1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Uyển ngữ tiếng việt trường hợp uyển ngữ chỉ trạng thái chết (có so sánh với tiếng anh)

339 26 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Uyển Ngữ Chỉ Trạng Thái Chết
Tác giả Đặng Trang Viễn Ngọc
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Bá Lân
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 339
Dung lượng 4,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt uyển ngữ chỉ trạng thái chết thống kê trong Luận văn và Phụ lục 1 được in nghiêng và gạch chân hoặc in nghiêng, đậm và gạch chân tiếng Việt và in nghiêng, gạch dưới tiếng Anh,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG TRANG VIỄN NGỌC

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HUỲNH BÁ LÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 2

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY TRÍCH DẪN

• Dẫn chứng trích nguyên văn của các tác giả khác được để trong ngoặc kép

“ _”; tên tác giả của phần được trích nguyên văn, với năm xuất bản của tác phẩm, được nêu ngay trước hoặc ngay sau phần được trích dẫn và được đặt trong dấu ngoặc vuông [ _]:

- Hoàng Phê [1998: 145] cho rằng: “Chết là mất khả năng sống, không còn có biểu hiện của sự sống, Báo chết để da, người ta chết để tiếng! Chết vinh hơn sống nhục.”

• Nếu không trích dẫn nguyên văn, chúng tôi sẽ không ghi số trang và nội dung trình bày không được đặt trong ngoặc kép mà chỉ nêu tên tác giả và có ký hiệu chú thích ( ) ngay sau tên tác giả:

ĐÁNH DẤU

1 Trình bày luận điểm, quan điểm

• Thuật ngữ ngôn ngữ học cần được làm rõ sẽ được in nghiêng

Thuật ngữ Chết và việc sử dụng các uyển ngữ chỉ …

• Phiên bản tiếng Anh hay tiếng Việt của từ, cụm từ, câu đang xét được đặt

trong móc vuông và in nghiêng [ _]:

Từ kiêng kỵ Uyển ngữ

2 Ví dụ minh họa

gạch chân; những uyển ngữ tiếng Anh được in nghiêng, gạch chân:

- Người Mỹ cũng hay dùng to be sent up the river, để ám chỉ to be in prison [ở tù] Tuy nhiên người Anh hiếm khi dùng uyển ngữ này The river ám chỉ dòng

Trang 3

sông Hudson chảy ngang qua thành phố New York Nhà tù nổi tiếng nhất của

Mỹ là Sing Sing State Prison nằm ở thượng nguồn của con sông này Còn ở

Việt Nam, thì sử dụng ở nhà pha (Nhật ký trong tù - Hồ Chí Minh) ngồi bóc/gỡ lịch, vào nhà đá/khách sạn Hilton, … thay cho ngồi tù

• Uyển ngữ tiếng Việt có hay không có (hoặc có mà luận văn này chưa phát hiện

ra) những uyển ngữ tương đương trong tiếng Anh trong phần Phụ lục 1 (tr

97) được in nghiêng hoặc in nghiêng và đậm và để trong dấu móc vuông [ _];

để tránh dài dòng, những uyển ngữ tiếng Việt không có uyển ngữ tiếng Anh

tương đương chúng tôi sẽ không giải thích bằng tiếng Anh:

- Khuất núi [gone]

- Nghỉ ngơi an lành nơi miền vĩnh phúc

• Trong phần So sánh uyển ngữ diễn tả trạng thái chết trong tiếng Việt và tiếng Anh thông qua một số tác phẩm văn học Việt Nam, ví dụ của bản dịch tiếng Anh được in nghiêng và thụt vào một tab so với ví dụ tiếng Việt để người đọc

dễ so sánh, đối chiếu Đặc biệt uyển ngữ chỉ trạng thái chết thống kê trong

Luận văn và Phụ lục 1 được in nghiêng và gạch chân hoặc in nghiêng, đậm

và gạch chân (tiếng Việt) và in nghiêng, gạch dưới (tiếng Anh), những thuật ngữ tiếng Anh diễn giải các uyển ngữ (do không có uyển ngữ tương đương) chỉ trạng thái chết được in nghiêng, gạch dưới và nền có màu xám nhạt; những ô màu xám nhạt để trống hàm ý không có uyển ngữ tiếng Anh tương đương trong bản dịch:

Đã không kẻ đoái, người hoài,

Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương

Gọi là gặp gỡ giữa đường,

Họa là người dưới suối vàng [94] biết cho

Since no one else will pay Respect and pity, I will light Some incense sticks tonight;

And from another world, maybe

Trang 4

Poor Dam-Tien, you will see

Mẹ nuôi của các anh đã qua đời {3}

Their god’s mother had died. {42}

và được để trong dấu móc [ _] để người đọc tiện tra cứu với nguyên bản:

- Nghìn thu bạc mệnh [416] một đời tài hoa

(1) Băng / Băng hà [demise (of king), pass away] chỉ dùng để nói cái chết của vua chúa:

ƒ Theo lời của cha Jarek Cielecki, trước khi ÐTC băng hà, ngài đã nhìn ra cửa sổ nơi mà trước đây ngài vẫn thường đứng để nhìn các khách hành hương tụ tập tại quảng trường Thánh Phêrô [www.catholic.org.tw]

KÝ HIỆU

• Ký hiệu a trong khung (1a) sẽ báo hiệu có ít nhất là khung (1b) và cùng có thể

có thêm khung (1c) và / hay (1d), trong Phần Mở đầu, Chương 2, 3 và 4 hay trong phần Phụ lục Các cặp đôi, ba và có thể là bốn khung này cho thấy sự biến đổi có liên quan tới việc thể hiện nào đó chẳng hạn như phân loại của uyển ngữ tiếng Việt nói chung và uyển ngữ chỉ trạng thái chết nói riêng

DANH SÁCH CÁC KÝ HIỆU và CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN và PHỤ LỤC

Trang 5

MỤC LỤC

1.3.2 Phương thức ngữ nghĩa (Semantic hoặc Meaning) 24

1.7.1 Uyển ngữ được hình thành bằng những lời bóng gió, quanh co 33

Trang 6

2.2.2 Hoán dụ 42

CHƯƠNG III: Uyển ngữ chỉ trạng thái chết trong tiếng Việt 49

3.2 Thuật ngữ chết và việc sử dụng các uyển ngữ chỉ trạng thái chết

3.4.1 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo quan niệm của

3.4.3 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo quan niệm lên–xuống 56 3.4.4 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo quan niệm con người

3.4.5 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo quan niệm con người

3.4.6 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết bằng các thành ngữ

3.4.8 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo ẩn dụ tri nhận 59

Trang 7

3.4 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết thể hiện trong một số tác phẩm

văn học Việt Nam (có so sánh với bản dịch tiếng Anh

3.4.3 So sánh đối chiếu và phân tích uyển ngữ chỉ trạng thái chết

thể hiện trong Truyện Kiều và Nỗi Buồn Chiến Tranh

3.5.1 Thực trạng việc chuyển dịch ngôn ngữ từ tiếng Anh sang

3.5.2 Việc nghiên cứu uyển ngữ tiếng Việt góp phần chuyển dịch

3.5.3 Giải pháp cho việc dạy và học tiếng Anh một cách hiệu quả

nói chung, dạy và học chuyển dịch ngôn ngữ từ tiếng Anh

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu

Ngôn ngữ của loài người có những nét tương đồng cơ bản về cái cách mà con người tri giác và nhận thức thế giới xung quanh Đó cũng chính là cách họ tư duy và phản ánh thế giới ấy

Charles Bally cho rằng phong cách học nghiên cứu tính biểu cảm – gợi cảm ở các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ, đồng thời nghiên cứu sự phối hợp các sự kiện lời nói có khả năng tạo nên hệ thống các phương tiện biểu cảm – gợi cảm của một ngôn ngữ1

Theo quan điểm này, uyển ngữ là một trong những phương tiện ngôn ngữ phản ánh các biểu cảm, gợi cảm, hay nói cách khác là một biện pháp tu từ gồm so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, phúng dụ, khoa trương, nói giảm … đã được mỹ

từ pháp cổ đại miêu tả cách đây trên 2.000 năm Với một nội dung phong phú,

mỹ từ pháp cổ đại đã có ảnh hưởng đến ngôn ngữ hùng biện, đến nghệ thuật viết văn thời cổ đại và sau này được truyền đi khắp các nước châu Âu Và đây cũng chính là những gợi ý đầu tiên chuẩn bị cho sự ra đời của phong cách học sau này

Trong cấu trúc biểu niệm của từ, ngữ nói chung và uyển ngữ nói riêng, có không ít những nét nghĩa phản ánh cái nhìn của người sử dụng Đó cũng chính

là những nét nghĩa phản ánh các thuộc tính của sự vật, hoạt động, tính chất v.v… Thực ra, những thuộc tính này do con người gán cho sự vật, hoạt động, hiện tượng, tính chất qua sự cảm nhận, qua tri giác, nhận thức chủ quan của mình

