1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiếng việt đại cương và ngữ âm phần 1

87 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếng Việt Đại Cương - Ngữ Âm
Tác giả Bùi Minh Toán, Đặng Thị Lành
Trường học Nhà Xuất Bản Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Tiếng Việt Đại Cương
Thể loại sách
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 10,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở cả hai phần, để làm cơ sờ cho việc tìm hiểu những vấn đề cụ thể cùa tiếng Việt, giáo trình có trình bày ở mức độ giản yếu một số kiến thức li thuyết ngôn ngữ đại cương tương ứng, như

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ÁN ĐÀO TẠO GIẢO VIÊN THCS

LOAN No 1718 - VIE (SF) BÙI MINH TOÁN - ĐĂNG THI LAN II

T iếng Việt ĐẠI CƯƠNG - NGỮ ÂM

w

NGUYÊN

IỌ C LIỆU

2012 | PDF | 192 Pages buihuuhanh@gmail.com

Trang 3

BÙI MINH TOÁN - ĐẶNG THỊ LANH

(In lần thứ ba)

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC s ư PHẠM

Trang 4

Mã số: 01.01.12/1181 - Đ H 2012

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI Đ À U 9

Chương 1 Đ Ạ I C Ư Ơ N G V È T IÉ N G V IỆ T 11

Mớ dầu II 1 NGUÒN GÓC VÀ SỤ' PHÁT TRIẺN LỊCII sù CỦA TIÉNG VIỆT 13

1.1 Giàn yểu về quan liộ nguồn gốc trong ngôn ngừ 13

1.2 Vấn dỗ nguồn gốc tiếng V iệt 18

1.3 Sự phát trien lịch sir cùa tiếng V iộ t 20

CÂU I lò l VẢ BÀI TẬP TI lự c HÀNH 24

2 QUAN HỆ LOẠI HÌNH VÀ ĐẶC ĐIÉM LOẠI HÌNH CỦA T1ÉNG VIỆT 25

Khái niệm về loại hình ngôn ngữ 25

2.2 Giàn yếu về các loại hình ngôn ngữ 26

2.3 Các đặc điổin loại hình của tiếng Việt 30

CÂU I lól VÀ BẢI TẬP THỤC HÀNH 39

3 CHỮ VIẾT CỦA TIÊNG VIỆT 40

3.1 Cliĩr viết tnrớc khi có chữ Quốc ngữ 40

3.2 Chữ Quốc ngữ 42

CÂU HỎI BÀ! TẬP VÀ THỤC HÀNH 55

TÓM TẢT CHƯƠNG 56

TƯ LIỆU THAM KHÁO 57

Chương 2 Â M T IÉ T T IẾ N G V IỆ T 58

Mở đầu 58

I TÓNG QUAN VÈ NGỮ Â M 58

1.1 Khái niệm ngữ âm 58

1.2 Ngữ âm học và âm vị học 60

Trang 6

1.3 Bán chất của ngữ âm 6 ]

2 KHÁI NIỆM ÂM TIẾT 71

2.1 Đon vị âm tiết 71

2.2 Một số quan điểm nghiên cứu âm tiết 72

2.3 Cấu tạo và phân loại âm tiết 73

3 ĐẶC ĐIẺM CỦA ÂM TIẾT TIÊNG VIỆT 73

3.1 Đon vị âm tiết trong các ngôn ngữ phân tích - âm tiết tính 73

3.2 Đom vị âm tiết trong tiếng Việt 74

3.3 Cấu tạo của âm tiết tiếng Việt 76

4 PHÂN LOẠI ÂM TIẾTTIÉNG VIỆT 80

TÓM TẮT CHƯƠNG 83

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH 84

Tư LIỆU THAM KHÁO 85

Chương 3 Â M V Ị T IÉ N G V IỆ T 86

Mờ đầu 86

1 ĐẶC ĐIÊM CỬA ÂM V| TIÊNG VIỆT 86

1.1 Quan niệm về đơn vị âm vị trong tiếng Việt 86

1.2 Sự thể hiện âm vị bằng ký hiệu ngữ âm quốc tế 87

1.3 Các loại âm vị: Âm vị đoạn tính và âm vị sicu đoạn tính 90

2 HỆ THỒNG ÂM V| T!ẺNG VIỆT 91

2.1 Hệ thống và hệ thống con 91

2.2 Miêu tả hệ thống âm vị tiếng Việt 97

3 VÂN ĐỀ CHÍNH TÀ TIÊNG VIỆT 125

3.1 Chính âm - chính tả và vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt 125

3.2 Chuẩn chính tà « 126

3.3 Chính tả và phương ngữ (tiếng địa phương) 126

3.4 Vận dụng tri thức tiếng Việt lịch sử vào việc dạy chính tả 139

TÓM TẮT CHƯƠNG 144

4

Trang 7

CÂU HÒI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH 145

Tư LIỆU THAM KHẢO 148

PHỤ L Ụ C 149

PHỤ LỤC 1 149

TÓM TẢT NGUỔN GỔC CÁC CON CHÙ' VÀ CÁC NHÓM CON CHỮ BIÊU THỊ CÁC ÂM TRONG TIÊNG VIỆT 149

PHỤ LỤC 2 „ 164

A QUAN Đ1ÊM c ơ BẢN TRONG NGHIÊN c ú u NGÔN NGỮ CỦA F DE SAUSSURE (Lược dịch Lịch sứ các học thuyết ngôn ngữ, bản tiếng Nga) 164

B QUAN ĐI ÊM c ơ BÀN TRONG NGHIÊN c ú u ẢM VỊ HỌC CỦA TRƯỞNG PHÁI NGÔN NGŨ' HỌC CÂU TRÚC - CHỨC NĂNG PRAHA (Lược dịch Lịch sử các hục thuyết ngôn ngữ, bản tiếng Nga) 169

c NHŨNG LUẬN ĐI ÊM CỦA GS NGUYỄN QUANG HỒNG V Ê ÂM VỊ HỌC ÂM TIẾT (Trích Nguyễn Quang Hồng, Âm tiết và loại hình các ngôn ngữ, NXB ĐHQGHN, 2001 .I 7 177

PHỤ LỤC 3 180

A QUAN ĐI ÊM CÚA LAURENCE c THOMPSON VỀ NGỮ ĐIỆU TIẾNG VIỆT 180

B NGUỒN GÓC CỦA CÁC ÂM V| TIẾNG VIỆT 184

Trang 8

âm cao 67, 84, 102, 103, 104, 115,

116,122

âm chinh 79

âm cụối 79, 99,119 ãm đ ầ u 79, 98, 99 âm giáng 67, 102,115, 118 âm thăng 67,102,115,116 âm tiết 15, 18, 30,31,32,38, 42, 48, 49, 51,54, 58, 60, 62,71,72, 73, 74,75, 76, 77, 78, 79, 80,81,82, 83,84,85, 86, 87, 90, 91,92, 93, 94,95,97, 98, 101, 107, 108, 111, 112, 113, 114, 118, 122,123,124, 125, 126, 127, 130, 131, 132, 144, 145, 147, 153, 154, 155, 159, 177, 178,179,180,181,182,187 âm tiệt đ óng 73, 80, 81, 125 âm tiết hơi đóng 80, 81 âm tiết hơi mờ 80, 81 âm tiết hơi nặng 80

âm tiết hơi nhẹ 80

âm tiết m ờ 73, 80,81,83, 125, 187 âm tiết nặng 80, 82 âm tiết n h ẹ 80, 82 âm tố 62, 68, 90, 95, 115, 116, 117, 169, 170, 177 â n v ị 31, 48, 49, 50, 54, 58, 60 61, 68, 69, 70, 71, 74, 76, 78, 83, 84, 86, 87, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98,99, 100, 101, 102, 106, 107, 108, 109, 112,113, 14,115, 118, 119, 120, 121, 122, 123, 124, 144, 145, 169,170,171,172,173,174, 175,176,177,178, 179, 184,185, 186 âm vị đoạn tín h 86,174 âm vị học 58, 60, 61, 68, 69, 70, 76, 83, 84, 87, 83, 95, 97, 99, 106,115, 120, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 175,176,177, 178, 179 âm vị học âm tiế t 76, 87, 177 âm vị nguyên âm 84,108, 112,114, 120,144,145,185,186 âm vị phụ âm 70, 71, 93, 94, 97, 98, 100,101,102, 106, 108,119, 121, 144, 145,176 âm vị siêu âm đ oạn 107

âm vị siêu đoạn tin h 86, 90 B bản chất âm học 67, 68, 83 bàn chật sinh h ọ c 67, 68, 83 bản chất xã h ộ i 68

biến thể âm v ị 71

biến thể bắt buộc 71

biến thể mỏi hoá 101

biến thể ngạc hoá 101

biến thể trung hoà h o á 71

biến thể tự do 71

bộ máy phát âm 61, 67, 7?, 84 c cách phát âm 6?, 65, 66, 70, 75, 93, 94,99, 101, 110, 126, 130, 132, 133, 141, 142 144, 145, 150, 152, 154,160,1 6 ì’ 163, 187 chính â m 107, 125, 126, 178, 186 chinh tả 53, 55, 86, 98, 99, 125, 126, 127,128, 129,130, 132, 133, 135, 136, 137, 138, 139, 141, 143, 144, 146, 155 chính tả phương n gữ 86,144 chuẩn chính âm 125

chuẩn chinh tả 125

D đặc trưng khu b iệ t 144, 172

6

Trang 9

71, 80, 90, 144, 156, 157, 158, 159,

160, 161,162,163,171,172ngữ âm học tự nhiên 60, 68ngữ điệụ 26, 29, 34, 38, 56, 62, 90, 180,181,182,183

ngữ điệu giảm 181,182ngữ điệu gư ợ ng 180,182ngữ điệu m ờ 180,181ngữ điệu tă n g 181,182nguyện âm 30, 48, 51, 59, 60, 62,

