Bài tiểu luận môn Kỹ thuật thực phẩm 3 với đề tài Công nghệ sản xuất cồn etylic được thực hiện bởi nhóm sinh viên khoa CNTP tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Bài tiểu luận với tính chất tham khảo, mong các bạn bỏ qua những thiếu sót.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
= = = = = = = =
CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK
N
KỸ THUẬT THỰC PHẨM 3
Chủ đề : CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CỒN ETYLIC
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Định
Lớp : K63CNTPD
Thời gian học: Thứ 5_Tiết 1 – 3
Nhóm : 2
Trang 22
Hà Nội, 2019 MỤC LỤC
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU 3
1.1 Đặt vấn đề 3
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: 4
PHẦN HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
I Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.1 Định nghĩa 5
1.2 Tính chất 5
1.3 Ứng dụng 6
1.4 Phân loại 7
II Nguyên liệu sản xuất cồn 8
2.1 Yêu cầu đối với nguyên liệu sản xuất cồn 8
2.2 Thành phần hóa học của nguyên liệu sản xuất cồn 9
III Công nghệ sản xuất cồn 11
3.1 Quy trình sản xuất 11
3.1.1 Nấu nguyên liệu 12
3.1.2 Đường hóa 16
3.1.3 Lên men 17
3.1.4 Chưng cất và tinh chế cồn 21
3.2 Kiểm tra sản phẩm 23
3.2.1 Kiểm tra nguyên liệu 24
3.2.2 Kiểm tra chất lượng sản phẩm 24
PHẦN BA: KẾT LUẬN 27
Trang 3Rượu là đồ uống khá phổ biến và có mặt ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới, từ những loại rượu nổi tiếng và có uy tín như Whiskey, Vodka, Chivas, rượu vang, … cho đến những loại rượu bình dân, thường xuất hiện trong những bữa cơm gia đình Ở Việt Nam, nghề nấu rượu cũng xuất hiện từ rất lâu trong cuộc sống của người dân và tạo ra những loại rượu với những cái tên bình dị, quen thuộc như “rượu cần”, “rượu ngô”, “rượu táo mèo”, …Sở dĩ chúng có những cái tên như vậy là được người xưa đặt tên gọi từ chính nguyên liệu làm ra rượu Tuy nhiên, nếu muốn có được sản phẩm rượu ngon thì ta cần chú trọng đến cồn – thành phần chính trong rượu Để có các sản phẩm pha chế rượu ngon thì ta cần có cồn chất lượng tốt
Ngoài mục đích là đồ uống, rượu etylic còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như: trong công nghệ hóa chất, làm chất dung môi cho các phản ứng hóa học, … Đối với quốc phòng, rượu etylic còn được sử dụng làm thuốc súng không khói, nhiên liệu hỏa tiễn… Trong y tế, rượu etylic là chất sát trùng hoặc pha thuốc Trong nông nghiệp, rượu etylic được dùng để làm thuốc trừ sâu Ngành dệt, rượu còn được dùng để làm thuốc nhuộm, tơ nhân tạo, làm sơn vecni trong chế biến gỗ Trong tương lai, rượu etylic sẽ được sử dụng làm nhiên liệu sinh học vì đây là sản phẩm cháy không gây ô nhiễm môi trường
Chính vì tầm quan trọng của rượu trong cuộc sống của chúng ta mà ngày nay, ngành công nghệ sản xuất rượu đã đem lại những thu nhập đáng kể, đóng
góp to lớn trong nền kinh tế quốc dân Do đó, chúng em chọn chủ đề “Công
Trang 44
nghệ sản xuất cồn etylic” để làm đề tài cho bài tiểu luận Kĩ thuật thực phẩm 3
của nhóm
