cấu trúc địa chất, các quá trình địa chất, thuyết địa kiến tạo, cơ sở cổ sinh vật, các mốc chính trong lịch sử phát triển vỏ Trái Đất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên học tiếp
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
DỰ ẤN ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN THCS
LOAN No 1718 - VIE (SF) PHUNG NGOC DINH - LUONG HONG HUGG
DIA CHẤT ĐẠI CƯƠNG
Trang 2a7
Cee PHUNG NGỌC ĐĨNH - LƯƠNG HONG HƯỢC
Cáo trình
ĐỊA CHẤT ĐẠICƯƠNG
VA DIA CHAT LICH SU
(Giáo trình Cao đẳng Sư phạm)
[Dal AL HOC a DUC
(TRINGTảM (.THÔNGTIN THƯVIỆN
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Giáo trình Địa chát đại cương và Địa chát lịch sử là hai học phần
cơ sở giảng dạy cho sinh viên địa lí các trường Cao đẳng Sư phạm
Giáo trình cung cấp những kiến thức cơ bản về cấu tạo Trái Đất,
khoáng vật và đá cấu trúc địa chất, các quá trình địa chất, thuyết địa kiến tạo, cơ sở cổ sinh vật, các mốc chính trong lịch sử phát triển vỏ Trái Đất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên học tiếp các học
phần khác của khoa học Địa lí Cấu trúc giáo trình gồm hai phần chính:
Phần A: Địa chát dại cương do Phùng Ngọc Đĩnh biên soạn
Phần B: Địa chất lịch sử do Lương Hồng Hược biên soạn
Trong mỗi phần ngoài những kiến thức cơ bản còn có các câu hỏi
ôn tập, bài tập thực hành trên lớp nhằm củng cố và mở rộng kiến thức
Để phục vụ cho hai chương trình đào tạo giáo viên THCS, chúng tôi dành một chương để trình bày những nội dung về giảng dạy cho mỗi chương trình và vận dụng kiến thức trong giáo trình để giảng dạy
ở nhà trường phổ thông
Giáo trình được biên soạn trên cơ sở giáo trình Địa chát đại cương
và Địa chất lịch sử trước đây, có tham khảo giáo trình của trường Đại học Sư phạm và các trường đại học chuyên ngành khác nhằm đảm
bảo chất lượng và cập nhật những kiến thức mới về địa chất hiện nay
Mặc dù đã có cố gắng rất nhiều song chắc chắn còn nhiều khiếm
khuyết Chúng tôi mong được sự góp ý của các nhà nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp và các bạn sinh viên khi sử dụng giáo trình
Cuối cùng chúng tôi xin chân thành cảm ơn GS TSKH Tống Duy
Thanh khoa Địa chất Đại học Khoa học Tự nhiên — Đại học Quốc gia Hà Nội,
TS Hà Văn Hải khoa Địa chất trường Đại học Mỏ — Địa chất đã dành thời gian đọc và góp nhiều ý kiến quý báu
Trang 4Chúng tôi chân thành cảm ơn GS TS Nguyễn Viết Thịnh Chủ
nhiệm khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Dự án đào tạo
giáo viên THCS đã động viên và tạo điểu kiện để cuốn giáo trình này
đến với các bạn
Đại học Sư phạm Hà Nội Hè 2003
Những người biên soạn
Trang 5MỤC LỤC
Lời mở đầu
Mục lục
Phần A: Địa chát đại cương
Chương I Tổng quan về Địa chất học, cấu tạo và các tính chát vật li,
hoá học của Trái Đất
§1 Tổng quan về Địa chất học
1.1 Đối tượng và nhiệm vụ của Địa chất học
1.2 Các phương pháp nghiên cứu Trái Đất
1.3 Vai trò của Địa chất học
§2 Cấu tạo, các tính chất vật lí — hoá học của Trái Đất
2.1 Các phương pháp nghiên cứu cấu tạo Trái Đất
2.2 Cấu tạo và các trạng thái vật chất bên trong Trái Đất
2.3 Các tính chất vật lí của Trái Đất
2.4 Thành phần hoá học của vỏ Trái Đất
Chương II Đại cương về khoáng vật và đá
Trang 6Chương III Khái niệm cơ bản về địa chất cấu trúc
2.2 Các yếu tố của nếp uốn
2.3 Phân loại nếp uốn
§3 Vứt nẻ và đứt gãy
3.1 Nứt nẻ
3.2 Đứt gãy
Chương IV Các quá trình địa chất
§1 Các quá trình địa chất của macma
1.1 Khái quát về macma
1.2 Các quá trình địa chất macma
§2 Động đất
2.1 Khái niệm và phân loại
2.2 Sự đi chuyển và phân bố cường độ sóng chấn động,
2.3 Phương pháp nghiên cứu cường độ chấn động -
2.4 Phân bố động đất trên thế giới và Việt Nam
§3 Chuyển động kiến tạo
3.1 Chuyển động kiến tạo
3.2 Phân loại chuyển động kiến tạo và phương pháp nghiên cứu
§4 Các quá trình địa chất có nguồn gốc khí quyển
4.1 Quá trình phong hoá
4.2 Các quá trình địa chất của gió
§5 Các quá trình địa chát của nước
5.1 Các quá trình địa chất của nước chảy trên mặt dat
5.2 Các quá trình địa chất của nước dưới bề mặt đất
Trang 7§6 Các quá trình địa chất của biến và đại dương 81
6:1 Dia hinh day bién va dai duong ` : 81
6.2 Các quá trình địa chất của biển và đại dương 82
§7 Các quá trình địa chất của hồ và đầm lay 86 7.1 Hồ và các quá trình địa chất của hồ 86 7.2 Đảm lay và các quá trình địa chất của đầm lầy 87
§8 Các quá trình địa chát của băng ha 88
§.1 Khái niệm về băng và phân loại 88 8.2 Các quá trình địa chất của băng hà 89 8.3 Cac nguyên nhân gây nên hiện tượng bang ha 90
§9 Các quá trình địa chát của sinh vát 91 9.1 Quá trình địa chất của giới thực vật 9J 9.2 Quá trình địa chất của giới động vật 92 9.3 Quá trình địa chất do loài người , 93
Chương V Các thuyết địa kiến tạo chính, quan điểm phán chia những — 97
đơn vị kiến trúc chính của vở Trái Đát
§1 Các thuyết địa kiến tạo 97
§2 Quan điểm phan chia các đơn vi kién trúc chính của vỏ Trái Đất 104
2.1 Phân chia theo quan điểm thuyết Địa máng 104 2.2 Phân chia cấu trúc vỏ Trái Đất theo quan điểm thuyết Kiến tạo mảng — 106
Phần Thực hành 109
Bai 1: Lam quen một số khoáng vật chính 109 Bai 2: Lam quen với một số mẫu đá chính 123
Bai 3: Do thé nam bang dia ban dia chat 132
Bài 4: Vẽ mặt cắt địa chất đơn giản 135
Trang 8Phần B: Địa chất lịch sử
Chương VỊ Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của Địa chất
lịch sử Địa niên biểu và đại cương về cổ sinh vật
§1 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của Dia chat
lịch sử
§2 Phan chia địa tầng và Địa niên biểu
§3 Đại cương về cổ sinh vật
Chương VII Các giai đoạn phát triển địa chất của vỏ Trái Dat
§1 Liên dai Kriptozoi
§2 Liên đại Phanerozoi
Phần Thực hành
Chương VIII Lí luận giảng dạy giáo trình Địa chất đại cương và Địa chát
lịch sử
§1 Lí luận giảng dạy cho phần Địa chất đại cương
§2 Lí luận giảng dạy phần Địa chát lịch sử
Tài liệu tham khảo chính
Trang 9Phén A: DIG CHấT Đại CƯƠNG
Chương I'
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA CHẤT HỌC, CẤU TẠO
VÀ CÁC TÍNH CHẤT VẬT LÍ, HOÁ HỌC CỦA TRÁI ĐẤT
§1 TONG QUAN VE DIA CHAT HOC
1.1 Đối tượng và nhiệm vụ của Địa chất học
Trái Đất được hình thành từ bao giờ và như thế nào các đặc điểm vật chất cấu tao nén Trái Đất, các hiện tượng diễn ra bên trong hoặc trên bể mặt Trái Đất, là
những điều đã được loài người tìm hiểu qua rất nhiều thế hệ Trước thế kí XIX khi
khoa học Địa chất còn phôi thai những vấn đề trên chủ yếu được các nhà triết học như Kant, Laplace ; các nhà tự nhiên học Buffon, Layen Dolo nghiên cứu và đưa
ra các giả thuyết, những nguyên lí đặt nền móng cho sự phát triển trong các thế kỉ sau Ngày nay, Địa chất học đã trở thành một khoa học trong hệ thống nhiều khoa học khác nhau nghiên cứu về Trái Đất
a) Đối tượng nghiên cứu chính của Địa chất học
~ Cấu tạo và trang thái vật chất, các tính chất vật lí và hoá học của Trái Đất
— Cac khoáng vật các đá cấu tạo nên vỏ Trái Đất
~ Các hiện tượng, các quá trình địa chất diễn ra bên trong và trên bẻ mặt Trái Đất
~ Thế giới hữu cơ đã tồn tại trong suốt quá trình phát triển của vỏ Trái Đất b) Nhiệm vụ của Địa chát học
— Thu thập các mẫu vật, số liệu, các diễn biến của các quá trình địa chất ở
nhiều nơi, phân tích tổng hợp so sánh, rút ra kết luận
+ Làm sáng tỏ quy luật phát sinh, phát triển và biến đổi các đối tượng trên
trong quá khứ, hiện tại và dự đoán tương lai.