6 3 ,6 4 ,6 7 ,7 1 ,7 2 ,7 3 , 74, 76, 77,

80, 83, 84, 86, 88, 90, 91,92, 93,

95, 96, 97 101,102.103,104, 105,

106, 107, 108,109,110,111,112,113.114, 115, 116, 117, 118,119,120,121,122,123, 125,127,133,

134, 142, 144, 145, 146, 150,152, 153,154, 155,155, 159, 160,161, 162,163, 169,172, 173,176,177,178,181,184,185,186,187 nguyên âm hàng sau 62, 64, 67, 97, 103,104,105,106, 107,108,109,110.111.112.114, 115,116,117,118.119.120.122.186

nguyên âm hàng sau tròn môi 67, 103,104,105,106,112,117,118 nguyên âm hàng trước 62,64, 67, 97,101,103,104,105, 108,109, 110,111,112,115,116,117,118,119,120,122

nguyên âm hẹp 51, 62,121,160,161

nguyên âm ngắn 51,109,110,112,121.122.134.161.186

nguyên âm rộng 62, 121,160, 161

Trang 10

102, 103,104, 105, 106, 107,119,

125, 145,152,169phụ âm vang 64, 72, 81,102phụ âm vô thanh 67, 68, 104, 152,

169, 172,187phụ âm xát 65, 66, 67, 100, 102,

103, 105,106,145, 170

Tthanh điệu 18, 26, 30, 31, 33, 38, 48,

162, 174, 180, 182trọng âm câu 90trọng âm từ 90trường đ ộ 67, 116, 117, 118tương liên 102, 176tương phản 172,176,178, 179

Vvần 30, 31, 35, 42, 44, 49, 51, 76,

77, 78, 79, 80, 81,83, 86,87, 91,

93, 95, 98, 103, 104,105, 106, 107, 108,110,111,112, 114, 116,117,118,122,123, 125, 127, 129, 130,131,133,134, 135, 136, 137, 145, 146,147,174, 178, 179, 185, 186,187

vị trí phát â m 64, 65, 66, 99,101,119,144,145

8

Trang 11

LỜI NÓI ĐẰU

Giáo trình Tiếng Việt: Đại cương - Ngữ âm là giáo trình dành cho sinh

vièn các trường Cao đẳng Sư phạm, ngành Ngữ văn, đào t$0 giáo viên Trung 'nọc cơ sỡ dạy một môn Ngữ văn hoặc dạy 2 môn, trong đó môn Ngữ văn là

môn thứ nhát Giáo trình này phục vụ cho việc dạy và học học phần Đại

cuưng về tiếng Việt và Ngữ âm tiếng Việt với thời lượng 3 đơn vị học trình

(chương trình một môn) hoặc hai đơn vị học trình (chương trình hai môn).Trong chương trình học tập, đây là học phần đầu tiên của môn Tiếng Việt Sau đó sẽ được lần lượt tiến hành các học phần khác là: Từ vựng - Ngữ nghĩa, Ngữ pháp, Văn bản, Ngữ dụng và Phong cách học tiếng Việt Tất cà các học phần này hợp lại để cùng nhằm mục đích chung là nâng cao kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho sinh viên Tuy nhiên, riêng về mặt kĩ năng sử dụng tiếng Việt, chương trinh còn có riêng một học phần

thiên về thực hành tiếng Việt (Tiếng Việt (hục hành) Bời vậỷ, ờ giáo trinh

này (và các giáo trình dành cho các lTnh vực từ vựng, ngữ pháp, văn bản, ngữ dụng và phong cách) cỏ tập trung chú ý hơn vào mục đích nâng cao kiến thức lí thuyết, có tính hệ thống về tiếng Việt, tuy rằng vẫn cung cáp một, cách đều đặn ờ các chương những câu hỏi và bài tập thực hành Trong học tập, sinh viên vừa cần nắm được kiến thức lí thuyết vừa cần tiến hành làm các bài tập thực hành để củng cố li thuyết và rèn luyện kĩ năng thực hành.Trước khi học giáo trình này, sinh viên đã được học, trong phần giáo dục

đại cương, học phần Dần !uận ngôn ngữ họo Ở đó, hàng loạt các vấn đề đại

cương về ngôn ngữ đã được đề cập đến, như các vấn'đề về: bản chất xã hội, chức năng, r.ạuồn gốc, quá trình phát triển, bản chất tín hi‘;u, tổ chức hệ

thống cùa ncôn ngữ Sinh viên cần vận dụng những kiến thức đó vào thực

tiễn tiếng Việt đ l nắm chắc hơn và để làm CO’ sờ cho môn tiếng Việt

• Như đã được chỉ rõ trong tên gọi củả giáo trình, giáo trình này bao

gồm ha! phần, ở phần Đại cương về tiếng Việt, giáo trinh giới thiệu một cái

nhìn tồng thể về tiếng Việt: vị tri, vai trò của tiếng Việt trong đời sổng xã

Trang 12

hội: nguồn gốc, quan hệ họ hàng, quá trình phát triển lịch sử; đặc điểm và quan hệ loại hình của tiếng Việt cùng với hệ thống chữ viết của nó ở phần thứ hai, giáo trinh đi vào thảnh phần ngữ âm của tiếng Việt với hai đơn vị

cơ bàn lả âm tiết và âm vị Ở cả hai phần, để làm cơ sờ cho việc tìm hiểu

những vấn đề cụ thể cùa tiếng Việt, giáo trình có trình bày ở mức độ giản

yếu một số kiến thức li thuyết ngôn ngữ đại cương tương ứng, như các vấn đề: quan hệ họ hàng và quan hệ loại hình cùa ngôn ngữ, các loại hình chữ viết, bản chất cấu âm, âm học và bản chất xâ hội của ngử âm, lí thuyết

âm vị học Những vấn đề lí thuyết có quan hệ cần yếu còn được cung cấp

ỡ các phần phụ lục để tạo điều kiện cho sinh viên có tài liệu mờ mang kiến thửc, đi sâu hơn vào những vẩn đề được đề cập ờ các phần tương ứng Cũng nhằm mục đích đỏ, sau mỗi chương giáo trình có cung cấp danh mục các tư liệu tham khảo dễ tim và sát hợp cho việc học tập Ngoài ra, phần mờ đầu mỗi chương và phàn tóm tắt ờ cuối mỗi chương nhằm định hưó’ng hoặc cô đúc những nội dung cốt lõi giúp cho sinh viên khi học tập từng chương

Như đã nói ờ trên, giáo trình này dùng cho cả hai loại hình đào tạo: đào tạo giáo viên dạy một môn và đào tạo giáo viên dạy hai môn ở loại hình đào tạo thứ hai, thời lượng bớt đi một đơn vị học trình Vì vậy, ờ các lớp đào tạo giáo viên dạy hai môn, khi lên lớp, cán bộ giảng dạy và sinh viên cần lược đi một sổ nội dung không trực tiếp thuộc về tiếng Việt Những nội dung này sinh viên dựa vào giáo trình và các tài liệu tham khảo

mà tự tìm hiểu khi có điều kiện thời gian

Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo trình, nhóm biên soạn mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, các bạn sinh viên và tất cả bạn đọc về nội dung cùng cách thức biên soạn để có thể bổ sung, hiệu chính cho giáo trình ngày một hoàn thiện hơn Chúng tôi xin chân thành cám ơn

Hà Nội, tháng 12 năm 2003

Tập thể tác già

10

Trang 13

Chương 1 ĐẠI CƯƠNG VÈ TIÉNG VIỆT

Mờ đầu

Việt Nam là một quốc gia nhiều dân tộc Theo số liệu thống kê, nước

ta có 54 dân tộc Trong đó dân tộc Việt (cỏn gọi là dàn tộc Kinh) có số dân CU' đông đúc nhất Các dân tộc khác có số lượng ít hơn, nhưng tắt cả đều

đã sinh sống lâu đời trên đất nước Việt Nam và hợp thành đại gia đình các dân tộc Việt Nam

Mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng Không có dân tộc nào lại không có tiếng nói Mỗi tiếng nói dân tộc là một trong n h rn g nét đặc trưng của dân tộc đó Người Mường nói tiếng Mường, người Thái nói tiếng Thái, người Chăm nói tiếng Chăm, người Ê - đê nói tiếng Ể - đẻ Ngôn ngữ của dân tộc trước hết dùng để giao tiếp trong nội bộ các dân tộc, đồng thời ngôn ngữ mỗi dân tộc còn là chất liệu, là phương tiện để sáng tạo nên những giá trị văn hóa, những câu ca, những truyện kể, những câu thành ngữ, tục ngữ

và nói chung là các tác phẩm văn chương cùa từng dân tộc

Tiếng Việt là ngôn ngữ cùa dân tộc Việt (dân tộc Kinh) Nhưng đã từ lâu,

do những điều kiện về địa lí, về k'nh tế, về lịch sử - xã hội, các dân tộc chung sống trên lãnh thổ Việt Nam luôn cỏ những mối quan hệ gắn bc với nhau (có khi còn hoà huyết trong một gia đình) giao lưu thường xuyêr với nhau Và tiếng Việt đã được dùng làm phương tiện chung để giao tiếp giữa những người thuộc dân tộc Việt với những người thuộc các dân tộc khác, và cả những người thuộc các dân tộc khác với nhau Tiếng Việt đã trờ thành tiếng phổ thông của tất cả các dân tộc chung sống trên lãnh thổ Việt Nam

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, nước ta đã giành được độc lập, tiếng Việt cỏn đảm nhận một vai trò mới và cỏ một vị trí mới

Trang 14

Tiếng Việt (và cả chữ Việt - chữ Quốc ngữ) trờ thành ngôn ngữ quốc gia chinh thức Nó vẫn tiếp tục là ngôn ngữ của dân tộc Việt, là tiếng nói phổ thông của tất cả các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng nó còn đỏng vai trò là ngôn ngữ quốc gia được sử dụng chinh thức ờ tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội.