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Tìm hiểu các kiến thức về cồn etylic: định nghĩa, ứng dụng, phương pháp sản xuất để giúp mọi người hiểu thêm các kiến thức về cồn etylic, sản xuất và sử dụng cồn elylic
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu các khái niệm, ứng dụng của cồn etylic
- Tìm hiểu các phương pháp sản xuất cồn etylic
Trang 55
PHẦN HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.2 Tính chất
Cồn có các tính lý hóa đặc trưng sau:
- Tỉ trọng trung bình 0.8 g/cm3
- Là chất lỏng không màu, trong suốt, dễ bay hơi
- Có mùi thơm đặc trưng: dễ chịu, cay
- Dễ cháy, khi cháy có ngọn lửa màu xanh da trời, không tạo khói tạo thành carbon dioxide và nước
- Là một loại rượu đơn chức, có độ nóng chảy ở -117,3oC và sôi ở 78,5oC
- Có độ nhớt và ít bay hơi so với các hợp chất hữu cơ cùng trọng lượng phân tử
- Là một dung môi linh động, có thể hòa tan với nước và một số hợp chất hữu cơ khác
- Có liên kết hydro làm cho ethanol tinh khiết có khả năng hút ẩm trong không khí
Trang 66
- Ethanol và nước tạo ra hỗn hợp đẳng phí (một hỗn hợp đun sôi không đổi), nên việc tách nước trong hỗn hợp ethanol rất khó khăn Việc tách nước trong ethanol để tạo thành cồn tinh khiết, ethanol tuyệt đối là không thể có được bằng cách chưng cất đơn giản
1.3 Ứng dụng
Từ xa xưa đến nay, cồn đã không còn xa lạ trong đời sống của con người
và được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau:
- Trong hóa học, cồn được sử dụng để làm nguyên liệu sản xuất các hợp chất khác như: dietyl este, axit axetic, etyl axetat, … Bên cạnh đó, cồn còn được dùng làm dung môi pha chế vecni, dược phẩm, nước hoa, …
- Trong cuộc sống, cồn được dùng để điều chế các loại rượu uống nói riêng và các đồ uống có etanol nói chung, người ta chỉ dùng các sản phẩm của quá trình lên men rượu các sản phẩm nông nghiệp như: gạo, ngô, sắn, lúa mạch, quả nho, Trong một số trường hợp còn phải tinh chế loại bỏ các chất độc hại đối với cơ thể
- Trong thực phẩm, sau khi chưng cất và loại bỏ các tạp chất có hại cồn
là một trong những thành phần chính để sản xuất rượu và một số đồ uống khác
Nó còn được sử dụng để chế biến và bảo quản thực phẩm
- Trong lĩnh vực y tế, cồn giúp khử trùng sát khuẩn làm sạch vết thương
hở, hạn chế nhiễm trùng hoặc hoại tử mô cơ Cồn cũng là nguyên liệu sản xuất các loại thuốc gây tê, gây mê, thuốc ngủ và thuốc giảm đau Bên cạnh đó, cồn còn được dùng làm dung môi tiệt trùng các dụng cụ y tế, thiết bị phẫu thuật, vệ sinh phòng phẫu thuật và sử lý các chất bẩn y tế hữu cơ như máu hoặc dịch cơ thể con người
- Trong công nghiệp, ứng dụng của cồn trải dài ở nhiều lĩnh vực sản xuất
đa dạng và phong phú nhờ tính năng độc đáo và giá thành rẻ Nó là một trong những thành phần quan trọng để điều chế các hợp chất hữu cơ phổ biến khác như ethyl halogenua, ethyl ester, diethyl ether, acid acetic, ethylamin với giá thành thấp.Cồn là nguyên liệu chính trong quy trình sản xuất nhiên liệu sinh học Ta còn có thể pha lẫn cồn và xăng để tạo nên xăng E5, E10 phục vụ cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau Bên cạnh đó, cồn được dùng trong các sản phẩm chống đông lạnh nhờ nhiệt độ đóng băng thấp Cồn còn đóng vai trò dung
