hơn nếu họ nhìn nhận được
sự minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính phủ Ngoài ra, các quốc gia đề cao tính minh bạch sẽ thường có xu hướng cung cấp nhiều thông tin hơn các chính phủ khác và có nhiều khả năng chia sẻ những thông tin này hơn, theo Kristin M Lord Những thông tin này có thể giúp ích cho rất nhiều công dân và doanh nghiệp đã, đang và có ý định muốn thành lập và vận hành công ty Chính vì thế, minh bạch có thể được coi như một yếu tố tạo nên sự hấp dẫn và thu hút của Chính phủ Điện tử với người dân
Kinh Tế
Mối quan hệ giữa nền kinh tế và Chính phủ Điện tử là mối quan hệ 2 chiều tác động qua lại, ảnh hưởng đến nhau Chính phủ Điện tử được sử dụng tại các quốc gia đem lại nhiều lợi ích trong đó có việc giảm thiểu các thủ tục hành chính, giảm thiểu chi phí, đẩy nhanh tốc độ công nghệ hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế số, góp phần đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Ngược lại nền kinh tế cũng có vai trò là động lực đẩy thôi thúc các quốc gia áp dụng Chính phủ Điện tử thay thế cho chính phủ truyền thống Khi nền kinh tế biến động, khủng hoảng, suy thoái các quốc gia phải có những biện pháp thay đổi để nhanh chóng tăng trưởng, phục hồi kinh tế
Theo Barbara-Chiara Ubaldi (2011) - European Journal of Practice, bàn về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến hành vi sử dụng Chính phủ Điện tử làm giải pháp tức thời, cần thiết để đẩy nhanh quá trình phục hồi và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD: “Việc triển khai các giải pháp Chính phủ Điện tử lấy người dùng làm trung tâm với việc cung cấp dịch vụ trực tuyến hoặc ngoại tuyến chất lượng cao có thể là một chiến lược phòng ngừa lâu dài khả thi để duy trì
Trang 25sự nhanh nhạy và phản ứng của các chính phủ nếu một cuộc khủng hoảng mới ở mức độ này sẽ lại xảy ra trong tương lai”
Cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu chỉ qua một đêm đã khiến các chính phủ phải chịu áp lực đáng kể trong việc giải quyết kịp thời một loạt các vấn đề chính trị, kinh tế và quản trị đầy thách thức ảnh hưởng đến cả khu vực công và khu vực tư nhân Với
nỗ lực nhanh chóng và phản ứng kịp thời với tình hình, các chính phủ đã duy trì nguồn nhân lực và ngân sách đến mức giới hạn Để nhanh chóng tạo ra năng lực đối phó với những thách thức mới này, họ đang xem xét hiệu quả và hiệu lực trong khu vực công có thể được cải thiện như thế nào Các vấn đề chính là tránh lãng phí tiền của người đóng thuế, đảm bảo rằng các nguồn lực được sử dụng hiệu quả nhất cũng như xây dựng lại lòng tin của người dân thông qua việc tăng cường tính minh bạch trong cách đưa ra và thực hiện các quyết định Do đó, các chính phủ cũng phải đối mặt với thách thức trong việc mở ra những cách thức mới để tăng sự cởi mở, sự tham gia và gắn kết của người dân Nhìn ở góc độ này, các cách tiếp cận khác nhau của chính phủ đối với ứng phó khủng hoảng cho thấy một số xu hướng chung Mười bốn trong số hai mươi hai quốc gia ứng phó đã đưa Chính phủ Điện tử vào gói ứng phó khủng hoảng của họ Các quốc gia nói chung đang xem xét: cải thiện hiệu suất và giảm lãng phí trong khu vực công; đầu tư chiến lược vào các lĩnh vực Chính phủ Điện tử quan trọng mới và sáng tạo; đẩy nhanh chi tiêu công cho Chính phủ Điện tử; tạo dựng lại lòng tin với công dân; nâng cao chất lượng dịch vụ công; và chuyển đổi khu vực công bằng cách sử dụng Chính phủ Điện tử như một đòn bẩy chính
Chính phủ Điện tử đã đóng vai trò gì trong các phản ứng của chính phủ đối với khủng hoảng? Các chính phủ sử dụng Chính phủ Điện tử như thế nào để đạt được những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phục hồi kinh tế? Và Chính phủ Điện tử được coi như một yếu tố chiến lược đóng góp vào sự phục hồi lâu dài của nền kinh tế như thế nào? Mặc dù không phải tất cả các nước thành viên OECD đều chính thức đưa Chính phủ Điện
tử vào ứng phó chính thức với khủng hoảng, nhưng hầu hết các nước này đều báo cáo những thay đổi nhỏ, nếu có, trong tiến độ triển khai Chính phủ Điện tử của họ với một số điều chỉnh về các ưu tiên Đây là một dấu hiệu quan trọng của cam kết chính trị trong thời kỳ khủng hoảng và một dấu hiệu cho thấy mức độ phù hợp được nhận thức về giá trị công cụ
Trang 26của Chính phủ Điện tử như một công cụ chính sách quan trọng để thúc đẩy hiệu quả của khu vực công
Xã hội
Việc sử dụng CNTT-TT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc trao quyền cho người dùng để có được thông tin và dịch vụ cần thiết ở bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào vì tính di động và phổ biến của chúng Người dùng nhận thức được những gì xảy ra xung quanh họ, họ có thể sử dụng công nghệ để tìm kiếm thông tin, yêu cầu tư vấn, mua sản phẩm, thực hiện các giao dịch tài chính và nhiều dịch vụ khác Vì vậy, có thể nói sự tham gia của người dân chính là yếu tố then chốt cho sự bền vững của Chính phủ Điện tử
Hsu và Lu (2004) đã nghiên cứu tác động của các chuẩn mực xã hội và nhận thấy rằng thái độ, hành vi và nhận thức của mọi người bị ảnh hưởng bởi thông tin họ nhận được
từ môi trường xã hội Ảnh hưởng xã hội có thể hình thành sự tự tin hoặc khả năng sử dụng