Trong nhà trường, tiếng Việt được dùng làm công cụ để dạy và học ờ tất cả các cấp học (từ mầm non, mẫu giáo đến bậc cao học) ờ tất cà các ngành học, ờ tất cả các vùng miền và đối với tất cả các dân tộc Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tiếng Việt là phương tiện để nghiên cứu, truyền

bá, trao đổi và lưu trữ các kết quả, các thành tựu ở các lĩnh vực khác như bác chí, truyền thông đại chúng, kinh tế, quân sự tổ chức và quản |[ hành chính từ trung ương đến cấp CO' sở đều dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ quốc gia chính thức Kẻ cả lĩnh vực ngoại giao, tiếng Việt cũng được dùng làm ngôn ngữ chính thức của Nhà nước Việt Nam Tiếng Việt đã vươn lên và trờ thành một ngôn ngữ tiên tiến, hiện đại đảm nhận vai trò của một ngôn ngữ quốc gia

Đối với học sinh, sinh viên nhất là sinh viên ngành Ngữ văn, thi tiếng Việt cần được nhìn nhận từ hai phương diện chính yếu:

- Tiếng Việt là tài sản quý báu của dân tộc, là chất liệu quý giá của nghệ thuật văn chương Muốn tìm hiểu văn chương, khám phá các giá trị của văn chương, hơn nữa muốn bồi dưỡng năng lực cảm xúc và thẩm định văn chương, sáng tạo văn chương không thể không có những kiến thức và

kỹ năng về tiếng Việt, c ỏ thể nói ờ phương diện này, tiếng Việt là ngôn ngữ - đối tượng của khoa học Ngữ văn

- Tiếng Việt là công cụ để học tập, để tiếp nhận, nâng-cac kiến thức, trao đổi kiến thức Ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng vốn có bản chất là công cụ của nhận thức, tư duy và phương tiện để giao tiếp trong xã hội Mọi thành tựu tư duy, nhận thức của nhân loại và của dân tộc đều được lưu trữ và truyền đạt bằng ngôn ngữ (nói cũng như viết) Muốn tiếp nhận những thành tựu đó, muốn nâng cao và phát triển chúng mà đó chính

12

Trang 15

là một trong những mục đích cao cả của việc học tập thi cũng phải dùng đến ngôn ngữ, đến tiếng nói Nói cách khác, trong nhà trường cùa ta hiện nay, chinh tiếng Việt lả công cụ cùa các hoạt động dạy và học c ỏ nắm vững thứ công cụ nảy (tiếng Việt) mới có thể nắm vững những kiến thức

và kỹ năng trong các môn học Ở phương diện này, tiếng Việt lả ngôn ngữ

- công cụ cùa học sinh, sinh viên

Cần có những hiểu biết về tiếng Việt để nâng cao nhận thức và cảm xúc thẩm mĩ, và để nắm vững tiếng Việt, sử dụng tốt tiếng Việt trong học tập, làm việc Trong chương trình Ngữ văn cùa các trường Cao đẳng Sư phạm, chúng ta bắt đầu bằng một sổ tri thức đại cương, toàn cục về tiếng Việt: nguồn gốc, quan hệ họ hàng, sự phát triển lịch sử, đặc điểm loại hình

và chữ viết của tiếng Việt Sau đó sẽ đi vào các bộ phận hợp thành của nỏ: ngữ àm, từ vựng, ngữ pháp và các phong cách chức năng

1 NGUÒN GỐC VÀ S ự PHÁT TRIỂN LỊCH s ử CỦA TIÉNG VIỆT

1.1 Giàn yếu về quan hệ nguồn góc trong ngôn ngữ

Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ, ở vào một thừi điểm nhất định, một ngôn ngữ có thể dần dần chia tách thành nhiều ngôn ngữ Các ngôn ngữ đó càng ngày càng xa cách nhau và trờ thánh các ngôn ngữ độc lập, nhưng vẫn còn lưu giữ được các vết tích giống nhau do được tách ra từ cùng một ngôn ngữ gốc Ngôn ngữ gốc được gọi là ngôn ngữ mẹ, các ngôn ngữ cùng một ngôn ngữ mẹ tạo thành một họ ngôn ngữ hay một ngữ

hệ Quan hệ giữa các ngôn ngữ cùng một họ và quan hệ giữa chúng vả ngôn ngữ mẹ gọi là quan hệ nguồn gốc

Ngôn ngữ học ngày nay đâ xác định được nhiều họ ngôn ngữ trên thế giới và phân loại các ngôn ngữ theo mối quan hệ họ hàng, nguồn gốc đó

1.1.1 Tiêu chi xác định

- Tiêu chí ngữ âm Khi chia tách thành các ngôn ngữ, mặt ngữ ảm của

ngôn ngữ mẹ cũng dần dần biến đổi trong các ngôn ngữ cùng họ, nhưng là

Trang 16

sự biến đổi có quy luật, theo những mối quan hệ hệ thống Ngay ở một ngôn ngữ, trải qua quá trình phát triển lịch sử, mặt ngữ âm có những biến đổi, nhưng luôn biến đổi theo một quy luật nhất định Chẳng hạn, tiếng Việt

cổ có phụ âm kép ml-, hiện nay âm này đã nhất loạt chuyển thành âm nh- trong phương ngữ Bắc Bộ, và thành âm I- trong phương ngữ Bắc Trung Bộ

Khi một ngõn ngữ mẹ chia tách thành các ngôn ngữ khác nhau thi ờ các ngôn ngữ khác nhau đó vẫn tim thấy những sự tương ứng, những mổi quan hệ có tính quy luật trong sự phân hoá ngữ âm Ví dụ tiếng Việt và tiếng Mường là hai ngôn ngữ độc lập ngày nay nhưng cùng một gốc, nên nhiều từ tương ứng về nghĩa có sự khác biệt đều đặn về ngữ âm, như cặp/t / và / tl / trong các từ sau:

hoặc cặp /y/ và /k/ trong các từ sau:

hoặc cặp /m / và /b / trong các từ sau:

14

Trang 17

- Tiêu chi từ vựng-ngữ nghĩa Quan trọng nhất là lớp từ cơ bản, nghĩa

là lớp từ đã hình thành từ xa xưa, biểu hiện những nội dung, những đối tượng, những khái niệm thiểt yếu nhất trong cuộc sống cùa con người Ví dụ: các từ gọi tên các bộ phận cơ thể người, các từ chì các hoạt động sinh sống của con người, các từ chỉ người trong gia đình, các từ chỉ các vật thể

và hiện tượng trong thiên nhiên, các từ chỉ màu sắc, các từ chỉ tên các con vật, .Các từ này cần thiết cho nhận thức, tư duy và giao tiếp đối với mọi người, ở mọi nơi, mọi lúc

Cần so sánh, đối chiếu những từ như vậy cả về mặt âm thanh và ý nghĩa để rút ra những sự giống nhau và khác nhau theo quy luật của chúng

Vi dụ:

nước dak dak dak tuk

tóc thak usuk sok sof

tay thai si tai day

Ở ví dụ này, các từ cùng một hàng ngang thuộc về các ngôn ngữ ngày nay là khác nhau, nhưng chúng vẫn có quan hệ tương đương về nghĩa và

cá về âm thanh Chẳng hạn, ỡ hảng thứ nhất, các từ đều có nghĩa là nước, đều có cấu tạo âm thanh tương ứng: là một âm tiết gồm âm đầu, âm chính,

- Tiêu chi ngữ pháp: Các hiện tượng ngữ pháp, các phạm trù ngữ

pháp, các hình thức ngữ pháp, Các sự tương ứng về ngữ pháp rất có giá trị để xác định quan hệ nguồn gốc, vì lĩnh vực ngữ pháp thường ổn định, có tính bảo thù và các ngôn ngữ ít có sự vay mượn về ngữ pháp Vi

Trang 18

dụ tiếng Anh vả tiếng Đức có quan hệ họ hàng gần gũi nên cỏ những sự tương ứng về hình thức ngữ pháp như:

Như thế trong sự phân loại các ngôn ngữ theo nguồn gốc và xác định nguồn gốc của các ngôn ngữ luôn luôn sử dụng phương pháp so sánh lịch sử

1.1.2 M ột số ngữ hệ (họ ngôn ngữ) trên thế giới

Mỗi ngữ hệ bao gồm một số dòng ngôn ngữ, mỗi dòng ngôn ngữ lại bao gồm một số nhánh ngôn ngữ và mỗi nhánh bao gồm một số ngôn ngữ