Chúng ta biết rằng trong ngôn ngữ, từ là quan trọng nhất và cũng là bộ phận khó thụ đắc, nhất là đối với người học ngoại ngữ Nếu có điều kiện thuận lợi thì chỉ sau một thời gian nhất định, người học ngoại ngữ có thể nắm được cách

1 Cù Đình Tú (2001)

Trang 9

phát âm cũng như những quy tắc ngữ pháp cơ bản Tuy nhiên, thật không dễ

để nhanh chóng nắm bắt và mở rộng vốn từ vựng và càng khó khăn hơn khi

xử lý đơn vị tương đương là thành ngữ, và những biến thể tương đương với

từ Trên thực tế, cho đến nay, chưa ai có thể thống kê hết toàn bộ từ ngữ của bất kỳ một ngôn ngữ nào được sử dụng một thời điểm cụ thể nào đó Vả lại, từ vựng liên hệ trực tiếp với hiện thực và với nhận thức của con người, nên là bộ phận biến động nhất của ngôn ngữ: trong khi một số từ, nghĩa hoặc cách dùng

cũ đi và có xu hướng bị đào thải thì luôn có những hiện tượng mới nảy sinh, những từ mới, nghĩa mới, cách dùng mới trong đó có uyển ngữ có vai trò thật

sự quan trọng trong việc phát triển và làm phong phú thêm vốn từ vựng tiếng Việt

Là người Việt Nam, chắc chúng ta ai cũng đã không ít lần sử dụng hoặc nghe người khác dùng uyển ngữ trong giao tiếp thông thường Nhiều lúc người nghe không khỏi ngạc nhiên trong sự thích thú và có phần thán phục nữa về sự phong phú của uyển ngữ trong tiếng Việt Nói cách khác, mọi người đều nhận thấy một cách rõ ràng uyển ngữ là một bức tranh sinh động và hấp dẫn Nó tác động một cách tích cực, làm giàu thêm cho vốn từ vựng trong ngôn ngữ, và tác động đến các cách diễn đạt, các cấu trúc, xa hơn nữa là sự mô phỏng từ tự phát Tuy nhiên, đã có mấy ai hỏi rằng vì sao uyển ngữ lại có thể tồn tại từ lâu đời trong kho tàng ngôn ngữ của người Việt và ngày càng phát triển, góp phần

to lớn vào sự phong phú của kho tàng văn hóa Việt nói chung và phát triển tiếng Việt nói riêng?

dụng, nhằm giảm bớt hoặc né tránh hậu quả quá kích động của diễn ngôn hay thông báo; uyển ngữ được dùng nhiều trong ngôn ngữ đời thường đặc biệt là trong văn học, để giảm nhẹ những thuộc tính của đối tượng hoặc hiện tượng

2 : còn được gọi là khinh từ hay nhã ngữ hay nhã dụ

Trang 10

được miêu tả, nhằm mục đích diễn đạt tình cảm, thái độ một cách tinh tế, kín đáo

Mất, quy tiên, từ trần, v.v cho thấy việc ứng dụng uyển ngữ có hiệu quả

thông báo sự kiện mất mát lớn như cái chết Trong văn học, cái chết còn có thể được miêu tả hình tượng hóa như:

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương (Nguyễn Du)

Không còn nghi ngờ gì nữa, uyển ngữ là một phạm trù văn hóa thẩm mỹ trong lịch sử tinh thần của nhân loại Uyển ngữ phản ánh tín ngưỡng, phong tục và văn chương nghệ thuật Nghiên cứu về tình hình sử dụng uyển ngữ trong cộng đồng cũng như trong văn hóa nghệ thuật sẽ cho thấy toàn cảnh về vấn đề sử dụng uyển ngữ

Luận văn cao học Uyển ngữ tiếng Việt – Trường hợp uyển ngữ chỉ trạng thái chết (có so sánh với tiếng Anh) được lựa chọn và thực hiện theo hướng đó:

nghiên cứu về tình hình sử dụng uyển ngữ trong sinh hoạt hằng ngày cũng như trong một số tác phẩm văn học cổ điển và hiện đại để có cái nhìn toàn cảnh về vấn đề sử dụng uyển ngữ trong phạm vi quan sát là trường hợp uyển ngữ chỉ trạng thái chết Bên cạnh đó, luận văn này khảo sát việc sử dụng uyển ngữ trong tiếng Anh để:

hội ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy tiếng Anh cho người Việt cũng như giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài học tiếng Anh và tìm ra một

số giải pháp hiệu quả cho việc dạy và học tiếng Việt và tiếng Anh, đặc biệt

là trong lĩnh vực dịch thuật uyển ngữ

hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay của thế giới

Trang 11

2 Giới hạn đề tài

Đề tài giới hạn trong việc mô tả, phân tích, đánh giá một trường hợp cụ thể là uyển ngữ chỉ trạng thái chết được đặt trong những đặc thù của tiếng Việt và tiếng Anh, trong những đặc điểm của địa phương và trong quá trình tiếp xúc và giao lưu với các ngôn ngữ khác Đề tài này chỉ nghiên cứu một trường hợp điển hình của việc ứng dụng uyển ngữ đó là trường hợp uyển ngữ về trạng thái Chết

a Tìm hiểu những điểm “khác biệt giữa các ngôn ngữ, xuất phát chủ yếu từ nhu cầu dạy và học ngoại ngữ” Lado, R [1964] cho rằng, “những điểm khác biệt này cần phải được so sánh đối chiếu vì chúng gây khó khăn cho người học tiếng”;

b Tìm hiểu những điểm “khác biệt quan trọng nhất giữa các ngôn ngữ”; tuy nhiên, không dễ xác định cái gì là “quan trọng nhất”;

c Nghiên cứu cả những điểm giống nhau, tức là không phải chỉ đối chiếu (contrast) ngôn ngữ mà còn phải so sánh (compare) chúng

Nguyễn Hòa cũng đề cập đến một loại ý kiến nữa là cần phải quan tâm đến cả những sự tương ứng và không tương ứng trên bình diện biểu đạt nghĩa giữa các hiện tượng ngôn ngữ được so sánh đối chiếu

Xuất phát từ nhu cầu dạy tiếng Anh cho người Việt, luận văn này tập trung nghiên cứu theo xu hướng thứ ba, cụ thể là: (i) miêu tả uyển ngữ tiếng Việt diễn đạt trạng thái chết, (ii) so sánh với cách diễn đạt tương đương trong tiếng Anh (nếu có) và (iii) tìm những điểm giống nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh có liên quan đến việc chỉ trạng thái chết bằng uyển ngữ

3 Nguyễn Hòa, So sánh đối chiếu diễn ngôn và việc dạy học ngoại ngữ, www.vnu.edu.vn

Trang 12

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về uyển ngữ nổi tiếng như A Dictionary of Euphemism & Other Doublespeak do Hugh Rawson – một nhà ngôn ngữ học người Anh biên soạn năm 1981 và tái bản năm 1995; Wobbly Bits của John Ayto [2007], Adlard Coles Nautical xuất bản lần thứ nhất năm

1993 với tên gọi Dictionary of Euphemism; Slang and Euphemism do Richard

A Spears biên soạn, Signet xuất bản năm 2001 Đặc biệt, có hẳn một trang

web mang tên: www.euphemism.com.au

Các từ điển này đều có mục từ về trạng thái Chết Ở Việt Nam cũng đã có một

số nghiên cứu về uyển ngữ đặc biệt là uyển ngữ chỉ trạng thái chết và đã có

một số thành tựu Trong số đó có Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt của

điển Từ và Ý Tiếng Việt của Hồ Đắc Quang [2005], có khoảng 250 thuật ngữ

chỉ tình trạng chết hoặc liên quan đến cái chết5 Đặc biệt có thể nhìn thấy toàn

Phong Phú của Bằng Giang [1997]

Kết quả của các công trình này không chỉ bao gồm ở những công trình nghiên cứu lý thuyết, mà còn cả những công trình có tính ứng dụng cao như từ điển thành ngữ, … Tuy nhiên, phải nhìn nhận một thực tế so với các đề tài ngôn ngữ học nói chung, số lượng các nghiên cứu về đề tài uyển ngữ tiếng Việt và uyển ngữ chỉ trạng thái chết nói riêng còn quá hạn chế

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác

nhau Tuy nhiên về cơ bản, phương pháp nghiên cứu chủ đạo là ngôn ngữ xã hội học với hai cách tiếp cận định lượng và so sánh đối chiếu Và lẽ dĩ nhiên

4 , 5 , 6 trong đó có uyển ngữ

Trang 13

thủ pháp so sánh đối chiếu cứ liệu tiếng Anh với tiếng Việt thu thập được sẽ là việc không thể thiếu Ngoài ra, phương pháp hệ thống cấu trúc cũng được lưu

