1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá trình độ công nghệ sản xuất cồn rượu của ngành cồn rượu việt nam

116 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 830,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đánh giá đúng thực trạng và xây dựng được bức tranh khái quát về trình độ công nghệ ngành công nghiệp rượu, cồn giúp doanh nghiệp trong ngành có cơ sở khoa học để xây dựng chiến lượ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUY ỄN VĂN TÚ

ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CỒN RƯỢU CỦA NGÀNH CỒN RƯỢU VIỆT NAM

LU ẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QU ẢN TRỊ KINH DOANH

Hà N ội, 2007

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUY ỄN VĂN TÚ

ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CỒN RƯỢU

LU ẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QU ẢN TRỊ KINH DOANH

N GƯỜI HƯỚNG DẪN :

Trang 6

Mở đầu

1 Lý do của đề tài :

Công nghệ đang ngày càng trở thành yếu tố quan trọng tác động đến

năng suất lao động , nâng cao sức mạnh cạnh tranh của sản phẩm, đặc biệt

trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay Công nghệ hiện đại

quyết định chất lượng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao sức

mạnh cạnh tranh sản phẩm của việt nam trên trường quốc tế Trình độ công

nghệ ngành công nghiệp của các nước rất khác nhau và thay đổi nhanh chóng

của nhu cầu thị trường cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Khoảng

cách về trình độ công nghệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát

triển ngày càng mở rộng

Để đánh giá năng lực thực tế, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, các

nước trên thế giới đã tiến hành đánh giá trình độ công nghệ của các ngành

công nghiệp Từ đó đưa ra những chính sách hỗ trợ, đầu tư thích hợp để phát

triển các ngành công nghiệp đó

Khoảng mười năm trở lại đây ngành công nghiệp sản xuất rượu, cồn của

nước ta có những kết quả tăng trưởng nhanh Thế nhưng đại bộ phận sản xuất

theo công nghệ cũ, với trang thiết bị lạc hậu Hiện tại đã xuất hiện nhiều công

nghệ và thiết bị ngoại nhập, một số khâu và thiết bị trong công nghệ được đầu

tư bổ sung Có những cơ sở đã đầu tư đổi với về cơ bản từ chiến lược sản phẩm

đến dây chuyển sản xuất; Tuy nhiên việc phát triển còn mang tính chất cục bộ

xuất phát từ thực tế doanh nghiệp, chưa thực sự bài bản và khoa học gắn với

định hướng phát triển chung của ngành Việc đánh giá đúng thực trạng và xây

dựng được bức tranh khái quát về trình độ công nghệ ngành công nghiệp rượu,

cồn giúp doanh nghiệp trong ngành có cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược

đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm và hướng phát triển sản xuất kinh

Trang 7

rượu của tổng công ty để đề xuất các chính sách, giải pháp phát triển ngành

công nghiệp sản xuất rượu, cồn là một vấn đề sống còn của ngành cồn rượu

Việt nam khi hội nhập kinh tế quốc tế

Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn xã hội trên đây, Luận văn đặt

Rượu của ngành cồn rượu Việt Nam

2 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu cơ sở lý luận về công nghệ và cách tiếp cận đánh giá

công nghệ

Nghiên cứu cơ sở thực tiễn ngành cồn- rượu việt nam và nghiên cứu

kinh nghiệm của mốt số nước trên thế giới để đề xuất một số giải pháp phát

triển công nghệ sản xuất cồn - rượu cho ngành Rượu ở nước ta

- Luận văn dùng phương pháp nghiên cứu lý thuyết kết hợp với

phương pháp thống kê để phân tích, tổng hợp làm rõ cơ sở khoa học và lựa

chọn phương án cho việc đánh giá công nghệ cũng như đề xuất một vài

phương hướng phát triển công nghệ và sản phẩm rượu trong thời gian tới

4 Nội dung của Luận văn

Để đạt được mục tiêu trên đây, Luận văn sẽ được thực theo các nội

dung sau:

Mở đầu: Giới thiệu về lý do, mục tiêu, mục đích, phương pháp và nội

dung tổng thể của luận văn

Chương 1: Cơ sở đánh giá công nghệ : Đưa ra các phương pháp, các

tiêu chí, cách tiếp cận trong đánh giá công nghệ

Chương 2: Đánh giá công nghệ Ngành Rượu Cồn Việt Nam: Trình bày

việc lựa chọn phương pháp đánh giá và tiến hành đánh công nghệ của Ngành

Chương 3: Một số định hướng phát triển Ngành Rượu Cồn Việt Nam

Kết luận chung của Luận văn

Trang 8

CHương I : Cơ sở đánh giá công nghệ

Công nghệ đang ngày càng trở thành yếu tố quan trọng tác động đến sự

cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt

trong bối cảnh hội nhập kinh tế như hiện nay

Công nghệ với vai trò động lực quyết định chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội và sức cạnh tranh quốc tế Trình độ công nghệ ngành công nghiệp của