Trang 77
môi trong quy trình sản xuất sơn, công nghệ in ấn, điện tử, sản xuất bông, dệt may và điều chế hương liệu công nghiệp; dùng để tẩy rửa các vết bẩn hữu cơ trong công xưởng, nhà máy, làm nhiên liệu đốt thay thế cho xăng hoặc gas khi cần thiết
- Trong ngành sản xuất mĩ phẩm, cồn là một dung môi hòa tan một số thành phần trong mỹ phẩm vừa có tác dụng giữ hương thơm trong các sản phẩm khi sử dụng, nhờ đó hương thơm được giữ lâu hơn Đó cũng là một dung môi hoàn hảo giúp hòa tan các chất và ngăn ngừa sự kết tinh của thành phần trong
mỹ phẩm Khả năng này của cồn khiến kết cấu sản phẩm trở nên nhẹ hơn, đồng thời giúp các dưỡng chất quan trọng thấm nhanh và sâu hơn
- Trong sản xuất, cồn là một thành phần vô cùng hữu ích trong việc bảo quản và tăng tuổi thọ cho mỹ phẩm, bởi nhờ đặc tính chống khuẩn và khử trùng hữu hiệu của mình Bên cạnh đó, cồn là thành phần chủ yếu trong các loại nước hoa cao cấp, nước xịt phòng, dùng để pha loãng hương liệu
1.4 Phân loại
a) Theo nồng độ rượu và mức độ làm sạch tạp chất mà người ta chia cồn
thành 2 loại với các chỉ tiêu chất lượng như sau:
Bảng 1 Chỉ tiêu chất lượng trong phân loại cồn
STT
Chỉ tiêu chất lượng Cồn loại I Cồn loại
II
2 Hàm lượng aldehyt tính theo Aldehytaxetic, mg/l 8 20
3 Hàm lượng este tính theo Axetat etyl, mg/l ≤ 30 50
4 Hàm lượng dầu fusel tính theo alcol izoamylic và
Trang 8
8
b) Theo mục đích sử dụng mà người ta chia cồn thành 5 loại sau:
- Cồn công nghiệp: Cồn công nghiệp là Cồn Methanol, có các loại nồng
độ 70%, 90%, 96% Loại này người ta thường hay sử dụng để sản xuất kinh doanh, vệ sinh lau chùi công nghiệp Tuyệt đối không uống và tránh tiếp xúc với da và mặt
- Cồn Ethanol: hay còn gọi là Cồn thơm Cũng có các nồng độ 70%, 90%, 96% và 99% Cồn này có thể dùng trong ngành thực phẩm, mỹ phẩm, SPa
- Cồn tuyệt đối: Cồn này có nồng độ 99,9%, hầu như không lẫn tạp chất, cồn này hay dùng trong các phòng thí nghiệm
- Cồn IPA: Hay gọi là Iso Propanol Alcohol, được sử dụng nhiều trong ngành in ấn pha mực in, vệ sinh màng in …
- Cồn y tế: Có nồng độ và thành phần dành riêng trong ngành y, thường
là 70% và 90% Có màu trong suốt, còn màu xanh là do pha với Xanh methylen
II Nguyên liệu sản xuất cồn
2.1 Yêu cầu đối với nguyên liệu sản xuất cồn
Để sản xuất cồn etylic, về nguyên tắc ta có thể dùng bất cứ nguyên liệu nào chứa đường hoặc polysaccarit nhưng sau thủy phân sẽ biến thành đường lên men được Do đó ta có thể dùng cả nguyên liệu giàu xenlulozo để thủy phân thành đường Tuy nhiên, dùng nguyên liệu này kém hiệu quả về kinh tế Ở đây,
ta đề cập đến việc sử dụng nguyên liệu chứa đường (chủ yếu là mật rỉ) và chứa tinh bột Và chúng ta đi sâu vào phần tìm hiểu về nguyên liệu chứa tinh bột Yêu cầu đối với nguyên liệu phải thỏa mãn:
- Hàm lượng đường hoặc tinh bột cao, có khả năng đem lại hiệu quả kinh
tế cao