Trang 10
+ Lầm sáng tỏ mối quan hệ giữa các đối tượng trên trong quá khứ hiện tại và
dự đoán tương lai
— Tìm ra những mặt có lợi của các đối tượng trên nhằm phục vụ đời sống đồng thời phát hiện những mặt có hại để có biện pháp khắc phục
1.2 Các phương pháp nghiên cứu của Dia chat hoc Trái Đất là một thể địa chất phức tạp, sự phức tạp không chỉ do vật chất cấu tạo nên mà còn bởi sự chỉ phối của các nhân tố có nguồn gốc Vũ Trụ Muốn nghiên cứu
Trái Đất, các nhà địa chất phải kế thừa thành tựu của các ngành khoa học khác như:
Thiên văn học Toán học, Vật lí học, Sinh vật học, Hoá học, v.v
Có nhiều phương pháp nghiên cứu Địa chất học song có thể tập hợp thành ba nhóm
phương pháp lớn:
a) Nhóm phương pháp nghiên cứu trực tiếp
Gồm các phương pháp quan :
mô tả, ghỉ chép thông qua thú thập các mẫu
vật (đá, khoáng vật cố sinh vật), các số liệu đo đạc ở các tuyến khảo sát các 16 khoan, các khu vực khai thác mỏ Tập hợp các tài liệu ở nhiều nơi nhiều vùng trên
Trái Đất để so sánh tổng hợp và rút ra nhận xét, kết luận
b) Nhóm phương pháp thí nghiệm Được tiến hành trong phòng thí nghiệm nhằm kiểm chứng những vấn dẻ lí thuyết Các quá trình lí hoá diễn ra trên bể mặt và bên trong Trái Đất rất phức tạp phân bố trên diện rộng và Kéo dài hàng triệu năm hoặc hơn nữa Vì vậy không thể làm những thí nghiệm vẻ các quá trình tạo núi hoặc về quá trình nóng chảy các đá bén trong Trái Đất Các nhà khoa học chỉ có thể tiến hành một số thực nghiệm mang tính mô hình để tìm hiểu một vài khía cạnh của những hiện
tượng sự kiện trên qua các phương pháp nghiên cứu của Vật lí học Hoá học
Sinh học.v.v `
©) Nhóm phương pháp xảy dựng các học thuyết khoa học Dựa trên các dữ liệu thu thập của các khoa học nghiên cứu về Trái Đất và các thành tựu của nhiều khoa học khác (Toán học Vật lí học, Hoá học, Thiên văn hoc)
để
xây dựng các học thuyết khoa học Những học thuyết này nhằm lí giải những
đối tượng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu các đối tượng đó Hiện nay Địa chất học có bốn hướng nghiẻn cứu chính:
— Nghiên cứu thành phần vật chất và cấu tạo của Trái Đất Thuộc hướng này
có các bộ môn: Tỉnh thể học, Khoáng vật học, Thạch học Địa hoá học
Trang 11
— Nghiên cứu các quá trình địa chất Thuộc hướng này có các khoa học bộ phận:
Kiến tạo học Hoả sơn học Địa chấn học, Địa mạo học
— Nghiên cứu lịch sử phát triển của vỏ Trái Đất Thuộc hướng này có các khoa học
bộ phận: Địa tầng học, Thạch học trầm tích Cổ địa lí, Cổ từ học Địa chất
lịch sử, Cổ sinh vật học
— Nghiên cứu ứng dụng Thuộc hướng này có các khoa học bộ phận: Địa chất
khoáng sản, Tìm kiếm thăm dò Địa vật lí, Địa chất công trình Dia chất
thuỷ văn
Địa chất đại cương Địa chất lịch sử là những môn học của khoa học Địa chất
Địa chất dại cương là môn học mở đầu về khoa học Địa chất nhằm cung cấp
những kiến thức cơ bản về cấu tạo khoáng vật đá và các quá trình địa chất
dang diễn ra hiện nay của Trái Đất Địa chất lịch sử cung cấp những Kiến thức
chung về quá trình phát triển của vỏ Trái Đất cùng với các điều kiện tự nhiên
trong thời gian quá khứ Những kiến thức này là cơ sở để đi sâu vào các môn
học khác của khoa học Địa chất cũng như nhiều khoa học khác trong đó có
khoa học Địa lí
1.3 Vai trò của Địa chát học
Địa chất học có vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế và quốc phòng của
mỗi quốc gia Vai trò hàng đầu của nó là tìm kiếm khoáng sản thông qua việc
thành lập những ban đồ địa chất phục vụ cho các ngành kinh tế trong hiện tại và
tương lai
Các bản đồ địa chất còn là cơ sở để nghiên cứu địa chất công trình địa chất
thuỷ văn, thổ nhưỡng phục vụ cho các ngành giao thông vận tải, xây dựng
nông nghiệp Ngoài ra còn nhằm phát hiện những quy luật phát sinh phát triển
của các quá trình địa chất để dự báo các tai biến địa chất như: sụt lở động đất
núi lửa
Cùng với vai trò thực tiễn trên, Địa chất học còn giúp chúng ta nhận thức
về thiên nhiên một cách tổng hợp Sự phát sinh, phát triển và biến đổi của các
đối tượng trong thiên nhiên đều ràng buộc lẫn nhau trong một thể thống nhất,
không chỉ trong một khu vực hoặc toàn bộ Trái Đất mà còn bị chỉ phối bởi các
nhân tố vũ trụ
l1
Trang 12Hiểu được vấn đẻ này sẽ giúp cho mỗi người có những suy nghĩ dúng dắn
về các hiện tượng điễn ra trong thiên nhiên vào thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai Chỉ có như vậy mới có những hướng khai thác tối ưu, cũng như bảo vệ
Trái Đất — nơi mà loài người sinh sống
§2 CẤU TẠO, CÁC TÍNH CHẤT VẬT LÍ ~ HOÁ HỌC CỦA TRÁI ĐẤT
2.1 Các phương pháp nghiên cứu cấu tạo Trái Đất
Trái Đất là một thể vật chất vô cùng lớn, có cấu tạo vật chất và các đặc điểm lí — hoá rất phức tạp Với những nghiên cứu trực tiếp qua các mặt cắt dọc theo các sông
suối, các con đường mới mở ở miền núi, các lò, giếng khai thác mỏ, các lỗ khoan
sâu đạt trên 10km thì sự hiểu biết về Trái Đất không vượt quá 0,1% toàn bộ thể tích
của nó Vì vậy con người phải thông qua các phương pháp nghiên cứu gián tiếp để
suy đoán cấu tạo cũng như các tính chất khác của Trái Đất
Sau đây là một số phương pháp thường được sử dụng trong nghiên cứu cấu tạo Trái Đất:
Hình 1.1 Sơ đồ truyền sóng chấn động bên trong Trái Dat (km/h)
1 Sóng doc (V,) : 2 Song ngang (V,)
12
Trang 13Phương pháp này dựa trên cơ sở nghiên cứu sự thay đổi tốc độ truyền sóng
chấn động (dọc và ngang) qua các trận động đất, các vụ nổ nhân tạo, khi di chuyển qua
các lớp vật chất bên trong Trái Đất để từ đó nội suy về cấu tạo và trạng thái vật chất
Khi có chấn động sẽ phát sinh sóng chấn động dọc và sóng chấn động ngang
Sóng chấn động đọc lan truyền trong mọi môi trường: khí, lỏng, rắn Sóng chấn
động ngang chỉ di chuyển trong môi trường rắn Ngay trong một môi trường, nếu có
nhiều lớp vật chất có thành phần và tính chất vật lí khác nhau thì tốc độ lan truyền
trong mỗi lớp cũng khác nhau Từ đó người ta có thể suy ra trạng thái và thành
phần vật chất, độ dày của mỗi lớp Bằng phương pháp tổng hợp số liệu thu thập tại
nhiều địa điểm, qua nhiều nám, người ta nhận thấy rằng: tốc độ lan truyền của hai
sóng chấn động dọc và ngang có bước nhảy lần thứ nhất ở độ sâu trung bình
40km, lần thứ hai ở độ sâu 900km, lần thứ ba ở độ sâu 2900km (Hình 1.1) Từ độ
sâu 2900km tiếp tục vào sâu hơn nữa, tốc độ truyền sóng chấn động dọc giảm từ
13km/s xuống 7,9km/s và sau đó tăng lên rất chậm vào trung tâm Riêng sóng
chấn động ngang không di chuyển tiếp mà bị phản xạ hoàn toàn Như vậy là có ba
lần thay đổi tốc độ truyền sóng chấn động lớn tạo nên ba mật ranh giới
Ranh giới đầu được A Môhônôvixic — nhà Địa vật lí người Nam Tư (cũ) phát
hiện năm 1910 và gọi là mặt Móhô
b) Phương pháp trọng lực
Cơ sở của phương pháp này là dựa trên sự khác biệt giữa trị số đo trọng lực tại
điểm nghiên cứu với trị số tính toán theo lí thuyết Nơi khác biệt ấy được gọi là
dị thường trọng lực Dị thường đương thường phân bố ở vùng núi hoặc nơi vật chất :
có cấu tạo chặt xít Dị thường âm thường phân bố ở vùng đại dương hoặc nơi vật chất
có cấu tạo kém chặt xít hơn Phương pháp này cho phép xác định tỉ trọng vật chất
trong mỗi lớp bên trong Trái Đất
c) Phương pháp từ trường
Cơ sở của phương pháp này cũng tương tự như phương pháp trọng lực Sự khác biệt