các nước rất khác nhau và thay đổi nhanh chóng do tác động đồng thời của

sức hút thị trường và sức kéo của khoa học Khoảng cách về trình độ công

nghệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày vàng mở rộng

vì sự biến động của công nghệ này càng nhanh trong thời đại toàn cầu hoá kéo

theo hội nhập

Các nước đang phát triển phải tiến hành một cuộc phân tích toàn diện

về trình độ công nghệ gồm: Đánh giá môi trường công nghệ, đánh giá hàm

lượng công nghệ, đánh giá nhu cầu công nghệ, đánh giá cấu trúc công nghệ,

đánh giá năng lực công nghệ, đánh giá trình độ công nghệ, đánh giá tốc độ

phát triển công nghệ để quyết định hệ thống chiến lược phát triển công nghiệp

từ cơ sở, nhóm ngành, địa phương và toàn cục Trong đánh giá trình độ công

nghệ có nhiều phương pháp, việc lựa chọn được phương pháp đánh giá phù

hợp để xác định được trình độ hiện tại của doanh nghiệp, của ngành là cần

thiết và có ý nghĩa, phục vụ cho quá trình nghiên cứu, hoạch định chính sách

của Đảng và Nhà nước

1.1 Tiếp cận đánh giá công nghệ về mặt kinh tế

Những cố gắng đầu tiên trong việc đánh giá công nghệ là dựa trên cách

tiếp cận về kinh tế Đối tượng đánh giá chủ yếu của phương pháp này là trình

độ công nghệ và tốc độ thay đổi trình độ công nghệ của các nước này so với

Trang 9

kinh tế ở cấp ngành để đánh giá trình độ công nghệ và tốc độ thay đổi của nó

dựa trên mô hình sản xuất Về phương pháp luận, việc sử dụng hàm sản xuất

cho việc đánh giá trình độ công nghệ là một cải tiến rõ rệt so với phép đo đơn

giá về năng suất lao động Tuy nhiên việc sử dụng phương pháp này gặp phải

một số khó khăn trong việc tính toán các biến số đầu vào cho hàm sản xuất

Một trong những khó khăn chủ yếu đó là việc đo lượng vốn

Các phương pháp đánh giá trình độ công nghệ về mặt kinh tế được sử

dụng chủ yếu là do tính dễ dàng có thể có được các thông tin cần thiết cho

phân tích Tuy nhiên việc đánh giá công nghệ một cách thuần tuý sẽ bao hàm

việc so sánh các đặc tính vận hành của một dây chuyền sản xuất cụ thể hay

chất lượng của sản phẩm đầu ra Do một số các đặc tính vận hành thường

mang tính đặc trưng của từng thiết bị, nên phương pháp đánh giá trình độ công

nghệ về mặt kinh tế cần được phân tích toàn diện

1.2 Tiếp cận đánh giá công nghệ bằng phương pháp phân lập

Thực tế các nhà lập kế hoạch công nghệ ít khi dùng phương pháp đánh

giá kinh tế ở cấp ngành công nghiệp mà thường đánh giá phân lập theo từng

thành tố của công nghệ Các nhà công nghệ học đều cho rằng những chỉ số

công nghệ thông thường không thể là thước đo trực tiếp đánh giá tiến bộ khoa

học và công nghệ Do vậy, phương pháp khác được chấp nhận để tính toán và

so sánh trình độ công nghệ ở một số nước là so sánh các đặc tính của một quy

trình công nghệ hoặc chất lượng sản phẩm của quy trình công nghệ đó Cách

tiếp cận này được gọi là đo lường công nghệ học, nhằm xác định các đặc tính

kỹ thuật riêng biệt của sản phẩm và quy trình công nghệ, đồng thời so sánh

chúng trên phạm vi vùng lãnh thổ, khu vực và thế giới

Đo lường công nghệ học sử dụng một số chỉ số phân lập về các đặc tính

kỹ thuật của sản phẩm hay quy trình công nghệ và xem chúng như là các đơn

vị vật lý Phương pháp này đã được dùng đánh giá trình độ công nghệ của các

nước Đức, Nhật Bản và Mỹ trong một số lĩnh vực như Laze, môđun quang

Trang 10

điện… ưu điểm của phương pháp này là rất thích hợp cho việc đánh giá các

sản phẩm hay quy trình công nghệ đang ở giai đoạn sản xuất thử và chuẩn bị

đưa ra thị trường Tuy nhiên chỉ các nhà công nghệ học và các nhà lập kế

hoạch công nghệ thích dùng phương pháp này còn các nhà hoạch định chính

sách quốc gia hay các nhà xây dựng kế hoạch kinh tế lại không chuộng lắm

1.3 Tiếp cận phân tích chiến lược

Cách tiếp cận này dùng để đánh giá trình độ ở cấp ngành công nghiệp

nhằm đáp ứng với chiến lược quản lý định hướng công nghệ Những nghiên

cứu theo tiếp cận này chủ yếu nhằm vào các chiến lược quản lý để nâng cao

tính cạnh tranh về mặt công nghệ, tài chính và cơ cấu tổ chức

Trong những năm 70, cách tiếp cận này đã được ứng dụng vào một số

nghiên cứu nhằm đánh giá ưu thế của công nghệ Nhật bản so với các nước

khác Tuy nhiên những nghiên cứu này không xét tới những thay đổi về công

nghệ có thể xảy ra trong tương lai Một số nghiên cứu theo tiếp cận này chỉ

đơn thuần là những nghiên cứu điển hình, chưa đưa ra phương pháp luận

chung để đánh gía chung trình độ công nghệ, mà chỉ đáp ứng với yêu cầu xây

dựng các chiến lược quản lý nhằm nâng cao trình độ công nghệ

1.4 Các tiếp cận đa chỉ số

Theo cách tiếp cận này ta dùng một số chỉ tiêu phân lập để đánh giá

trình độ công nghệ ở cấp vĩ mô của một nước Một trong những nghiên cứu

đầu tiên theo cách tiếp cận này là do tổ chức OECD thực hiện Cách tiếp cận

này sử dụng một số lượng lớn các dữ liệu về các yếu tố đầu vào và đầu ra cho

công nghệ Một số thước đo đã được đưa ra để so sánh trình độ công nghệ của

Liên Xô cũ với trình độ công nghệ của các nước phương Tây trong một số lĩnh

vực nhất định Một vài thông số trong đó là:

- Tổng chi phí cho Nghiên cứu và Triển khai (R&D)

- Tỷ số chi phí cho Nghiên cứu Triển khai trên tổng giá trị gia tăng

- Chi phí R&D bình quân đầu người

Trang 11

- Tỷ lệ % của chi phí cho Nghiên cứu và Triển khai so với doanh số

1.5 Một số nhược điểm của các cách tiếp cận trước đây

Mỗi cách tiếp cận trên đây về đánh giá trình độ công nghệ nếu trên đều

có những ưu nhược điểm riêng Một số yếu điểm của các cách tiếp cận trên là:

- Đối với cách tiếp cận kinh tế vĩ mô, chúng ta không thể xác định được

các yếu kém về công nghệ ở cấp vi mô một cách tổng hợp

- Đối với việc sử dụng các chỉ số đầu vào cho khoa học và công nghệ,

chúng ta khó có thể xác định được mức độ thay đổi của công nghệ trong một

ngành công nghiệp

- Số lượng ấn phẩm xuất bản, số lượng các bằng sáng chế hoặc các chỉ

số khác về nguồn lực cho khoa học công nghệ cũng chỉ phần nào phản ánh

được trình độ công nghệ vì hiệu quả sử dụng chúng có thể khác nhau

- Những chỉ số truyền thống dễ bị bóp méo và không hữu dụng lắm đối

với việc xây dựng cá kế hoạch chi tiết

- Tiếp cận phân tích chiến lược quản lý chỉ đáp ứng được trong phạm vi

của một doanh nghiệp

- Cách tiếp cận đa chỉ số kết hợp với các chỉ số kinh tế vĩ mô không

giúp chúng ta đưa ra được các kiến nghị mang tính chất giải pháp cụ thể

- Cách tiếp cận đa chỉ số cũng như cách tiếp cận kinh tế cho chúng ta

biết trình độ hiện thời của công nghệ nhưng không thể cho chúng ta biết đâu

là các yếu tố cơ sở hạ tầng quyết định đến sự phát triển của công nghệ và

những thay đổi có thể xảy ra trong tương lai

Trang 12

1.6 Đánh giá trình độ công nghệ theo phương pháp ATLAS

công nghệ

1.6.1 Quan niệm hiện đại về công nghệ

Việc đánh giá trình độ công nghiệp phải bao hàm các phương diện như

đo lường các đặc tính công nghệ, hàm lượng công nghệ gia tăng, hàm lượng

nhập khẩu đầu vào công nghệ, hàm lượng xuất khẩu công nghệ đầu ra và khả

năng đổi mới của ngành công nghiệp Phương pháp này nhằm tìm ra cách đo

lường trình độ công nghệ từ cấp cơ sở tới cấp ngành công nghiệp và phân tích

các đặc trưng của các thành phần công nghệ ở đây chủ yếu đánh giá chất

lượng của quá trình chuyển đổi công nghệ và đánh giá bằng khả năng nâng

cao cấp tinh xảo của bốn thành phần công nghệ là kỹ thuật, con người, thông

tin, tổ chức và môi trường công nghệ góp phần tăng hiệu quả của quá trình

chuyển đổi công nghệ

Đánh giá hoạt động chuyển đổi công nghệ của một hệ thống sản xuất

thường được dựa trên hai cách tiếp cận phổ biến:

Cách tiếp cận thứ nhất: dựa trên khái niệm về khả năng thay thế lao

động và vốn, cố gắng đánh giá khía cạnh công nghệ trên các tiêu chuẩn đánh

giá có tính đại diện bao hàm 2 yếu tố của sản xuất Đó là vốn và lao động Các

chỉ số chung dựa trên vốn và lao động là số vốn trên một nhân công, tài sản cố

định hữu hình trên một nhân công, vốn trên một đơn vị sản phẩm, lợi nhuận

trên một đơn vị vốn và sản phẩm trên một đơn vị nhân công

Cách tiếp cận thứ hai: liên quan tới giá trị kinh tế gia tăng tại một

phương tiện biến đổi và cố gắng đưa ra những kết luận liên quan với các đặc

trưng của công nghệ của công ty bằng cách sử dụng các tỷ số dựa trên giá trị

gia tăng Cách tiếp cận này nhằm tìm cách đo các giá trị kinh tế gia tăng cho

các đầu vào của phương tiện chuyển đổi Việc sử dụng giá trị gia tăng để

nghiên cứu mức độ tinh xảo của công nghệ có một số lợi điểm nhưng phương

Trang 13

đánh giá dựa trên vốn và lao động và cơ sở phân tích dùng giá trị gia tăng này

có khuynh hướng đặt mức độ tinh xảo công nghệ ngang bằng với mức tăng

vốn chi cho việc cơ khí hoá Nhưng một phương tiện tiên tiến về mặt công

nghệ không nhất thiết cần kinh phí nhiều hơn

Các tiêu chuẩn để đánh giá dựa vào vốn và sức lao động và dựa trên giá

trị gia tăng có vai trò hữu ích trong việc đánh giá hiệu suất của các phương

tiện chuyển đổi ở cấp công ty (cấp vi mô), còn ở cấp ngành/ quốc gia (vĩ mô)