- Vùng nguyên liệu phải tập trung và đủ thỏa mãn nhu cầu sản xuất Nguyên liệu chủ yếu mà các nhà máy tại Việt Nam thường dùng là sắn, sau đó là ngô và một phần gạo hoặc tấm, các nguyên liệu này có các đặc điểm
về thành phần chất như sau:
- Thành phần của củ sắn tươi giới hạn trong giao động khá lớn: tinh bột
20 – 34%, protein 0,8 – 1,2%, chất béo 0,3 – 0,4%, xenlulozo 1 – 3,1%, chất tro 0,54%, polyphenol 0,1 – 0,3% và nước 60 – 74,2%
Trang 99
- Ngoài ra, trong sắn còn chứa một lượng vitamin và độc tố Vitamin trong sắn thuộc nhóm B, trong đó vitamin B1 và B2 mỗi loại chiếm 0,03mg% còn B6 chiếm 0,06mg% Các vitamin này sẽ bị mất một phần khi chế biến và nhất là khi nấy trong sản xuất rượu
- Độc tố trong sắn có tên là phazeolunatin gồm hai glucozit Linamarin và Lotaustralin Hàm lượng chung của phazeolunatin chỉ vào khoảng 0,001 – 0,004 mg% và chứa nhiều trong sắn đắng, tập trung chủ yếu ở vỏ cùi Bình thường phazeolunatin không độc nhưng khi bị thủy phân thì các glucozit này sẽ giải phóng HCN
- Hàm lượng HCN trong củ sắn tươi nhỏ hơn 50 mg/kg chưa gây độc hại cho người, từ 50 – 100 người sẽ bị ngộ độc và HCN lớn hơn 100 mg/kg, người
ăn sẽ bị tử vong (phụ thuộc vào việc ăn nhiều hay ăn ít) Để tránh bị ngộ độc sắn, trước khi luộc ta cần ngâm và bóc bỏ vỏ cùi
- Sắn tươi đã thái lát và phơi khô sẽ giảm đáng kể hàm lượng glucozit gây độc kể trên Trong sản xuất rượu, khi nấu lâu ở nhiệt độ cao đã pha loãng nước nên với hàm lượng ít chưa ảnh hưởng đến nấm men Hơn nữa, các muối xyanat khi chưng cất không bay hơi nên bị loại cùng bã rượu
- Sắn dùng trong sản xuất rượu chủ yếu là sắn lát khô hoặc sắn dui Ngoài sắn khô chúng ta còn dùng gạo tấm và ngô để sản xuất ra cồn có chất lượng cảm quan cao, dùng pha chế các loại rượu cao cấp và xuất khẩu
2.2 Thành phần hóa học của nguyên liệu sản xuất cồn
Tùy theo tường loại nguyên liệu cụ thể mà tỷ lệ của các thành phần hóa
học có sự khác nhau:
Bảng 2 Thành phần hóa học của nguyên liệu
dùng trong sản xuất cồn rượu
Thành phần Sắn khô Gạo tẻ Tấm Cám gạo* Ngô**
Trang 1010
*Dùng để sản xuất chế phẩm amylaza
**Trước khi dùng nên tách phôi đem ép dầu vừa tiết kiệm, lại không ảnh hưởng tới lên men
Thành phần quan trọng và chủ yếu đối với nguyên liệu chứa tinh bột dùng trong sản xuất rượu có các đặc điểm sau:
- Đối với sản xuất rượu thì thành phần quan trọng nhất là gluxit lên men được, gồm tinh bột và một số đường Trong đa số gluxit nói chung thì tỉ lệ giữa
H và O đều tương tự như trong nước Ví dụ như ramnoza – C6H12O5
- Tinh bột là gluxit dự trữ phổ biến nhất trong thực vật (khoai sắn và các hạt cốc) Hạt tinh bột có hình dáng rất khác nhau với kích thước từ 2 đến 15µm Tinh bột không nước có khối lượng riêng khoảng 1,633 – 1,648
- Tinh bột là chất keo háo nước điển hình, cấu tạo từ amyloza – mạch thẳng và amylopectin Tỉ số giữa amyloza và amylopectin trong tinh bột thường vào khoảng 1:4 Cả hai đều cấu tạo từ những gốc α – d – glucoza Amylo có cấu tạo mạch thẳng, chúng được liên kết bởi các nối α – 1.4 glucozit và α – 1.6 glucozit nên tạo thành nhiều nhánh Ngoài amyloza và amylopectin, trong tinh bột còn chứa một lượng nhỏ các chất khác như muối khoáng, chất béo, protit,… Hàm lượng của chúng khoảng 0,2 – 0,7%