ý đúng mức khi phân tích

1.4.1 Phương pháp tiếp cận định lượng

Với phương pháp này, uyển ngữ chỉ trạng thái chết trong đời sống sinh hoạt hàng ngày sẽ được chúng tôi sẽ chia thành nhiều nhóm đối tượng, gồm:

1.4.1.1 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo quan niệm của các tín đồ tôn giáo như

phật tử, giáo dân, … để tỏ ý kiêng kỵ

1.4.1.2 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo quan niệm đời thường

1.4.1.3 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo quan niệm “lên – xuống”

1.4.1.4 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo quan niệm người sống được biểu

trưng bằng những kết hợp tất yếu

1.4.1.5 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo quan niệm người sống được biểu

trưng bằng những kết hợp kiểu như mệnh – mạng – số – thây – thân 1.4.1.6 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết bằng các thành ngữ theo quan niệm người

sống là có hoạt động còn chết thì ngưng hoạt động

1.4.1.7 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết bằng ẩn dụ hay hoán dụ

1.4.1.8 Uyển ngữ chỉ trạng thái chết theo ẩn dụ tri nhận

1.4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu

Song song với cách tiếp cận trên, là phương pháp so sánh đối chiếu những cứ

liệu thu thập được từ bản dịch ra tiếng Anh của một tác phẩm cổ điển (Truyện Kiều do Michael Counsell dịch) và một tác phẩm hiện đại (Nỗi buồn chiến tranh

do Phan Thanh Hảo, Võ Băng Thanh, và Katerina A Peirce dịch) rút ra một số nét tương đồng và dị biệt giữa uyển ngữ tiếng Việt và tiếng Anh

Trang 14

5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nghiên cứu

Những thuận lợi

Đề tài nghiên cứu của luận văn có hai thuận lợi cơ bản:

- Nhiều tài liệu bằng tiếng Anh về đề tài uyển ngữ (Anh, Mỹ);

- Hai bản dịch được đưa ra đối chiếu so sánh với bản gốc đều nổi tiếng và có tại các thư viện và nhà sách

Những khó khăn

Luận văn gặp ít nhiều khó khăn do hiếm có tài liệu tiếng Việt phản ánh những công trình nghiên cứu trước đó về đề tài uyển ngữ Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng sẽ nhận được nhiều sự giúp đỡ từ phía các nhà nghiên cứu tiếng Việt có liên quan đến lĩnh vực mà đề tài khảo sát

6 Bố cục luận văn

Luận văn gồm:

Phần mở đầu:

Trình bày lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, phương pháp; giới hạn, lịch

sử của đề tài cũng như những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nghiên cứu

Chương 1: Uyển ngữ

Trình bày các khái niệm về uyển ngữ; phân biệt uyển ngữ với biệt ngữ và từ lóng, đồng thời trình bày các phương thức tạo uyển ngữ, cách phân loại,

chức năng, đặc điểm và sự phát triển của uyển ngữ

Chương 2: Uyển ngữ tiếng Việt

Chương này trình bày một số luận điểm cũng như quan điểm của chúng tôi

về nguồn gốc, cấu tạo, phân loại và phương thức cấu tạo uyển ngữ tiếng Việt

Chương 3: Uyển ngữ về trạng thái Chết trong tiếng Việt (có so sánh với tiếng Anh)

Đây là chương chủ đạo của luận văn, cho độc giả thấy một bức tranh tổng

thể về uyển ngữ diễn đạt cái chết (có so sánh với tiếng Anh), cũng như quan

Trang 15

điểm của chúng tôi về cách phân loại uyển ngữ diễn đạt tình trạng chết dựa

trên khảo sát thực tiễn cũng như các cứ liệu từ nhiều nguồn khác nhau: văn học, báo giấy, báo hình, báo điện tử và mạng internet Đồng thời, thông qua thủ pháp so sánh, đối chiếu, rút ra một số nét tương đồng và dị biệt giữa uyển ngữ tiếng Việt và tiếng Anh

Phụ lục

Chúng tôi giới thiệu 4 phụ lục, trong đó:

Phụ lục 1: chúng tôi tổng hợp 1.333 uyển ngữ diễn đạt cái chết một cách có

hệ thống theo thủ pháp quy nạp mà chúng tôi đã sưu tầm, khảo sát được Phụ lục 2, 3 và 4: chúng tôi tuyển chọn và giới thiệu những bài thơ, bình luận

có sử dụng nhiều uyển ngữ để diễn đạt cái chết của một số tác giả vô danh

cũng như có tên tuổi để độc giả tham khảo

Trang 16

CHƯƠNG I UYỂN NGỮ

1.1 Khái niệm về uyển ngữ

Có nhiều cách định nghĩa uyển ngữ (euphemism), xuất phát từ góc nhìn

và/hoặc cách tiếp cận khác nhau của các tác giả:

(1) “Lối nói trang nhã, bóng gió về một vấn đề tế nhị hoặc về một điều có thể làm người nghe bối rối, phiền lòng.”

(2) “Phương thức nói nhẹ đi, thay cho lối nói có thể bị coi là sỗ sàng, làm xúc phạm, làm khó chịu.”

[Từ điển Tiếng Việt Phổ thông, 2002: 1.002]

(3) “Cách dùng những từ hoặc cụm từ gián tiếp, ôn hòa, dễ nghe để thay thế cho những từ và cụm từ trực tiếp hoặc chính xác hơn.”

[Oxford Advanced Learner’s Encyclopedic Dictionary, 1993: 305]

(4) (Uyển: uốn theo; ngữ: lời) Cách nói thanh tao để thay thế cho tiếng tục

[Từ điển từ và ngữ Việt-Nam, 2000: 1.984] (5) “Lối nói trại, lời nói trại.” [Từ điển Anh-Việt, 1992: 559]

Theo cách hiểu của định nghĩa thứ ba thì uyển ngữ, còn được gọi là cách đọc trại tên, là một phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ, một thứ nghệ thuật đổi tên

để giấu đi ý nghĩ họ không mấy hài lòng của người sử dụng tiếng, đặc biệt là người nói Nói khác đi, uyển ngữ là bất cứ sự diễn đạt nào có thể chấp nhận được, miễn là chúng thay thế thành công cho cái chúng ta không mấy hài lòng

mà người sử dụng muốn che dấu

Định nghĩa thứ năm lý giải uyển ngữ là tấm gương phản ánh về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy như nhà báo kiêm tiểu thuyết gia người Anh George

Orwell đã đề cập trong bài tiểu luận nổi tiếng "Chính trị và Ngôn ngữ tiếng

7 Trưởng Khoa Giáo dục Song ngữ và ESL, Texas Woman's University

Trang 17

Anh": “sự hiện hữu rõ ràng của những tư duy về những thực tế chính trị của

thời đại chúng ta thì rất khó khăn bởi vì ngôn ngữ của chúng ta bị sửa đổi sai lạc bởi lối nói hoa mỹ của những chính khách, để che đậy những chính sách tàn bạo và không thể biện hộ của họ, phải sử dụng đến lối nói trại và thuật ngữ

một cách cân đối.” [George Orwell (1953), Politics and the English Language,

New York: Doubleday & Co, kinhtehoc.com.]

Né tránh những điều kiêng kỵ [taboo] và tránh xúc phạm thể diện người khác là hai trong số các nguyên nhân dẫn đến sự hình thành uyển ngữ: dùng hạn chế thay cho khuyết điểm nói là bị hạ tầng công tác thay vì bị cách chức, không nói

là bị kỷ luật mà nói là bị xử lý hành chính, …

Mặc dù có rất nhiều cách định nghĩa về uyển ngữ, nhưng định nghĩa của Li

tiếp có tác dụng làm người nghe cảm thấy thích thú hoặc cảm thấy nhẹ nhàng hơn để thay thế cách nói trực tiếp có thể làm người nghe không vui hoặc cách nói thiếu sự tôn kính đối với người nghe”

về uyển ngữ sau khi đã phân tích các định nghĩa có trước theo 7 bước: “uyển ngữ là phương thức sử dụng từ ngữ một cách khéo léo, linh hoạt, dẫn đến lối diễn đạt nhẹ nhàng, mềm mại, tế nhị làm cho người nghe thoải mái mà không

sự tôn kính đối với người nghe” Nói chiến tranh lạnh thay cho cãi nhau;