thì chúng có hai mặt hạn chế chính Hạn chế thứ nhất là phải sử dụng gía trị

tính bằng tiền, không phản ánh được chính xác giá trị do sự không hoàn hảo

của thị trường; hạn chế thứ hai là cần nhiều thông tin để xử lý và có thể cần

nhiều chi phí cho việc này

Việc đánh giá trình độ công nghệ sản xuất (TĐCN) phải bao hàm các

phương diện như đo lường các đặc tính công nghệ ở cấp ngành công nghiệp,

hàm lượng công nghệ gia tăng nhờ chuyển đổi công nghệ, hàm lượng nhập

khẩu đầu vào công nghệ, hàm lượng xuất khẩu đầu ra công nghệ và khả năng

đổi mới của ngành công nghiệp Phương pháp phân tích hàm lượng công nghệ

được sử dụng như một công cụ hỗ trợ quyết định Để đánh giá một ngành

Một trong các khía cạnh đầu tiêu phải phân tích là đặc trưng công nghệ

ở đây chủ yếu là đánh giá chất lượng của quá trình chuyển đổi công nghệ, có

thể đánh giá bằng khái niệm nâng cao cấp tinh xảo của 4 thành phần công

nghệ là kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức (T, H, I, O) và môi trường công

nghệ (λ) góp phần vào làm tăng hiệu quả của quá trình chuyển đổi công nghệ

(hàm lượng công nghệ gia tăng) Cách phân tích này có thể được tiến hành

Trang 14

bằng khảo sát 4 thành phần công nghệ ở cấp công ty, cấp ngành công nghiệp

và so sánh với những công nghệ tiên tiến nhất

Phần Kỹ thuật T (technoware) có thể coi hình thức biển hiện về mặt vật

thể của công nghệ Nó bao gồm tất cả các phương tiện vật chất cần thiết cho

hoạt động chuyển đổi, ví dụ như các dụng cụ, thiết bị, máy móc, các kết cấu

và các xưởng máy…

Phần Con người H (humanware) là hình thức biểu hiện về mặt con

người của công nghệ Nó bao gồm các năng lực cần thiết mà con người đã tích

luỹ được cho các hoạt động chuyển đổi

Phần Thông tin I (infoware) là hình thức biểu hiện về mặt tư liệu của

công nghệ Nó bao gồm toàn bộ các dữ kiện và các số liệu cần cho các hoạt

động chuyển đổi, ví dụ: các bản thiết kế, các bản tính toán, các đặc tả, các

quan sát, các phương trình, các biểu đồ, các lý thuyết…

Phần tổ chức O ( orgaware) là hình thức biểu hiện về mặt thể chế của

công nghệ Nó bao gồm các cơ cấu tổ chức cần thiết cho hoạt động chuyển

đổi, ví dụ: sự phân chia nhóm, phân trách nhiệm, hệ thống các tổ chức, các

mạng lưới quản lý…

Trong bất cứ một hoạt động chuyển đổi nào, tất cả 4 thành phần của

công nghệ đều cần phải có một cách đồng thời Sự đòi hỏi này có thể được

lý giải như sau:

- Phần Kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ sự chuyển đổi nào Thành phần kỹ

thuật được triển khai, lắp đặt và vận hành bởi phần con người

- Phần Con người là yếu tố chủ chốt của bất kỳ hoạt động chuyển đổi

Trang 15

- Phần Thông tin được tạo ra và cũng được sử dụng bởi phần Con người

để ra quyết định và vận hành phần Kỹ thuật

Phần tổ chức tiếp nhận và kiểm soát phần Thông tin, phần Con người và

phần kỹ thuật để tiến hành quá trình chuyển đổi một cách tổng thể

Để đánh gía một cách tổng hợp trình độ công nghệ của một phương tiện

chuyển đổi, người ta đưa ra khái niệm hàm lượng công nghệ gia tăng được

cường độ đóng góp của mỗi thành phần công nghệ vào hệ số đóng góp công

nghệ (TCC) VA là giá trị gia tăng được tạo ra bởi phương tiện chuyển đổi λ

là chỉ số môi trường công nghệ

Như vậy từ công thức (1-1) chúng ta có thể thấy rằng môi trường công

nghệ của tất cả các phương tiện chuyển đổi hoạt động trong môi trường đó

1.6.2 Hàm lượng công nghệ gia tăng (Technology Contribution Added)

Hàm lượng công nghệ gia tăng (TCA) là sự gia tăng do công nghệ tại

một phương tiện chuyển đổi Hàm lượng công nghệ gia tăng giúp đánh gía

mức độ đóng góp của từng thành phần riêng biệt trong 4 thành phần công

nghệ Hàm lượng công nghệ gia tăng ở cấp ngành công nghiệp có thể tính

được bằng cách cộng gộp phần đóng góp của các phương tiện chuyển đổi cấp

công ty Một cách đơn giản để có TCA ở cấp ngành công nghiệp phải tính giá

trị bình quân trên cơ sở các đầu ra của từng công ty riêng lẻ và các TCA tương

ứng của chúng Hàm lượng công nghệ gia tăng ở cấp công ty được xác định

như sau:

TCA = λ.TCC VA (VNĐ; USD)

Trang 16

Phương pháp luận về hàm lượng công nghệ gia tăng giúp đánh giá

những điểm mạnh, yếu và mức độ hiện đại của các thành phần công nghệ

Việc đánh giá TCA ở cấp công ty đòi hỏi phải có các số liệu đầu vào sau:

- Hệ số đóng góp công nghệ (TCC) của phương tiện chuyển đổi TCC của

một công ty thể hiện sự đóng góp về công nghệ của các hoạt động chuyển đổi

đối với sản phẩm đầu ra

- Chỉ số môi trường công nghệ λ là hệ số đặc trưng của môi trường công

nghệ, trong đó các hoạt động chuyển đổi được thực hiện Nếu giá trị của λ gần

bằng 1 thì môi trường công nghệ được coi là khá hiện đại và rất được khuyến

khích

- Giá trị gia tăng tổng VA (Value Added): Giá trị tính bằng tiền của giá

trị gia tăng

Giá trị gia tăng là khoản chênh lệch giữa giá trị sản lượng của một doanh

nghiệp với khoản mua vào về vật liệu và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác mà

đã được dùng hết trong việc sản xuất ra sản lượng đó

TCA cũng có thể được xem như sự chênh lệch của hàm lượng công nghệ

giữa đầu vào và đầu ra Đối với một phương tiện chuyển đổi, hàm lượng công

nghệ đầu vào sẽ là thấp nhất nếu toàn bộ đầu vào chỉ là tài nguyên thiên nhiên

Các sản phẩm đầu vào loại trung gian có hàm lượng công nghệ cao hơn do

chúng là đầu ra của phương tiện chuyển đổi khác

1.6.3 Đánh giá môi trường công nghệ quốc gia

+ Khái niệm và vai trò của môi trường công nghệ

Môi trường công nghệ của một nước là điều kiện hoàn cảnh quốc gia

mà trong đó các hoạt động dựa trên công nghệ được thực hiện

Các phương tiện chuyển đổi hay các đơn vị sản xuất tương tự nhau mà ở

hai nước khác nhau thì không phải lúc nào cũng cho những kết quả như nhau

Sở dĩ như vậy là do môi trường công nghệ của quốc gia này khác với của quốc

gia kia Một phương tiện chuyển đổi có thể tạo ra những kết quả tốt hơn trong

Trang 17

lợi hơn Do vậy, việc khảo sát các yếu tố có ảnh hưởng đến môi trường công

nghệ là rất cần thiết

Hàm lượng công nghệ gia tăng thực sự ở cấp công ty, ngành công

nghiệp và quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào môi trường công nghệ mà trong đó