Cho đến ngày nay, ngôn ngữ học đã xác định được một số ngữ hệ, trong

đó có:

a Ngữ hệ An -Âu: Ngữ hệ này có các dòng: Ắ n Độ, l-ran, Ban-tích, Xla-vơ, Giéc- man, Rô-man Dòng Xla-vơ lại bao gồm các nhánh: Đông Xla-vơ (các tiếng Nga, U-cơ-ra-in, Bạch Nga, .), dòng Tây Xla-vơ (các tiếng: Ba Lan, Xlô-vac-xki, Tsec, .), dòng Nam Xla-vơ (các tiếng Bun-ga-

ri, Ma-ke-đoan, Xlô-ven, .)

b Ngữ hệ Thổ Nhĩ Ki : gồm các ngôn ngữ Thổ Nhĩ Ki, tiếng U-dơ- bếch, A-dec-bai-dan, Kiêc-ghi-di, Tác-ta,

c Ngữ hệ Sê-mit: có các dòng chinh như dòng Sê-mit, dòng Ai-cập, dòng Ku-sit, dỏng Bec-be, dòng Sat-ha-mit,

d Ngữ hệ Kap-ka: các ngôn ngữ Gru-di-a, Đa-ghet-xtan,

sing - sang - sung

drink - drank - drunk

sink - sank - sunk

sing - sang - gesungen trink - trank - getrunken sink - sank - gesunken

/1/ - /a / - lu l

16

Trang 19

Mỗi ngữ hệ thường được biểu diễn dưới dạng sơ đồ hình cây Chẳng hạn, M Ferlus đã biểu diễn ngữ hệ Nam phương như sau':

Nhánh Nam Đảo (Austronesien)

Việt-Mường

Khơmú

PalongKhasi

Các ngỏn ngữ khác (Mang, Mrabri)

chịu ảnh hường cùa tiếng Hán

Việt

Nguồn Mường (bác) Mường (trung,nam) Mường (Uý lô)

Pọng, 1 hả

Chửt (nhiều ngòn ngữ)

Patakan Pliôn-soung Thá vựng

1 Dẫn theo Mai Ngọc Chừ, Cơ sở ngón ngữ học và tiéng V/ệ/.NXB,2000 tr 54.

Trang 20

1.2 Vấn đề nguồn gốc tiếng Việt

Đã từng có quan niệm cho rầng tiếng Việt có quan hệ thân thuộc và gần gũi với các ngôn ngũ’ Hán, Thái Năm 1912, Ma-xpẻ-rô nêu ra các căn

Từ đó M vxp ê -rô cho rằng “tiếng Việt phải có quan hệ họ hàng với tiếng Thái”1

Nhưng đến các năm 1953-1954, ô-đri-cua chỉ rõ rằng tiếng Việt thuộc vào một họ ngôn ngữ lớn hơn và xưa hơn, đó lả họ ngôn ngữ Nam Á Chứng cớ của ông là:

- Trong tiếng Việt có nhiều từ gốc Nam Á, trong đó nhiều từ mà Ma- xpê-rò cho là của tiếng Thái thi thực ra là thuộc gốc M ôn-K hơ -m e mả người Thái và người Lào đã vay mượn vào ngôn ngữ của họ

- Vào những năm đầu công nguyên, tiếng Việt cũng giống như các ngôn ngữ thuộc dòng Môn-Khơ-m e, còn chưa có thanh điệu, trong từ còn

có phụ tố vả các nhóm phụ âm đầu, có các âm cuối họng, âm hầu và xát Quá trình khép kín vả giản hoá âm tiết mới dần dần làm xuất hiện các thanh điệu

Quan niệm này hiện nay là quan niệm có nhiều sức thuyết phục Theo

đó, tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ lớn là họ Nam Á Họ ngôn ngữ này có địa bàn hoạt động khá rộng: từ bờ sông Dương Tử (Trung Quốc) cho tới vùng Assam (Mi-an-ma), vùng núi và cao nguyên thuộc đất Thái Lan, Lào và Việt Nam, lan toả tới các bán đảo '<à đảo giáp với châu Đại Dương Tronr; lịch sử phát triển lâu đời, cùng với sự phát triển cùa các dân tộc và sự t' jp

1 Dẫn theo Nguyễn Ngọc San Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử. NXB GD, 1993, tr.

18

Trang 21

xúc với các ngôn ngữ khác, họ ngôn ngữ Nam Á tách thành 'Viọt số dòng, trong đó có dòng M ôn-K hơ -m e (lấy tên hai ngôn nnC sớm có chữ viết để gọi tên cho dòng) Dòng này được phân bố i/ung cao nguyên Nam Đông Dương và miền phụ cận vùng nú' Bắc Đông Dương Nó b30 ¿òm nhiều nhánh ngôn ngữ, tror.g đó có nhánh Việt-M ường Trong sự chuyển biển làu dải của lịel sứ, nhánh ngôn nại# Viẹt-Mường dần dần tách thành các n g ỏ n /ig ữ ’ Việt và Mường như hiện nay Quá trình chuyển biến này để lại nhiều dấu vết, có thé khảo sát được qua sự đối chiếu so r.ánh tiếng Việt vói các ngôn ngữ cùng nhánh ngôn ngữ Việt-Mường hoặc cùng dòng ngôn ngữ M ôn-K hơ -m e Có nhiều từ thuộc lớp từ cơ bản trong các ngôn ngữ này có sự gần gũi về âm thanh và tương ửng về nghĩa So sánh:

một môc môch mual muôi trốc (đầu) tlôc kulôc kduk kbal nước dak dak dak Tuk

tay thai si tai dây

tóc thak usuk sok so

Trải qua nhiều thế ki, bộ mặt ảm thanh cùa các từ tương ứng trong các ngôn ngũ' thân thuộc không thể giữ được sự giống nhau hoàn toàn, mà có

sự biến đổi, nhưng là sự biến đổi có quy luật, xảy ra ờ hàng loạt từ Vi dụ

âm đầu /y / của tiếng Việt tương ứng với các âm /k/ của tiếng Mường trong hàng loạt các từ:

Với quan niệm về nguồn gốc của tiếng Việt như vậy, ta thấy được quan hệ gần gũi, thân thuộc giữa tiếng Việt, dân tộc Việt (Kinh) với nhiều ngôn ngũ’, nhiều dân tộc trong cộng đồng các dân tộc chung sống trên lã^h thố Việt Nam

Trang 22

1.3 Sự phát triển lịch sử của tiếng Việt

1.3.1 T iếng V iệt ở th ờ i k i p h o n g kiến

Qua một ngàn năm Bắc thuộc rồi qua các triều đại phong kiến Việt Nam, ngôn ngữ giữ vai trỏ chính thống ờ Việt Nam là tiếng Hán, chữ Hán TiếngViệt thường bị các tầng lớp thống trị coi rẻ Tuy thế trong cả thời gian dài gầnhai ngàn năm đó, tiếng Việt vẫn trưởng tồn, vẫn được giữ gìn và phát triển Kho tàng văn hoá dân gian với những giá trị đặc sắc như ca dao, thành ngữ,

tục ngữ, truyện kể là những minh chứng hùng hồn về điều đó.

Vói sự tiếp xúc giao lưu với tiếng Hán, văn hoá Hán, chẳng những tiếng Việt không bị mai một, mà còn tự làm cho mình giấu có thẻm bằng

cách tiếp nhận nhiều từ ngữ Hán Đó là một sự tiếp nhận có Việt hoá về

các phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa và cách sứ dụng Những cách Việt hoá rất đa dạng và có hiệu quả, trong đó phổ biến là:

- Việt hoá ngữ âm, giữ nguyên kết cấu và ý nghĩa, ví dụ: tâm, tài, đức,

hạnh phúc, hoà bình, .

- Đảo lại vị tri các tiếng của từ Hán, ví dụ: nhiệt náo- náo nhiệt Hoặc

đổi tiếng trong từ bằng tiếng khác: an phận thủ k i - an phận thù thường, .

- Chuyển đổi nghĩa: mờ rộng hoặc thu hẹp nghĩa

Ví dụ:

phương phi hoa cỏ thơm tho béo tốt

bồi hồi đi ơi lại lại bồn chồn, xúc động đinh ninh dặn dò yên chi, tin chắc

- Sao phỏng, dịch nghĩa sang tiếng Việt

Trang 23

Vi dụ:

sản xuắt (yếu tổ Hán + yếu tố Hán)

bao gồm (yếu tố Hán +yếu tố Việt)

sống động(yếu tố Việt +yếu tổ Hán)

Những cách Việt hoá các từ Hán như vậy đến nay vẫn còn có tác dụng.Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, chữ Hán và việc học văn tự Hán được chú trọng Do đó một nền Hán học và văn chương chữ Hán mang sắc thái Việt Nam được hinh thành và phát triển Nhưng điều đó vẫn không ngăn cản được sự trường thành và phát triển cùa tiếng Việt Sự ra đời cùa chữ Nôm là một minh chứng hùng hồn Trên cơ sờ mượn một số

yếu tố văn tự Hán (mượn cả chữ hay từng bộ phận - xem mục III Chữ viết

của tiếng Việt, dưới đây), chữ Nỏm đã được sáng chế để ghi lại tiếng Việt

và đọc bằng âm tiếng Việt Có thể chữ Nôm đã xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ IX-X, nhưng đến các thế ki XIII- XIV mới cỏ thơ phú viết bằng chữ Nỏm, tiêu biểu như những bài phú Nôm thời nhà Trần, thơ Nôm và truyện Nòm thời Lê Tiếng Việt ỡ những thời ki đó và sau đó được phản ánh trong

các văn bản Nôm tiêu biểu như Chinh phụ ngâm (bản dịch), Cung oản

ngâm khúc, Truyện Kiều, .

1.3.2 Tiếng V iệt ờ th ờ i k i Pháp th u ộ c và ch ố n g P háp th u ộ c

Dưới thời Pháp thuộc, chữ Hán bị mất địa vị chính thống nhưng tiếng Việt vẫn còn tiếp tục bị chèn ép Ngôn ngữ hành chính, ngoại giao, giáo dục dưới thời Pháp thuộc là tiếng Pháp

Song việc dùng chữ quốc ngữ ngày một rộng rãi đã góp phần rất lớn vào sự thay đổi địa vị của tiếng Việt

Chữ quốc ngữ do một số giáo sĩ phương Tây dựa theo nguyên tắc ghi

âm bằng chữ cái La-tinh sáng chế ra ở thế kì XVII, nhằm mục đích truyền

đạo (xem chi tiết ỡ mục III Chữ viết của tiếng Việt, dưới đây) Lúc đầu, chữ

Quốc ngữ chỉ có phạm vi sử dụng hạn chế trong những kinh bổn đạo Thiên chúa Nhưng rồi một số nhân sĩ yêu nước Việt Nam sớm nhận ra ưu thế

Trang 24

của nó, đã ra sức hô hào, cỗ vũ cho việc sử dụng nó rộng rãi trong xã hội Đặc biệt là từ khi hinh thành các phong trào đấu tranh văn hoá có ý nghĩa chính trị như phong trào Đông kinh nghĩa thục ờ đầu thế ki XX với mục

đích mờ rộng dân trí V à với Hội truyền bá chữ quốc ngữ dưới sự lãnh đạo

của Đảng thi chữ quốc ngữ đã dần dần được phổ cập trong dân chúng.Việc sử dụng chữ quốc ngữ cùng với việc tiếp nhận những ảnh hưởng tich cực của ngôn ngữ - văn hoá phương Tây đã nhanh chóng làm thay đồi nhiều mặt trong đời sống ngôn ngữ - văn hoá ờ nước ta Đó là những thay đổi chính như:

- Báo chí, sách vờ tiếng Việt (bằng chữ quốc ngữ) ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ

- Văn xuôi tiếng Việt cũng hình thành, phát triển và ngày một chuẩn hoá, hoàn thiện với nhiều thể loại mới, nhiều phong cách chức năng mới như văn xuôi nghị luận chính trị xã hội, văn xuôi trong tiểu thuyết, kịch, văn xuôi trong văn bản khoa học kĩ thuật

- Hệ thống từ ngữ, thuật ngữ mới trong các lĩnh vực chính trị xã hội, khoa học kĩ thuật, văn hoá giáo dục được tạo lập và đi dần vào ổn định, hoàn chính

- Cùng với văn xuôi, Thơ Mới đã phá bỏ những luật lệ khắt khe cổ

truyền, đã đổi mới trong từ ngữ, âm điệu, hinh ảnh, tứ thơ,

Vào năm 1943, Đàng Cộng sản Đông Dương đã công bố Đề cuong

văn hoá Việt Nam, trong đó rất chú ý đến các vấn đề ngôn ngữ và đã đề

cao giá trị khoa học cùa tiếng Việt, đồng thời coi trọng việc giữ gin bản sắc dân tộc, cũng như tinh nhân 'dân của tiếng Việt Từ đây, tiéng Việt ngày càng chứng tỏ được vai trò của nó trong đời sống xã hội ờ các lĩnh vực chính trị, văn hoá, khoa học kĩ thuật Đặc biệt lả từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, địa vị của tiếng Việt được nâng cao hơn bao giờ hết

Trang 25

1.3.3 Tiếng Việt từ C rch mạng thảng Tám đến nay

Cách mạng thanrj Tám thành còng Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trước nhản dân Việt Nam và toàn thế giới, Chù tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản

Tuyên ngôn độc /ậ,j Đó là một văn kiện lịch sử qui giá đối với dân tộc, đối

với đất nước và cả đối với tiếng Việt Bản tuyên ngôn với lời văn hùng tráng, mạnh mẽ chẳng những đã chính thức tuyên bố quyền độc lập, tự do của dân tộc v.ệ t Nam, mà còn chính thức khẳng định vị trí của tiếng Việt trong một nước Việt Nam độc lập

Từ đó Liếng Việt đảm nhận một vai trò mới, lớn lao Chức năng xã hội của tiếng Việt được mờ rộng

Tiếng Việt đã được sử dụng làm ngôn ngữ quốc gia chính thức trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, kể cà lĩnh vực đối ngoại Từ ngày giành được độc lập, đời sống xã hội nước ta càng ngày càng mở rộng, đồng thời cũng đi vào chièu sâu Nó đặt ra nhiều nbu.r.ầ'1 mới và cao đối

với tiếng Việt Tiếng Việt đã đáp ứng được tất cả các nhu cầu giao tiếp ờ

mọi lĩnh vực chinh trị, ngoại giao, kinh tế, quân sự, hành chinh, văn hoá, khoa học kĩ thuật,

Trong văn hoá, giáo dục, tiếng Việt được sử dụng lả công cụ dạy học

ờ tất cả các cấp học, các bậc học, ờ mọi lĩnh vực hoạt động, trong đó có cả lĩnh vực khoa học công nghệ vốn mang tinh khái quát, trừu tượng rất cao Hơn nửa thế ki qua, tiếng Việt đã chứng tỏ khả năng to lớn và dồi dào cùa

nó ở các lĩnh vực này.

Cũng từ Cách mạng tháng Tám thành công, vai trò ngôn ngữ chung (tiếng phổ thông) của tiếng Việt đối với ngôn ngữ các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam lại càng được đề cao Mỗi thành phần dân tộc có ngôn ngữ riêng với vai trò cùa nó trong các mặt sinh hoạt vật chất và tinh thằn của nhân dân thuộc thành phần dân tộc đó Song tiếng Việt là ngôn ngữ chung, dùng trong mọi địa hạt giao lưu giữa các thành phần dân tộc trong cộng đồng Việt Nam, và nhất là trong công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Với vai trò là ngôn ngữ quốc gia, tiếng Việt là

Trang 26

một ngôn ngữ đa chức năng như các ngôn ngữ tiên tiến, hiện đại trên thế giới Nó đóng góp phần trọng yéu vào việc xây dựng một nước Việt Nam

“dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh."

Đồng thời vị tri vả vai trò to lớn ấy ngày nay cũng đặt ra cho tiếng Việt yêu cầu chuẩn hoá về các mặt ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp và phong cách ngôn ngữ Chuẩn hoá chính là một công cuộc nhằm đạt được tính chắt đúng đắn và thống nhất cùa các quy tẳc chung trong tiếng Việt, nhằm giữ gìn và phát huy được sự trong sáng vốn có của tiếng Việt, giữ gìn cái bản sắc đẹp đẽ và độc đáo cùa tiếng Việt, trong khi vẫn tiếp nhận những cái mới và những cải hay, cái đẹp của các ngôn ngữ khác

CÂU HÒI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH

1 Tiêu chí xác định nguồn gốc và quan hệ họ hàng cùa các ngôn ngữ như thế nào? Phân tích qua một số ví dụ cụ thể

2 Thế nào là ngữ hệ (họ ngôn ngữ)? Hãy trinh bày một số ngữ hệ thường được nhắc đến

3 Trinh bày vấn đề nguồn gốc và quan hệ họ hảng của tiếng Việt theo hai quan niệm đã được giới thiệu trong bài Anh, chị có những hiểu biết gì

về họ ngôn ngữ Nam Á?

4 Nếu ngoài tiếng Việt, anh, chị có biết một ngôn ngữ khác thuộc họ Nam Á, thi hây nêu ví dụ và phân tích, so sánh để thấy quan hệ gần gũi của các ngôn ngữ đó

5 Kẻ tên một số văn bản văn học chữ Hán và một số văn bản văn học chữ Nôm mà anh, chị đâ học trong môn văn học Việt Nam, qua đó phân tích để thấy chữ Nôm khác biệt với chữ Hán trong mối quan hệ với tiếng Việt như thế nào?

6 Nêu những ví dụ trong việc sử dụng tiếng Việt chưa đạt được mức

độ trong sáng Từ đó xác định xem rr.uon giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thi cần làm gì?

24

Trang 27

7 Các từ Hán sau đây đã được Việt hoá khi tiếp nhận vào tiếng Việt Hãy phân tích sự Việt hoá đó và chí ra nghĩa trong tiếng Việt

8 Hãy hường dẫn cho học sinh lớp 7 làm bài tập sau:

“Đọc đoạn văn sau đây trong truyền thuyết Mị Châu- Trọng Thuỷ:Lúc bấy giờ Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải Một lần Đà đem quân sang

bị giết hại rát nhiều nên Đà đành cố thủ đợi cơ hội khác Triệu Đà thấy dùng binh không lợi, bèn xin giảng hoà với An Dương Vương, sai con là Trọng Thuỷ sang cầu thân, nhưng chủ yếu là tìm cách phá chiếc nỏ thần

Trong những ngày đi lại để kết tình hoà hiếu, Trọng Thuỷ được gặp Mị Châu, một thiếu nữ mày ngài, mắt phượng, nhan sắc tuyệt trần, con gái yêu của Thục An Dương Vương

(Vũ Ngọc Phan)Trong đoạn văn trên đây, những từ Hán Việt nào góp phần tạo sắc thái

cỗ xưa? “

2 QUAN HỆ LOẠI HÌNH VÀ ĐẶC ĐIÉM LOẠI HỈNH CỦA TIÉNG VIỆT 2.1 Khái niệm về loại hình ngôn ngữ

Các loại ngôn ngữ trên thế giới, như phằn trên đã trình bày, có quan

hệ cội nguồn với nhau, và dựa vào đó người ta phân loại chúng theo nguồn gốc, theo quan hệ họ hàng Nhưng chúng còn có quan hệ với nhau theo những đặc điểm trong cấu tạo bên trong Những ngôn ngữ không có quan hệ họ hàng vẫn có thể có những đặc điểm giống nhau ¿rong cấu trúc,

trong tồ chức ờ các phương diện ngữ âm, từ vựng, và nhầt là ờ phương

Trang 28

diện ngữ pháp Các ngôn ngữ có đặc điểm giống nhau trong cáu trúc tạo thành một loại hình ngôn ngữ.