8 Dẫn theo Hồ Thị Trinh Anh, (2006)

9 Hoàng Phương Thảo (15-01-2008), Định nghĩa uyển ngữ, vanhoahoc.edu.vn

Trang 18

tháo cũi sổ lồng, được tự do thay cho ly hôn, ly dị; con muốn ngồi bô thay cho con mắc đái; khuyến mãi thay cho hạ giá sản phẩm; … đều là dùng uyển

ngữ

1.2.2 Biệt ngữ (Jargon)

Biệt ngữ là tập hợp những yếu tố ngôn ngữ riêng, mang tính đặc thù của một nhóm người trong cộng đồng ngôn ngữ Nhờ biệt ngữ, nhóm người này có thể phân biệt được với các nhóm khác trong cùng cộng đồng ngôn ngữ đó Về cấu trúc, biệt ngữ là một thứ ngôn ngữ phát sinh từ ngôn ngữ

tự nhiên, không hoàn chỉnh và không có tính hệ thống cao Thông thường, biệt ngữ không khác ngôn ngữ tự nhiên về ngữ âm và ngữ pháp, chỉ khác chủ yếu về một số đơn vị từ vựng

1.2.2.1 Biệt ngữ của học sinh, sinh viên:

Trứng: điểm 0

Gậy: điểm 1

Ngỗng: điểm 2

Phao: tài liệu dùng để quay cóp khi đi thi

Trúng tủ: đề bài ra đúng với những câu đã học thuộc

1.2.2.2 Biệt ngữ của giáo viên:

Cháy giáo án: hết giờ nhưng vẫn chưa dạy hết giáo án cần dạy

1.2.2.3 Phân biệt biệt ngữ và thuật ngữ:

Giữa biệt ngữ và thuật ngữ: cũng có những điểm giống nhau nhau, tuy nhiên, thuật ngữ có phạm vi sử dụng rộng hơn và gắn liền với chuyên môn, ứng dụng

a Thuật ngữ chuyên môn:

R&D (Research and Development): bộ phận nghiên cứu và phát triển

PR (Public Relations): quan hệ công chúng

10

dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

Trang 19

b Biệt ngữ:

Thuật toán: một phương pháp chi tiết cho máy tính thực hiện một tác vụ nào

đó, ví dụ như thuật toán chỉnh sửa ảnh trong PhotoShop, …

Hack: Từ điển máy tính Lạc Việt phiên bản 2002 định nghĩa hack là:

“Sự tổ chức lại một cách rất thông minh đối với các tài nguyên hệ thống hiện hành, đã dẫn đến kết quả, như một phép kỳ diệu, nâng cao hiệu suất của hệ thống lên một cách bất ngờ - hoặc một trò chơi khăm rất ác

Trong thời đại máy tính, ngôn ngữ hack được dùng để chỉ những kỳ công ngoạn mục của các năng lực lập trình khác thường, trong đó người lập trình đã tìm ra một giải pháp cho vấn đề đầy thách thức, bằng cách khai thác khả năng của một hệ thống ít người biết đến trước đây, hoặc kết hợp với các khả năng nổi tiếng với nhau theo một phương pháp mới và đầy sáng tạo Một trong các hack về phần cứng nổi tiếng nhất là thiết kế của Stephen Wozniak đối với bộ điều khiển ổ đĩa trong máy Apple II, trong đó ông đã kết hợp được các chip có sẵn, rẻ tiền theo một phương pháp thu gọn đáng kể về kích thước và giảm nhiều chi phí cho ổ đĩa đó Tuy nhiên, mặt tốt đẹp này của thuật ngữ vẫn không làm mất đi ý nghĩa "trò chơi ác" ; đối với những hack độc địa nhất thì công việc "kỳ diệu" của họ là một sự thông minh độc ác.”

Hacker: Cũng theo từ điển trên thì hacker là:

“Loại người say mê máy tính, họ thích thú tìm hiểu mọi điều về một hệ máy tính, và thông qua việc lập trình thông minh, họ làm cho hệ đó hoạt động với một hiệu suất cao nhất

Trong những năm 1980, báo chí đã định nghĩa lại thuật ngữ này bao gồm

cả những người "nghiện" máy tính hay xâm nhập vào các hệ máy đã được bảo vệ Những tờ báo nhạy cảm đã điểm lại các hoạt động nguy

hiểm của hacker và đưa ra danh từ hacker hysteria (cuồng bạo hacker) Ví

dụ năm 1989, tờ New York Time đã đăng một bài với đầu đề "Sự lan tràn của những kẻ bắt cóc dữ liệu" với hàng loạt các cuộc vây ráp của Cơ

Trang 20

quan An ninh, trong đó các hệ máy tính của các nhân vật "nguy hiểm" này

đã bị tịch thu

Mặc dù có một số hacker thực tế là những tội phạm, họ thích thú với

những lời thách thức đột nhập vào các hệ điện toán của các tổ chức hoặc các cơ quan, nhưng sự định nghĩa lại này của dư luận báo chí đã bị che

mờ bởi nhiều hoạt động của người sử dụng máy tính đầy sáng tạo.”

1.2.3 Tiếng lóng (Slang)

Tiếng lóng là một hình thức phương ngữ xã hội không chính thức của một ngôn ngữ, xuất hiện ở những người thuộc tầng lớp dưới của xã hội, thường được một nhóm người sử dụng trong giao tiếp thường ngày Lúc đầu tiếng lóng nhằm che dấu ý nghĩa diễn đạt theo quy ước để chỉ những người trong nội bộ mới hiểu

Tiếng lóng thường không mang ý nghĩa trực tiếp, nghĩa đen của từ phát

ra, mà mang ý nghĩa tượng trưng, nghĩa bóng

Chảnh: kênh kiệu

Tám, buôn dưa lê: nhiều chuyện

Rước: mua về

Bèo: rẻ mạt

Không có cửa: (tình cảm) không thể nào

Xiềng: muốn khẳng định một sự việc mà người nói tin chắc

Cave: gái làm tiền

Giả nai: sành sỏi nhưng giả làm ra vẻ hiền lành

1.3 Phương thức tạo uyển ngữ

“Cuộc sống tập thể thời hang động buộc phụ nữ phát triển cách nói chuyện tạo quan hệ: nói gián tiếp để tránh né những sự đối đầu, sử dụng uyển ngữ để

giảm nhẹ xung đột” (Huy Minh, [2005]), Phiên dịch ngôn ngữ của Phụ nữ,

11 www.vi.wikipedia.org

Trang 21

Doanh Nhân Sài Gòn, www.chungta.com ) Lâu dần, quen với cách nói này, cũng lan rộng sang giới mày râu

Tỳ kheo Thích Phước Năng cho rằng:

“Từ khi Veda được đưa vào trường học để dạy cho mọi người, Bà la môn

đã nhanh chóng chuyển thể chữ Sankrit bác học cầu kì trong Veda sang thể Prakrit” (phách lạp khách lợi, uyển ngữ) cho phổ cập bình dân hơn Đồng thời, “họ dựa vào Veda soạn những bộ sách về phát âm, đánh vần, ngữ pháp” cho uyển ngữ, và chú giải những câu khó hiểu trong Veda Uyển ngữ

là “một hình thức ngôn ngữ được dân chúng ưa thích sử dụng” Việc phát triển uyển ngữ này “bắt đầu từ thế kỉ thứ 5 trước công nguyên đến thế kỉ thứ 4 trước công nguyên thì hoàn thành, tức hoàn toàn trùng khớp với thời gian ra đời của Phật” Đồng thời, “những tác phẩm thi ca truyền khẩu cũng

ra đời, như Trường ca Ramayana, Mahabrahata” hình thành từ 300 năm trước công nguyên, đến 200 năm công nguyên thì hoàn chỉnh, “những thi phẩm kể chuyện lịch sử, cổ tích, thần thoại” (gọi chung là Purana) cũng bắt

đầu ra đời từ những 500 năm trước công nguyên [Thích Phước Năng, Sự hình thành tư tưởng duy thức, www.buddhismtoday.com.]

Con người không thể loại bỏ khỏi tâm trí những ngôn từ thô tục nói về thân thể Người ta luôn cảm thấy không thoải mái hoặc khó chịu khi nghe hoặc đề cập đến các chức năng của cơ thể Và thế là mỗi ngôn ngữ lại phát minh ra những uyển ngữ để nói về những chủ đề nhạy cảm đó Khi một từ trở nên có liên hệ gần gũi với một chức năng thân thể nhất định, gợi nhớ đến cái không được gợi lên, nó sẽ bắt đầu thâm nhập vào vương quốc của điều kiêng kỵ và phải được thay thế bởi một uyển ngữ mới:

Go to bed with = ăn ở / lên giường /ngủ / quan hệ / ăn nằm / làm tình / qua đêm với ai

Trang 22

Ngoài ra, sự chấp nhận rộng rãi trong những năm gần đây về những thuật ngữ

được đặt tên theo lối nói trại là political correctness [tạm dịch: chính xác theo kiểu chính trị] đã chứng minh cho việc tạo ra nhiều uyển ngữ Tương tự, nhiều

lĩnh vực nghề nghiệp như chính trị, công việc xã hội, điều dưỡng, và y học cũng xuất hiện nhiều thuật ngữ mới nhằm che dấu hoặc thay đổi nghĩa của những thuật ngữ mà chúng thay thế Chẳng hạn, mặc dù bị buộc phải từ chức,

nhưng đài truyền hình Myanmar thông báo rằng ông Khin Nyunt được phép nghỉ hưu vì lý do sức khỏe, đây là uyển ngữ được dùng cho tất cả sự ra đi

của các thành viên nội các

Kho tàng tục ngữ của ta có rất nhiều câu nói về kinh nghiệm nói, viết:

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Ăn có nhai, nói có nghĩ

Bút sa gà chết

Trải qua quá trình lựa chọn, cải biên và vận dụng ngôn ngữ kéo dài hàng ngàn năm, các kinh nghiệm đó sẽ giúp cho con người sản sinh ra lời văn hay hơn, đẹp hơn Chính vì thế mà từ quy luật lựa chọn này đã hình thành một số biểu thức biểu đạt mới với những tên gọi khinh từ, nhã ngữ, nhã dụ, nói trại, uyển cú, uyển từ, uyển ngữ

Một trong những nguyên nhân đầu tiên làm biến đổi từ vựng trong ngôn ngữ và qua đó đã hình thành các uyển ngữ là hiện tượng rơi rụng bớt từ ngữ

Nguyên nhân làm cho một từ rơi rụng đi, có thể trong ngôn ngữ; nhưng cũng có thể là những nguyên nhân ngoài ngôn ngữ Nguyên nhân trong ngôn ngữ cơ bản là do sự tranh chấp về giá trị và vị trí sử dụng.12

12 Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến [1997: 204-207]

Trang 23

Các từ ngữ mới thường xuất hiện để bù đắp sự thiếu hụt, chưa phù hợp, chưa thoả mãn với nhu cầu định danh các sự vật, hiện tượng trong đời sống và trong thế giới loài người Đôi khi, chúng cũng xuất hiện một phần bởi mốt trong cách định danh, muốn dành cho sự vật một tên gọi mới hơn

dù nó đã có tên gọi rồi Chính vì lẽ này mà uyển ngữ có cơ hội phát triển mạnh mẽ Con đường đầu tiên và quan trọng hơn cả trong quá trình biến đổi bề mặt từ vựng nói chung hay hình thành uyển ngữ nói riêng là dùng những yếu tố, những chất liệu và quy tắc sẵn có trong ngôn ngữ dân tộc

"của mình" để cấu tạo từ mới

Một nguyên nhân trong ngôn ngữ nữa là sự rút gọn từ Nếu một từ nào đó lại có dạng rút gọn của mình thì thông thường, dạng nguyên ban đầu dần dần nhường chỗ cho dạng rút gọn Điều này được định luật Zipf ủng hộ Zipf đã chứng minh rằng trong ngôn ngữ, những từ thông dụng thường có

xu hướng ngắn hơn những từ không thông dụng

Trong luận văn này chúng tôi đề cập đến phương thức tạo uyển ngữ xuất phát từ hai góc độ: ngữ âm học và ngữ nghĩa học

1.3.1 Phương thức ngữ âm học (Phonetics)

1.3.1.1 Cấu tạo lại (Remodellings):

Thay thế một phần của từ (part of the word is replaced):

1.3.1.2 Cắt xén và viết tắt (Clippings and abbreviations)

Cắt bỏ một phần của từ [part of the word is removed]:

Bloody là từ kiêng kỵ (tôn giáo) vì nó vẫn được dùng để chỉ máu của Chúa

Giê-su Trước đây, thời kì trùng hưng [Restoration] thì dùng bình thường Nay chỉ

Trang 24

còn tầng lớp hạ lưu mới dùng Để tránh, người ta phải dùng lối viết tắt khi in:

“b…y”

- Bra = brassiere = cái yếm = cái nịt vú = áo ngực = phụ tùng

- B.O = body odor = mùi mồ hôi

- WC = water-closet = nhà vệ sinh

1.3.1.3 Đọc chệch âm khi kị húy, như việc tránh dùng tên của vua chúa và

hoàng tộc, thời Chúa Nguyễn:

1.3.2 Phương thức ngữ nghĩa (Semantic hoặc Meaning)

1.3.2.1 Ẩn dụ (Metaphor) là một phương thức chuyển tên gọi dựa trên sự liên

tưởng, so sánh những mặt, thuộc tính, giống nhau giữa các đối tượng được gọi tên13:

- Pass on = qua đời

- Menstruation = tới tháng / tới kỳ / có kinh / thấy kinh / kinh nguyệt

- The cavalry's come = kỵ binh đang đến

- Go down memory lane = suy nghĩ về quá khứ

Ngoài ẩn dụ, còn có ẩn dụ tri nhận.14

1.3.2.2 Hoán dụ (Metonymy) là một phương thức chuyển tên gọi dựa trên mối

liên hệ logic giữa các đối tượng được gọi tên:

- Washington = White House = The United States Government = Chính quyền (phủ) Mỹ

13 Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến [1997: 204-207]

14 Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận, NXB Khoa học Xã hội

Trang 25

- Ladies room, Powder room, Women’s toilet / Men's room; Men's toilet =

Ladies / Gents = Phòng vệ sinh nữ / Phòng vệ sinh nam

1.3.2.3 Nói vòng (Circumlocution): cũng thường bao gồm cả nghĩa ẩn dụ và

hoán dụ

- Nhiều ví dụ được tìm thấy trong tiếng Anh thể hiện lối nói vòng này:

Terminological inaccuracy [lie] = diễn đạt không chính xác [nói láo, nói dối]; Little girls' room [toilet] = ngôi nhà nhỏ [nhà cầu]

- Nhiều tên gọi trong tiếng Nhật được dùng theo cách mà mỗi miền Triều Tiên

trình dạy tiếng Triều Tiên thì ngôn ngữ này được gọi là Hangulgo, có nghĩa là ngôn ngữ của hệ chữ viết Hangul Cách gọi này không được dùng trong tiếng Nhật Bản thông thường, mà chỉ cách gọi thỏa hiệp cốt làm vừa lòng cả hai miền Triều Tiên theo kiểu uyển ngữ có tên là Kotobagari

- Hiện tượng tương tự được quan sát trong tiếng việt: người Việt Nam chúng

ta cũng gọi Nam Triều Tiên là Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên là Triều Tiên

1.3.2.4 Lời nói ngoa dụ (Hyperbole) là lối nói cường điệu, phóng đại: Flight to

glory [Lên thiên đường] = death [cái chết]

1.3.2.5 Nói giảm đi là phương thức diễn đạt tế nhị trong hoàn cảnh giao tiếp mà

người nói không tiện nói ra vì e ngại gây nặng nề hoặc xúc phạm đến

người nghe: Sleep [Ngủ] = die [chết]

1.4 Phân loại uyển ngữ

Chúng tôi xếp uyển ngữ thành hai loại:

1.4.1 Uyển ngữ tích cực: Phương thức sử dụng từ ngữ một cách khéo léo, linh

hoạt làm cho người nghe thích thú hoặc thoải mái mà không bị mất lòng

Trang 26

- Mal de mer (tiếng Pháp) = seasickness (tiếng Anh) = say sóng15

- Faux (fake), hoặc faux pas (tiếng Pháp) = foolish error (tiếng Anh) = sai

lầm ngu xuẩn

1.4.2 Uyển ngữ tiêu cực: Lối nói gián tiếp thay thế cách nói trực tiếp có thể làm

người nghe không vui hoặc cách nói thiếu sự tôn kính đối với người nghe

được thể hiện dưới hai hình thức:

1.4.2.1 Dùng tiếng nước ngoài cho đỡ tục:

từ kiêng kỵ (tiếng Việt) uyển ngữ (tiếng nước ngoài)

Arssnus (Latinh)

đi đái tiểu tiện (Hán Việt)

piss (Anh) Micturition (Latinh)

1.4.2.2 Nói tắt, viết tắt

từ kiêng kỵ (tiếng Việt) uyển ngữ nói tắt, viết tắt (tiếng nước ngoài)

kém thông minh [không bình thường] e.s.n (educationally subnormal)

1.5 Chức năng của uyển ngữ

Qua khảo sát uyển ngữ nói chung, uyển ngữ tiếng Việt (được trình bày trong chương 2) và đặc biệt là qua khảo sát gần 1.300 uyển ngữ diễn đạt tình trạng chết (được trình bày trong chương 3) chúng tôi nhận thấy rằng trong giao tiếp hàng ngày của chúng ta, hiểu lầm, mâu thuẫn có thể phát sinh do việc sử dụng ngôn ngữ không thích hợp Uyển ngữ giữ một vai trò

15 : Nên cười ra sản phẩm, nghĩa là ói

Trang 27

quan trọng trong việc bôi trơn quá trình giao tiếp cũng như duy trì mối quan

hệ tốt giữa các cá nhân với nhau Có thể nói rằng uyển ngữ giữ một chức năng tích cực trong giao tiếp Uyển ngữ có thể sử dụng để tránh những điều cấm kỵ, bày tỏ sự lịch sự hoặc cũng có thể tận dụng để che đậy điều gì