- Tinh bột không hòa tan trong nước lạnh, rượu và ete – amyloza dễ tan trong nước nóng tạo dung dịch rất nhớt
- Trong nước nóng, tinh bột sẽ hút nước trương nở và tạo dạng gel Mức
độ trương của tinh bột phụ thuộc vào nhiệt độ Khi tăng dần nhiệt độ, dịch tinh bột sẽ biến dần thành dạng keo và được gọi là hồ tinh bột Nhiệt độ làm cho hồ tinh bột có độ nhớt cực đại gọi là nhiệt độ hồ hóa của tinh bột Trong thực tế luôn tồn tại một giới hạn nhiệt độ hồ hóa, vì tinh bột của nguyên liệu bất kì gồm nhiều hạt có kích thước khác nhau
- Dưới tác dụng của axit hoặc amylaza, tinh bột sẽ bị thủy phân Khi đun với axit, tinh bột sẽ biến thành glucoza, và dưới tác dụng của amylaza thóc mầm thì dịch thủy phân gồm 70 – 80% là mantoza và 20 – 30% là dextrin, nhưng với amylaza của một số nấm mốc hoặc nấm men Endomycopsip thì dịch thủy phân chứa tới 80 – 90% là glucoza
- Glucozen (tinh bột động vật và vi sinh vật) là chất dự trữ đối với mọi cơ thể động vật cũng như một số nấm men và vi khuẩn Glucozen có cấu tạo nhánh
Trang 11- Hemixenluloza (chất bán xơ) cũng chứa nhiều trong thành tế bào thực vật, có trong rơm, rạ, rễ ngô và cám Trong thành phần có chứa hexozan (galactan, manan) và pentozan, dễ bị thủy phân hơn so với xenluloza
III Công nghệ sản xuất cồn
3.1 Quy trình sản xuất
Để tách cồn thô khỏi giấm và tinh chế để nhận được cồn tinh chế có chất
lượng cao ta có thể thực hiện theo các phương pháp sau: phương pháp gián đoạn, phương pháp bán liên tục và phương pháp liên tục, trên các sơ đồ thiết bị khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp, tuỳ theo điều kiện, vốn đầu tư và yêu cầu chất lượng của cơ sở sản xuất Ở đây chúng em xin trình bày về phương pháp liên tục do có tính hiệu quả kinh tế trong sản xuất công nghiệp mà hai phương pháp còn lại không đáp ứng được Hơn nữa đây là phương pháp đang được dùng chủ yếu trong sản xuất trên thế giới
Quy trình sản xuất cồn thường được thực hiện theo sơ đồ sau:
Trang 1212
3.1.1 Nấu nguyên liệu
a) Mục đích của việc nấu nguyên liệu:
Tinh bột nằm trong màng tế bào, khi nghiền chỉ một phần các màng bị phá vỡ, do vậy hạn chế tiếp xúc amilaza, cho nên mục đích của việc nấu nhằm:
- Phá vỡ màng tế bào tinh bột, tạo điều kiện cho chúng hình thành trạng thái hòa tan trong dung dịch
- Hơn nữa, nấu nguyên liệu là một quá trình ban đầu nhưng rất quan trọng trong sản xuất cồn, sản phẩm tốt hay xấu phụ thuộc vào kết quả nấu
b) Những biến đổi lý – hóa xảy ra khi nấu nguyên liệu:
* Độ bền của tế bào thực vật:
- Tinh bột chỉ được giải phóng khi đã phá vỡ màng bao quanh nó
- Vỏ hạt có độ bền cao nhất, sau đó là lớp alorong còn nội nhũ thì kém bền nhất Để phá vỡ hạt cần áp lực đến 18 – 20 atm
- Khi đun nguyên liệu với nước, tinh bột sẽ trương nở hòa tan, kết dính giảm độ bền cơ học
- Tùy từng nguyên liệu mà chọn chế độ nấu cho thích hợp Những nguyên liệu có chất lượng kém cần nấu ở nhiệt độ thấp và thời gian ngắn so với
Trang 1313
nguyên liệu có chất lượng tốt Do vậy, nghiền nguyên liệu tốt sẽ hạn chế được tổn thất và tiết kiệm được hơi nấu
* Sự trương nở và sự hóa tan tinh bột
- Trương nở là tính chất của cao phân tử rắn, có khả năng hút dung môi
để tăng thể tích Hơn 50% chất khô của hạt và khoai sắn là tinh bột, đây là chất chủ yếu để tạo ra sản phẩm cồn etylic trong quá trình sản xuất
- Như ta biết, kích thước hạt tinh bột phụ thuộc vào dạng nguyên liệu, có thể dao động từ 1 - 120µm tùy từng nguyên liệu
- Hạt tinh bột không đồng nhất mà cấu tạo từ hai polysaccarit: amylase
và amylopectin Trong dung dịch, amylopectin đóng vai trò như màng bán thấm Khi tăng nhiệt độ, hạt sẽ hút nước và chúng trương nở 25 – 30 lần so với ban đầu Do đó, các mối liên kết giữa các phân tử sẽ yếu và cắt đứt – xảy ra hiện tượng hồ hóa
Hình 1 Sự phụ thuộc của độ nhớt tinh bột sắn vào nhiệt
- Nhiệt độ hồ hóa phụ thuộc vào nguyên liệu và kích thước tinh bột Đồng thời, sự hồ hóa phụ thuộc vào các chất điện giải Muối kiềm và trung tính làm giảm nhiệt độ hồ hóa, còn đường thì làm tăng nhiệt độ hồ hóa
* Những biến đổi của Hemixenluloza, xenluloza và pectin
- Trong thời gian nấu nguyên liệu, ở điều kiện axit yếu, xenluloza không
bị thủy phân
- Hemixenluloza cấu tạo chủ yếu từ pentozan bị thủy phân ít
Trang 1414
- Pectin bị thủy phân nhiều hơn cả
* Những biến đổi của tinh bột và đường
- Khi nấu có một lượng nhỏ bột biến thành đường và dextrin, dưới tác dụng amylase và ion H+, sự tao đường trong dịch bột chưa nấu là điều không muốn vì như vây sẽ gây tổn thất khi đun ở nhiệt độ cao
- Đường chứa trong nguyên liệu chủ yếu là saccarose, glucose, fructose
và một ít mantose tạo ra trong thời gian nấu, mức độ tạo đường còn phụ thuộc vào nhiệt độ và pH
- Ở pH = 3.5, do tác dụng H+ lượng đường tăng nhanh trong dịch cháo,
do vậy mà lượng đường bị thủy phân nhiều Sự tổn thất do tạo caramen, furfurol, melanoidin và oxymetyl furfurol Do đó để giảm tổn thất đường có sẵn trong nguyên liệu ở giai đoạn nấu thì nên khống chế pH của dịch cháo ở pH = 3.5
- Cần chú ý ở pH = 3.5 đường bị phân hủy ít nhưng phải thường xuyên thêm acid Vì vậy thiết bị sẽ dễ bị ăn mòn, nấu xong lại phải trung hòa tới pH thích hợp cho hoạt động amylaza
- Protit và chất béo không biến đổi trong thời gian nấu
Do vậy, để đạt hiệu quả kinh tế cao, ta cần chọn giá trị pH thích hợp cho quá trình nấu Đây là phương pháp có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp nấu gián đoạn và nấu bán liên tục
c) Đặc điểm:
Nấu liên tục tiến hành qua ba giai đoạn và trong ba thiết bị khác nhau: nồi nấu sơ bộ, nồi nấu chín và nồi nấu chín thêm
d) Quy trình nấu:
- Theo tỉ lệ tính trước, bột và nước được đưa liên tục vào thùng hòa bột 1
ở nhiệt độ từ 35 – 40oC Thùng hòa bột là một hình trụ nằm ngang có cánh khuấy 45 vòng/ phút và được chia thành hai ngăn không bằng nhau Dung tích của thùng là 1,3m3 (dung tích làm việc là 0,72m3) trong khoảng thời gian 3 – 5 phút
- Từ van a, dịch bột được đưa vào nồi nấu sơ bộ 3 Nồi nấu sơ bộ có hình trụ nằm ngang có cánh khuấy với tốc độ 26 vòng/ phút Dung tích chung là 2m3