các hoạt động chuyển đổi được tiến hành Nếu môi trường công nghệ khuyến

khích được việc sử dụng tất cả các thành phần của công nghệ ở mức tối ưu thì

khi đó năng suất sẽ đạt cao nhất Có nghĩa là không có cơ hội nào liên quan

tới hàm lượng công nghệ gia tăng bị bỏ qua Vậy yếu tố môi trường công nghệ

đã làm thay đổi cách thể hiện hàm lượng công nghệ gia tăng Nó biểu thị quy

mô mà tiềm năng của một hoạt động chuyển đổi có thể đạt được Trong

các điều kiện lý tưởng, giá trị của yếu tố môi trường công nghệ sẽ bằng 1

Yếu tố môi trường có thể giải thích tại sao hai hoạt động tương tự (về cả

bốn thành phần công nghệ) ở hai nước khác nhau không nhất thiết phải

cho kết quả như nhau

Sự phát triển công nghệ sẽ có đà khi được phổ biến trong môi trường

thích hợp Do vậy việc tạo lập và phát triển một môi trường công nghệ là điều

kiện tiên quyết để phát triển công nghệ, đặc biệt đối với các nước có các tập

quán và hình thái kinh tế - xã hội bị ràng buộc bởi các yếu tố truyền thống

Đứng trên quan điểm lâu dài, khi thiếu một môi trường công nghệ thích hợp

có thể sẽ không phát huy được công nghệ nội sinh và cũng gặp nhiều khó

khăn trong việc hấp thụ, thích nghi hay cải tiến công nghệ nhập Sự nghiệp

công nghiệp hoá của các nước đang phát triển đặt ra vô số nhiệm vụ phải thực

hiện Nhưng có một điều thiết yếu là làm sao cho quản đại quần chúng làm

quen được lối tư duy khoa học và hiểu đúng về phát triển kinh tế - xã hội

Việc phân tích môi trường công nghệ sẽ đem lại cho những nhà lập kế

hoạch quốc gia, các nhà sản xuất kinh doanh những thông tin về mặt mạnh và

mặt yếu của nền văn hoá công nghệ trong nước Rồi từ đó có định hướng xây

dựng và phát triển môi trường công nghệ một cách hợp lý và thuận lợi

Trang 18

+ Các mặt cần xem xét khi đánh giá môi trường công nghệ

Một trong những cách tiếp cận hiện nay để đánh giá môi trường công

nghệ là sử dụng các dữ liệu sẵn có để đánh giá Theo kinh nghiệm của Trung

tâm chuyển giao công nghệ Châu á - Thái Bình Dương cho thấy rằng, nhìn

chung các dữ liệu để đánh giá công nghệ có sẵn nằm trong 7 lĩnh vực sau:

- Tình trạng phát triển kinh tế - xã hội: Thông thường các vấn đề này

được xác định bằng các chỉ số kinh tế - xã hội kinh điển như tổng sản phẩm

quốc nội (GDP), các đặc điểm cơ bản về nhân khẩu học, các số liệu y tế, giáo

dục, tình trạng thông tin đại chúng

- Tình trạng cơ sở hạ tầng vật chất và phương tiện hỗ trợ: Những biến

số định lượng trong phản ánh mặt này bao gồm mức độ sẵn có của các ngành

dịch vụ công cộng, các phương tiện thông tin viễn thông, giao thông vận tải và

các dịch vụ hỗ trợ công nghệ

- Đôi ngũ cán bộ KH&CN và chi phí nghiên cứu và triển khai: Số lượng

nhân lực khoa học và công nghệ, tỷ lệ tham gia nghiên cứu và triển khai cùng với

trình độ chuyên môn của họ và các mức kinh phí cần cấp phát cho các hoạt động

đó cũng là những yếu tố quan trọng để xác định môi trường công nghệ

- Tình trạng khoa học và công nghệ trong hệ thống sản xuất: Những

số liệu ngoại thương liên quan đến các sản phẩm và dịch vụ của các hoạt

động chuyển đổi cùng với số bằng sáng chế có thể cho ta một thước đo về

mức độ sử dụng khoa học công nghệ một cách hữu ích trong hệ thống sản

xuất của quốc gia

- Tình trạng khoa học và công nghệ trong các trường đại học: Số lượng

người tốt nghiệp các trường về khoa học và công nghệ, tỷ lệ số lượng sinh viên

so với số lượng giáo viên, các ấn phẩm khoa học và các hỗ trợ về tài chính có

thể có đối với các sinh viên là yếu tố để đánh giá khoa học công nghệ

- Những tiến bộ và nỗ lực trong các lĩnh vực chuyên môn hoá được lựa chọn:

Những nỗ lực này bao gồm việc đầu tư cho các lĩnh vực mới của công

Trang 19

việc áp dụng những tiến bộ tiên tiến nhất của khoa học công nghệ và các liên

kết quốc tế được thiết lập để phục vụ cho các mục đích này

- Cam kết ở cấp vĩ mô đối với khoa học và công nghệ phục vụ phát triển:

Đây là một yếu tố quyết định quan trọng Nó là động lực cho tất cả các

hoạt động khoa học và công nghệ Nó bao gồm các biện pháp để thiết lập một

môi trường chính sách thích hợp và hữu hiệu Các biện pháp này phải được

xem xét cả về sức mạnh, tính hiệu quả, sự liên tục, sự hoà hợp với các mục

tiêu chung của sự phát triển và gắn kết với các biện pháp phi công nghệ được

áp dụng các khu vực khác

Việc phân tích môi trường công nghệ có thể cho thấy tình hình đất

nước có lợi hay không cho việc sử dụng một cách có hiệu quả hệ thống sản

xuất của nó Mục tiêu chủ yếu ở đây không phải là để lượng hoá một cách

thật chính xác vô số các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của tất cả các biến

số Chúng ta sẽ chỉ xem xét những yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến kết luận

cuối cùng mà thôi

+ Đánh giá môi trường công nghệ

Các yếu tố để đánh giá môi trường công nghệ có thể được phân ra thành

2 loại là các yếu tố định lượng và các yếu tố định tính Các yếu tố định lượng

cho phép chúng ta có thể lượng hoá được bằng một số đơn vị đo, trong khi các

yếu tố định tính thì không thể lượng hoá được Tuy nhiên chúng vẫn không thể

bỏ qua các yếu tố định tính bởi vì, chẳng hạn một số yếu tố định tính rất quan

trọng như sự cam kết mạnh mẽ về chính trị đối với sự phát triển công nghệ có

thể giúp rất nhiều cho việc cải thiện môi trường công nghệ quốc gia Do đó

mô hình đánh giá môi trường công nghệ chúng ta xét ở đây được kết hợp cả

hai khía cạnh định lượng và định tính Trong mô hình này chỉ số môi trường

công nghệ (λ) được xác định như sau:

Trong đó TFI là chỉ số đánh giá môi trường công nghệ quốc gia theo

các yếu tố định lượng và LFI là chỉ số đánh giá môi trường công nghệ theo

Trang 20

các yếu tố định tính Các giá trị a và b là trọng lượng của quyết định phản ánh

tầm quan trọng tương đối của TFI và LFI trong việc đánh giá môi trường công

môi trường công nghệ quốc gia càng tốt Chúng ta qui ước rằng

Hệ số đóng góp của công nghệ TCC (Technology Contribution

Coefficient) TCC được tính theo giá trị của 4 thành phần công nghệ theo công

n : điểm cao nhất về trình độ hiện tại (n=9)

Trang 21

m: điểm tối đa khi so sánh thông số thực tế đạt được so với thiết kế

(m = 9)

PP

(i)

P

Hiệu quả của thành phần công nghệ đạt được khi so sánh số liệu

thực tế với lý thuyết, ở đây chính là hiệu quả của thành phần T trong sản xuất

Do đặc điểm sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ,

các thành phần I, O khó có thể tách riêng việc đánh giá cho từng sản phẩm

hoặc nhóm sản phẩm theo các công đoạn sản xuất… Mặt khác, mức độ ứng

dụng tin học trong sản xuất, kinh doanh của nhiều công ty còn thấp, nên I, O

có thể tính chung cho toàn công ty

Các số mũ βR t R, βR h R, βR i R, βR o R biểu thị cường độ đóng góp của từng thành

phần công nghệ, phải đáp ứng điều kiện:

βR t R + βR h R + βR i R + βR o R = 1

αR i R, αR j R, αR k R, αR l R, là hệ số trọng lượng của các thành phần T,H,I,O;

+ Phần tích mức độ quan trọng của các thành công nghệ (những HSTL αR i,j,k,l R)

mãn điều kiện:

1

1

, ,

Trang 22

αR i R =

i

t t

1

còn lại của thiết bị ở công đoạn i

Tính Tỷ lệ phần trăm còn lại của toàn bộ thiết bị trong dây truyền sản

KTTính toán Z% cho từng thiết bị có thể áp dụng công thức:

m

.C%

K N%

K H%

K T%

Trong đó:

- T%: Là mức lạc hậu về đời của thiết bị tính theo %

- H%: Là giá trị còn lại riêng về hao mòn hữu hình (tính theo %)

- N%: Biểu thị năng suất thực tế của máy so với năng suất thiết kế (tính

theo %)

- C%: Là chất lượng sản phẩm do thiết bị hiện có sản xuất ra so với quy

định của thiết bị mới

- k: hế số đo độ đồng đều và độ quan trọng của 4 thành phần trong công

thức trên, được chọn theo bảng:

Giá trị còn lại (GTCL) của toàn bộ thiết bị trong từng công đoạn (CĐ)

sản xuất tính theo công thức

của toàn bộ các thiết bị trong dây chuyền sản xuất 1 nhóm sản phẩm nào đó

được tính theo công thức:

Σ Nguyên giá trị của thiết bị Và: TR KT R = TR TB R x Z%

Trang 23

Trong đó:

- TR TB R: Điểm trung bình của Hội đồng đánh giá các thiết bị trong dây

chuyền công nghệ

- Z%: Là tỷ lệ % còn lại của toàn bộ các thiết bị trong dây chuyền sản xuất

Vẽ sơ đồ 1.1 hình thoi và phân tích biểu đồ hình thoi:

+ Đánh giá hàm lượng công nghệ gia tăng ở cấp ngành

Trong đó:

TCC- hệ số đóng góp của công nghệ

γ - Chỉ số môi trường công nghệ

VA - Giá trị gia tăng

+ Đánh giá cấp ngành công nghiệp

- Giá trị gia tăng do Công ty tạo ra là VAR i R

Khi tất cả các công ty thuộc ngành công nghiệp, thì hệ số môi trường

công nghệ của tất cả các công ty có thể được coi như nhau:

O

H

I

T

Trang 24

TCAR i R = λ x TCCR i R x VAR iNhư vậy tổng hàm lượng công nghệ gia tăng do ngành công nghiệp tạo

+ Xây dựng biểu đồ công nghệ cấp ngành công nghiệp

Trong một ngành công nghiệp, các công ty có quy mô đầu tư khác

nhau, ứng dụng các loại công nghệ khác nhau, cách thức tổ chức sản xuất,

quản lý kinh doanh rất khác nhau (có các thành phần T, H, I, O rất khác

nhau) Biểu đồ công nghệ hình thoi của ngành phải thể hiện được các thành

phần T, H, I, O rất khác nhau) Biểu đồ công nghệ hình thoi của ngành phải

thể hiện được các thành phần T,H,O,I của ngành/phân ngành đó Giả thiết có n

công ty hoạt động trong ngành công nghiệp, sau khi tiến hành đánh giá TĐCN

của n công ty đó ta xây dựng được n biểu đồ công nghệ hình thoi hay n bộ giá

trị TR i R, HR i R, HR i R, OR i R (i = 1, n) Khi tính toán các thành phần công nghệ tổng hợp

TR Σ R, HR Σ R, IR Σ R, OR Σ R của ngành, ta có thể lấy giá trị bình quân theo doanh thu

công ty thứ i là E/E và 4 thành tố công nghệ của ngành/phần ngành công

nghiệp sẽ là:

Trang 26

Chương 2

đánh giá trình độ công nghệ ngành sản xuất rượu

cồn Việt Nam

2.1 Lựa chọn phương pháp đánh giá trình độ công nghệ ngành

sản xuất rượu cồn Việt Nam

Với ngành công nghiệp sản xuất rượu, cồn của nước ta thì điều cần thiết

là phải khảo sát thực trạng công nghệ của các công ty, nhà máy, các cơ sở sản

xuất, làm cơ sở cho việc đánh giá trình độ công nghệ Ngành

Khoảng mười năm trở lại đây Ngành công nghiệp sản xuất rượu, cồn

của nước ta đã có những kết quả tăng trưởng nhanh Thế nhưng đại bộ phận

sản xuất theo công nghệ cũ, với trang thiết bị lạc hậu, tuy đã xuất hiện nhiều

công nghệ và thiết bị ngoại nhập, một số khâu và thiết bị trong công nghệ

được đầu tư bổ sung Có những cơ sở đã đầu tư đổi mới về cơ bản từ chiến

lược sản phẩm đến dây chuyển sản xuất Tuy nhiên, việc phát triển mang tính

chất cục bộ, xuất phát từ thực tế của các doanh nghiệp, chưa thực sự bài bản

và khoa học gắn với định hướng phát triển chung của Ngành

Đánh giá trình độ công nghệ Ngành sản xuất rượu, cồn nhằm mục tiêu:

- Đánh giá đúng thực trạng và xây dựng được bức tranh khái quát về

trình độ công nghệ Ngành công nghiệp rượu, cồn, giúp doanh nghiệp trong

Ngành có cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược đổi mới công nghệ, đổi mới

sản phẩm và hướng phát triển sản xuất kinh doanh

- Xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn để đề xuất các chính sách,

giải pháp phát triển và quản lý Ngành công nghiệp sản xuất rượu, cồn trong

chiến lược chung phát triển kinh tế - xã hội của nước ta

Trong đánh giá trình độ công nghệ sản xuất Rượu Cồn của Việt Nam,

phương pháp ATLAS tỏ ra là phương pháp thích hợp nhất Phương pháp Atlas

đánh giá trình độ công nghệ theo 4 thành tố công nghệ là phần kỹ thuật T

Trang 27

(Technoware), phần con người H (Humanware), phần thông tin I (Inforware)

và phần tổ chức O (Organware) cho phép vẽ biểu đồ hình thoi của 4 thành

phần công nghệ đã nêu trên; cho phép so sánh được với tính tiên tiến nhất để

thấy được khoảng cách của từng thành tố công nghệ của cơ sở, từ đó đề ra các

giải pháp khắc phục Phương pháp này còn xem xét môi trường công nghệ của

quốc gia thông qua một số tiêu chí như:

- Tình trạng phát triển kinh tế - xã hội;

- Tình trạng cơ sở vật chất và các phương tiện hỗ trợ;

- Đội ngũ cán bộ KH & CN, chi phí nghiên cứu và triển khai;

- Tình trạng khoa học và công nghệ trong hệ thống sản xuất;

- Tình trạng khoa học và công nghệ trong các trường đại học;

- Những tiến bộ và nỗ lực trong các lĩnh vực chuyên môn hoá được lựa chọn;

- Cam kết ở cấp vĩ mô đối với khoa học và công nghệ phục vụ phát triển

Việc phân tích môi trường công nghệ có thể cho thấy tình hình của một

nước có lợi hay không cho việc sử dụng có hiệu quả hệ thống sản xuất của

nước đó Thông qua so sánh chỉ số môi trường công nghệ của các nhóm nước

phát triển và đang phát triển với chỉ số môi trường công nghệ của Việt Nam có

thể thấy được những mặt được và không được trong phát triển công nghệ

Phương pháp này còn cho phép đánh giá trình độ công nghệ của một

ngành công nghiệp dựa trên việc đánh giá tập hợp các doanh nghiệp chiếm tỉ

trọng lớn và sử dụng các công nghệ đặc trưng cho ngành sản xuất, trong khi

vẫn có thể giảm bớt các chi phí và độ phức tạp của quá trình đánh giá mà vẫn

thu được kết quả tốt

Qua nghiên cứu phương pháp Atlas đã cho thấy, phương pháp này đã

bao hàm các yếu tố đánh giá của phương pháp dùng nhiều chỉ số kết hợp với

đo lường công nghệ phân lập, hệ thống chỉ tiêu chung và hệ thống chỉ tiêu đặc

thù với 7 nhóm chỉ tiêu Phương pháp Atlas công nghệ cho phép sử dụng

thống nhất chỉ số môi trường công nghệ, do đó dễ dàng xem xét mối tương

quan giữa các nhóm ngành công nghiệp

Trang 28

Với những lý do trên đây, luận văn chọn phương pháp Atlas công nghệ

để thực hiện đánh giá trình độ công nghệ Ngành sản xuất rượu, cồn Việt Nam

Trong phạm vi đề tài này, để thực hiện việc đánh giá, các số liệu được

lấy từ kết quả đánh giá của Viện nghiên cứu Rượu Bia Việt Nam tại các công

2.2 Đánh giá tình hình sản xuất rượu, cồn hiện tại ở Việt Nam

ở nước ta rượu được sản xuất và tiêu thụ rộng rãi trong khắp cả nước

với số lượng và chủng loại ngày càng phong phú và gia tăng không ngừng

Theo công nghệ sản xuất và đặc tính sản phẩm có thể chia ra các loại sau:

- Rượu sản xuất thủ công

- Rượu pha chế (sản xuất công nghiệp)

Nguồn sản xuất và mức độ tiêu thụ trong thời gian gần đây có xu hướng

tăng Theo kết quả điều tra thăm dò cho thấy trên thị trường hiện nay bao gồm

các loại sản phẩm từ các nguồn khác nhau

Sản lượng rượu tiêu thụ từ các nguồn khác nhau:

Theo số liệu từ các chuyên gia Tổng Cục Hải quan thì lượng rượu tiêu

thu theo các nguồn sản xuất như sau:

Trang 29

- Rượu ngoại nhập lậu: 10.000.000 lít, chiếm 3%;

- Rượu ngoại nhập khẩu: 2.000.000 lít, chiếm 1%;

- Rượu liên doanh Nhà nước: 1.000.000 lít, chiếm 0,5%

- Rượu nấu công nghiệp: 136.500.000 lít, chiếm 34%;

- Rượu nấu thủ công: 250.000.000 lít, chiêmứ 62%

2.2.1 Rượu thủ công

ở nước ta nghề nấu rượu có từ lâu đời và công nghệ sản xuất rượu cũng

dần dần được cải thiện hơn Từ những năm 1990 trở lại đây, cùng với sự phát

triển của nền kinh tế thị trường, rượu do dân tự nấu có chất lượng tốt cũng

được bung ra sản xuất như một ngành nghề, tạo nên những làng nghề nấu rượu

và được gọi là rượu làng nghề

Tổng sản lượng rượu dân tự nấu rất lớn, theo báo cáo của các Tỉnh và số

liệu thống kê đạt khoảng 250 triệu lít/năm Do trình độ công nghệ sản xuất

thấp nên rượu dân tự nấu thường có hàm lượng độc tố và tạp chất cao Qua số

liệu phân tích ở bảng 6 cho thấy chỉ số độc tố thường lớn hơn vài chục lần giới

hạn cho phép, do đó ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ người tiêu dùng

So sánh hàm lượng chất độc có trong rượu do dân tự nấu với rượu sản

xuất công nghiệp , bảng 2.1

Trang 30

Biểu đồ so sỏnh hàm lượng chất độc cú trong rượu nấu thủ cụng và cụng nghiệp

235

11 3650

500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000

Một số làng nghề có truyền thống nấu rượu với công nghệ độc đáo, lâu

đời và những lợi thế về điều kiện khí hậu, nguồn nước, bánh men đã sản xuất

ra các sản phẩm đặc sản có chất lượng tốt hơn, hương vị riêng rất đặc trưng

cho sản phẩm của địa phương như: Rượu Mẫu Sơn (Lạng Sơn, rượu San Lùng

(Lào Cai), rượu Ngô (Tuyên Quang), rượu Làng Vân (Hà Bắc)…

Công nghệ và thiết bị sản xuất rượu thủ công

Công nghệ sản xuất rượu thủ công quá đơn giản và lạc hậu Từ các

nguyên liệu như gạo, ngô, khoai, sắn… được nấu chín, sau đó được tãi nguội,

rắc men, vun đống trong nong, nia Tiếp đến nguyên liệu được dàn mỏng từ 20

- 30cm trên ni lông và phủ một lớp lá chuối sạch lên Thời gian lên men ẩm và

lỏng không cố định mà được xác định dựa trên kinh nghiệm quan sát, thông

thường thời gian lên men và lỏng đối với việc sử dụng bánh men thuốc bắc từ

6-8 ngày và bánh men lá 15-30 ngày

Thiết bị dùng trong sản xuất rượu truyền thống bao gồm 2 phần chính là

thiết bị sản xuất bánh men và thiết bị sản xuất rượu:

Trang 31

- Thiết bị sản xuất bánh men: Trong dân gian đồng bào thường dùng

các loại cối hoặc máy nghiền để nghiền gạo, thuốc bắc (đối với bánh men

thuốc bắc, các loại lá, củ, quả (đối với bánh men lá) và bánh men giống để

làm men, còn các vật dụng như vỉ tre, mẹt… để ủ men Sau đó men được phơi

khô tự nhiên và được treo trong bếp để bảo quản và sử dụng dần

- Thiết bị sản xuất rượu: Các nồi nấu để nấu chín nguyên liệu được làm

bằng gang, nhôm, đồng… có dung tích tuỳ vào quy mô sản xuất Quá trình

lên men ẩm được thực hiện trong thúng tre hay chum, chậu…; lên men lỏng

trong các chum, vại sành sứ hoặc thùng nhựa Có 2 loại thiết bị chưng cất

rượu thường được dân sử dụng Đó là thiết bị "ống ruột gà" và thiết bị

"Thuỷ Thượng"

Ưu điểm và hệ thổng thiết bị này là đơn giản, gọn nhẹ, giá thành thấp,

dễ chế tạo và vận hành Nhược điểm là quy mô nhỏ, công suất thấp chất lượng

chưa cao và không ổn định Sản lượng rượu thủ công hiện nay rất lớn, ước tính

khoảng 600 triệu lít/năm

Rượu dân tự nấu nhiều độc tố, ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng

và ô nhiễm môi trường, nên chủ trương của Đảng và Nhà nước là:

- Quản lý chặt chẽ thông qua đăng ký kinh doanh

- Bảo đảm nộp thuế theo luật định, có thể giao địa phương thu thuế để

quản lý được và tăng nguồn ngân sách

- Xử lý nghiêm ngặt các trường hợp vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm,

môi trường và trốn lậu thuế

- Làm tốt hướng dẫn người tiêu dùng không nên uống rượu dân tự nấu

vì có nhiều độc tố có hại cho sức khoẻ

- Trước mắt chỉ để rượu ở những vùng, làng sản xuất rượu có tên tuổi,

truyền thống

Rượu đặc sản làng nghề là một nét văn hoá riêng của mỗi vùng miền,

đã và đang được nhiều người trong nước và khách du lịch nước ngoài ưu

Trang 32

chuộng Tuy nhiên việc sản xuất và tiêu thụ trong những năm qua gặp nhiều

khó khăn do sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu các hộ gia đình tự tìm mối tiêu thụ dẫn

đến thiếu ổn định trong sản xuất Các loại rượu đặc sản có nét riêng độc đáo

nhưng nhìn chung chất lượng chưa cao, chưa có loại rượu nào vượt khỏi địa

phương mình để hoà nhập vào thị trường cùng cạnh tranh mạnh mẽ với dòng

rượu ngoại Do đó để sản phẩm này phát triển bền vững, cần đầu tư xây dựng

mô hình sản xuất, khôi phục, tôn tạo, phát triển làng nghề truyền thống tại

địa phương có sản phẩm rượu đặc sản, mở rộng thị trường tiêu thụ sản

phẩm Tuy nhiên, rượu làng nghề trong tương lai phát triển không mạnh

nên trong phạm vi đề tài luận văn không tiến hành đánh giá trình độ công

nghệ của loại rượu này

2.2.2 Rượu pha chế:

Các sản phẩm rượu sản xuất hiện nay ở quy mô công nghiệp chủ yếu là

rượu pha chế từ cồn tinh luyện, đa số hương vị của sản phẩm phụ thuộc chủ

yếu vào hương liệu và chất phụ gia đưa từ ngoài vào, chưa có sản phẩm nào

đặc trưng cho Việt Nam

Việc sản xuất cồn từ ngũ cốc để pha chế thành các loại đồ uống ở Việt

Nam đã được người Pháp đặt nền móng từ hơn 100 năm nay tại Công ty Rượu

Hà Nội và Công ty Rượu Bình Tây Công ty Rượu Hà Nội có công suất thiết

kế 10 triệu lít/năm và nhà máy Rượu Bình Tây có công suất thiết kế 20 triệu

lít/năm Nhưng năm 1997 cả hai nhà máy chỉ sản xuất được 3,28 triệu lít rượu

Năm 1998 Công ty Rượu Hà Nội nâng sản lượng lên 4,2 triệu lít rượu và 1,7

triệu lít cồn, sản xuất bắt đầu có lợi nhuận, nộp ngân sách Nhà nước cũng

tăng Kết quả này đạt được là do việc cải tiến công nghệ sản xuất, đặc biệt là

công nghệ sản xuất cồn tinh chế có sử dụng các chế phẩm enzim vào đường

hoá tinh bột thay nấm mốc, nâng cao chất lượng sản phẩm và nghiên cứu công

nghệ sản xuất các mặt hàng mới Các sản phẩm của nhà máy có chất lượng

Trang 33

cao, có uy tín trên thị trường trong nước và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Nhà máy

Rượu Bình Tây cũng khôi phục lại sản xuất đạt được khoảng 10 triệu lít/năm

Các cơ sở sản xuất tư nhân : Tổng công suất thiết kế của các cơ sở

sản xuất này khoảng 4,55 triệu lít /năm Vốn đầu tư khoảng 6,9 tỷ đồng Sản

lượng sản xuất thực tế năm 1995 khoảng 1,63 triệu lít; năm 1996: 1,84 triệu

lít; năm 1997: 2,53 triệu lít; năm 2002 khoảng 2,5 triệu lít Các cơ sở này chủ

yếu thành lập từ đầu năm 1990 Thiết bị phần lớn chế tạo trong nước, thường

có vốn đầu tư thấp, công suất nhỏ nên thiết bị thường chắp vá, không đồng bộ,

lao động hoàn toàn thủ công, công nghệ sản xuất trong nước Sản phẩm chủ

yếu tập trung vào sản xuất các loại rượu pha chế tuỳ theo nhu cầu thị trường

Một số cơ sở đó đầu tư thường xuyên cho công nghệ và thiết bị nên sản phẩm

tương đối tốt và ổn định, còn phần lớn các cơ sở khác sản xuất sản xuất theo

thời vụ Đối tượng bán hàng chủ yếu tập trung vào vùng nông thôn, miền núi

Chất lượng sản phẩm kém, không ổn định nhưng giá thành thấp nên kinh

doanh vẫn có hiệu quả

Rượu do các nhà máy sản xuất theo phương pháp công nghiệp được khử

hầu hết các độc tố, nhưng do trình độ trang thiết bị và công nghệ của các cơ sở

sản xuất khác nhau nhiều nên sản phẩm sản xuất ra cũng có chất lượng khác

nhau Nhiều cơ sở chất lượng tương đối tốt như Công ty Rượu Hà Nội, rượu

Đồng Xuân, nhưng phần lớn các cơ sở khác do máy móc thiết bị và công nghệ

lạc hậu, hệ thống chưng cất nhập của hãng Sodecia (Pháp) cũng đã hư hỏng

nhiều Do đó chất lượng sản phẩm sản xuất ra chưa loại nào chiếm lĩnh độc

tôn trên thị trường

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Do chính sách mở cửa của

Chính phủ nên từ năm 1995 tới 2001 đã có tới 9 đơn vị tham gia với tổng số

vốn đầu tư là 48.376 triệu USD Tuy nhiên các doanh nghiệp trên hoạt động

còn kém hiệu quả vì nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân cơ bản

là chính sách thuế của Chính phủ Việt Nam còn khá cao và do mức thu nhập

Trang 34

của đa số người tiêu dùng là thấp, trung bình; sở thích của người có thu nhập

cao thường sử dụng rượu ngoại chính hiệu không thích sử dụng hàng rượu liên

doanh Tỷ trọng rượu sản xuất từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

chiếm tỷ lệ thấp và chủ yêu tiêu thụ trong nước

Hiện nay, năng lực sản xuất rượu công nghiệp đạt khoảng 70 triệu

lít/năm, nhưng hiệu suất huy động thực tế còn thấp Nhìn chung hiện nay

ngành công nghiệp sản xuất rượu đang đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của

hàng loạt các cơ sở do dân tự nấu mọc lên như nấm Bên cạnh đó, tình trạng

hàng nhái, hàng giả tràn lan cũng là vấn đề khiến các doanh nghiệp vốn đã

gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh nay lại phải đối đầu với tình trạng

cạnh tranh không lành mạnh Thêm vào đó, do Nhà nước áp dụng chính sách

thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các cơ sở sản xuất lớn, song lại thiếu sự đôn đốc,

nhắc nhở các cơ sở sản xuất nhỏ nộp thuế hay truy thu đối với những cơ sở

này hoặc có những chính sách hợp lý và thoả đáng để ngăn tình trạng này nên

trong thời gian tới hiệu suất huy động và sản lượng rượu hàng năm của ngành

công nghiệp sản xuất rượu khó có thể được cải thiện

Nhìn chung nhu cầu về sản phẩm rượu sản xuất công nghiệp trong

những năm gần đây có mức tăng trưởng khá do thu nhập ngày một nâng cao

và người tiêu dùng đã có sự quan tâm tới chất lượng và vệ sinh an toàn thực

phẩm Xu hướng trong thời gian tới các sản phẩm có chất lượng cao, giá cả

hợp lý có khả năng tiêu thụ mạnh Do đó cần phải có định hướng của Nhà

nước để tạo ra sản phẩm rượu có thương hiệu đặc trưng cho Việt Nam

2.3 Tình hình thị trường tiêu thụ rượu trong nước và xuất

khẩu

2.3.1 Về thị trường trong nước:

Dưới đây là những số liệu thực tế và những phân tích, đánh giá khái

quát đặc điểm phát triển ngành rượu theo từng vùng

Trang 35

Vùng 1: Gồm 14 tỉnh trung du miền núi phía Bắc là: Bắc Cạn, Bắc

Giang, Cao Bằng, Hoà Bình, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú

Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái và Điện Biên, sản xuất

rượu khai thác gần hết công suất thiết kế (90,34%) Đó là do đặc điểm truyền

thống văn hoá dân tộc vùng này là người dân uống nhiều rượu, công suất thiết

kế sản xuất rượu tại vùng này cũng thấp

Vùng 2: Gồm có 15 tỉnh đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ là

Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nam, Hưng

Yên, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hoá,

Vĩnh Phúc Sản lượng rượu 2003 đạt 21 triệu lít, khai thác được 41% công

suất thiết kế Đây là một trong những vùng kinh tế quan trọng của cả nước Có

thủ đô Hà Nội là trung tâm lớn về kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ,

khoa học kỹ thuật, đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế lớn của cả nước; có

lực lượng lao động dồi dào, mức sống bình quân khá cao Chính vì vậy, mức

tiêu thụ sản phẩm rượu cao, thị trường phát triển mạnh

Vùng 3: Gồm 10 tỉnh ven biển từ Quảng Bình đến Khánh Hoà Công

suất thiết kế cho sản xuất rượu toàn vùng là 1,85 triệu lít Sản lượng rượu năm

2003 đạt 0,37 triệu lít

Vùng 4: Gồm 4 tỉnh Tây Nguyên (Đắc Lắc, Gia Lai, KonTum, Đắc

Nông) Toàn vùng hiện chưa có một đơn vị sản xuất rượu nào, hầu hết toàn

rượu dân tự nấu và tiêu thụ

Vùng 5: Gồm 8 tỉnh và thành phố Đông Nam Bộ Đây là vùng có tỷ lệ

đo thị hoá và tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước Sản lượng rượu tập trung

nhiều nhất ở thành phố Hồ Chí Minh Tại tỉnh Bình Dương hiện đang có

hướng đầu tư mở rộng tăng thêm công suất cho Tỉnh là 15 triệu lít/năm vào

năm 2010

Vùng 6: Là vùng đồng bằng sông Cửu Long Vùng này có diện tích

đất nông nghiệp lớn nhất nước Ngành phát triển nổi bật là ngành nông, lâm,

Trang 36

ngư nghiệp Một số Tỉnh trong vùng những năm gần đây gặp nhiều thiên tai về

lũ lụt, hệ thống kết cấu hạ tầng bị hư hại nhiều, khả năng chuyên chở nguyên

vật liệu và sản phẩm khó khăn, đời sống nhân dân nhìn chung chưa cao Chính

vì vậy sự phát triển ngành rượu tại vùng này chưa cao

2.3.2 Thực trạng về thị trường xuất, nhập khẩu rượu

Trước đây, thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là Liên Xô cũ

và một số nước Đông Âu Sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã thì thị trường

xuất khẩu của rượu cũng mất, rượu Việt Nam không cạnh tranh được với rượu

của các hãng nước ngoài vì chất lượng, mẫu mã … Ngành rượu cũng chưa có

được một sản phẩm rượu dân tộc nào đặc trưng cho Việt Nam, có chất lượng

cao để xuất khẩu

Về xuất khẩu rượu của Việt Nam trước năm 1990 đã đạt tới sản lượng

15 triệu lít, chủ yếu sang Liên Xô và các nước Đông Âu Nhưng sau đó đã

giảm mạnh do việc thay đổi chế độ chính trị tại các nước đó Sản phẩm xuất

khẩu của Việt Nam có xu hướng tăng nhẹ ở các thị trường như Nhật Bản, Hàn

Quốc, Đài Loan … Đây là thị trường tiềm năng cần phải khai thác Đối với thị

trường ở các nước SNG và Đông Âu cần thiết phải phục hồi lại và khai thác thị

trường tiềm ẩn ở các nước Châu Phi, nơi có thu nhập thấp và tương đối dễ tính

về yêu cầu chất lượng

Trang 37

Tình hình xuất khẩu rượu năm 2005 và 2006 của Việt Nam, bảng 2.2

Tên rượu Trị giá (USD) Tên rượu Trị giá

(USD)

Trang 38

Tình hình nhập khẩu rượu năm 2005 và 2006 của Việt Nam, bảng 2.3

Tên rượu Trị giá (USD) Tên rượu Trị giá (USD)

Trang 39

Nhu cầu xuất khẩu rượu ra thị trường thế giới, đặc biệt là các nước

Châu á có xu hướng ngày một tăng Trong khi đó chi phí sản xuất của các

doanh nghiệp trong nước còn cao do tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu cao, năng

suất lao động thấp Vì vậy muốn nâng cao khả năng xuất khẩu đòi hỏi có sự

đổi mới về công nghệ thiết bị để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí và

đặc biệt là nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn khu vực và

thế giới

Rượu Việt Nam cũng đã đi vào thị trường Nhật Hiện tại Việt Nam có

doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sản xuất nước Sake ở Huế với công suất

0,5 triệu lít/năm, sản phẩm chủ yếu xuất sang thị trường Nhật Bản Tuy nhiên

muốn vào thị trường khó tính này còn phụ thuộc rất nhiều về tư duy kinh tế,

chất lượng hàng hoá và khả năng cạnh tranh cao của sản phẩm nước giải khát

của Việt Nam

Với rượu ngoại nhập vào Việt Nam, kim ngạch nhập khẩu rượu năm

2005, 2006 mỗi năm tới khoảng 20 triệu USD qua hải quan, không kể nhập

lậu cũng rất lớn Trong cơ chế thị trường, đời sống bị phân hoá, người nghèo

thì uống rượu dân tự nấu, người giàu thì uống rượu ngoại Rượu ngoại nhập

vào không hợp lý tác động xấu đến sản xuất và tiêu dùng trong nước, chưa nói

đến bị thất thu thuế quá lớn

Theo các chuyên gia trong ngành rượu thì trong những năm tới thị

trường rượu nội địa sẽ phát triển mạnh, bởi lẽ nguồn nguyên liệu sẵn có, đa

dạng và khá rẻ, thiết bị công nghệ đổi mới Do đó chủng loại rượu sẽ da dạng

hơn, chất lượng sẽ cao hơn và đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật về vệ sinh môi

trường và an toàn thực phẩm Song ưu thế trên thị trường rượu "chính thống",

"chất lượng cao" vẫn sẽ thuộc về các doanh nghiệp được trang bị bằng hệ

thống máy móc, công nghệ tương đối hiện đại và hợp "gu" với người tiêu dùng

Việt Nam, uy tín thương hiệu lớn như Công ty rượu Hà Nội, rượu Bình Tây và

Trang 40

các loại rượu ngoại nhập khẩu Còn các loại rượu "bình dân" sẽ thuộc về các

làng nghề nấu rượu như rượu làng Vân, Rượu Bầu đá, rượu Gò Đen …

Các sản phẩm rượu nhập khẩu (cả chính thức lẫn nhập lậu) đã gần như

thống trị thị trường Việt Nam Các loại rượu ngoại đứng vững trên thị trường

nước ta là những loại rượu có thương hiệu trên thế giới Do đó để có thể từng

bước cạnh tranh được với rượu ngoại, các doanh nghiệp Việt Nam phải có sự

đầu tư đáng kể công nghệ, thiết bị nhằm tạo ra sản phẩm có thương hiệu mạnh

đặc trưng cho Việt Nam

2.4 Quy mô và năng lực sản xuất cồn của Việt Nam:

Với nguồn nguyên liệu dồi dào, nước ta đủ điều kiện để sản xuất được

cồn với sản lượng lớn và chất lượng cao Tuy nhiên do hạn chế về nhiều mặt

mà hiện nay việc sản xuất rượu, cồn của nước ta vẫn chưa phát triển cả về

công nghệ sản xuất và quy mô sản xuất

Việc sản xuất cồn từ ngũ cốc để pha chế thành các loại đồ uống ở Việt

Nam đã được người Pháp đặt nền móng từ hơn 100 năm tại Công ty Rượu Hà

Nội và Công ty Rượu Bình Tây Với nhiều nỗ lực phấn đấu phát triển thị

trường mỗi Công ty này sẽ sản xuất 1 triệu lít/năm để pha chế rượu Năng lực

thiết bị mỗi Công ty có thể sản xuất được 3 triệu lít/năm

Công ty Rượu Đồng Xuân cũng tự đầu tư thiết bị trong nước để có

năng lực sản xuất là 1,2 triệu lít cồn/năm

Tổng sản lượng đang sản xuất của các nhà máy cồn từ ngũ cốc là 3

triệu lít năm trên tổng công suất 7 triệu lít/năm

Từ năm 2002 Công ty Rượu Bình Tây có dự án đầu tư thiết bị mới sản

xuất cồn công suất 6 triệu lít/năm Đầu năm 2006 đưa vào hoạt động Sau khi

công trình này đưa vào hoạt động ta có công suất cồn tinh bột là 9 triệu

lít/năm

Công ty Cổ phần cồn Rượu Hà Nội đang dự kiến chuẩn bị đầu tư nhà

máy mới tại khu công nghiệp Yên Phong - Bắc Ninh với công suất 5 triệu lít

Ngày đăng: 27/02/2021, 15:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w