đó không tốt nếu nói thẳng ra Do đó, ta có thể khẳng định uyển ngữ có chức năng bảo vệ chủ thể phát ngôn bao gồm cả người nói (speaker) và người nghe (hearer) nhằm tránh sự tổn thương hoặc xúc phạm Sự xúc phạm có thể xảy ra khi đề cập đến một đề tài kiêng kỵ chẳng hạn như tôn giáo, chính trị, tình cảm, giới tính hoặc cái chết Bằng cách đề cập đến chủ

đề mà một bên liên quan có thể bị tổn thương như những vấn đề chính trị hoặc xã hội Để quá trình giao tiếp diễn ra trôi chảy và không có xung đột, quá trình điều chỉnh phải diễn ra liên tục và tận trong tiềm thức Việc thể hiện thay đổi theo tình huống mà người nói ngụ ý qua uyển ngữ và người nghe hiểu được

1.6 Đặc điểm của uyển ngữ

Uyển ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến cũng như hiện tượng văn hóa được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hằng ngày của con người

góc độ tu từ học, góc độ sử dụng thực tế và góc độ ngôn ngữ xã hội học và qua đó mà xác định các đặc điểm của uyển ngữ với tư cách là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến, một hiện tượng văn hóa được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hằng ngày của con người

Với tư cách là một hiện tượng ngôn ngữ, theo chúng tôi, uyển ngữ có ba

đặc trưng: thay đổi theo thời gian, theo bối cảnh và theo khu vực địa lý

16 Allan, K & K (1991), Euphemism and Dysphemism, Oxford: Oxford University Press; Ayto, J (1993),

Euphemisms, London: Bloomsbury Publishing Limited; Lawrence, Jeremy (1973), Unmentionable and Other Euphemisms, London: Gentry Books; Leech, N (1983), Principles of Pragmatics[M], New York:

Longman Group Limited

Trang 28

1.6.1 Đặc trưng thay đổi theo thời gian

Đặc trưng thay đổi theo thời gian của uyển ngữ được thể hiện dưới hai hình thức Chúng tôi tạm gọi là thay đổi theo đồng đại và thay đổi theo lịch đại

1.6.1.1 Thay đổi theo đồng đại

Sự thay đổi rõ ràng nhất trong ngôn ngữ được chứng minh bằng từ vựng Từ ngữ của một ngôn ngữ thay đổi về ngữ nghĩa nhiều hơn là về mặt hình thức Uyển ngữ được xem là một phần của ngôn ngữ không ngừng thay đổi Theo Hugh Rawson [1995], việc thường xuyên dao động của uyển ngữ bị chi phối một cách mạnh mẽ bằng hai quy luật cơ bản: Quy luật ngôn ngữ của

nguồn từ lý thuyết về tiền tệ được tóm tắt là bad money drives out good [những đồng tiền bất lương loại những đồng tiền trong sạch] Trong lĩnh vực ngôn ngữ,

lý thuyết này liên quan đến nghĩa bad hoặc sự liên kết của các từ có khuynh

hướng loại nghĩa tốt ra khỏi sự lưu thông

Hãy chọn intercourse làm ví dụ Thuật ngữ intercourse nghĩa nguyên thủy không ngoài nghĩa như dealings between people hay communication [việc giao thiệp giữa mọi người] Tuy nhiên, vào thế kỷ XX, cụm từ vòng vo sexual intercourse đã xuất hiện như một cách nói hết sức tế nhị về việc sinh hoạt tình

dục Giờ đây khi cách dùng ngắn gọn là intercourse được hiểu với nghĩa tình dục đã trở nên phổ biến và được sử dụng nhiều đến nỗi hễ nghĩ đến tình dục

là người ta lại liên tưởng ngay đến từ intercourse

Hệ quả không thể tránh được của Quy luật Ngôn ngữ của Gresham là quy luật của sự nối tiếp: khi một uyển ngữ đã được sử dụng khá phổ biến, nhất là với nghĩa không tốt, thì người ta bắt đầu tránh dùng nó và hình thành một uyển

17 Thomas Gresham; 1519 - 79), nhà tài chính học người Anh dưới thời Elizabeth Ông là người góp phần vào việc khôi phục nền tiền tệ của nước Anh và sáng lập Sở giao dịch Luân Đôn (Sở hối đoái Hoàng gia

- 1571) Trong tác phẩm "Điều tra về vụ suy sụp chế độ hối đoái" (1558), ông đã nêu lên quy luật sau:

"đồng tiền xấu xua đuổi đồng tiền tốt", nghĩa là khi trong nước có hai đồng tiền kim loại cùng lưu thông thì đồng tiền có giá trị thực (giá trị nội tại) thấp hơn (tức là đồng tiền xấu) sẽ tồn tại trong lưu thông; còn đồng tiền có giá trị thực cao hơn (tức là đồng tiền tốt) sẽ bị rút khỏi lưu thông và đi vào cất trữ

Trang 29

ngữ mới để thay thế Theo trình tự thời gian, nếu từ thứ hai trở nên suy đồi thì một từ thứ ba lại xuất hiện Và theo cách này sẽ xuất hiện hàng chuỗi uyển

ngữ và do đó uyển ngữ ngày càng phát triển: các nước kém phát triển [underdeveloped countries], các nước đang phát triển [developing countries], các nước đang nổi lên [emerging countries] đều được sử dụng rất nhiều để

ám chỉ các quốc gia nghèo và lạc hậu [poor and backward nations]

1.6.1.2 Thay đổi theo lịch đại

Ngôn ngữ học lịch đại nghiên cứu những mối quan hệ không phải giữa những yếu tố cùng tồn tại của một trạng thái ngôn ngữ mà là giữa những yếu tố kế tiếp, thay thế nhau trong thời gian Ngữ âm học lịch sử và toàn bộ ngành ngữ

âm học là đối tượng thứ nhất của ngôn ngữ học lịch đại Nhưng không chỉ có ngữ âm mới thay đổi qua thời gian, mà các phạm trù ngữ pháp cũng biến hóa

và đặc biệt từ ngữ cũng thay đổi ý nghĩa

Đặc trưng uyển ngữ chuyển hóa khi thời gian tiếp tục trôi qua Sự thay đổi của uyển ngữ phản ánh xã hội và nền kinh tế phát triển Khi xã hội phát triển, những từ ngữ nói trại trở nên lỗi thời, và những cụm từ mới sẽ xuất hiện để thay thế chúng

Chẳng hạn, có hai uyển ngữ khác nhau được tạo ra qua phương thức lấy địa điểm xảy ra hành động thay cho hành động (xem Sơ đồ 1 minh họa cho về

quá trình thay đổi của một uyển ngữ theo lịch đại để chỉ việc bài tiết ở các giai

đoạn khác nhau theo Phương thức lấy địa điểm thay cho hành động) Vào

những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước và những năm sau khi thống nhất nước nhà, khi nói đến việc đi bài tiết, người dân Nam Bộ thường dùng uyển

có nuôi cá giồ hoặc cá tra để lấy thức ăn cho cá Nhưng từ khi mở cửa thị trường, nền kinh tế phát triển, việc vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, đặc biệt là phong trào xây dựng hố xí hai ngăn ngày càng phát triển rộng

18 Huỳnh Công Tín [2007: 278]

Trang 30

rãi đã làm biến mất loại hình cầu tiêu này Vì thế mà khi nói đến việc bài tiết, người ta thường dùng uyển ngữ “đi vệ sinh” Hiện nay, đời sống ngày càng trở nên khá giả, người dân đi du lịch nhiều và đã quen rồi tiến đến sử dụng những

uyển ngữ mà hướng dẫn viên thường sử dụng để ám chỉ việc này như ca hát, yes-ta-lô, …

Sơ đồ 1: Phương thức lấy địa điểm thay cho hành động

Ngồi ngoài trảng cát

1.6.2 Đặc trưng thay đổi theo bối cảnh (tình huống giao tiếp)

Xuất phát từ quan điểm đồng đại, nguồn gốc ảnh hưởng về việc chuyển hóa ngôn ngữ rõ ràng nhất là từ chính người nói Chẳng hạn anh ta là người như thế nào, anh ta có kinh nghiệm gì, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, vóc dáng, … đều là cơ sở để hình thành uyển ngữ Cần thấy, mọi uyển ngữ ban đầu đều bắt nguồn từ việc định danh cụ thể, một hiện tượng, một

sự kiện nào đó, v.v Chính vì thế mà khái niệm từ vựng dùng trong những tình huống cụ thể ở đây bao gồm giới tính, độ tuổi, nhân dạng, địa vị xã hội, trình độ văn hóa, v.v của người nói Bên cạnh đó, bối cảnh mà uyển ngữ được sử dụng là một nhân tố quan trọng để chúng ta xem xét