Có thể hiểu loại hình ngôn ngữ là một kiểu cấu tạo ngôn ngữ, trong đó bao gồm một hệ thống những đặc điểm có liên quan với nhau, chi phối lẫn nhau Mỗi loại hình ngôn ngữ bao gồm một số ngôn ngữ Chẳng hạn các ngôn ngữ cùng loại hình với tiếng Việt (loại hình đơn lập - phân tích tính)

có đặc điểm chung là các từ không biến đồi hình thái, do đó tất yếu phải có đặc điểm chung khác là biểu hiện các mối quan hệ ngữ pháp giữa các từ chủ yếu bằng các hư từ, bằng trật tự cùa từ trong câu và bằng các phương tiện ngữ điệu Hoặc, nểu một ngôn ngữ thuộc loại hình hoà két, trong đó từ

có sự biến đổi hinh thái theo phạm trù cách thì trong ngôn ngữ ấy, từ cũng

có sự biến đổi theo phạm trù số

Muốn xác định loại hình ngôn ngữ và phân loại các ngôn ngữ theo loại

hinh, cần dùng phương pháp đối chiếu loại hinh: đối chiếu cấu trúc bên trong của ngôn ngũ’ để xác định những điểm giổng nhau và khác nhau của chúng Có thể so sánh các đặc điểm về ngữ âm (như các ngôn ngữ có thanh điệu và các ngôn ngữ không có thanh điệu), nhưng chủ yếu cần căn

cứ vào những đặc điểm về cấu tạo ngữ pháp vá từ vựng (xem chi tiết ờ các mục dưới đây)

2.2 Giản yếu về các loại hình ngôn ngữ

Theo sự phân loại phổ biến hiện nay, các ngôn ngữ trên thế giới được phân biệt thành 4 loại hình:

2.2.1 Loại hình ngôn ngữ hoà kết (hoặc khuất chiết, tồng họp tính)

Loại hình này có những đặc điểm nổi bật như sau:

- Mỗi từ thường có cấu tạo gồm hai bộ phận: căn tố và phụ tố Căn tố biểu hiện ý nghĩa từ vựng Phụ tổ thường biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp Căn

tố và phụ tố gắn chặt với nhau thảnh một từ thống nhất Căn tố, cũng như phụ tố, không thể hoạt động độc lập như một từ, hơn nữa ờ ranh giới giữa chúng có thể có sự biến đổi ngữ âm

26

Trang 29

Il a beaucoup d ’ amis (Nó có nhiều bạn).

Động từ a là biến đổi từ nguyên dạng avoir (cỏ) cho phù hợp với chù ngũ' ngói thứ 3, số ít (nó), danh từ amis là biến đổi từ ami (bạn) để biểu hiện số nhiều

- Mỗi phụ tố có thể đồng thời biểu hiện nhiều ý nghĩa ngữ pháp, ngược lẹi, một ý nghĩa ngữ pháp có thể biểu hiện bằng nhiều phụ tố Ví dụ câuLiếng Nga:

OHa MHTana 3Ty KHHry (Cô ấy đã đọc quyển sách này.)

Phụ tố -na trong động từ HMTana (đọc) biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp: thời quá khứ, giống cái, số ít, thức tường thuật Mặt khác, các ý nghĩa giống cái, số ít, tân cách được biểu hiện hai lần nhờ các phụ tố - y ờ từ KHury (sách) và từ 3Ty (này)

Thuộc về các ngôn ngữ hoà kết tổng hợp tính là các ngôn ngữ họ Án-

Âu, họ Sê-mít và một số ngôn ngữ ờ châu Phi Nhưng giữa các ngôn ngữ hoà kết, mức độ tổng hợp tính có khác nhau Mức độ tổng hợp tính cao là các ngôn ngữ tiêu biểu như tiéng Nga, tiếng La-tinh, tiếng Hy-I$p, tiếng Đức, tiếng San-skrít Ở các ngôn ngữ này, phương thức phụ tố thường xuyên được sử dụng với tần số cao (từ thường biến đổi theo nhiều phạm

trù ngữ pháp), còn các phương thức khác (hư từ, trật tự từ ) lùi xuống

Trang 30

hàng thử yếu ỡ mức độ thấp hơn (giảm bớt mức độ biến đổi hinh thái của

từ và tăng cu’ó'ng các phương tiện ngữ pháp bên ngoài từ: hư từ, trật tự

từ ) là các tiếng Anh, tiếng Pháp

2.2.2 Loại hình ngôn n gữ chắp dinh

Ở các ngôn ngữ này có hiện tượng căn tố được chắp nối một cách máy móc cơ giới với một hay nhiều phụ tố, nhưng mỗi phụ tố chỉ luôn luôn mang một ý nghĩa ngữ pháp nhất định Do đó, mỗi từ có thể là một chuỗi dài do sự chắp nối căn tố và phụ tố (như hình ảnh một đoàn tầu hoả gồm đầu máy và các toa xe nối tiếp nhau) Đó là hiện tượng chắp dính Các ngôn ngữ thuộc loại hình này có những đặc điểm cơ bản như sau:

- Giống các ngôn ngữ hoà kết, mỗi từ thướng cũng bao gồm căn tố và phụ tố, do đó ý nghĩa ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp cũng được biểu hiện ngay trong bản thân một từ

- Căn tố nói chung không biến đổi hinh thái, có thể tồn tại và hoạt động một mình, ngay cả khi không có phụ tố đl kèm

- Mỗi phụ tố chỉ biểu hiện một ý nghĩa ngữ pháp, và ngược lại mỗi ý nghĩa ngữ pháp chỉ biểu hiện bằng một phụ tố

Ví dụ này cho thấy căn tố và phụ tố trong loại hình ngôn ngữ chắp dinh liên kết với nhau một cách cơ giới, lỏng lẻo theo kiểu chắp nối mà không hoà kết mật thiết với nhau

Thuộc về ngôn ngữ chắp dinh là các ngón ngữ họ Thổ Nhĩ Kì (các tiếng Thổ Nhĩ Kì, Ka-dắc, Kiếc-ghi-di, A-dec-bai-dan, Tuốc-mê-ni-a, Tác-ta, .), tiếng Mông c ổ , tiếng Triều Tiên, tiếng Nhật Bản, tiếng Ban-tu ờ châu Phi, một số ngôn ngữ thổ dân ờ châu úc, châu Mĩ,

28

Trang 31

2.2.3 Loại hình ngôn n g ữ đa tổng hợp (hỗn nhập, lập khuôn)

Có hai đặc điểm cơ bản:

- Có một loại đon vị đặc biệt vừa là từ vừa là câu, được tạo ra trên cơ

sờ động từ Nó có thề bao gồm cả bổ ngữ, trạng ngữ và cả chủ ngữ Vì vậy cơ cấu ngữ pháp của từ cũng có thể xem là cơ cấu ngữ pháp của câu

Người ta gọi đó là đơn vị lập khuôn

Vi dụ từ tiếng Su-a-khi-li:

Nitampenda (Ni-ta-m-penda) : Tôi sẽ yêu nó

Atakupenda (A-ta-ku-penda) : Nó sẽ yêu anh

Trong đó: penda: yêu, ni: tôi (chủ ngữ), a (nó): chủ ngữ, m (nó):bổ

ngừ, ku (anh): bổ ngũ’, yếu tố chỉ thời gian của động từ: ta (sẽ)

- Ở loại hinh ngôn ngữ này vừa có sự chắp nối các yéu tố (giống chắp

dinh), vừa có thể có biến đồi ngữ âm khi kết hợp (giống hoà kết) Xem ờ ví

dụ trên: yếu tố có nghĩa là nó khi làm chủ ngữ thì có hình thức là a, khi làm

bổ ngữ thì có hình thức là m

Thuộc vảo loại hình này có các ngôn ngữ Su-cốt, Cam- sát, Su-a-khi-li, một số ngôn ngữ Á cổ, một số ngôn ngữ vùng Cáp-ca

Tuy nhiên trên thực tế số lượng của các đơn vị lập khuôn không nhiều

Do đó việc tách thành một loại hình ngôn ngữ đa tổng hợp cũng chưa có sửc thuyết phục cao

2.2.4 Loại hình ngôn n g ữ đơn lập - phân tích tinh

Thuộc vào loại hình này có tiếng Việt, tiếng Hán, các ngôn ngữ ờ Đông Nam Á, tiếng A-ran-ta ờ châu úc, tiếng Ểvê, tiếng Ju-cô-ba ờ châu Phi.Các đặc điểm nổi bật của loại hình này là:

- Từ không biến đỗi hình thái

- Các ý nghĩa ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ pháp trong câu được biểu hiện chủ yếu bằng hư từ, trật tự từ và ngữ điệu

- Âm tiết được tách bạch rõ rệt và thường là đơn vị có nghĩa Do đó nỏ vừa có khả năng là yếu tố cấu tạo từ (như một hình vị) lại vừa có khả năng

Trang 32

hoạt động độc lập trong tư cách một từ đơn Người ta gọi bằng một tên

riêng là hình tiết.

Những đặc điểm này được trinh bày cụ thể thông qua các đặc điểm loại hình của tiếng Việt ờ mục dưới đây:

2.3 Các đặc điểm loại hinh của tiếng Việt

2.3.1 Tinh p h â n tiế t và đặc điềm , v a i trò của âm tiế t

Trong tiếng Việt, âm tiết (hay tiếng) là đơn vị phát âm tự nhiên, rất dễ nhận biết Khi nói, cũng như khi viết, mỗi âm tiết được tách bạch rõ ràng Điều này, đối với người Việt Nam, tự nhiên đến mức có thể dỗ dàng xác định số lượng âm tiết (và ranh giới cùa âm tiết) trong một lời nói Còn trong văn học, sổ lưựng âm tiết được coi là một đặc trưng của thể loại (thể thơ lục bát, song thát lục bát, thơ ngũ ngôn, .) Ví dụ trong hai dòng thơ sau đây, ta dễ dàng nhận ra được (khi đọc và cả khi nghe) có 14 âm tiết:

Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

(Nguyễn Du)

Trong thành ngữ, tục ngữ, trong thể văn biền ngẫu, trong thơ Đường

luật phép đối giữa các vế, các câu chinh là đối giữa các âm tiết của chúng Nghĩa là đơn vị đối xứng ờ đây là các âm tiết

Vi dụ: - Mẹ tròn con vuông

- Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.

- Nhà cửa lầm than, con thơ dại, biết lấy ai rèn cặp

Co đồ bỏ bễ, vợ (rè trung, e lắm kẻ đe loi (Nguyễn Khuyến)

Âm tiết tiếng Việt có những đặc điểm cần lưu ý như sau:

- Có cấu trúc chặt chẽ và rõ ràng Mỗi âm tiết ờ dạng tối đa thường gồm ba phần: phụ âm đầu, vần và thanh điệu Phần vần tối đa lại bao gồm

ba àm: âm đệm, âm chinh và âm cuối Còn tối thiểu, âm tiết tiếng Việt phải

có âm chinh và thanh điệu Âm chính luôn luôn phải là một nguyên âm

30

Trang 33

Các phần và các bộ phận này được sắp xếp theo một trật tự ỉ n định và nỗi vị tri chỉ do một số âm vị chiếm giữ.

Mô hình cấu tạo âm tiết tiếng Việt và ví dụ:

Những đặc điểm này lả cơ sờ dẫn đến hiện tượng nói lái (cá đua -c u a

cá) từ láy (vui vè, lúng túng), tính nhạc và tinh đối xứng của câu văn, của

câu thơ, cùa thành ngữ, tục ngữ, câu đối, .

- Về mặt nghĩa, âm tiết tiếng Việt thường tương ứng với một hình vị Nhiều âm tiết vừa có nghĩa vừa được dùng độc lập như một từ đơn Hoặc

ếm tiết được dùng như một thành tố cấu tạo nên từ (hình vị)

Vi dụ, âm tiết đẹp được dùng độc lập như một từ đơn trong câu: Bức

ta n h này đẹp.

Hoặc nó được dùng để cấu tạo nên các từ láy (đẹp đẽ, đèm đẹp) hay các từ ghép (íóí đẹp, xinh đẹp, tươi đẹp ).

Có những âm tiết có nghĩa nhưng chì được dùng làm thành tố cấu tạo

rén từ, chứ không được dùng độc lập như từ đơn Ví dụ: nhân (nghĩa là

Trang 34

người) dùng để cắu tạo các từ như: nhân dân, nhân loại, công nhân, chù

nhân, m ĩ nhân, .

Có những âm tiết không tự thân có nghĩa, nhưng có tác dụng góp

phần tạo nên nghĩa của các từ mà chúng tham gia cấu tạo Vi dụ đẽ trong

từ đẹp đẽ (khác nghĩa với đẹp), lùng trong từ lạnh lùng (khác nghĩa với

lạnh), nhen trong từ nhỏ nhen (khác nghĩa với từ nhò), .

Tuy nhiên, có một số ít âm tiết khòng có nghĩa Đó thường là các âm

tiết trong các từ đã lâu đời (núc nác, bồ hóng, m ặc cà ) hoặc các âm tiết

trong các từ vay mưọ'n (ra-đi-ô, các-bon, e-lip, .).

- v ề mặt ngữ pháp, mỗi âm tiết tiếng Việt thường xuát hiện trong tư cách một từ Nhất là trong thời kì lịch sử cổ xưa, đại đa số các từ trong tiếng Việt là các từ đo'n tiết, ở hoàn cảnh lịch sử đó, tiếng Việt là một thứ tiếng đơn âm

Ví dụ hai câu thơ sau đây chi toàn các từ đơn tiết:

Đầu nhà khói toà lồng s u vn g bạc Sườn núi chim gù ẩn lá xanh

(Hồng Đức quốc âm thi tập)

ở thời ki lịch sử muộn hon, tiếng Việt cấu tạo nhiều từ láy và từ ghép (trong đó phần nhiều là các từ song tiết) Tuy thế nhiều trường hợp, các từ

láy hay các từ ghép này khi sử dụng trong hoạt động giao tiếp vẫn có thể

được tách ra dùng lâm thời như một từ đơn Vi dụ:

Biết bao bướm lả ong lơi Cuộc say đáy tháng trận cười suốt đêm

Trang 35

điệu, và thường lả một đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và có khả năng dùng độc lập như một từ đơn.

2.3.2 Từ không biến đ ổi hình thái

Từ tiếng Việt (dù là từ đơn, từ ghép hay từ láy), dù thuộc từ loại nào,

dù thực hiện chức năng ngữ pháp nào trong câu, cũng luôn luôn có một hinh thức ngữ âm ổn định, duy nhắt Hình thức này không biến đổi theo các ý nghĩa ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu v ề mặt này từ của tiếng Việt khác biệt với từ của các ngôn ngữ không cùng loại hình (như tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Anh .)

ở tiếng Việt, hình thái của bản thân từ không biến đỗi, cho dù các ý nghĩa, quan hệ, chức năng ngữ pháp của từ có thay đổi Hãy so sánh

những lần xuất hiện cùa từ đọc trong các câu sau:

1 Họ đang đọc sách.

2 Tôi đã đọc xong cuốn sách đó rồi.

3 Đ ọc sách là m ột việc bổ ích.

4 NÓ không biết đọc.

Trong các câu trên, ý nghĩa, quan hệ, chức năng ngữ pháp của từ đọc

đã có những thay đổi và khác biệt Những sự khác biệt ấy được thể hiện

nhờ các hư từ đứng trước hoặc sau từ đọc (đang, đã, xong ), nhờ trật tự sẳp xếp các từ (ờ 2 câu đầu, từ đọc đứng giữa câu, sau từ chỉ chủ thể hoạt

động và trước từ chì đối tượng của hoạt động, do đó nó đóng vai trò vj ngữ ở câu 3, nó đứng đầu câu, đóng vai trò chủ ngữ ở câu 4 nó đứng cuối câu, sau m ột động từ khác, và làm bổ ngữ cho động từ này Đó đều là

những phương tiện ờ bên ngoài từ đọc, không được tổng hợp vào trong

cùng một hình thái của nó Vì thế tiếng Việt và các ngôn ngữ cùng loại được gọi là các ngôn ngữ đơn lập - phân tích tính

Đặc điểm trên đây của tiếng Việt dẫn đến những hiện tượng phổ biến với tần số xuất hiện cao là các hiện tượng chuyển loại, hiện tượng đồng âim, và quan trọng hơn là nó quyết định những phương thức ngữ pháp chủ yếu của tiếng Việt

Trang 36

2.3.3 Các phư ơng thức n g ữ pháp chủ yếu

Trong các ngôn ngữ hoà kết, phương thức ngữ pháp chủ đạo là phương thức dùng phụ tố Trong tiếng Việt và các ngôn ngữ thuộc loại hinh ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính, từ không biến đổi hình thái, nên các

phương thức chủ đạo là trật tự từ, hư từ và ngữ điệu,

a Trật tự từ

Trong câu, từ và cụm từ cần được sắp xếp theo một trình tự phục vụ cho việc biểu hiện các ý nghĩa, các quan hệ và các chức năng ngữ pháp nhất định Néu thay đổi trật tự sắp xếp thì các phương diện này sẽ thay đổi, hoặc làm cho tồ hợp từ ngữ trờ nên vô nghĩa, không thể chấp nhận được Chẳng hạn, từ ngữ giữ chức năng chủ ngữ, thể hiện đối tượng thông báo trong câu, thường đặt trước từ ngữ làm vị ngữ (thể hiện nội dung thông báo của câu), từ ngữ đóng vai trò chính thường đi trước từ ngữ đóng vai trò phụ

Vi dụ: Nó tặng tôi một quyển sách.

Với trật tự các từ như thế, câu trên có từ nó thể hiện chù thể của hoạt động và thực hiện chức năng chủ ngữ, từ tặng biểu hiện hoạt động của chù thể và là thành tố chính cùa vị ngữ, từ tôi thể hiện kẻ tiếp nhận hành động

và là thành tố phụ của vị ngữ (bổ ngữ gián tiếp), cụm từ m ột quyển sách biểu hiện đối tượng trực tiếp của hành động tặng vả là thành tố phụ thứ hai

của vị ngữ (bổ ngữ trực tiếp)

Nếu trật sắp xếp đó thay đổi thì các phương diện trên đây của câu đó cũng thay đỗi So sánh:

Tôi tặng nó m ột quyền sách, (khác nghĩa)

Hoặc trong những điều kiện ngữ cảnh khác có thể sắp xếp khác nhưng phải dùng phối hợp một hay một số hư từ:

Nó thi tôi đã tặng m ột quyển sách.

Tôi thì đến m ột quyển sách cũng không tặng nó được.

34

Trang 37

Ngoài các trường hợp ấy, sự thay đổi hay sắp xếp khác thứ tự các từ lảm cho câu trờ nên vô nghĩa:

* Nó tôi m ột quyển sách tặng

* Tôi một quyển sách nó tặng

Trong phạm vi một cụm từ chinh phụ, trật tự sắp xếp các từ còn ờ mức

độ chặt chẽ hơn Các từ trong vai trò phụ được sắp xếp một cách mạch

lạc, rõ ràng vào các vị tri đi trước, hoặc các vị trí đi sau từ chính và không

thể tuỳ ý thay đổi nếu không có những điều kiện về ngữ cảnh, hoặc tinh

h jó n g giao tiếp

Vi dụ trong câu:

Đó là m ột truyền thống quí báu cùa ta.

Trong câu này có một cụm từ: một truyền thống quí báu cùa ta, trong

đó từ truyền thống đóng vai trò từ chinh Phụ thuộc vào nó và bổ sung ý nghĩa cho nó có 3 từ đóng vai trò phự Đó là các từ: m ột (thành tố phụ đi trước), qui báu và của ta (các thành tố phụ đi saiẠTrật tự sắp xểp như vậy

khó có thể thay đổi Nếu sắp xếp khác thì dễ làm cho cụm từ mất nghĩa hoặc đổi nghĩa

Chì trong những điều kiện nhất định thì trật tự các từ trong cụm từ mới

có thể thay đổi mà không làm thay đổi nội dung cơ bản của câu Ví dụ:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ m ấy nhà

(Bà Huyện Thanh Quan)

ở đây, có sự hỗ trợ của vần nhịp, của phép đối trong thơ Đường luật

nên từ chính tiều được đặt trước các từ phụ vài chú, hơn nữa các vị ngữ

Ụom khom, lác đác) ở cả hai câu đều đặt trước chủ ngữ.

Trong các ngôn ngữ mà từ có biến đổi hình thái, trật tự từ trong câu có

tinh tự do và linh hoạt hơn So sánh câu ví dụ ờ trên (Tô/ tặng nó m ột

quyển sàch) với các trường hợp sau đây:

Trang 38

-O h noflapnn Nghĩa từng từ: nó-tặng-tôi-m ột-sàch

- O f lH y K H ury OH M H 6 no,qapnn m ột-sách-nó-tôi-tặng

Tất cả ba câu tiếng Nga, mặc dầu trật tự từ khác nhau nhưng đều có

nghĩa chung là: Nó đã tặng tôi một quyển sách Đó là do hình thức biến đổi

của các từ biểu hiện

Cỏn trong tiếng Việt, sự linh hoạt trong sự sắp xếp các từ trong câu chi có thể có ỡ những hoàn cảnh giao tiếp nhất định, với những điều kiện nhất định và để phục vụ cho những mục đích nhất định

b H ư từ

Trong các ví dụ ờ trên, chúng ta đã thấy vai trỏ của hư từ trong tiếng Việt đối với việc biểu hiện các ý nghĩa, các quan hệ và các chức năng ngữ pháp Tất cả các ngôn ngữ đều có hư từ, nhưng khi hình thái biến đổi từ là phương thức ngữ pháp chủ đạo thi vai trò của hư từ mờ đi Còn ờ tiếng Việt, từ không biến đỗi cho nên sau trật lự từ, hư từ là phương thức ngữ pháp quan trọng

Hư từ lả những từ không mang ý nghĩa từ vựng, không dùng để gọi tên (định danh) các đối tượng trong hiện thực khách quan Chúng chỉ làm dấu hiệu cho một số loại ý nghĩa ngữ pháp, hoặc ý nghĩa tinh thái Chúng không thể thực hiện vai trò của các thành phần chinh trong cụm từ hay trong câu, mà chì có thể đóng vai trò các thành phần phụ (các phụ từ), các thành phần tình thái (các từ tinh thái) hoặc làm dấu hiệu cho các quan hệ ngữ pháp (các quan hệ từ)

Ví dụ: Cùng có ý nghĩa chỉ thời gian tương lai, nhưng tiếng Việt cỏ một số thực từ và hư từ khác nhau:

- Thực từ, như các tử mai, kia (mốt) M ai là từ gọi tên ngày tiếp ngay

sau ngày hôm nay (ngáy diễn ra hoạt động nói) Nó có thể thực hiện chức năng thành phần chính hoặc thành phần phụ của câu Chẳng hạn:

36

Trang 39

1 N gày họ hẹn chúng ta là m ai (Mai làm vj ngữ)

2 Mai, anh ẩy đến (Mai làm trạng ngữ)

- Hư từ, như các từ sẽ sắp Sẽ chỉ làm dấu hiệu cho ý nghĩa thời gian

tương lai Nó không thể dùng để gọi tên cho một thời điểm hay một khoảng thời gian nào trong tương lai Nó không thể đóng vai thành phần chính trong câu hoặc trong cụm từ, mà chi có thể đóng vai thành phần phụ

Ví dụ:

Anh ắy sẽ đến.

Hư từ có số lượng ít hơn thực từ, nhưng tần số sừ dụng lại cao

Hư từ trong tiếng Việt bao gồm ba loại chính:

- Phó từ (phụ từ) chuyên làm thành tố phụ cho các thực từ, lảm dấu

hiệu bổ sung một sổ ioại ý nghĩa cho thực từ

Vi dụ các phụ từ: đã, sẽ, đang, không, chưa, vẫn cứ, còn, đều, hãy, r ấ t

- Q uan hệ từ: Chuyên biểu hiện quan hệ giữa các từ, các cụm từ, các câu

Vỉ dụ các quan hệ từ:và, nhưng, song, mà, của, bằng, nên, vì, tại, bởi, để

- T in h thái từ: Chuyên làm dấu hiệu cho tình cảm và thái độ củacon người

Vi dụ: à, ạ, nhì, nhé, ái chà, ối, chao ôi, than ôi, vâng, dạ, ừ, .

Trong một câu có thể dùng nhiều hư từ, ví dụ:

Chẳng những chích bônỹ là bạn cùa các em nhỏ, mà chích bông còn

là bạn của bà con nông dãn.

(Tô Hoài)Nói chung, khi trật tự từ chưa làm sáng tỏ được các mối quan hệ, thì

hư từ có tác dụng quyết định Còn khi quan hệ ý nghĩa đã rỗ từ văn cảnh hoặc từ hoàn cảnh giao tiếp, thi có thể không dùng hư từ, mà chỉ nhờ trật tự

các từ (tay tôi / lay cùa tôi Anh ấy là người Hà N ộ i/A n h ắy người Hà Nội).

Trang 40

c Ngữ điệu

Ngữ điệu là một yếu tố siêu đoạn tính Nó không thể được phát âm riêng, mà phải thể hiện đồng thời với việc phát âm các từ ngữ trong câuNgữ điệu là đặc điểm của giọng nói, thể hiện khi nói một câu Nó bộc

lộ ờ sự phát âm mạnh hay yéu, nhanh hay chậm, trầm hay bổng, liên tục hay ngắt quãng, lên giọng hay xuống giọng, .đối với các từ ngữ trong câu Cũng là các yếu tố siêu đoạn tính, nhưng khác với thanh điệu (gắn với

âm tiết), khác với trọng âm (gắn với từ), ngữ điệu là yếu tố gắn với câu.Trong tiếng Việt, ngữ điệu là một phương thức ngữ pháp góp phần biểu hiện các ý nghĩa khác nhau

Sự khác biệt trong ngữ điệu có thể phân biệt các câu có mục đích nói khác nhau, nghĩa là có ý nghĩa khác nhau

Ví dụ:

1 Mẹ về (Câu tường thuật, với ngữ điệu kết thúc, hạ giọng ớ cuối câu)

2 Mẹ về? (Câu hỏi, với giọng hồ nghi, thiếu sự quả quyết)

3 Mẹ về! (Câu cảm thán, với giọng reo vui)

Sự liên tục hay cỏ quãng ngắt và vị tri cùa chỗ ngắt là một biểu hiện của ngữ điệu Nó có thể phân biệt các ý nghĩa khác nhau Ví dụ:

Phương pháp làm việc m ới là điều quan trọng.

Trong câu trên, nếu chỗ ngắt ờ trước từ m ới thì từ m ới có quan hệ với

các từ đi sau nó và chì điều kiện, câu có nghĩa là “ cái quan trọng là

phương pháp làm việc, chứ không phải cái gì khác Còn nếu quãng ngắt

ờ sau từ mới, thì m ới lả tính từ trái nghĩa với cũ (quen thuộc)và câu có

nghĩa là “cái quan trong là phương pháp làm việc phải mới, chứ không thể

là các phương pháp cũ đã kém hiệu quả“

Tóm lại, cùng với trật tự sắp xếp các từ trong câu, cùng với việc sử dụng hư từ (hay không dùng hư từ), ngữ điệu là một phương thức ngữ pháp trong tiếng Việt và trong các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập-phân tich tính

38

Ngày đăng: 18/11/2023, 15:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w