hệ thống công nghệ của họ Người dùng tiềm năng của các dịch vụ Chính phủ Điện tử có thể cảm thấy rằng việc áp dụng công nghệ sẽ không đòi hỏi nhiều nỗ lực Ảnh hưởng xã hội khuyến khích mọi người sử dụng công nghệ, mặc dù nó có tác động gián tiếp đến ý định áp dụng của họ
Tính tự nguyện: Tính tự nguyện có liên quan chặt chẽ đến nhận thức sử dụng một cách dễ dàng và phản ánh nhận thức của người dùng về các cài đặt áp dụng CNTT cụ thể, thay vì ý thức chủ quan Malhotra và Galetta (2005) nhận thấy rằng cam kết của người sử dụng đóng một vai trò quan trọng trong việc chấp nhận và sử dụng hệ thống thông tin Trong trường hợp Chính phủ Điện tử, hầu hết các dịch vụ điện tử sẽ được thực hiện trên cơ
sở bắt buộc và do đó, việc nghiên cứu nhận thức của người dùng về tính tự nguyện đối với dịch vụ Chính phủ Điện tử được triển khai là chính đáng
Hofstede (1997) cũng khẳng định rằng văn hóa quyết định các giá trị của một cá nhân và tác động đến hành vi và khác nhau giữa các quốc gia Thomas và Streib (2003) đã
đề cập đến việc thừa nhận những khác biệt về văn hóa và ngữ cảnh khi các quốc gia áp dụng công nghệ thông tin Họ cũng nhấn mạnh rằng ảnh hưởng của văn hóa thậm chí còn lớn hơn khi công nghệ vay mượn đang được triển khai ở một nước đang phát triển Do đó, điều quan trọng là các nhà quản lý phải ý thức rằng các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng
Trang 27Bên cạnh đó, nếu công nghệ tương thích với phong cách sống và làm việc của người dùng, thì rất có thể người đó sẽ áp dụng hệ thống (Mahadeo, 2009) Nó đã được tuyên bố rộng rãi trong các tài liệu, rằng ý định sử dụng hệ thống của người dùng sẽ liên quan chặt chẽ đến hành vi sử dụng của họ nếu việc sử dụng công nghệ phụ thuộc vào ý chí tự do của
họ
Công nghệ
Trong thời đại 4.0 hiện nay, công nghệ đã trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống của con người và giúp ích cho hầu như tất cả mọi mặt của đời sống hiện nay Theo nghiên cứu của Đại học Walden, trong vài thập kỷ qua, công nghệ đã phát triển một cách
vô cùng nhanh chóng và đáng kinh ngạc Điện thoại thông minh, laptop đều Điện thoại thông minh, internet và hàng trăm phát minh khác đang thay đổi mọi khía cạnh trong cuộc sống của chúng ta Tuy nhiên công nghệ không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất mà còn đến cơ thể, bộ não và tinh thần của chúng ta Các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng nhờ các quyết định, các phát minh của chúng ta đã bị công nghệ ảnh hưởng một phần, trong đó có
cả việc sử dụng Chính phủ Điện tử Chen et al (2002) đã cho rằng nhờ sự tiện ích của Chính phủ Điện tử, nhiều cơ quan đã thay thế hệ thống ghi chép dựa trên giấy tờ thông thường của họ với hệ thống thông tin được máy tính hóa có thể dễ dàng truy cập, xử lý, tìm kiếm, truy vấn và tích hợp giúp cho việc để quản lý dữ liệu và thông tin tốt hơn
Ngoài ra, việc áp dụng công nghệ sẽ giúp tiết kiệm thời gian như thời gian di chuyển, thời gian tiến hành các thủ tục cũng như giúp tiết kiệm chi phí như chi phí vận hành, chi phí vận chuyển Chính vì những tiện ích này, công nghệ đã được áp dụng trong hầu hết mọi mặt trong cuộc sống của chúng ta, nhất là trong môi trường làm việc Easton (2002) đã nghiên cứu tại các trụ sở, đồn cảnh sát tại Mỹ và rút ra rằng việc áp dụng công nghệ, cụ thể
là sử dụng thiết bị di động để kết nối mạng không dây và truy cập thời gian thực đến các hệ thống cơ sở dữ liệu trung tâm Kết quả bao gồm cải thiện tội phạm xử lý sự kiện, nâng cao năng suất của viên chức, an toàn hơn cho khu vực lân cận, phối hợp tốt hơn giữa các cơ quan và viên chức, và giảm chi phí đáng kể
Và cuối cùng nhất là trong thời kỳ bình thường mới hiện nay, Chính phủ Điện tử sẽ giúp hạn chế sự tiếp xúc giữa người với người để tránh lây lan dịch Covid-19 Nishant Renu (2021) đã cho rằng, công nghệ đã giúp thúc đẩy và cho phép các doanh nghiệp tổ chức làm
Trang 28việc xuyên suốt trong thời kỳ dịch bệnh bùng phát, giãn cách xã hội Thông qua các sàn thương mại điện tử, các website làm việc, nền tảng mạng xã hội, không chỉ doanh nghiệp
tư nhân mà chính phủ cũng vẫn có thể tiếp tục công việc của mình đối với các khách hàng, đối tác hay người dân
1.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI)
1.1.2.1 Khái niệm
Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đã đưa ra định nghĩa rằng: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài
là một loại hình đầu tư được thực hiện nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho một doanh nghiệp hoạt động tại một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, qua đó có được tiếng nói trong quản lý doanh nghiệp”
Tổ chức WTO định nghĩa: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động khi một nhà đầu tư có trụ sở tại một quốc gia (quốc gia đầu tư) có được một tài sản ở một quốc gia khác (quốc gia nhận đầu tư) và có quyền quản lý tài sản đó”
Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình đầu tư xuyên biên giới trong đó nhà đầu tư cư trú tại một nền kinh
tế này thiết lập mối quan tâm lâu dài và mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với một doanh nghiệp cư trú trong nền kinh tế khác.”
Còn Hội Liên hợp quốc tế về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) xác định: “Đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được định nghĩa là một khoản đầu tư liên quan đến một mối quan hệ lâu dài và phản ánh sự quan tâm và kiểm soát của một thực thể tại nước đi đầu tư (doanh nghiệp đi đầu tư hoặc doanh nghiệp mẹ) đối với một doanh nghiệp cư trú tại một nền kinh tế khác.”
Các định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài có điểm giống nhau ở chỗ là đều nhấn mạnh việc kiểm soát cũng như lợi ích lâu dài mà doanh nghiệp đạt được Hai yếu tố trên được xem như những điểm khác biệt nhất giúp chúng ta phân biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI)
Trang 291.1.2.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân chia theo 3 hình thức: quan điểm của nhà đầu
tư (quốc gia nguồn), quan điểm của quốc gia nhận đầu tư và hình thức thâm nhập
Theo quan điểm của nhà đầu tư:
FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI) là mở rộng quy mô sản xuất các hàng hóa
giống hoặc tương tự ở nội địa tại thị trường nước ngoài (nước sở tại) Do đó, sự khác biệt hóa sản phẩm là một yếu tố quan trọng trong cấu trúc thị trường của FDI theo chiều ngang Nói một cách tổng thể hơn, FDI theo chiều ngang là tận dụng các lợi thế độc quyền và độc quyền tập đoàn, chẳng hạn như bằng sáng chế hoặc các sản phẩm dị biệt hóa, đặc biệt khi việc mở rộng trong nước vi phạm luật chống độc quyền
FDI theo chiều dọc (Vertical FDI) là sử dụng các yếu tố đầu vào nước ngoài
(backward vertical FDI) để tận dụng nguồn tài nguyên giá rẻ ở nước sở tại hoặc giành quyền kiểm soát nguyên liệu thô; hoặc để thu hẹp khoảng cách với người tiêu dùng bằng cách mua lại các kênh phân phối (forward vertical FDI) với mục đích phá vỡ các rào cản tiếp cận thị trường, đẩy mạnh phân phối và tiêu thụ các sản phẩm sản xuất trong nước ra nước ngoài
FDI hỗn hợp (Conglomerate FDI), bao gồm cả FDI theo chiều ngang và chiều dọc
FDI hỗn hợp là hình thức mà nhà đầu tư và bên nhận đầu tư hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Đồng thời, các nhà đầu tư thực hiện hai chiến lược: quốc tế hóa và
đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh để phân tán rủi ro và thâm nhập vào các ngành có tỷ suất lợi nhuận cao
Theo quan điểm của quốc gia nhận đầu tư:
FDI thay thế nhập khẩu liên quan đến việc sản xuất hàng hóa do nước chủ nhà
nhập khẩu trước đây, dẫn đến việc nước nhận nhập khẩu thấp hơn và nước xuất khẩu xuất khẩu ít đi Loại hình đầu tư này phụ thuộc đáng kể vào quy mô thị trường của nước sở tại, chi phí vận tải và các rào cản thương mại
FDI gia tăng xuất khẩu với mục đích tìm các nguồn đầu vào mới, chẳng hạn như
nguyên liệu thô và các sản phẩm trung gian Loại hình đầu tư trực tiếp này được gọi là mở rộng xuất khẩu vì nước sở tại sẽ tăng cường xuất khẩu nguyên liệu thô và các hàng hóa trung gian sang nước sở tại và các nước khác (nơi đặt các công ty con của các doanh nghiệp
đa quốc gia)
Trang 30FDI do chính phủ khởi xướng tức là chính phủ có mong muốn nhận được thêm
nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhằm đẩy mạnh những ngành sản xuất đang chậm phát triển, các ngành kinh tế còn lạc hậu và giúp cải thiện cán cân thanh toán
Tương tự, lý thuyết của Kojima (1973,1975, 1985) đã phân loại FDI theo hoạt động thương mại với hai hình thức: FDI định hướng thương mại (hình thức này tạo nên lượng
dư cung xuất khẩu và dư cầu nhập khẩu so với điều kiện thương mại ban đầu) và FDI định hướng phi thương mại (có tác động xấu tới hoạt động thương mại)
Theo mục tiêu chiến lược của nhà đầu tư, FDI có thể phân chia thành 2 hình thức
mở rộng và phòng vệ Nghiên cứu của Chen và Ku (2000) đề xuất rằng FDI mở rộng là nhằm tận dụng những lợi thế đặc thù của doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư Loại hình này góp phần thúc đẩy doanh số của nhà đầu tư tại quê nhà và tại nước ngoài Ngược lại, FDI phòng vệ tìm kiếm lực lượng lao động giá rẻ tại quốc gia nhận đầu tư với mục tiêu tối thiểu hóa chi phí sản xuất
Theo hình thức thâm nhập:
Đầu tư mới (Greenfield): xuất hiện khi một doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản
xuất, cung ứng hoặc cơ sở mới tại quốc gia nhận đầu tư Hình thức này thường được chào đón tại các quốc gia sở tại do nó kích thích cơ hội việc làm và làm tăng sản lượng đầu ra
Mua lại và sáp nhập xuyên biên giới (M&A): M&A là hình thức nhà đầu tư nước
ngoài mua lại hoặc hợp nhất mô hình kinh doanh với một doanh nghiệp khác là mục tiêu của nhà đầu tư đó tại nước ngoài Tuy nhiên, không phải lúc nào M&A cũng được các quốc gia sở tại hoan nghênh do một số tác động không tích cực
Liên doanh (Joint ventures): Liên doanh là hình thức nhà đầu tư hợp tác với các
công ty địa phương, với tổ chức nhà nước hoặc với doanh nghiệp nước ngoài khác tại quốc gia nhận đầu tư để thành lập công ty liên doanh Một bên sẽ thường cung cấp nguồn lực liên quan đến tài chính và trình độ chuyên môn kỹ thuật, bên còn lại cung cấp các am hiểu
về quy định, luật pháp và hệ thống hoạt động của bộ máy chính quyền của nước nhận đầu
tư
Trang 311.1.2.3 Những lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.3.1 Lý thuyết dựa trên thị trường hoàn hảo
Giả thuyết quy mô thị trường
Giả thuyết quy mô thị trường chỉ ra rằng: lượng FDI đi vào một quốc gia phụ thuộc vào quy mô và độ lớn của thị trường được đo lường thông qua quy mô của nền kinh tế (GDP) của quốc gia và doanh số bán hàng của một MNC Đã có rất nhiều nghiên cứu ủng
hộ quan điểm doanh số và thu nhập cá nhân tại nước nhận đầu tư có mối quan hệ tỷ lệ thuận với FDI tuy nhiên khi kiểm chứng thực nghiệm còn gặp nhiều vấn đề đáng phải lưu ý
Giả thuyết thị trường sinh lời chênh lệch
Giả thuyết cho rằng dòng vốn sẽ chỉ dịch chuyển một chiều từ quốc gia có tỷ lệ sinh lời thấp qua quốc gia có tỷ lệ sinh lời cao dẫn tới kết quả tỷ suất sinh lời thực dự tính bằng nhau Giả thuyết trên bỏ qua yếu tố rủi ro và quyết định đầu tư chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ sinh lời Việc bỏ qua yếu tố rủi ro trong trường hợp trên được sử dụng với hàm ý là các quốc gia coi việc đầu tư trực tiếp ở bất cứ quốc gia nào bao gồm cả trong nước đều có thể thay thế hoàn hảo cho nhau Đây là một trong những giả thuyết đầu tiên giải thích về dòng FDI, còn nhiều điểm bất hợp lý, thiếu tính chính xác, dẫn tới không đúng với thực tế
Giả thuyết đa dạng hóa danh mục
Nền tảng giả thuyết dựa trên lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư của Tobin (1958)
và Markowitz (1959) Điểm khác biệt so với thuyết thị trường sinh lời chênh lệch đó là ngoài yếu tố tỷ suất sinh lời thì quyết định đầu tư còn phụ thuộc vào rủi ro (rủi ro được đo lường dựa trên phương sai hoặc độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời)
1.1.2.3.2 Lý thuyết dựa trên thị trường không hoàn hảo:
Trang 32trạng trên các công ty phải có những lợi thế tương đối so với các doanh nghiệp trong nước Kindleberger (1969) cho rằng: “Lợi thế tương đối phải là đặc thù của doanh nghiệp, nó phải
có khả năng chuyển giao cho công ty con tại nước ngoài và nên đủ lớn để khắc phục những bất lợi”
Lall và Streeten (1977) đã đưa ra danh sách các lợi thế phát sinh FDI, khi các ngành nghề cơ bản càng trở nên độc quyền thì những lợi thế này càng trở nên quan trọng Các lợi thế được trình bày sơ lược ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Lợi thế làm phát sinh FDI
Vốn Chi phí vốn thấp hay lượng vốn thấp hơn so với các đối thủ cạnh
tranh tại địa phương hoặc các đối thủ nước ngoài thấp hơn Quản lý Biểu hiện ở hoạt động hiệu quả hơn hoặc khả năng ứng phó rủi ro
hay xác định lợi nhuận kinh doanh tốt hơn
Công nghệ Công nghệ cao hơn biểu hiện qua khả năng ứng dụng khoa học
vào hoạt động thương mại Việc này có mối quan hệ mật thiết đối với việc tìm hiểu các quy trình và sản phẩm mới, dị biệt hóa sản
phẩm và nhiều hoạt động hỗ trợ khác
Marketing Các chức năng nghiên cứu thị trường, phân phối, quảng bá và xúc
tiến hỗn hợp Tiếp cận nguyên
liệu thô
Quyền ưu tiên được tiếp cận nguyên liệu thô có được nhờ việc kiểm soát tốt thị trường cuối cùng, quá trình vận chuyển sản phẩm, quy trình hay bản thân quá trình sản xuất nguyên liệu Lợi thế kinh tế theo
quy mô
Vận dụng khả năng tài chính và trình độ chuyên môn nhằm thiết lập, vận hành các cơ sở vật chất nhằm tận dụng lợi thế
Trang 33Sức mạnh chính trị
và khả năng
thương lượng
Có được năng lực đàm phán, yêu cầu những nhượng bộ và những
điều khoản có lợi từ chính phủ sở tại
Nguồn: Foreign Direct Investment - Theory, Evidence and Practice
Giả thuyết tổ chức ngành đã giải thích được vì sao các công ty ưu tiên thực hiện đầu
tư ra nước ngoài tuy nhiên chưa giải thích được doanh nghiệp chọn lựa quốc gia A hay B Câu trả lời sẽ được giải đáp thông qua giả thuyết định vị
Giả thuyết nội hóa
Phát triển dựa trên nghiên cứu của Coase (1937), cho rằng doanh nghiệp có thể giảm thiểu chi phí thị trường thông qua việc thành lập công ty con FDI xuất hiện thông qua việc doanh nghiệp nỗ lực thay thế giao dịch bên ngoài bằng giao dịch nội bộ Lợi ích của nội hóa là tránh được độ trễ về thời gian và xử lý được tính bất ổn Buckley và Casson (1976) nhận định rằng: “Nếu thị trường hàng hóa trung gian không hoàn hảo, doanh nghiệp khuyến khích bỏ qua chúng và thành lập thị trường nội bộ” Giả thuyết nội hóa giải thích tại sao công ty ưu tiên FDI hơn xuất khẩu và nhập khẩu từ nước ngoài Nội hóa không chỉ bắt nguồn từ tính không hiệu quả của thị trường bên ngoài mà đôi khi còn do động cơ muốn duy trì độc quyền sử dụng các cải tiến tạo ra bởi nỗ lực nghiên cứu và phát triển của công
ty
Giả thuyết định vị
Thông qua việc quốc tế hóa tính bất biến của một số nhân tố sản xuất như lao động
và tài nguyên thiên nhiên để thu hút FDI Sự khác biệt trong chi phí sản xuất giữa các khu vực sẽ giúp các quốc gia giảm thiểu được các chi phí sản xuất, đó chính là nhân tố tạo ra
sự khác biệt giữa các khu vực
Đối với thuyết định vị, một lợi thế được nhắc nhiều chính là lợi thế khu vực có mức chi phí nhân công thấp Hầu hết các nghiên cứu đều ủng hộ giả thuyết nhân công rẻ thu hút FDI cao, hay mức lương tăng cao sẽ làm giảm dòng vốn FDI vào tăng dòng vốn FDI ra Một yếu tố khác thuộc về thị trường lao động có tác động ngược chiều với dòng vốn FDI chính là tranh chấp lao động Tác động trái chiều của tranh chấp lao động phụ thuộc vào
Trang 34hai yếu tố bao gồm: phạm vi tác động và tính nghiêm trọng Mức độ tổ chức công đoàn tại quốc gia nhận đầu tư cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới dòng vốn FDI Sự tác động qua lại giữa FDI, lao động với các yếu tố công đoàn hầu hết ít được quan tâm do các vấn đề trên chủ yếu được nghiên cứu độc lập Lợi thế định vị còn áp dụng cho các yếu tố sản xuất khác,
có thể tận dụng các yếu tố sản xuất liên quan đến từng giai đoạn trong chuỗi sản xuất để đẩy nhanh quá trình sản xuất Vốn cũng là một yếu tố sản xuất cơ bản, đặc biệt nếu thị trường vốn phân đoạn, FDI sẽ chảy vào quốc gia có chi phí vốn thấp
Giả thuyết chiết trung
Lý thuyết chiết trung được Dunning (1997, 1979, 1988) phát triển thông qua việc kết hợp giả thuyết tổ chức ngành, giả thuyết nội hóa và giả thuyết định vị nhưng không tập trung vào mối liên hệ giữa ba giả thuyết trên
Theo thuyết chiết trung, để tham gia hoạt động FDI, các quốc gia cần phải có đủ một số lợi thế cạnh tranh cơ bản như sau:
O (Ownership): Lợi thế quyền sở hữu của công ty so với nước sở tại và được phép chuyển nhượng sang nước ngoài Bao gồm bản quyền công nghệ, sức mạnh và quy mô độc quyền, quyền tiếp cận nguyên liệu thô và tiếp cận tài chính với chi phí rẻ
I (Internalization): Lợi thế về nội hóa, mở rộng trong nội bộ công ty hay bán các quyền để mở rộng cho công ty khác
L (Location): Lợi thế về vị trí thông qua việc kết hợp các lợi thế với ít nhất một vài yếu tố đầu vào của nước sở tại để mang lại lợi ích lớn hơn Nếu không đáp ứng được thì công ty nên lựa chọn xuất khẩu
Lý thuyết chiết trung giải thích một số vấn đề về FDI như sau:
Công ty sẽ cấp giấy phép sử dụng lợi thể sở hữu của mình cho công ty khác, đặc biệt nếu yếu tố vị trí ủng hộ mở rộng tại nước ngoài trong trường hợp nội hóa không tạo ra thêm lợi ích
Công ty sẽ mở rộng trong nước và xuất khẩu đối với trường hợp nội hóa tạo thêm lợi ích và yếu tố vị trị ủng hộ mở rộng trong nước
Công ty sẽ tiến hành FDI và trở thành MNC đối với trường hợp nội hóa tạo thêm lợi ích và yếu tố vị trị ủng hộ mở rộng tại nước ngoài
Trang 35Lý thuyết chiết trung cho rằng tất cả các hình thức FDI đều có thể được giải thích theo những điều kiện của nó Những lợi thế phát sinh từ sở hữu, nội hóa và vị trí có thể thay đổi theo thời gian Phải chấp nhận rằng nếu đặc trưng quốc gia là yếu tố quyết định FDI thì không thể áp dụng kinh nghiệm của quốc gia này thông cho các quốc gia khác
Giả thuyết về vòng đời sản phẩm
Giả thuyết được phát triển bởi Vernon (1966) nhằm giải thích sự mở rộng của các MNC Mỹ sau thế chiến thứ hai Theo giả thuyết này, sản phẩm trải qua một chu kỳ ứng với các giai đoạn: khởi đầu, tăng trưởng, cân bằng, suy thoái - một chu trình ứng với quá trình giới thiệu, mở rộng, trưởng thành và lão hóa” (Vernon, 1971) Giả thuyết này đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện FDI tại một giai đoạn nhất định của vòng đời sản phẩm mà sản xuất ban đầu dựa trên sự cải tiến Các giai đoạn này bao gồm:
Giai đoạn đầu quá trình sản xuất được thực hiện trong nước, gần với khách hàng và
do nhu cầu phối hợp hiệu quả giữa các đơn sản xuất và R&D Trong giai đoạn sản xuất, lượng cầu của sản phẩm mới không co giãn với giá bởi vậy doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lược giá “hớt váng” hay còn gọi là “hớt phần ngon” và áp dụng mức giá tương đối cao Sau một khoảng thời gian, sản phẩm được cải thiện dựa trên những phản hồi từ khách hàng Đến thời điểm đó, cầu xuất phát từ lượng khách hàng trong nước
Giai đoạn tăng trưởng, ở gia đoạn này doanh nghiệp tiến hành mở rộng và xuất khẩu sản phẩm sang các quốc gia có mức thu nhập cao kế tiếp do nảy sinh lượng cầu tại các quốc gia đã phát triển Lượng cầu ngày càng tăng tuy nhiên đối thủ cạnh tranh có những sản phẩm tương tự cũng ngày một nhiều, phần nào gia tăng áp lực cạnh tranh căng thẳng đối với thị trường trong nước
Giai đoạn trưởng thành đặc trưng bởi sản phẩm và quy trình sản xuất được chuẩn hóa hoàn toàn vì vậy doanh nghiệp cải tiến không còn sở hữu độc quyền nữa Ở giai đoạn này, cạnh tranh về giá từ các nhà sản xuất khác thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến đầu tư vào các quốc gia đang phát triển, tìm kiếm lợi thế chi phí Quốc gia gốc bắt đầu nhập khẩu sản phẩm từ cả các doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài đặt tại nước ngoài Quốc gia gốc trở thành bên nhập khẩu ròng còn nước ngoài trở thành bên xuất khẩu ròng
Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra vì chi phí sản xuất trở thành một yếu tố quan trọng, trong trường hợp khi mà các sản phẩm đạt tới sự trưởng thành và chuẩn hóa Vì thế
Trang 36Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bước phòng thủ để bảo toàn vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trước những đối thủ trong nước và nước ngoài
Đồ thị 1.3 thể hiện mô hình sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu và nhập khẩu ứng với vòng đời của sản phẩm theo thời gian
Đồ thị 1.3: Sản xuất và tiêu dùng trong vòng đời sản phẩm
Nguồn: Foreign Direct Investment - Theory, Evidence and Practice
Giả thuyết vòng đời sản phẩm cho rằng các quốc gia đầu tiên xuất hiện sản phẩm cải tiến sẽ thay đổi dần từ xuất khẩu sang nhập khẩu theo thời gian Dự đoán này đúng với mô hình thay đổi năng động quan sát được ở nhiều sản phẩm
Solomon (1978) đã cho rằng tính ứng dụng của giả thuyết vòng đời sản phẩm là hạn chế đối với các ngành công nghệ cao Ngoài ra theo Buckley và Casson (1976) làm đơn giản hóa quá trình ra quyết định của doanh nghiệp Tuy vậy, giả thuyết này chỉ dựa trên cơ
sở kinh nghiệm từ Mỹ, và hữu ích khi lý giải sự tương tác giữa sản xuất, xuất khẩu và FDI trong giai đoạn những năm 1950 và 1960
Giả thuyết về phản ứng độc quyền nhóm
Trong môi trường độc quyền nhóm, khi một doanh nghiệp tiến hành FDI có thể khiến cho các doanh nghiệp dẫn đầu khác trong ngành tiến hành theo với nỗ lực bảo toàn thị phần của mình (Knickerbocker, 1973) Cùng với đó, các doanh nghiệp thường thuộc về
Trang 37các ngành độc quyền cạnh tranh hoặc độc quyền nhóm ở trong nước, là nơi tốt hơn và có
đủ động lực cần thiết để cam kết nguồn lực cho R&D Lall và Streeten (1977) cho rằng cấu trúc độc quyền nhóm và trạng thái cân bằng đã khiến cho không thành viên nào có thể bỏ qua động thái của các thành viên khác Cuộc chiến toàn cầu giữa những doanh nghiệp khổng
lồ ngày càng phát triển thì quy mô hoạt động của những doanh nghiệp này càng tiếp tục mở rộng Theo Knickerbocker (1973), phản ứng độc quyền nhóm gia tăng cùng với mức độ tập trung và suy giảm theo sự đa dạng hóa sản phẩm Ông cho rằng nâng cao tập trung ngành làm tăng phản ứng độc quyền nhóm đối với FDI, trừ khi mức độ tập trung là rất cao Ngoài
ra, lợi nhuận của FDI tỷ lệ thuận với mức độ tập trung thâm nhập và mức độ tập trung thâm nhập lại tỷ lệ nghịch với tính đa dạng sản phẩm
lo ngại về sự bảo hộ tại các quốc gia nhận đầu tư đã khiến các hoạt động xuất khẩu chuyển dần sang FDI (Blonigen và Feelstra, 1996)
Thứ ba, yếu tố marketing, do đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp các doanh nghiệp phục vụ các thị trường mục tiêu một cách tốt hơn
Thứ tư, phản ứng độc quyền nhóm dưới khía cạnh khi một doanh nghiệp độc quyền nhóm tiến hành sản xuất tại nước ngoài sẽ khiến các doanh nghiệp khác làm theo Đó chính
là giả thuyết về phản ứng độc quyền nhóm đã được trình bày trước đó
Thứ năm, vòng đời sản phẩm, dựa trên giả thuyết về vòng đời sản phẩm
Ngoài ra, còn một số yếu tố khác khiến đầu tư trực tiếp nước ngoài hấp dẫn hơn cấp giấy phép Theo Lall và Streeten (1977), cấp giấy phép là các hoạt động như bán công nghệ, nhãn hiệu, bằng sáng chế, dịch vụ quản lý, hoặc các tài sản khác tương tự Theo Baranson
Trang 38(1970), McManus (1972), Parker (1974) và Baumann (1975), FDI được ưa thích hơn cấp giấy phép khi: quốc gia nhận đầu tư có tình hình chính trị ổn định, công nghệ mới phát triển
và quản lý chặt chẽ, các doanh nghiệp lớn và mức độ quốc tế hóa, năng lực của doanh nghiệp địa từ nhiều nguồn và khả năng hấp thụ của người được cấp giấy phép là thấp Ngược lại, cấp giấy phép sẽ được ưa thích hơn FDI khi: công nghệ được phát triển rộng rãi, thị trường nhận đầu tư nhỏ và rủi ro, doanh nghiệp ít kinh nghiệm, sợ rủi ro và tập trung nội địa, doanh nghiệp chỉ có một số ưu thế cụ thể và số lượng người được cấp giấy phép có thể lớn và có khả năng hấp thụ Tuy nhiên, quyết định không hoàn toàn rõ ràng, và có nhiều
sự lựa chọn trung gian giữa đầu tư vào một công ty con và cấp giấy phép
Liên doanh quốc tế xuất hiện rộng phủ sóng rộng khắp như một hình thức thâm nhập quan trọng Bucley và Cason (1988, 1996) đưa ra điều kiện để thiết lập liên doanh gồm: sở hữu các tài sản bổ sung, có cơ hội liên doanh và các rào cản cho sự hợp nhất hoàn toàn Mặc dù MNC mong muốn sở hữu toàn phần hoặc kiểm soát đa số đối với công ty con, nhưng vẫn có lý do khiến họ đồng ý tham gia vào các liên doanh: Thứ nhất, chính sách của nhiều quốc gia đang phát triển khiến liên doanh là hình thức thâm nhập duy nhất Thứ hai, các đối tác liên doanh có thể cung cấp những kỹ năng bổ sung Thứ ba, liên doanh có thể giúp giảm rủi ro quốc gia, trong đó có các rủi ro tiếp quản Liên doanh cũng có thể hấp dẫn trong trường hợp dự án quá lớn đối với MNC
Bucley và Casson (2000a) đã đưa ra mô hình thâm nhập thị trường với ba đặc điểm riêng biệt Thứ nhất, dựa trên phân tích sơ đồ chi tiết bao gồm tất cả các hình thức thâm nhập chính Thứ hai, phân biệt giữa sản xuất và phân phối Thứ ba, mô hình xem xét tới tương tác chiến lược giữa doanh nghiệp mới với những đối thủ chính tại nước sở tại sau thâm nhập Một vài phát hiện của mô hình Buckley - Casson được biểu điện ở Bảng 1.2
Trang 39Bảng 1.2: Dự đoán của mô hình Buckley – Casson về hình thức xâm nhập
Tăng chi phí vận chuyển hoặc không có
lợi ích kinh tế theo quy mô đối với hoạt
động sản xuất trong nước
Cấp giấy phép và sở hữu toàn bộ hoạt động sản xuất nước ngoài
Công nghệ đặc thù Đầu tư mới được sử dụng phổ biến hơn
mua lại và cấp giấy phép Tăng chi phí xây dựng niềm tin Đầu tư mới và mua lại thị trường được sử
dụng phổ biến hơn mua lại Việc tìm hiểu thị trường nước ngoài tốn
nhiều chi phí Hạn chế mua lại, cấp giấy phép, nhượng quyền cũng như thầu phụ và đầu tư mới Hàng hóa trung gian tốn nhiều chi phí
FDI được sử dụng nhiều hơn thầu phụ
Chi phí cạnh tranh cao do xuất hiện
nhiều cho thuê độc quyền Mua lại được ưa thích hơn đầu tư mới
Nguồn: Foreign Direct Investment - Theory, Evidence and Practice
Dựa trên cơ sở mô hình, Buckley và Kayson đưa ra hai kết luận Thứ nhất thấu phụ không phải hình thức xâm nhập được ưa chuộng, vì không thể tiếp thu được các kinh nghiệm từ đối thủ cạnh tranh tại địa phương Thứ hai, liên doanh trong sản xuất không phải một hình thức thâm nhập trừ trường hợp sản xuất liên doanh là một phần của liên doanh hợp nhất trong cả hoạt động phân phối
World Investment Report 2000 (UNCTAD) đã xác định bổn yếu tố khiến sự lựa chọn giữa FDI và M&A không thể đạt được:
Yếu tố đầu tiên là trình độ phát triển kinh tế: trình độ phát triển của quốc gia nhận đầu tư càng cao thì càng nhiều khả năng cho M&A Các quốc gia đang phát triển không có những doanh nghiệp mục tiêu phù hợp trong khi vẫn có nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn Vì vậy, đầu tư mới là hình thức phổ biến hơn tại các nước đang phát triển
Trang 40Yếu tố thứ hai là chính sách FDI: một số quốc gia hạn chế thậm chí cẩm hoàn toàn M&A, trong trường hợp đó FDI sẽ dưới dạng đầu tư mới
Thứ ba, yếu tố thể chế đóng vai trò quan trọng dưới góc độ M&A bị tác động bởi sự khác biệt giữa quản trị doanh nghiệp và cơ cấu sở hữu Đó thường là trường hợp M&A bị hạn chế bởi thị trường tài chính sơ khai và chuẩn mực kế toán nghèo nàn, khiến cho việc định giá tài sản doanh nghiệp trở nên khó khăn
Cuối cùng, M&A thường được lựa chọn khi nảy sinh nhu cầu cứu hộ các doanh nghiệp ốm yếu tại quốc gia nhận đầu tư sau khủng hoảng tài chính hoặc các rủi ro tương
tự
Buckley và Casson (1981) lập luận rằng quyết định phục vụ thị trường nước ngoài phụ thuộc vào chi phí liên quan tới hoạt động này, điều kiện về cầu thị trường, và tăng trưởng tại thị trường nhận đầu tư
1.2 Tác động của Chính phủ Điện tử trong việc thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Tác động của Chính phủ Điện tử đến FDI thông qua cơ chế giảm tham nhũng
Nhiều tổ chức chống tham nhũng gần đây đã khuyến khích việc triển khai Chính phủ Điện tử trong các chương trình chống tham nhũng Nhìn chung, áp dụng CNTT-TT thông qua Chính phủ Điện tử có hiệu quả đáng kể trong việc giảm chi phí và tăng tính minh bạch, chống tham nhũng; nâng cao năng lực của chính phủ; củng cố hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật; thúc đẩy các thành phần kinh tế ưu tiên; nâng cao chất lượng cuộc sống cho các vùng miền kém phát triển; và tăng cường quản lý đất nước và tăng cường sự tham gia
của người dân Theo Shim và Eom (2008), sử dụng Chính phủ Điện tử hỗ trợ kiểm soát
hành vi tham nhũng bằng cách tăng cường các mối quan hệ bên ngoài với công dân Thông qua Chính phủ Điện tử, người dân có thể tìm kiếm thông tin trên website và có thể tham gia vào quá trình ra quyết định dễ dàng hơn Trong bối cảnh này, các tổ chức chính phủ buộc phải tăng cường tính minh bạch để người sử dụng internet có thể tiến hành giám sát quá trình làm việc của các nhân viên chính phủ nhằm phát hiện các hành vi tham nhũng