Trang 31

Ví dụ:

Một người phụ nữ Anh, khi đang may vá mà có ai đó nhắc tới từ prick [bị kim chích] là chuyện bình thường, nhưng gọi một người là prick [thằng ngốc, gã khờ] thì sẽ bị cho là xúc phạm, sỉ nhục

Từ kiêng kỵ (taboo) Uyển ngữ (euphemism)

1.6.2.1 Sự khác nhau giữa giới tính và độ tuổi

Việc nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội cho thấy rằng phụ nữ tài giỏi hơn nam

giới trong việc dùng uyển ngữ và trong mọi trường hợp thì phái yếu thường dùng uyển ngữ nhiều hơn đấng mày râu Những sự khác biệt về giới tính và

tuổi tác thường ảnh hưởng đến cách chọn uyển ngữ của con người: khi đề cập

đến vấn đề bài tiết, đàn ông nói đi vệ sinh, phụ nữ nói đi vào trong một chút hoặc đi đằng này một chút, còn trẻ con thì đòi ngồi bô

kỳ đen tối” còn các bác sĩ lại nói rằng chảy máu sinh lý

Trang 32

Ví dụ 2:

Dog chỉ một người thanh niên, về mặt ngôn ngữ mang nghĩa hài hước hoặc

tích cực:

He is a sly dog [Hắn ta là một tên láu cá.]

Oh! You are a clever dog [Anh là một chàng galăng vui tính.]

Nhưng dùng dog để trỏ nữ giới thì hàm ý một phụ nữ tàn tạ về ngoại hình, suy

đồi về đạo đức

Ví dụ 3:

Dùng pig để nói về nam giới hàm ý chỉ một gã cư xử ngu như lợn; còn để chỉ

nữ giới thì hàm ý một người đàn bà suy đồi về mặt đạo đức

Đây có thể coi là có sự phản biện về giới của uyển ngữ

Tuy nhiên, xét về mặt ngữ âm, có những vỏ vật chất trong ngôn ngữ này có liên hệ đến điều kiêng kỵ, nhưng trong ngôn ngữ khác lại hoàn toàn không có

sự liên hệ này Nhận xét này chỉ có ý nghĩa tương đối, vì về mặt âm thanh hoàn toàn không có sự đồng nhất giữa các ngôn ngữ

dùng hạn chế chỉ trong ngôn ngữ viết chỉ vì nó có vẻ trang trọng quá; còn

bathroom thường được dùng trong văn nói trong khi John là một từ lóng

1.6.3 Đặc trưng thay đổi theo khu vực địa lý

Cũng có thể nhìn nhận một cách hiển nhiên rằng sự thay đổi theo khu vực địa

lý cũng là một hiện tượng đồng đại – một biến thể hệ thống của uyển ngữ Có

Trang 33

thể có những từ ngữ nói trại khác nhau về một sự vật, hiện tượng ở những khu vực địa lý khác nhau thậm chí đối với cả những người cùng nói một ngôn ngữ Chẳng hạn có những từ ngữ có tính chất thành ngữ khác nhau để chỉ một sự

vật giống nhau ở những vùng khác nhau như nói về strike [đình công] thì người Anh nói industrial action, còn người Mỹ lại nói job action

Ngoài ra, các quốc gia và những miền đất khác nhau có môi trường sống và bối cảnh văn hóa xã hội khác nhau ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình thành, thay đổi và phát triển của uyển ngữ

Ví dụ 1: Người Anh thường dùng Broadmoor patient để chỉ tù nhân bị rối loạn tinh thần vì Broadmoor là tên của tổ chức y tế điều trị cho những người tù bị bệnh tâm thần này ở Berkshire, nước Anh Tất nhiên là người Mỹ hiếm khi

dùng uyển ngữ này

Ví dụ 2: Người Mỹ cũng hay dùng to be sent up the river, để ám chỉ to be in prison [ở tù] The river ám chỉ dòng sông Hudson chảy ngang qua thành phố New York Nhà tù nổi tiếng nhất của Mỹ là Sing Sing State Prison nằm ở

thượng nguồn của con sông này Tuy nhiên người Anh hiếm khi dùng uyển ngữ này

Ví dụ 3: ở Việt Nam, ở nhà pha (Nhật ký trong tù - Hồ Chí Minh) hay ngồi bóc/gỡ lịch, vào nhà đá/khách sạn Hilton, … được dùng thay cho ngồi tù

1.7 Sự phát triển của uyển ngữ

1.7.1 Uyển ngữ được hình thành bằng những lời bóng gió, quanh co

Uyển ngữ được hình thành bằng nhiều cách khác nhau như mục (1.3.2) trên đây đã đề cập Lời nói quanh co hay bóng gió (nói vòng) là một trong những cách phổ biến nhất để nói xoay quanh một từ hoặc cụm từ đã có để ngụ ý về ý nghĩa của từ hoặc cụm từ đó mà không cần phải nói thẳng từ hoặc cụm từ đó

ra Theo thời gian, những lời nói bóng gió, quanh co lại được xem như là cách thiết lập uyển ngữ cho các từ/cụm từ với ngụ ý đặc biệt này

Trang 34

Ilegales là danh từ tiếng Tây Ban Nha nghĩa là những người bất hợp pháp, mà hầu như luôn luôn là những người di dân bất hợp pháp

Nhưng rồi định danh như thế có vẻ xúc phạm, và có vẻ miệt thị, nên người ta dùng những uyển ngữ để làm mềm hóa cách thức biểu đạt

Lúc đầu, vì có nhiều người Mexico lội sông Rio Grande sang đất Mỹ, lên đến

bờ, lưng áo còn ướt sũng, nên những người này được tặng cho cái tên nghe

đầy nhục mạ: wet backs [mấy anh lưng áo còn ướt nhẹp, vừa lóp ngóp leo lên bờ]

Nhận thấy cách gọi đó không tiện, người ta dùng chữ noncitizens [không phải công dân] Nhưng từ này lại còn nặng hơn: coi người ta không được bằng công dân hạng nhì, không bằng phó thường dân; và thế là một cách gọi tên mới lại xuất hiện: undocumented persons, [những người không có giấy tờ]

1.7.2 Uyển ngữ và những biến thể

Theo thời gian các uyển ngữ xuất hiện ngày càng nhiều để thay thế cho những

từ xuất hiện trước đó Lịch sử phát triển của gong, một thuật ngữ tiếng Anh chỉ khoảng không gian con người dùng để bài tiết các chất cặn bã trong cơ thể, có thể được dùng để minh họa thêm cho quá trình phát triển của uyển ngữ Gong

có vẻ như trở nên thô thiển và được thay thế bằng một thuật ngữ Latinh là

necessarium Sau đó, không gian đó được gọi là latrine [hố xí], hoặc outhouse [nhà phụ, nhà ngoài], rồi privy [nhà xí, nhà tiêu] Xã hội phát triển, người ta gọi khoảng không gian đó là lavatory, toilet, rest-room, water-closet [nhà vệ sinh]

và cái tên được ẩn đi bằng cách viết tắt WC hoặc người Việt còn nói đi Washington City

Và theo thời gian, còn có hiện tượng uyển ngữ chạy lòng vòng:

Trang 35

Lavotory [từ kiêng kỵ]

Toilet, rest room, conveniences Powder room

Lavotory (lại là uyển ngữ)

Hiện tượng thay đổi trong ngôn ngữ như biến âm của âm vị trong âm tiết có sẵn hay những biến thể từ vựng, các biến thể thành ngữ, … cho phép dùng đơn vị đã có sẵn để tạo ra những đơn vị mới Việc đọc trại từ kiêng kỵ hoặc cách viết một từ bị cấm (như lời chửi thề) tạo thành một uyển ngữ vốn được xem là sự biến thể của một từ cấm kỵ

Quân đội và giới chức trong Hội đồng thành phố ở Mỹ thường là tác giả của một khối lượng lớn uyển ngữ, những cách diễn đạt vòng vo, trung tính và có vẻ

vô hại được dùng trong sự cân nhắc thận trọng để miêu tả những hoạt động có thể bị chê trách

Ví dụ 3:

Pollution [ô nhiễm] có thể được nói một cách đỡ gay gắt hơn là outgassing [khí thải] hoặc runoff [nước thải] Nói thêm về những hoạt động công nghiệp, runoff

Trang 36

có thể liên quan đến nông nghiệp, đặc biệt là pesticides19 [thuốc diệt loài gây hại] Và việc lạm dụng công nghệ cũng như các loại thuốc hóa học này ngày

càng nhiều đã dẫn đến những hậu quả nặng nề đe dọa tính mạng của con người Phân bón, thuốc trừ sâu, khí thải có vẻ là vô hại nếu như dùng đúng cách nhưng trên thực tế thì hoàn toàn không phải vậy Cách dùng từ quanh co

rõ ràng là đã phủ nhận tác hại mà con người và môi trường phải chịu từ việc lạm dụng thuốc này