trị số đo và trị số tính toán được gọi là đƒ :hường rừ DỊ thường từ có thể do khả
năng nhiễm từ khác nhau của đá ở từng địa điểm nghiên cứu hoặc do có cấu tạo
địa chất không đồng nhất trong vỏ Trái Đất
đ) Phương pháp nghiên cứu thiên thạch
Phương pháp này dựa trên sự nghiên cứu thành phần của các mảnh thiên
thạch rơi xuống mặt đất Từ đó so sánh với số liệu thu thập được ở Trái Đất để
13
Trang 14suy đoán thành phản vật chất ở mỗi lớp Qua nghiên cứu, thiên thạch gồm bà nhóm chính:
— Nhóm thiên thạch sắt hay còn gọi là siderit: chủ yếu là các nguyên tố Fc NỈ,
Pb, một ít Co
— Nhóm thiên thạch sắt — đá hay còn gọi là siderolit: với các nguyên tố chủ yếu
là Fe Mg và các khoáng vật nhóm silicat
— Nhóm thiên thạch đá hay còn gọi là acrolit: chủ yếu là các khoáng vật nhóm
silicat giàu Fe
Qua so sánh người ta nhận thấy: nhóm thiên thạch đá gần giống thành phản
của đá macma ứng với vỏ Trái Đất, còn nhóm thiên thạch sắt và nhóm thiên thạch
sắt — đá giống thành phần các lớp bên dưới của vỏ Trái Đất
2.2 Cấu tạo và các trạng thái vật chát bên trong Trái Đất
Trái Đất có cấu tạo vòng quyển hoặc lớp bao Về việc phân chia vòng quyển cũng như quan niệm vẻ trạng thái và thành phần vật chất bên trong của nó còn có
nhiều ý kiến khác nhau
Sau đây là cách phân chia vòng quyển được nhiều người thừa nhận
Lớp hoặc tảng Độ dày (km) OL (lớp bao) ranh giới dưới (km)
Điện li 80 - 2000 60 - 2000
Khí quyền Bình lưu 35—40 40-55
Thuy quyén ¥quye Nà 0-11
Trong 2270 6370
14
Trang 15
Hình 1.2 — Sơ đỗ cấu tạo Trái Đất
A So dé vị trí các quyển : B Sơ đỏ vị trí quyển mềm và thạch quyển :
C So dé cau tao vỏ Trái Đất (Theo Tống Duy Thanh 2003)
Các vòng khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển thuộc phạm vỉ nghiên cứu của
khoa học Địa lí Đối tượng nghiên cứu của Địa chất học là ba vòng quyền còn lại
a) Vỏ Trái Đất và thạch quyển
—Vở Trái Đất là lớp ngoài cùng thuộc phần cứng của Trái Đất, ngăn cách với
lớp Mant bên dưới bằng mật ranh giới Môhô, có bẻ dày thay đổi từ
5 — 10km ở đại dương đến 20 — 70km ở lục địa Vỏ Trái Đất chiếm khoảng
15% thể tích và khoảng 1% trọng lượng của Trái Đất Tỉ trọng trung bình
15
Trang 16(d) là 2.89g/cm” Thành phan vo Trái Đất có mặt hầu hết các nguyên tố
hoá học trong bảng hệ thống tuần hoàn Mendeleev, trong đó chủ yếu là các
nguyên tố O¿, AI, Sỉ Na, K, Ca, Fe, Mg và được gọi là các nguyên tố tạo dá chính Trước đây, con người ta coi vỏ Trái Đất đồng nghĩa với thạch quyển Hiện
nay người ta đã biết rõ vỏ Trái Đất được cấu tạo bởi các lớp có thành phần khác nhau nên đã chia ra hai kiểu vỏ: vỏ lục địa và vỏ đại dương
+ Vớ lực địa bao gồm: trên cùng là lớp trầm tích cổ với bể dày từ 3 — 5km, tốc
do séng chan dong doc (Vp) là 3,5km/s, tỉ trọng d = 2 — 2.5g/cm” Ở giữa là lớp granit có bể dày 20km, Vụ = 5.6km/s, d = 2.7g/cm` Dưới cùng là lớp
bazan có bẻ dày là 20km Vụ = 6.2km/s, d = 2,7 — 2,9g/cm” Giữa lớp granit
và lớp bazan là mặt gián đoạn Conrad
+ Vở đại ditong phan bố ở dưới tầng nước biển và đại dương, từ trên xuống bao gồm:
lớp trầm tích trẻ có bề dày từ 0m (vùng sống núi đại dương) tới vài km(vùng
gần lục địa), trung bình khoang 300m, Vp = 2km/s, d = 1.93 — 2.3g/cm'
Lớp giữa chủ yếu là bazan nên gọi là lớp bazan, bề day 1,7 + 0,8km, Vp = 4 — 6km/s,
d= 2.558/cm” Dưới cùng là lớp đại dương, người ta cho rằng lớp này thành phần là serpentint được hình thành do quá trình hyđrat hoá phần trên cùng
của Manti Bé day 4,8 + 1,4km, Vp = 6,7km/s, d = 2,95g/cm’
— Thạch quyển là phần cứng ngoài cùng của vỏ Trái Đất so với phần vat chat
bên dưới được gọi là quyển mềm Về cấu tạo thạch quyển bao gồm vỏ Trái Đất
(đã trình bày ở trên) và phần cứng trên cùng của Manti, chiều dày đạt tới
100km (Devis va Atwater 1974) cé Vp = 8km/s, d = 3,4g/cm`
b) Manti
Lớp này ngăn cách với vỏ Trái Đất bằng mặt Môhô và ngăn cách với nhân
Trái Đất bằng mặt Gutenberg ở độ sâu 2900km Manti được chia ra hai phan:
Manti ngoài và Manti trong
—Mamri ngoài nằm dưới bề mặt Môhô, ranh giới dưới ở độ sâu 960km Thành phần hoá học chủ yếu là Si và Mg Căn cứ vào tốc độ truyền sóng chấn động được chia ra: lớp cứng trên cùng là phân dưới của thạch quyển (đã trình bày
(1) Srpentin (từ tiếng latin serpens) = thuộc nhóm khoáng vật có công thức chung Mpg,(OH),[Si.O,] được thành tạo chủ yếu do olivin và piroxen trong các đá siêu mafic bị biến đổi
16
Trang 17
ở trên), tiếp đó là lớp vật chất có tính dẻo nên được gọi là quyển mẻm
(do Vụ giảm đến 7,8km/s sau đó tăng đến 10km/§) Tại đây vật chất ở trạng
thái nửa nóng chảy nửa kết tỉnh nên đã hình thành các dòng đối lưu theo
chiều thắng đứng và nằm ngang Do sự di chuyển thẳng đứng tác động vào
thạch quyển gây nứt vỡ Vật chất nóng chảy theo khe nứt xâm nhập vào vỏ
Trái Đất và nằm lại là hiện tượng xâm nhập hoặc thoát ra ngoài bể mặt đó là
hiện tượng phun trào Tại các đại dương quyển mềm ở độ sáu khoảng
50 — 60km bề dày đạt 300 — 400km Còn ở lục địa tới độ sâu 100km mới
gặp quyển mềm và xuống sâu tới 700km Dưới quyển mềm, tới độ sâu
960km Vụ tăng tới 11,4km/s, do vậy trạng thái vật chất có thể chặt xít hơn
quyển mềm
—Mami trong phân bố từ độ sâu 960 — 2900km nằm trên mặt ranh giới
Gutenberg Thanh phan vật chất mang tính chuyển tiếp giữa Manti ngoài và
nhân Trái Đất Ngoài các nguyên tố S¡ và Mg ở đây còn phổ biến Fe, Cr, Ni
là những nguyên tố đặc trưng cho nhân Trái Đất Cấu trúc tương đối đồng
nhất và đơn giản với d = 5.6g/cmẺ, Vp= 11,4 - 13,7km/s
c) Nhan Trai Dat
Từ độ sâu 2900km đến 6371km Tại đây sóng chấn động ngang phản xạ hoàn toàn,
chỉ có sóng chấn động dọc di chuyển qua, song tốc độ giảm hẳn (từ 13km/s xuống
7km/s), sau đó lại tăng nhưng rất chậm Căn cứ vào sự thay đổi tốc độ của sóng dọc
mà chia ra nhân ngoài và nhân trong Ở nhân ngoài: vật chất gần như lỏng, ở nhân
trong có thể cứng hơn Theo Molodenxki và Xavaren, vật chất của quyển nhân ở
trạng thái gần như lỏng Gần tới nhân vật chất có cứng hơn Áp suất ở đây vô cùng
lớn nên vành điện tử của các nguyên tố hoá học bị phá huỷ dẫn tới hiện tượng mọi
nguyên tố đều có tỉ trọng như các nguyên tố kim loại Vì vậy các ông cho rằng ở
trong nhân không chỉ có Fe và Ni như trước đây đã quan
Trang 18
Các vật thể trên bể mật đất luôn chịu một lực hút về tâm đồng thời còn chịu
một lực lí tâm hình thành do việc Trái Đất quay xung quanh trục Tổng hợp hai lực này được gọi là trọng lực Vẻ mặt lí thuyết các trị số đo trọng lực tăng đẩn từ xích dao
vẻ hai cực Nhưng thực tế các trị số đo tại các điểm thường có sự sai khác so với trị số tính toán Sự sai khác này được gọi là đj lường trọng lực Dị thường này có thể xuất hiện do sự thay đổi bẻ dày của các lớp vật chất trạng thái lí hoá của nó hoặc
do cấu tạo địa chất bên trong của vỏ Trái Đất
©) Từ trường
Trái Đất là một khối nam châm vô cùng lớn nên đã tạo ra một khoảng không gian từ trường bao quanh bằng 10 lần bán kính của nó Khoảng không gian này được gọi là từ quyền Vị trí của cực từ trường không trùng với cực địa lí nén trục từ trường và trục địa lí Trái Đất luôn tạo ra một góc nhất dịnh Do vị trí cực của
từ trường luôn thay đổi theo thời gian nên góc hợp bởi trục từ trường và trục Trái
Đất cũng thay đổi: năm 1540 góc nay 1a 17° ; nam 1600 1a 11° ; nam 1720 1a 11°: nam 1900 1a 16” và năm 1960 là I 1°
Đơn vị từ trường được biểu thị bằng Ởxtec và cũng biến đổi theo thời gian
Theo các nhà khoa học thì khoảng 2000 năm trở lại đây, cường độ từ trường giảm hai lần Vì cực từ khóng trùng với cực địa lí nên tại mỗi điểm trên bẻ mặt Trái Đất giữa mat phang kinh tuyến địa lí và mặt phẳng kinh tuyến từ tạo thành một góc nhất định
được gọi là góc từ thiên (D) Góc D tính từ phía bắc địa lí có giá trị từ 0° đến 1807
dương khi mặt phẳng kinh tuyến từ ở phía đông và âm khi kinh tuyến từ ở phía kinh tuyến địa lí Đường nối các trị số góc D bằng nhau được gọi là đường đẳng thiền
đường có trị số bằng 0 được gọi là kiuft tryế: từ Trừ các điểm xung quanh đường xích đạo
18
Trang 19còn ở tất cả các diểm khác trên bẻ mật Trái Đất, kim địa bàn đều hợp với bề mặtnằm
ngàng một góc nhất định Trị số góc này được gọi là độ từ khuynh Các điểm ở xích đạo có trị số từ khuynh bằng 0 đường nối các này được gọi là xích: đạo từ
Độ từ khuynh tăng dần từ xích dạo về phía hai cực, ở hai cực trị số này là 90”
Trong thực tế, trị số đo này tại các điểm trên bề mật đất thường lệch với trị số tính toán Sự chênh lệch này dược gọi là di thường từ Dị thường từ có thể xuất hiện do các đá cổ nhiễm từ khi chúng hình thành hoặc các vỉa quặng có từ tính (quặng manhetit, hemati) Đây là cơ sở để tìm kiếm, thăm dò mỏ sắt, thành lập các bản đồ cổ từ để suy đoán cực của Trái Đất trong thời gian quá khứ từ đó suy
ra các điều kiện cổ địa lí Ngoài ra dị thường từ còn liên quan tới các vận động của
vỏ Trái Đất như động dất núi lửa các hoạt động kiến tạo Sự biến đổi từ trường của toàn bộ Trái Đất thường liên quan tới các nhân tố vũ trụ Trong đó “Chu kì bừng sáng" của Mặt Trời đã được chú ý nghiên cứu từ lâu
d) Nhiệt của Trái Đất
Có hai nguồn cung cấp nhiệt cho Trái Đất: nhiệt do năng lượng của ánh sáng Mặt Trời và nhiệt do hoạt động của các phản ứng hoá học toả nhiệt, sự phân huỷ các nguyên tố phóng xạ nằm trong vỏ Trái Đất
Lượng nhiệt do Mặt Trời cung cấp tại mỗi nơi trên bể mặt đất thường khác
nhau và phụ thuộc vào vĩ độ địa lí, độ cao của bề mặt đất, các dòng không khí, dòng biển, lớp phủ thực vật Nhìn chung tại mỗi nơi, nhiệt có xu hướng giảm dần theo chiều sâu, tới một độ sâu nào đó, nhiệt độ không tiếp tục giảm nữa và có trị số bằng nhiệt độ trung bình hàng năm trên bể mặt Liên kết các điểm này dưới bẻ mặt đất sẽ hình thành rđng thường ôn Như vậy nơi nào có biên độ dao động nhiệt độ lớn thì độ sâu tầng thường ôn lớn và ngược lại Độ sâu trung bình của tầng thường
ôn từ 2m đến 40m Bên dưới tầng thường ôn nhiệt độ lại tăng dần theo chiều sâu Nhiệt độ tăng do gần nơi phân huỷ các nguyên tố phóng xạ các phản ứng hoá học toả nhiệt Ngoài ra còn phụ thuộc tính dẫn nhiệt, độ nứt nẻ, thế năm của đá Số mét
xuống sâu để tăng I”C dược gọi là địa nhiệt cấp Trị số này thay đổi ở từng
khu vực ; trung bình là 33m Số độ bách phân tăng lên khi xuống sâu 100m được gọi là đ¿œ nhiệt vuất, có trị số trung bình từ 3 đến 5°C
Hiện nay ở một số nơi trên thế giới như Italia, Hoa Kì, Băng Dao (Iceland) người ta đã sử dụng nguồn nhiệt bên trong của Trái Đất để sưởi ấm và xây dựng các nhà máy điện Ở nước ta nguồn địa nhiệt rất phong phú Người ta đã phát hiện
hàng trăm điểm lộ nước nóng, trong đó có 62 nguồn có nhiệt độ trén 50°C
Theo các nhà nghiên cứu thì tại Mộ Đức (Quảng Ngãi), nguồn địa nhiệt có khả năng
xây dựng nhà máy điện với công suất 300kW
19
Trang 202.4 Thành phần hoá học của vỏ Trái Đất
Hiện nay con người mới chỉ biết được thành phần hoá học của vỏ Trái Đất ở
độ sâu không quá 15km Năm 1920, Clac — nhà khoa học người Mĩ đã công bố kết quả tính toán trị số trung bình của các nguyên tố hoá học trong vỏ Trái Đất dược
gọi là trị số Clac Trị số này cũng được nhiều nhà khoa học tính toán và công bố
kết quả vào các năm sau
Về thành phần các dạng hợp chất hoá hoc, theo Gonsmit (V M Goldschmidt)
cũng biến đổi theo độ sâu
Độ sâu (km) Tên quyển Thành phần hợp chất hoá học chủ yếu
0-60 Vo Trai Dat Cac hop chat silicat trong đá granit bazan
60 ~ 2900 Manti Các hợp chất silicat với thành phản chủ yếu là sulfur
kim loai (Fe Mg)
2900 - 6371 Nhan Chủ yếu là các hợp chat sulfur sat, niken
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Những phương pháp nghiên cứu cấu tạo Trái Đất
2 Đối tượng và nhiệm vụ của Địa chất học
3 Cấu tạo và trạng thái vật chất từng quyển của Trái Đất
4 Những tính chất vật lí của Trái Đất
20
Trang 21Chương II ĐẠI CƯƠNG VỀ KHOÁNG VẬT VÀ ĐÁ
§1 KHOANG VAT
1.1 Khái niệm '
Khoáng vật là những don chất, những hợp chất hoá học của hai hoặc nhiều
nguyên tố kết hợp với nhau theo một quy luật nhất định, có cấu tạo và những tính chất
vat lí — hoá học xác định Chúng là kết quả hoạt động của các quá trình lí — hoá do các
quá trình địa chất xảy ra trong vỏ hoặc trên bề mặt Trái Đất, hoặc do các hoạt động
của sinh vật Trong thiên nhiên, đa số khoáng vật ở trạng thái cứng rắn như thạch anh,
hêmatit, canxit Số còn lại ở trạng thái lỏng như thuỷ ngân, dầu mỏ hoặc ở trạng
thái khí như cacbonic, các khí cacbuahidrô
Hiện nay, người ta mới biết khoảng trên 2000 khoáng vật Trong số này có
khoảng 450 khoáng vật thường gặp trong thiên nhiên Những khoáng vật cấu tạo
nên đá có khoảng 200 và được gọi là khoáng vật tạo đá, còn lại được gọi là khoáng
vật tạo quặng Môn học nghiên cứu nguồn gốc, quá trình biến đổi và phát triển, cùng quy luật phân bố của các khoáng vật được gọi là Khoáng vật học
Khoáng vật ở trạng thái rắn có ba dạng tồn tại: dạng kết tỉnh tạo nên những hình khối không gian nhiều mặt được gọi là tỉnh thể, dạng khối đặc xít và dạng vô
định hình Môn học nghiên cứu hình dạng bên ngoài, cấu tạo bên trong cùng với
các tính chất lí — hoá, nguồn gốc, quá trình phát triển và tồn tại của tinh thể được
gọi là Tỉnh thể học
a) Khoáng vật ở trạng thái kết tỉnh
Ngày nay, nhờ các phân tích bằng tia Rơnghen và các phương pháp hiện đại khác, Tỉnh thể học đã cho biết mỗi khoáng vật ở trang thái kết tỉnh đều có một hình khối không gian xác định — dù rất nhỏ bé Hình đạng của chúng phụ thuộc vào thành phần, cấu tạo và điều kiện môi trường đã hình thành nên chúng Mỗi tỉnh thể được cấu tạo bằng các hạt vật chất cơ bản: các nguyên tử, các ion, các
21
Trang 22phân tử phân bố trong không gian theo những đường thẳng khác nhau Vị trí cát nhau của những đường thắng tạo nên những nút mạng, tại những nút mạng này phân bố các ion, nguyên tử hoặc phân tử Những nút mạng này liên kết với nhau thành một dường thẳng tạo nên hàng mạng Ba nút mạng không cùng trên mới
có màu xám đến xám đen không trong suốt, độ cứng rất thấp (1)
a) C
Hinh 2.1 ~ Sơ đỏ cấu trúc tình thể graphit (a) và kim cương (b) va mudi natri (c)
Các tỉnh thể khoáng vật phần lớn sinh ra từ các dung dịch quá bão hoà Ban đầu tỉnh thể là những ô mạng cơ sở Sau một thời gian, khi điểu kiện môi trường thiên nhiên thuận lợi (nhiệt độ, áp suất) các ö mạng này lớn dần lên do kết hợp các ô mạng cơ sở với nhau tạo thành những tỉnh thể lớn hơn Trong thiên nhiên thường ít gặp những tỉnh thể khoáng vật lớn và có hình dạng hoàn chỉnh vì trong quá trình lớn lên, chúng bị chỉ phối bởi các điều kiện vật chất, môi trường theo các phương khác nhau
b) Khoáng vật hình thành từ các hạt keo
Tuy theo điều kiện môi trường trong thiên nhiên là axít hoặc kiểm mà tạo nên các dung dịch keo khác nhau Dung dịch keo thường gặp trong thiên nhiên là keo sắt caolin, keo silic, keo bùn thối, keo nhôm Sự hình thành các khoáng vật có nguồn gốc từ các hạt keo rất phức tạp có thể do sự trung hoà điện tích của các hạt keo
làm chúng liên kết lại rồi lắng xuống đáy (hiện tượng phù sa lắng đọng ở các cửa
sông giáp biển là kiểu thành tạo này), hoặc sự thay đổi nhiệt độ, áp suất, hoạt động
aa
Trang 23
của sinh vật, quá trình phân huỷ các nguyên tố phóng xạ Các tích tụ silic ở cứa
nguồn nước nóng cacbonat canxi trong hang động có nguồn gốc do sự thay
đổi nhiệt độ áp suất,
1.2 Các yếu tố hình dạng và các yếu tố đối xứng của tỉnh thể khoáng vật
a) Các yếu tố hình dạng của tỉnh thể
Do tính thể có hình khối xác định trong không gian nén chúng có các mặt giới Ị 8 gg 8 al g
hạn giữa các ö mạng cơ sở theo e phương khác nhau Mặt giới hạn này được gọi
là mặt của tỉnh thể Giao tuyến giữa hai mặt tỉnh thể tạo nén cạnh tính thể Giao
điểm của các cạnh tính thể tạo nên đỉnh tỉnh thế
b) Các yếu tố đối xứng của tinh thé
Tâm đới xứng là một điểm tưởng tượng nằm trong tính thể Tại điểm này
mọi đường thắng đi qua nó nằm giới hạn trong tính thể được chía ra hai
đoạn bằng nhau Tâm đối xứng kí hiệu là C (Hình 2.2) Mọi tính thể khoáng vật
đều có tâm đối xứng
~Trục dối xứng là một đường thẳng tưởng tượng di qua tỉnh thể để khi quay
tỉnh thể một góc 360” thì tất cả các yếu tố giới hạn bên ngoài của nó sẽ lặp
lại nhiều lần Trục đối xứng kí hiệu là L
Khi quay tỉnh thể quanh trục đối xứng nếu yếu tố hình dạng bên ngoài của
tinh thé lap lại một lần thì có trục bậc 2 — kí hiệu Lạ, lặp lại hai lần thì có trục bậc 3
kí hiệu là Lạ Trong một tỉnh thể nếu thay đổi trục đối xứng theo các phương khác
nhau sẽ được nhiều lần trục có bậc giống nhau Khi đó số lần của bậc trục được
ghi phía trước của bậc trục Thí dụ có hai trục bậc 2 được kí hiệu 2L; hoặc 4 trục
bậc 3 được kí hiệu là 4L
Mặc dù trong thiên nhiên hình dạng của tính thể rất da dạng, song chúng chỉ có các
bậc trục đối xứng sau: trục bậc 2 (L;) trục bậc 3 (Lạ) trục bậc 4 (L„) truc bac 6 (Lg)
Không có trục bậc 5 và trục bậc lớn hơn 6
Mặt phẳng dối xứng là một mặt phẳng tưởng tượng đi qua tỉnh thể chia
tỉnh thể ra hai phần bằng nhau Mọi yếu tố của tỉnh thể ở hai phần đó đều
đối xứng nhau qua mặt phẳng đối xứng tựa như ảnh của vật qua gương
Mat đối xứng được kí hiệu là P (Hình 2.2) Bằng phương pháp tố hợp các
yếu tố đơn của vô vàn các tỉnh thể khoáng vật trong thiên nhiên các nhà
tỉnh thể học rút ra được bảy nhóm lớn - hay bảy tỉnh hệ với tập hợp các
yếu tố đối xứng sau,
23
Trang 24Hình 2.2 — Các yếu tố đối xứng của tỉnh thể và bảy tỉnh hệ khoáng vật:
: Lập phương (1): Sáu phương (2): Ba phương (3): Bốn phương (4):
“Trực thoi (5): Một nghiêng (6): Ba nghiêng (7) và các trục đối xứng của nó
1.3 Tính chất vát lí của khoáng vật
Do có thành phần hoá học xác định, có cấu tạo tỉnh thể đặc trưng nên mỗi
khoáng vật có các tính chất vật lí riêng Sau đây là các tính chất vật lí chính
a) Màu
Mỗi khoáng vật có màu sắc riêng, màu đó có thể là màu của nguyên tố hoá học tạo nên khoáng vật và được gọi là màu tự sắc Thí dụ: lưu huỳnh có màu vàng, hêmatit có màu đỏ của Fe Song trong thực tế, nhiều khoáng vật ngoài màu tự sắc
còn có nhiều màu sắc khác Thí dụ: thạch anh có màu trắng, song trong tự nhiên
còn có màu hồng, lục; fenspat có màu trắng song còn có màu nâu, xám, xanh lục
Các màu kể trên của thạch anh và fenspat được gọi là màu ngoại sắc do các
nguyên tố hoá học có màu khác lẫn vào Các nguyên tố có màu như sắt (đỏ)
mangan (đen), đồng (xanh)
Trang 25vật học người Áo đã đưa ra thang độ cứng tương đối với 10 bậc Mỗi bậc được
đặc trưng bằng một khoáng vật tiêu biểu Độ cứng lớn nhất là 10 và nhỏ nhất là 1
Độ cứng I1: Tan công thức hoá học Mga(Si¿O¡o)(OH);
Độ cứng 2: Thạch cao công thức hoá học CaSO,.2H;O
Độ cứng 3: Canxit công thức hod hoc CaCO;
Độ cứng 4: Fluorit công thức hoá học CaF;
Độ cứng 5: Apatit công thức hoá học Cas(PO,)s(F.C])
Độ cứng 6: Octocla công thức hoá học K(AISizOs)
Độ cứng 7: Thạch anh công thức hoá học SiOz
Độ cứng 8: Topa công thức hoá học Al;(SiO.)(OH;)
Độ cứng 9: Corindon công thức hoá học Al;Oa
Độ cứng 10: Kim cương công thức hoá học C
Trong thực tế, người ta xác định độ cứng tương đối của các khoáng vật
bằng kinh nghiệm sau: khoáng vật sờ bẩn tay hoặc cạo nhẹ được bằng móng
tay thì có độ cứng tương đương 1; nếu rạch được bằng móng tay thì có độ cứng
tương đương 2; nếu cạo nhẹ được bằng dao thì có độ cứng tương đương 3; nếu rạch
được bằng mũi dao thì có độ cứng tương đương 4; nếu khoáng vật không rạch
được tấm kính thì có độ cứng tương đương 5; nếu rạch được tấm kính thì có độ cứng
tương đương 6
Trong kĩ thuật, độ cứng được xác định bằng máy vi độ cứng, tính bằng đơn vị
kg/mm? và được gọi là độ cứng tuyệt đối
Độ cứng được quyết định bởi sự liên kết của các hạt vật chất cấu tạo nên tỉnh thể
khoáng vật theo các phương khác nhau Lực liên kết tăng khi khoảng cách giữa
các hạt vật chất càng nhỏ và ngược lại Trong một khoáng vật, độ cứng có thể
không giống nhau theo mỗi phương hay còn gọi là tính dị hướng của độ cứng Thí dụ:
khoáng vật disten (Al; SiO;) có độ cứng 4 — 5 theo phương kéo dài cia tinh thể
này, còn theo phương vuông góc với phương trên thì có độ cứng là 6 — 7
c) Ti trong
Thông thường, tỉ trọng của khoáng vật được xác định ở thực địa là tỉ trọng
tương đối — nghĩa là tỉ trọng so sánh giữa hai hoặc nhiều khoáng vật với nhau Tỉ trọng
tương đối được chia thành ba nhóm:
25
Trang 26được gọi là tỉ trọng tuyệt đối (g/cm'`)
Ti trọng khoáng vật phụ thuộc vào trọng lượng nguyên tử của các nguyên 16 hoá học tạo nên khoáng vật
— Ảnh thuỷ tỉnh là ánh trong suốt tựa như thuỷ tỉnh thuộc loại này có khoáng vật
thạch anh muscovit (mica trắng)
— Ảnh xà cừ là ánh khi nhìn trên bể mặt không trong suốt thấy xuất hiện sự
tắn sắc trông tựa như phần phía trong của vỏ con trai thuộc loại này có Khoáng vật canXit, apatL
— Ánh sợi (ánh tơ) là ánh khi nhìn trên bẻ mặt khoáng vật thấy các sợi mỏng óng ánh thuộc loại này có khoáng vật atbet, thạch cao
— Ánh mỡ là ánh khi nhìn trên bể mặt khoáng vật thấy tựa như có một lớp màng mỏng bóng thuộc loại này có khoáng vật graphit tan
nhiều khoáng vật cho màu vết vạch khác với màu khoáng vật Thí dụ: hematit có
màu nâu, vết vạch màu đỏ rượu vang: pirit có màu vàng rơm, ết vạch có màu xám
đen; thạch anh có nhiều màu, vết vạch chí là vết hằn trên bản sứ
Trang 27tác dụng một lực nhỏ trên bẻ mặt chúng sẽ tách ra từng khối nhó như canxit hoặc rất khó tách như thạch anh
Tính cắt khai phụ thuộc vào lực liên kết giữa các hạt vật chất cấu tạo nên khoáng vật Người ta chia ra 4 loại cất khai:
~ Cất khai rất hoàn toàn điển hình là khoáng vật mica
~ Cất khai hoàn toàn điển hình là khoáng vật canxi
— Cắt khai trung bình diển hình là khoáng vật fenspat
— Cắt khai không hoàn toàn, gặp ở nhiều khoáng vật
Trong thiên nhiên, tính cắt khai thường ít đặc trưng vì cdc tinh thể khoáng vật thường rất nhỏ Mặt khác do điều kiện hình thành và quá trình cộng sinh nhiều khoáng vật nên làm cho việc xác dịnh tính cắt khai của chúng giảm độ chính xác
g) Vet vo
Khi dùng búa đập vào khoáng vật khoáng vật sẽ bị vỡ ra với các dạng vỡ Khác
nhau: dạng hạt như khoáng vật pirit galen; đạng bột (đất) như Khoáng vat caolinit,
ật thạch cao, atbet; dạng vỏ trai như khoáng vật thạch
Có nhiều cách phân loại khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu hoặc
sử dụng Theo thành phần hoá học, khoáng vật được chia thành tám lớp
a) Lớp các nguyên tố tt nhiên là các khoáng vật chỉ gồm một nguyên tố hoá học
và chiếm khoảng 0.1% trọng lượng của vỏ Trái Đất Đặc điểm của lớp này là có màu sắc cố định, rất bền vững trong thiên nhiên như các khoáng vật vàng bạc
kim cương graphit, lưu huỳnh
b) Lóp su{fur là hợp chất gồm hai hoặc nhiều nguyên tố hoá học của các kim loại
hoặc á kim với lưu huỳnh chiếm 0.15% trọng lượng vỏ Trái Đất Các khoáng vật
của lớp có đặc điểm: màu sắc đa dạng, không ổn định song thường sẵm màu:
tỉ trọng từ 3 đến 4; độ cứng từ 3 đến 6; ánh kim loại hoặc ánh xà cừ; tính cắt khai
từ trung bình đến yếu Thí dụ như chancopirit (CuFeS;), pirit (FeS;), galenit
(PbS,), sfalerit
27
Trang 28Các khoáng vật lớp sulfur dễ bị phá huỷ trong đới phong hoá thông qua phản ứng oxi hoá có nước tham gia để trở thành khoáng vật khác
c) Lớp haloit là hợp chất gồm hai hoặc nhiều nguyên tố hoá học của các kim loại hoặc á kim với clo, flo; chiếm khoảng 0,1% trọng lượng vỏ Trái Đất Các
khoáng vật của lớp có đặc điểm: sáng màu, màu sắc đa dạng; tỉ trọng từ 2 đến 3,
độ cứng từ 3 đến 4 tính cắt khai trung bình; vết vỡ dạng hạt; có hình khối tỉnh thể
tương đối rõ như muối mo (NaCl), fluorit (CaF) dé bi pha huỷ trong thiên nhiên d) Lop oxit là hợp chất gồm hai hoặc nhiều nguyên tố hoá học của các kim loại hoặc á kim với oxi; chiếm khoảng 17% trọng lượng vỏ Trái Đất Các khoáng vật của lớp có đặc điểm: màu sắc da dạng, độ cứng thường từ 4 đến 9; tỉ trọng từ 2 đến 4: khó cắt khai; vết vỡ dạng hạt hoặc vỏ sò; bền vững trong thiên nhiên Được chia ra làm hai phụ lớp: phụ lớp không chứa nước như corindon (AlzOa), thạch anh
(SiO2) hêmatit (FeaOa): phụ lớp chứa nước như opan (SiO¿ nH¿z0), limônit (FeaO
nH;O)
đ) Lóp cacbonat là hợp chất gồm hai hoặc nhiều nguyên tố hoá học của các
kim loại hoặc á kim với [COa] _ `; chiếm khoảng 1,7% trọng lượng của vỏ Trái
Đất Các khoáng vật của lớp có đặc điểm: màu sắc đa dạng; độ cứng từ 2 đến 5; tỉ trọng từ 2 đến 4; ánh xà cừ hoặc ánh thuỷ tinh; cắt khai trung bình; vết vỡ dạng hạt; không bền vững trong thiên nhiên, dễ bị hoà tan Được chia ra làm hai phụ lớp: phụ lớp không chứa nước như canxit (CaCO3), azurit (CuCO3) va phụ lớp chứa nước như malachit (CuCO; nH;O)
e) Lớp sun/at là hợp chất gồm hai hoặc nhiều nguyên tố hoá học của các kim loại hoặc á kim với [SO„] ~; chiếm 0,1% trọng lượng vỏ Trái Đất Khoáng vật của
lớp có đặc điểm màu sắc đa dạng; độ cứng từ 1 đến 5; tỉ trọng từ 2 đến 3; ánh xà
cừ hoặc ánh tơ; vết vỡ dạng hạt, dạng sợi, dạng bột đất; không bền vững trong thiên nhiên Được chia ra làm hai phụ lớp: phụ lớp không chứa nước như barit
(BaSO,), anhydrit (CaSO,) và phụ lớp chứa nước như thạch cao (CaSO, nH,0)
g) Lớp phốt phát là hợp chất gồm hai hoặc nhiều nguyên tố hoá học của kim loại hoặc á kim với [PO,] `; chiếm khoảng 6,1% trọng lượng vỏ Trái Dat
Các khoáng vật của lớp có dặc điểm: thường tối màu; độ cứng từ 4 dến 6;
tỉ trọng từ 2 đến 3; ánh xà cừ, ánh thuỷ tinh vết vỡ dạng đất, dạng hạt; không bền
vững trong thiên nhiên Thí dụ như apatit Cas(CI,F) [POx]z, photphorit
h) Lớp silicat là hợp chất gồm hai hoặc nhiều nguyên tố hoá học của các
kim loại hoặc á kim với nhóm [SiO;]_ˆ, [SiO;Al]; chiếm khoảng 75% trọng lượng
vỏ Trái Đất, có vai trò tạo đá chủ yếu (khoảng 800 khoáng vật)
28
Trang 29ee a ee tT
Các khoáng vật của lớp có đặc điểm: màu sắc đa dạng và ốn định; tỉ trọng
từ I đến 3; độ cứng từ I đến 6; ánh thuỷ tỉnh hoặc ánh xà cừ, ánh sợi dễ bị
phá huỷ trong thiên nhiên thông qua phản ứng thuỷ phân tạo nên khoáng vật mới
bên vững Lớp silicat chia ra hai phụ lớp: phụ lớp không chứa nước biotit
K[MgFe](Si;AIO¡o)(OH Pe và phụ lớp chứa nước như: tan (3Mg„SiO; nH;O)
caolin, fenspat
§2 ĐÁ
2.1 Khái niệm và phán loại
a) Khái niệm
Đá là tập hợp có quy luật của một hay nhiều khoáng vật, tạo thành một thể
địa chất độc lập và là bộ phận chủ yếu cấu tạo nên vỏ Trái Đất Mỗi thể địa chất
phải có thành phần vật chất xác định, có nguồn gốc hình thành trong quá trình địa chất
riêng, có cấu trúc và dạng nằm xác định Môn học nghiên cứu quá trình phát sinh
biến đổi, thành phần vật chất và phân loại các đá gọi là Thạch học
Đá thông thường cứng như đá vôi, đá cát kết, nhưng cũng có thể mềm dẻo như
đá sét Đá do một khoáng vật tạo nên gọi là đá đơn khoáng như đá thạch anh đá sét
Đá do nhiều khoáng vật tạo nên gọi là đá đa khoáng, như đá granit gồm các
khoáng vật: thạch anh, biotit fenspat, plagiocla tạo nên
Cần phân biệt đá với quặng và đất trồng Đá được tạo nên bởi những nguyên tố
hoá học chiếm 90% trọng lượng vỏ Trái Đất, các nguyên tố tạo đá chính là O, Sĩ,
Al, Fe, Ca, K, Na Quang được quy định bởi hàm lượng các nguyên tố hoá học có
giá trị công nghiệp trong một khối lượng đá Đất trồng là lớp phủ trên bề mặt đất,
là sản phẩm phá huỷ của đá cùng với các chất mùn hữu cơ, được nghiên cứu bởi
bộ môn Thổ nhưng học
b) Phan loại
Có nhiều cách phân loại đá Cách phân loại theo nguồn gốc và thành phần
vật chất thường được sử dụng trong địa chất, với ba nhóm đá chính: macma, trầm tích
và biến chất Sự khác nhau của các nhóm cũng như từng loại đá trong mỗi nhóm
thể hiện qua các dấu hiệu sau đây:
~ Thế nằm là đặc điểm vẻ hình dạng, kích thước và sự phân bố không gian
của đá trong vỏ hoặc trên bể mặt Trái Đất
29
Trang 30— Cấu tạo là sự sắp xếp và phần bố không gian giữa các thành phần vật chát
tạo nén đá Nó đặc trưng cho tính đồng nhất hoặc không đồng nhất vẻ vật chất:
kích thước vật chất theo các phương
— Kiển trúc là những dấu hiệu quy định bởi trình độ kết tỉnh của khoáng vật hoặc kích thước: hình dạng tỉnh thể khoáng vật, các hạt vụn trong mối quan
hệ giữa chúng với nhau
Thành phần hoá học khoáng vật chính là những khoáng vật, thành phản hoá học chủ yếu cấu tạo nên từng nhóm hoặc từng loại đá
Có hai cách phân loại đá macma:
— Phán loại theo độ xản thành tụo
+ Đá macma xâm nhập là các đá macma được thành tạo trong vỏ Trái Đất Nếu ở độ sâu so với bề mặt đất trên 1500m được gọi là đá macma xâm nhập sâu Còn ở độ sâu nhỏ hơn 1500m được gọi là đá macma xâm nhap nong Do cic chuyển động nâng cao của vỏ Trái Đất cùng với quá trình xâm thực bào mòn rất lâu dài nên ngày nay chúng lộ ra trên
bề mặt Người ta đoán biết chúng là đá macma xâm nhập sâu hoặc
xâm nhập nông là nhờ phân tích các đặc điểm về dang nằm cấu tạo,
kiến trúc
+ Đá macma phun trào là các macma bên trong được dưa ra ngoài bẻ mặt đất qua các khe nứt, miệng núi lửa sau đó đông cứng lại Người ta đoán biết chúng là đá phun trào cổ hoặc trẻ nhờ phân tích mối quan hệ của chúng với các đá xung quanh
— Phản loại theo thành phần hoá học
Cơ sở của việc phân loại này là dựa vào hàm lượng SiOa, Fe, Mg có trong dá
+ Đá macma axít: khi hàm lượng SiO, trong đá > 65% Đá có đặc điểm sáng màu tỉ trọng từ 2.5 đến 2,7
Trang 31+ Đá macma trung tính: khi hầm lugng SiO, trong da tir 52 dén 65% Da co
đặc điểm sáng màu tí trọng nhẹ đến trung bình (2.7 — 2.8)
+ Da macma mafic: khi him lượng SiO; trong đá từ 40 đến 45% hàm lượng
các khoáng vật chứa sắt manhẻ tăng Đá có đặc điểm sắm màu đến rất sảm
màu, tí trọng nặng (2.9 — 3.1)
+ Đá macma siêu mafic: khi hàm lượng SiO; trong đá nhỏ hơn 40% hàm lượng
Fe va Mg rất cao Đá rất sim mau, ti trọng nặng (trên 3.1)
b) Thế nằm của đá macrna
Thế nằm của đá macma là một đặc điểm phản ánh điều kiện thành tạo Thế
nằm phụ thuộc vào thành phần tính linh động của macma, mức độ chuyển động
của vỏ Trái Đất và đặc điểm của các đá xung quanh
Dựa vào kích thước, hình dạng chia ra các thể chính:
— Các thể đặc trưng cho đá macma xâm nhập sau
+ Thể nên (batolit): có kích thước rất lớn: rộng dài tới hàng chục, hàng trăm km
Đường ranh giới lộ ra trên bể mặt đất không đều đặn ở dưới phình to và có
- sườn đốc đứng (Hình 2.3) Khối granit Sông Chảy phân bố ở Việt Bắc Điện Biến
(Tây Bắc) là một thể nền điển hình
+ Thể trụ (stockơ): có dạng hình trụ, thường là nhánh của thể nền ranh giới lộ
ra trên bẻ mặt đất thường đẳng thước khép kín với diện tích nhỏ
Hai thể trên thường có nguồn gốc từ các macma có thành phần axít tính linh động
kém và nằm trong vùng có hoạt động của vỏ Trái Đất mạnh trùng với các đới uốn nếp
nâng cao tạo núi
— Các thể đặc trưng cho đá macma xâm nhập nóng
+ Thể vỉa: nằm kẹp giữa các lớp đá trầm tích gần như song song Bẻ dày vía từ vài
mét tới hàng chục mét kéo dài từ vài km tới hàng chục km (Hình 2.3)
+ Thể nấm: có hình dạng như một cái nấm nằm kẹp giữa hai lớp đá trắm tích
Lộ ra trên mặt thường có đạng gần tròn hoặc bầu dục, bể dày từ vài chục
mét tới hàng trăm mét (Hình 2.3)
+ Thể thấu kính: có hình đạng tựa như một thấu kính nằm kẹp giữa hai lớp đá
trầm tích (Hình 2.3) Khối dunit ở Bản Xang, Tạ Khoa — Sơn La là thể thấu
kính điển hình ở Việt Nam
31
Trang 326 Thé via 7 Thé vom 8 Thé vom phủ 9 Thể lớp phủ
Tuy theo hinh dang mà còn được chia ra: thể chậu, thể yên, thể liềm
Các thể trên thường có nguồn gốc macma thành phần trung tính, mafic hoặc siéu mafic, dễ linh động và thường phân bố ở vùng các đá có nhiều khe nứt, uốn nếp không hoàn chỉnh
— Các thể đặc trưng cho đá macma phun trào
+ Thể dòng được hình thành từ macma có thành phần dễ linh động, thoát ra ở miệng núi lửa chảy theo sườn dốc xuống các thung lũng xung quanh
+ Thể vòm được hình thành từ đá macma có thành phần ít linh động, khi thoát
ra không di chuyển mà nằm tại miệng núi lửa, có hình vòm, hình kim Điển hình
thể vòm là miệng núi Ita Pélé trên đảo Martinique, có độ cao 300m
Trang 33+ Thể vòm phủ được hình thành từ các macma trung tính nằm trên sườn dốc
xen kẽ với các lớp mảnh vụn đá, tro bụi — điển hình là thể vòm phủ núi lửa
Veduvo (Italia)
+ Thể lớp phủ được hình thành từ macma có thành phần linh động, theo các
khe nứt của vỏ Trái Đất (các đứt gãy) thoát ra ngoài và chảy tràn trên bề
mặt đất, sau đó đông cứng lại (Hình 2.3) Ở Việt Nam, thể lớp phủ gap o
Phu Quy — Nghé An véi diện tích 200km?, bé day 200m và ở nhiều nơi khác
như khu vực Nam Trung Bộ
c) Cấu tạo đá macima
— Cấu tạo khối đồng chất là cấu tạo khi các khoáng vật phân bố đều đặn trên
toàn bộ khối đá theo các phương khác nhau Điều này chứng tỏ khi thành
tạo thì điều kiện môi trường ở mọi diểm như nhau
— Cấu tạo khối cầu là cấu tạo khi các khoáng vật sắp xếp theo những lớp đồng tâm,
hình thành các khối cầu nhỏ trong toàn bộ khối đá Điều này chứng tỏ khi
thành tạo đá phải có các trung tâm kết tỉnh lôi kéo các thành phần khác bao
quanh để tạo nên khối cầu
— Cấu tạo dạng dải là cấu tạo gồm các dải có độ hạt hoặc màu sắc khác nhau,
xen kẽ nhau kéo dài Điều này chứng tỏ khi thành tạo đá có sự phân dị các |
khoáng vật theo kích thước, tỉ trọng
— Cấu tạo lỗ hổng, cấu tạo bọt là cấu tạo có các lỗ hồng với kích thước khác
nhau trong khối đá Điều này chứng tỏ macma có nhiều thành phần khí, khi
được đưa ra ngoài mặt, do áp suất, nhiệt độ giảm nhanh, phần ngoài cùng
đông cứng trước không cho các chất khí thoát ra Sau khi toàn bộ khổF
macma đông đặc, các chất khí mới thoát được ra ngoài, để lại các lỗ hổng -
trong đá
Ngoài những cấu tạo thường gặp trên, còn gặp các cấu tạo khác như: cấu tạo
dòng chảy, cấu tạo mạch
d) Kiến trúc đá macma
Cơ sở phân loại là trình độ kết tỉnh, hình dáng, kích thước các hạt khoáng vật
trong khối đá macma
33
Trang 34Hình 2.-4— Một số kiến trúc chính của đá macma
1 Kiến trúc toàn tĩnh hạt đều: 2 Kiến trúc toàn tỉnh hạt không đều:
3 Kiến trúc poocphia: 4 Kiến trúc pecmatit (chữ cổ)
— Kiến trúc toàn tỉnh hạt đều khi toàn bộ khối đá là những hạt tỉnh thể khoáng vật
có kích thước như nhau Nếu hạt lớn trên 5mm là kiến trúc hạt thô: hạt vừa
là từ 1 — 5mm Loại kiến trúc này đặc trưng cho các đá macma xâm nhập, thành tạo ở các độ sâu khác nhau (Hình 2.4)
— Kiến trúc toàn tỉnh hạt không dêu khi trong toàn bộ khối đá là những hạt khoáng vật có kích thước khác nhau nằm xen kẽ nhau Điều này chứng to da
macma được hình thành ở hai giai đoạn khác nhau Giai đoạn đầu macma ở sâu mới hình thành nên áp suất, nhiệt độ giảm chậm chạp, thành phần vật chất còn giàu nên thuận lợi để hình thành những tỉnh thể lớn Giai đoạn sau, do hoạt động của vỏ Trái Đất làm thay đổi nhanh áp suất, nhiệt độ cùng với
hiện tượng giảm thành phần vật chất nên chỉ thành tạo những tỉnh thể nhỏ
Khi các tỉnh thể khoáng vật méo mó, màu sắc khác nhau xen kẽ kéo dài thì
được gọi là kiến trúc pecmatit hoặc vân chữ
~ Kiến trúc poocphia khi trên bề mặt đá là những tỉnh thể khoáng vật màu rất nhỏ (vi tỉnh) nổi lên những tỉnh thể lớn có nhiều màu khác nhau (màu trắng thường là fenspat, thạch anh) Loại kiến trúc này đặc trưng cho đá phun trào riolit (Hình 2.4)
Trang 35~ Kiến trúc thuỷ tỉnh khi trên toàn bộ mặt đá là vô định hình, trông tựa như bề mặt
d) Thành phần khoáng vật chính
thuỷ tỉnh Kiến trúc này được hình thành do macma khi ra ng
đột ngột không kịp kết tỉnh thành tỉnh thể khoáng vật — điển hình là đá
ôpxidien
„ dông cứng
Đá macma gồm hai nhóm khoáng vật chính: Nhóm silic gồm những khoáng
vật sáng màu như: thạch anh, fenspat: nhóm femic gồm những khoáng vat sam
màu như: hocnblen, pirôxen, ôlivin
Phân loại và đặc điểm các đá macma chính
dá Hoá học & vụ chủ yếu chủ
chính yếu nhập cổ Mới
Sil > alae ; hoac | h Khối Porfi
© | 65% : P sẽ ỗ Granic Riolit
vat mau sam) poocphia
= | đến 65% 7 2Á) [4/47 a Sienit š Trachit
Trung tinh mau ‘ nền hạt bé is a
Mau E tính và khoáng vật | vừa hoạc thô yet : K Khối Diorit |_ Porfiarit a Andézit a
sam Ẹ : hạt
sam mau
, Plagiocla bazơ và [Toàn tỉnh hạt Hạt
_ |SiO; 45% 5 i ` he
Samy |G _ |đến 55% cờ các khoáng vật : h 8Ä vừa hoặc thô | Khoi: Lấ< sả
- | Gabro Diabaz Bazan
Mafic 2 AI 9o s
Đen Ogit Ôlivin và các | Toàn tỉnh hat
hoặc | SiO: < 45% | khoáng vật quặng | bé hoặc lớn lộ moles
Trang 362.3 Đá trầm tích
a) Nguồn gốc và phân loại
Đá trầm tích là sản phẩm phá huỷ của các đá có trước (macma, trầm tích, biến
chất), sản phẩm hoạt động của núi lửa (cuội, cát, tro bụi), kết quả của các quá trình hoá học, hoạt động sinh vật được vận chuyển (do dòng nước mặt, gió, băng hà, dong biển) hoặc ở ngay tại chỗ; được tích tụ trong môi trường nước hoặc trên cạn Sau đó các sản phẩm tích tụ trải qua một quá trình biến đổi lâu dài dưới nhiệt độ,
áp suất khác nhau rồi gắn kết lại thành đá trầm tích
Quá trình tích tụ lại và lắng đọng các sản phẩm không giống nhau ở mọi địa điểm, phụ thuộc vào điều kiện môi trường (nhiệt độ, áp suất, độ sâu độ dốc
của đáy trầm tích, tốc độ dòng nước) và bản thân hình dáng, tỉ trọng, thành phản
hoá học của chúng Sự thay đổi quá trình lắng đọng các vật liệu được gọi
là quá trình phân dị trầm tích Nhờ quá trình này mà các vật chất hỗn hợp
phức tạp, đa dạng biến đổi thành những vật thể đơn giản Có hai quá trình
phân dị chính:
— Phân đị vật lí sẽ làm hình thành các đá có cùng cỡ hạt, cùng hình dáng hoặc
cùng tỉ trọng Yếu tố quyết định sự phân dị này là hình dáng kích thước, tỉ trọng
của vật liệu và điều kiện môi trường trầm tích (nông, sâu)
— Phân dị hoá học dẫn tới hình thành các đá có cùng thành phần hoá học
Yếu tố quyết định sự phân dị này là nồng độ chất hoà tan, các điều kiện
môi trường (khí hậu, độ pH ) Thí dụ trong điều kiện khí hậu nóng ẩm
sẽ thuận lợi cho quá trình hình thành các tích tụ cácbonat, sét, kaolin để tạo nên đá vôi, đá sét; khí hậu lạnh hình thành các tích tụ silic để tạo nên
mảnh vụn có kích thước khác nhau, các vật liệu vụn của núi lửa Dưới đây là
bảng phân loại các đá có nguồn gốc vụn theo kích thước hạt
36
Trang 37Kích thước hạt vụn Tên các đá chưa gắn kết (bở rời) Tên các đá gắn két
— Đá trầm tích hoá học là sản phẩm tích tụ từ các quá trình hoá học như: đá vôi
hoá học, đá đôlômit, đá sét, đá silic, đá tuf vôi :
— Đá trầm tích hữu cơ là sản phẩm tích tụ của một phần hoặc toàn bộ cơ thể
sinh vật như: đá vôi vỏ sò, đá vôi san hô, đá vôi Trùng tiền, than đá
— Đá trầm tích hỗn hợp là sản phẩm tích tụ hỗn hợp của hai hoặc ba loại có
nguồn gốc trên như: đá vôi trứng cá, đá vôi hạt đậu, đá sét vôi
b) Thế nằm đá trầm tích
Đa số các đá trầm tích khi mới hình thành có thế nằm ngang hoặc gần nằm
ngang với các lớp có kích thước hạt hoặc thành phần, màu sắc khác nhau, xen ké
nhau Do tác dụng của các chuyển động vỏ Trái Đất sau này, chúng thay đổi thế
nằm ngang ban đầu thành các nếp uốn lồi, nếp uốn lõm kế tiếp nhau hoặc bị đứt ra
rồi di chuyển theo chiều thẳng đứng hoặc nằm ngang Thế nằm của đá trầm tích
hiện nay mà chúng ta quan sát tại các điểm lộ bên sườn hoặc ở các suối ở miền núi
là kết quả của các chuyển động vỏ Trái Đất trong quá khứ Nghiên cứu hình dạng
và kích thước nếp uốn cho phép người ta suy đoán về nguồn gốc cũng như cường
độ các chuyển động của vỏ Trái Đất trong quá khứ
e) Cấu tạo đá trầm tích
Đa số các đá trầm tích vụn có cấu tạo lớp Khi hình thành, mỗi lớp đá trầm
tích đều bị chỉ phối bởi nhiều yếu tố ngoại sinh như gió, dòng chảy, sóng, hoạt
động sinh vật, vì vậy trên mặt lớp thường để lại những dấu vết này Nghiên cứu
những dấu vết trên, người ta có thể suy đoán ra điều kiện môi trường trầm tích
trong quá khứ
at
Trang 38Trong một lớp đá trầm tích có thể có các cấu tạo như sau:
— Cẩm tạo dòng nhất: Khi trong lớp theo các phương có thành phản, độ hạt
như nhau Tuỳ theo kích thước hạt có khối hạt thô hạt nhỏ, hạt mịn
— Cấu tạo thớ lớp hay phân lớp:
+ Phân lớp nằm ngàng: khi mặt phân lớp giữa các lớp theo các mật phẳng gần song song, đặc trưng cho các đá trầm tích hình thành trong các bỏn
trầm tích lớn
+ Phân lớp lượn sóng: khi mặt phân lớp giữa các lớp bị uốn cong lượn sóng ranh giới không rõ ràng đặc trưng cho các đá hình thành ven hồ, ven biển + Phân lớp xiên: Trường hợp phân lớp xiên theo một góc cố định thì được gọi
là phân lớp xiên đơn, đặc trưng cho trầm tích ở môi trường nước chảy Khi
„ các lớp xiên đan chéo nhau thành từng tập góc nghiêng thay đổi được gọi là phân lớp xiên chéo đặc trưng cho các đá trầm tích vùng tam giác châu, hoang mạc
+ Phân lớp tuần hoàn: là kiểu phân lớp có tính chu kì, mỗi tập có thể bắt đầu là
lớp hạt mịn, sau đó là hạt thô lap lại nhiều lần Kiểu này có thể do sự thay đổi khí hậu có tính chu kì hoặc sự thay đổi độ sâu trầm tích có tính chu kì
tạo nên
Ngoài ra tuỳ theo điều kiện hình thành, đá trầm tích còn có cấu tạo kết hạch,
cấu tạo trứng cá hạt đậu
Hình 2.5 — Các dạng cấu tạo phân lớp
I ~ Lượn sóng: 2 Song song: 3 - Xiên đơn: 4-— Xiên chéo
Trang 39đ) Kiến trúc đá trầm tích
Tuỳ thuộc vào từng nhóm đá mà có nhiều kiểu kiến trúc khác nhau Với đá
trầm tích hạt vụn (cuội kết, sạn kết, cát kết, bột kết) kiến trúc gồm hai phần: các
hạt vụn do phá huỷ từ trước (vụn đá tròn như cuội, sắc cạnh như dăm, cát hoặc
những khoáng vật bền vững như vẩy vàng, inmênit, fenspat); xi măng gắn kết các
hạt vụn trên được tạo thành khi hình thành đá Mỗi phần có đặc trưng riêng, đặc
trưng kiến trúc hạt vụn chủ yếu là kích thước rồi đến hình dáng (tròn, méo) và số
lượng của chúng trong đá Còn kiến trúc xi mãng là mức độ biến đổi và mối quan
hệ với các hạt vụn tạo thành đá Trên cơ sở kích thước và hình dáng của hạt, kiến
trúc đá trầm tích được chia ra như sau:
d) Thanh phan vat chat
~ Thành phần khoáng vật gồm hai loại: Khoáng vật tha sinh là các khoáng vật
còn lại của các đá bị phá huỷ (thạch anh, rutin) và các khoáng vật tự sinh là
các khoáng vật sinh: thành khi trầm tích biến thành đá như kaolinit, thạch
cao, glauconit, sét
— Các đi tích sinh vật: Gồm một phần hoặc toàn phần của sinh vật như các
mảnh vỏ, xương, cành, lá, rễ, bào tử phấn hoa
— Các dấu vết của môi trường trầm tích: vết gợn sóng, giọt mưa, khe nứt khô
39
Trang 40` =Thành phần hoá học: Hàm lượng trung bình FezOa và FeO trong đá trầm tích lớn hơn đá macma Tỉ lệ K;O/Na¿O trong đá trầm tích luôn luôn lớn
hơn 1 Ham lượng HO, CO¿, S trong đá trầm tích lớn hơn trong đá macma
quá trình địa chất xảy ra ở các độ sâu khác nhau trong vỏ Trái Đất Với áp suất
lớn, nhiệt độ cao, các đá có trước không chỉ biến đổi thành phần hoá học, thành
phần khoáng vật mà cả vẻ cấu tạo và kiến trúc nữa Các yếu tố làm biến đổi các
đá bao gồm:
— Nhiệt dộ: Nhiệt độ có tác dụng thúc đẩy các phản ứng hoá học giữa các vật chất
trong đá Sự tăng nhiệt độ của đá có liên quan tới các khối macma, phân huỷ
các nguyên tố phóng xạ, các phản ứng hoá học toả nhiệt
~ Áp suất, gồm hai loại
+ Áp suất thuỷ tĩnh hay áp suất tải trọng sinh ra do các lớp đá trên dè lên các
đá nằm dưới Cứ xuống sâu Ikm, áp suất tăng từ 250 đến 300 bar Áp suất này dẫn tới sự phân dị trọng lượng của khoáng vật và làm tăng nhiệt độ kết tỉnh của khoáng vật
+ Áp suất định hướng sinh ra do các vận động của vỏ Trái Dat, phân bố 6 phan trên cùng của vỏ và giảm theo chiều sâu Áp suất này dẫn tới sự tăng cường tốc độ của các phản ứng hoá học, làm biến dạng thế nằm, phá huỷ đá thành
các mảnh vụn
— Các dung dịch biến chất có thể ở trạng thái lỏng hoặc khí, có tác dụng tăng
cường áp suất thuỷ tĩnh, thúc đẩy các phản ứng hoá học hoạt động
Ngoài ba yếu tố trên, còn phải kể đến thời gian, thành phần nguyên thuỷ của
đá biến chất Thời gian bảo đảm tính triệt để của quá trình biến chất Còn thành
phần đá nguyên thuỷ quyết định tốc độ biến đổi nhanh hoặc chậm (các đá có
thành phần thạch anh, cacbonat khó biến đổi; ngược lại các đá có thành phần sét
dễ biến đổi hơn)
40