Tiểu kết

Uyển ngữ phát triển theo sự phát triển của xã hội, vì vậy mà việc ảnh hưởng của xã hội và những nhân tố văn hóa đóng một vai trò chủ đạo trong việc sử dụng uyển ngữ Để thông thạo trong việc chọn lựa uyển ngữ trên cơ sở tình huống và phù hợp với các đặc điểm của uyển ngữ chúng ta phải chú ý đến cách sử dụng gắn liền với từng nền văn hóa, trên cơ sở đó, sẽ thiết lập một nền tảng vững chắc cho giao tiếp xuyên văn hóa

Xã hội càng phát triển, càng văn minh, thì con người càng lựa chọn ngôn ngữ lịch sự để giao tiếp với nhau một cách hiệu quả hơn Do đó mà con người càng ươm mầm cho uyển ngữ phát triển đủ mạnh để diễn đạt tất cả những vấn đề tế nhị như trong cuộc sống, mà vì một lý do nào đó không được phép gọi đích danh

19 : chẳng hạn như herbicides và insecticides

Trang 37

CHƯƠNG II UYỂN NGỮ TIẾNG VIỆT

2.1 Nguồn gốc uyển ngữ tiếng Việt

Sống trong một đất nước mà ngay từ những buổi đầu lập nước và trong suốt cuộc trường chinh lịch sử của dân tộc phải luôn luôn chống chọi lại với các thế lực xâm lược và áp bức, tổ tiên và các thế hệ ông cha của chúng ta vừa phải dùng cung nỏ, gươm đao vừa phải biết dùng sức mạnh của ngôn từ để quật ngã mọi loại kẻ thù và xây dựng đất nước Trong bản anh hùng ca lịch sử hàng ngàn năm ấy, tiếng Việt chắc chắn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, lẽ dĩ nhiên, nhiều khả năng diễn đạt của tiếng Việt đã được khai thác, đúc kết và truyền tụng lại cho đời sau

Nếu như ở phương Tây, từ thuở xưa, các triết gia và các nhà hùng biện cổ đại tìm cách định nghĩa các phép mỹ từ, chỉ ra nguyên tắc cấu tạo chúng, thì ngay

từ thời xa xưa, cha ông của chúng ta đã biết nói theo các khuôn mỹ từ như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, khoa trương, nói giảm, …

Đọc ca dao, tục ngữ Việt Nam, chúng ta luôn bắt gặp những cách so sánh mộc mạc, những hoán dụ sắc nét, những nhân hóa chân tình, những phúng dụ thâm thuý, những khoa trương cực mạnh, những kiểu chơi chữ hóm hỉnh, …

Có thể khẳng định rằng tất cả những phép mỹ từ mà mỹ từ pháp cổ đại đã đúc kết và nâng thành lý thuyết đều có thể tìm thấy những dẫn chứng tiêu biểu trong ca dao, tục ngữ Việt Nam:

a Ca dao

Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

- Buồn trông chênh chếch sao mai,

Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ!

Trang 38

- Chuột chù chê khỉ rằng: hôi!

Khỉ mới trả lời: cả họ mày thơm!

- Trăng bao nhiêu tuổi trăng già

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?

Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi

b Tục ngữ

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

Những người thanh lịch nói ra dịu dàng

Những người thô tục nói điều phàm phu

Cần lưu ý, những ý kiến của Bác Hồ về tiếng Việt cùng với những bài nói, viết mẫu mực của người đã chỉ ra những phương hướng lý thuyết và thực hành cho việc giải quyết nhiều vấn đề của phong cách học tiếng Việt như:

- Các nhân tố chi phối cách nói và viết;

- Mối quan hệ giữa các phong cách chức năng tiếng Việt và tiếng nói quần chúng;

- Cấu tạo một bài nói, bài viết;

- Và bao trùm lên trên cả là việc sử dụng lời ăn tiếng nói của quần chúng, trong đó có uyển ngữ

2.1.1 Uyển ngữ vay mượn

Đối với các từ ngữ vay mượn, mỗi ngôn ngữ đều có cách xử lý khác nhau bên cạnh những đường nét chung Người Việt khi vay mượn từ ngữ và đưa vào sử dụng trong ngôn ngữ của mình, thường có những điều chỉnh cho phù hợp

Trang 39

2.1.1.1 Biến đổi cấu trúc ngữ âm

Thay đổi cấu trúc ngữ âm của từ cho phù hợp với ngữ âm tiếng Việt và đồng thời có thể rút ngắn từ lại Nói chung, từ nào có dị biệt với ngữ âm tiếng Việt cũng được cải tạo ít nhiều:

tiểu tiện (Hán Việt) → tiểu, đi tiểu, đi giải thay cho đi đái (thuần Việt)

2.1.1.2 Biến đổi nghĩa của từ

Vay mượn từ nhưng lại cấp cho nó một nghĩa khác với nghĩa vốn có của nó

Ví dụ 1:

tế được cấp cho nét nghĩa mới là [+tốt bụng] khi du nhập vào tiếng Việt

Ví dụ 2:

Các nghĩa [+lên mặt], [+hợm hĩnh] và [+tỏ thái độ kiêu ngạo] đã được cấp cho hãnh diện và sĩ diện, hai từ gốc Hán với thành tố thứ nhất có ý nghĩa hoàn

toàn khác: hãnh = may mắn; sĩ = học trò; người có học thức

2.1.2 Uyển ngữ thuần Việt

Như đã nói ở trên, uyển ngữ tiếng Việt ngoài việc được hình thành do vay

mượn từ tiếng nước ngoài còn có cách tạo uyển ngữ riêng của nó Uyển ngữ tiếng Việt chính là sự biến dạng về phát âm hoặc cách viết của những từ thuộc lớp từ căn bản, gốc tiếng Việt, được dân tộc Việt sử dụng từ thời thượng cổ đến nay có số lượng lớn và mang tính dân tộc sâu sắc

2.1.2.1 Xuất phát từ xu hướng mở rộng phạm vi ngữ nghĩa để tránh nói

đến việc khó nói hay một sự thật không được mong đợi

Sự nâng cao về ngữ nghĩa được thể hiện bằng việc dùng những từ ngữ kính trọng, cao quý hơn để thay thế cho cách nói dung tục, tầm thường có thể làm

20 (semantic features/semantic properties): những đơn vị nghĩa nhỏ nhất trong lòng một từ

Trang 40

người nghe có cảm giác tự ti hoặc cảm thấy bị xúc phạm, lớp từ này đặc biệt được thể hiện ở những từ ngữ chỉ một số nghề nghiệp đặc thù

Trong quan niệm truyền thống của người Việt, nghề nghiệp vốn có sự phân biệt cao thấp, sang hèn Những người làm công việc lao động tay chân hay mang tính phục vụ cho người khác thường bị xem thường

Để thể hiện sự tế nhị, tránh những cách nói làm cho người khác bị tổn thương, người Việt thường có xu hướng sử dụng những ngôn từ trau chuốt hơn cách

nói bình thường như dùng uyển ngữ người giúp việc để thay thế cho người ở, con ở…; các nhà kinh tế còn dùng sử dụng hợp lý các nguồn nhân lực thay

cho giảm quy mô lực lượng lao động – hay nói thẳng ra là sa thải bớt nhân công

Để tránh phải đề cập trực diện, người nói đã dùng những từ thuần Việt để làm cho cái chết không còn là một nỗi đau quá lớn, mà chỉ như một chuyến đi xa hay là sự giải thoát:

(1) “Sáng ngày 15.1.2008, bạn bè ở Sài Gòn, trong đó có nhà thơ Nguyễn Duy

nhắn tin ông mất, ấy thế rồi đến trưa lại bảo chưa rút ống thở, nghĩa là ông

vẫn còn tồn tại, bất chấp một khái niệm y học nào đó Tôi gọi cho nhà thơ Nguyễn Duy, anh nói, đến chiều vẫn còn đang xét nghiệm, kiểm tra Nhưng

đến 19 giờ 25, ông đã thoát ra khỏi cuộc đời Như một tác phẩm ông viết đầu những năm 1960, lần này ông đi xa mãi chứ không phải "Hãy đi xa hơn

nữa".”21

Và cũng để tự nhiên hóa qui luật của tạo hóa về cái chết, người Việt còn dùng

những uyển từ về với ông bà, mất, ngủ, đi, về, ….:

(2) “Mỗi ngày một chút, bằng chất lượng của từng tấm bánh, bằng những việc làm cụ thể, những tấm bánh đậu xanh mang thương hiệu Tiên Dung đã được đón nhận như món quà của truyền thống hiếu nghĩa, thảo thơm; của

21 Y Trang (16-01-2008), Nguyễn Khải đã đi xa mãi mãi, www.laodong.com.vn

Ngày đăng: 10/08/2021, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm