1. Trình bày sơ lược sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị Mác – Lênin? 2. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác Lênin là gì? Vì sao KTCT nghiên cứu các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi trong mối liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất? 3. Phân tích chức năng của kinh tế chính trị Mác – Lênin? 1. Phân tích những nhân tố ảnh hưởng lượng giá trị của hàng hoá? Phân tích bản chất và chức năng của tiền? Thứ nhất: Năng suất lao động – Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động. Nó được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. – Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động, nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống. Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại. – Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: + Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân. + Mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ. + Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất. + Trình độ tổ chức quản lý. + Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất. + Các điều kiện tự nhiên. Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên. Thứ hai: Cường độ lao động – Cường độ lao động là đại lương chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian, nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động. – Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sản xuất ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương ứng, vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi. Tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm không đổi. – Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau là đều dẫn đến lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên. Nhưng chúng khác nhau là tăng năng suất lao động làm cho lượng sản phẩm (hàng hóa) sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng làm cho giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm xuống. Tăng năng suất lao động có thể phụ thuộc nhiều vào máy móc, kỹ thuật, do đó, nó gần như là một yếu tố có “sức sản xuất” vô hạn, còn tăng cường độ lao động, làm cho lượng sản xuất ra tăng lên trong một đơn vị thời gian, nhưng giá trị của một đơn vị hàng hóa không đổi. Tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào thể chất và tinh thần của người lao động, do đó, nó là yếu tố của ‘sức sản xuất” có giới hạn nhất định. Chính vì vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển kinh tế. Thứ ba: Tính chất của lao động – Tính chất của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hóa. Theo tính chất của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp. + Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể làm được. + Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới có thể làm được. – Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn. Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên. Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy về lao động đơn giản trung bình, và điều đó được quy đổi một cách tự phát sau lưng những hoạt động sản xuất hàng hóa, hình thành những hệ số nhất định thể hiện trên thị trường. Bản chất của tiền Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các loại hàng hoá. Nó là sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời nó biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá. Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó: Giá trị sử dụng của tiền tệ: là khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi. Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền khi có nhu cầu trao đổi. Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội qui định: chừng nào xã hội còn thừa nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trong trao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại. Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm “sức mua tiền tệ”, đó là khả năng đổi được nhiều hay ít hàng hoá khác trong trao đổi. Tuy nhiên khái niệm sức mua tiền tệ không được xem xét dưới góc độ sức mua đối với từng hàng hoá nhất định mà xét trên phương diện toàn thể các hàng hoá trên thị trường. Chức năng của tiền tệ Tiền là thước đo giá trị, là phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán và tiền tệ thế giới: Tiền là thước đo giá trị, tức là nó dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác. Khi đó, giá trị của hàng hóa được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa. Giá cả hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Giá cả hàng hóa có thể lên xuống xung quanh giá trị nhưng tổng số giá cả luôn bằng giá trị. Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hóa, tức là tiền đóng vai trò là một phương tiện lưu thông. Khi ấy, trao đổi hàng hóa vận động theo công thức H – T – H’. Đây là công thức lưu thông hàng hóa giản đơn. Với chức năng này, tiền xuất hiện dưới các hình thức vàng thỏi, bạc nén, tiền đúc và cuối cùng là tiền giấy. Tiền giấy là ký hiệu giá trị do nhà nước phát hành buộc XH công nhận. Tiền giấy không có giá trị thực (không kể đến giá trị của vật liệu giấy dùng làm tiền). Khi thực hiện chức năng này, tiền giúp quá trình mua bán diễn ra dễ dàng hơn nhưng nó cũng làm việc mua bán tách rời nhau cả về không gian lẫn thời gian nên nó bao hàm khả năng khủng hoảng. Tiền đôi khi được rút khỏi lưu thông và cất giữ lại. Chỉ có tiền vàng, tiền bạc, các của cải bằng vàng có giá trị thực mới thực hiện được chức năng lưu trữ. Ngoài ra, tiền làm phương tiện cất trữ còn có tác dụng đặc biệt là dự trữ tiền cho lưu thông. Tiền làm phương tiện thanh toán có tác dụng đáp ứng kịp thời nhu cầu của người sản xuất hoặc tiêu dùng ngay cả khi họ chưa có tiền hoặc không đủ tiền. Nhưng nó cũng làm cho khả năng khủng hoảng tăng lên. Chức năng cuối cùng của tiền là tiền tệ thế giới. Chức năng này xuất hiện khi buôn bán vượt ra ngoài biên giới quốc gia, hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước. Khi thực hiện chức năng này, tiền thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, tín dụng, di chuyển của cải từ nước này sang nước khác. Thực hiện chức năng này phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụng được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế. Việc trao đổi tiền của nước này sang tiền của nước khác tuân theo tỷ giá hối đoái, tức là giá cả của một đồng tiền nước này được tính bằng đồng tiền của nước khác. Tóm lại, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, tiền có 5 chức năng. Những chức năng này có quan hệ mật thiết và thông thường tiền làm nhiều chức năng một lúc. Hãy chọn một loại hàng hóa và đóng vai người sản xuất ra nó để thảo luận về thuộc tính và chỉ ra tầm quan trọng của hàng hóa đó đối với xã hội? Phân tích trách nhiệm xã hội của mình đối với người tiêu dùng, cảm nhận tác động của quy luật cạnh tranh và đề ra phương án để duy trì vị trí sản xuất của mình trên thị trường? 3. Phân tích vai trò của thị trường? các chức năng của thị trường? Ưu thế và khuyết tật của nền kinh tế thị trường? Các quy luật cơ bản của thị trường?. 4. Với vai trò là người tiêu dùng, từ kinh nghiệm thực tế của bản thân, hãy thảo luận và chỉ ra vai trò và biện pháp của người tiêu dùng cần phải làm để bảo vệ quyền lợi của mình đặt trong mối quan hệ với người sản xuất và xã hội khi tiêu dùng hàng hóa?. 1. Để có nhiều giá trị thặng dư, các nhà sản xuất sử dụng nhiều phương pháp sản xuất giá trị thặng dư khác nhau, hãy làm rõ việc sử dụng những phương pháp này trong bối cảnh Việt Nam và những hệ quả của quá trình này? 2. Phân tích bản chất của tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy? Anhchị hãy cho biết ý nghĩa của việc phân tích này trong thực tiễn Việt Nam? 3. Hãy làm rõ những hàm ý của chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận bình quân 1. Phân tích những biểu hiện của độc quyền nhà nước trong chủ nghĩa tư bản. Trên cơ sở đó hãy rút ra bài học về vai trò của Nhà nước Việt Nam trong tổ chức, quản lý các hoạt động kinh tế. 2. Độc quyền được sinh ra từ cạnh tranh và có thủ tiêu cạnh tranh không? Phân tích tác động tích cực và tiêu cực của độc quyền, hãy cho biết vai trò của nhà nước trong kiểm soát độc quyền. Từ đó đưa ra giải phát kiểm soát độc quyền trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam. 3. Phân tích nguyên nhân ra đời, bản chất và những biểu hiện chủ yếu của độc quyền nhà nước trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa? Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 1. Vì sao Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? 2. Phân tích đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1 Trình bày sơ lược sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị Mác – Lênin?Trong dòng chảy tư tường kinh tế của nhân loại kể từ thời kỳ cổ đại cho tới ngàynay, do đặc thù trình độ phát triển ứng với mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi nền sản xuất
xã hội mà hình thành nhiều tư tưởng, trường phái lý luận về kinh tế khác nhau.Mặc dù có sự đa dạng về nội hàm lý luận, nội dung tiếp cận và đối tượng nghiêncứu riêng phản ánh trình độ nhận thức, lập trường tư tưởng và quan điểm lợi íchcủa mỗi trường phái, song khoa học kinh tế nói chung và khoa học kinh tế chính trịnói riêng đều có điểm chung ở chỗ: là kết quả của quá trình không ngừng hoànthiện Các phạm trù, khái niệm khoa học với tư cách là kết quả nghiên cứu và pháttriển khoa học kinh tế chính trị ở giai đoạn sau đều có sự kế thừa một cách sáng tạotrên cơ sở những tiền đề lý luận đã được khám phá ở giai đoạn trước đó, đồng thời,dựa trên cơ sở kết quả tổng kết thực tiễn kinh tế của xã hội đang diễn ra Kinh tếchính trị Mác - Lênin, một trong những môn khoa học kinh tế chính trị của nhânloại, được hình thành và phát triền theo logic lịch sử như vậy
Thuật ngữ khoa học kinh tế chính trị được xuất hiện ở châu Âu năm 1615 trong tácphẩm Chuyên luận về kinh tế chính trị của nhà kinh tế người Pháp tên là A.Montchretien Tới thế kỷ XVIII, với sự xuất hiện hệ thống lý luận của nhà kinh tếhọc người Anh tên là A.Smith, kinh tế chính trị chính thức trở thành môn học vớicác phạm trù, khái niệm chuyên ngành Từ đó, kinh tế chính trị không ngừng được
bổ sung, phát triển cho đến hiện nay
Quá trình phát triển của khoa học kinh tế chính trị được khái quát qua các thời kỳlịch sử như sau:
- Thứ nhất, từ thời cổ đại đến thế kỷ XVIII
- Thứ hai, từ sau thế kỷ thứ XVIII đến nay
Trong thời kỳ cổ, trung đại (từ thế kỷ XV về trước), trình độ phát triển của các nềnsản xuất còn lạc hậu, chưa có đầy đủ những tiền đề cần thiết cho sự hình thành các
lý luận chuyên về kinh tế Các tư tưởng kinh tế thường được thấy trong các tácphẩm triết học, luận lý
Sang thế kỷ XV, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành trong lòng cácquốc gia Tây Âu và dần thay thế phương thức sản xuất phong kiến ở đó Trình độmới của sản xuất xã hội đã trở thành tiền đề cho sự phát triển lý luận kinh tế chínhtrị
Trang 2Chủ nghĩa trọng thương được ghi nhận là hệ thống lý luận kinh tế chính trị bướcđầu nghiên cứu về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Chủ nghĩa trọng thương hình thành và phát triển trong giai đoạn từ giữa thế kỷ XVđến giữa thế kỷ thứ XVII ở Tây Âu Trong thời kỳ này, tư bản thương nghiệp cóvai trò thống trị nền kinh tế Chủ nghĩa trọng thương đã khái quát đúng mục đíchcủa các nhà tư bản là tìm kiếm lợi nhuận
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ từ nửa cuối thế kỷ XVII đến nửađầu thế kỷ thứ XVIII đã làm cho các quan điểm của chủ nghĩa trọng thương trởnên không còn phù hợp Lĩnh vực lý luận kinh tế chính trị trong thời kỳ này được
bổ sung bởi sự hình thành, phát triển của chủ nghĩa trọng nông ở nước Pháp
Chủ nghĩa trọng nông hướng việc nghiên cứu vào lĩnh vực sản xuất như giá trị,sản phẩm ròng, tư bản, tiền lương, lợi nhuận, tái sản xuất Sự phát triền của nền sảnxuất tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ tiếp theo đã làm cho chủ nghĩa trọng nông trởnên lạc hậu và dân nhường vị trí cho lý luận kinh tế chính trị cổ điển Anh
Kinh tế chính trị cổ điển Anh được hình thành và phát triển trong thời kỳ từ cuốithế kỷ thứ XVIII đến nửa đầu thế kỷ thứ XIX, mở đầu là các quan điểm lý luận củaW.Petty, tiếp đến là A.Smith và kết thúc ở hệ thống lý luận có nhiều giá trị khoahọc của D.Ricardo
Kinh tế chính trị cổ điển Anh nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sảnxuất, trình bày một cách hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị như phân công laođộng, hàng hóa, giá trị, tiền tệ, giá cả, giá cả thị trường, tiền lương, lợi nhuận, lợitức, địa tô, tư bản dể rút ra các quy luật kinh tế
Kể từ sau A.Smith, lý luận kinh tế chính trị chia thành hai dòng chính:
- Dòng lý thuyết khai thác các luận điểm của A.Smith khái quát dựa trên các quansát mang tính tâm lý, hành vi để xây dựng thành các lý thuyết kinh tế mới; khôngtiếp tục đi sâu vào vào phân tích, luận giải các quan hộ xã hội trong nền sản xuất
- Dòng lý thuyết thể hiện từ D.Ricardo kế thừa những giá trị trong lý luận khoa họccủa A.Smith, tiếp tục bô sung, hoàn chỉnh nội dung luận giải về các phạm trù kinh
tế chính trị, đi sâu vào phân tích các quan hệ xã hội trong nền sản xuất, tạo ranhững giá trị lý luận khoa học chuẩn xác
(1818-1883) C.Mác dựa trên sự kế thừa một cách có phê phán lý luận kinh tế chínhtrị cổ điển, trực tiếp là của D.Ricardo, C.Mác đã thực hiện xây dựng hệ thống lýluận kinh tế chính trị mang tính cách mạng, khoa học, toàn diện về nền sản xuất tưbàn chủ nghĩa, tìm ra những quy luật kinh tế chi phối sự hình thành, phát triển và
Trang 3luận chúng vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Cùng vớiC.Mác, Ph.Ăngghen (1820-1895) cũng là người có công lao vĩ đại trong việc công
bố lý luận kinh tế chính trị, một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác.Sau khi C.Mác và Ph.Ăngghen qua đời, V.I.Lênin tiếp tục kế thừa, bồ sung, pháttriển lý luận kinh tế chính trị theo phương pháp luận của C.Mác và có nhiều đónggóp khoa học rất lớn
Sau khi V.I.Lênin qua đời, các nhà nghiên cứu kinh tế của các Đảng Cộng sản trênthế giới tiếp tục nghiên cứu và bổ sung, phát triển kinh tế chính trị Mác - Lênin chođến ngày nay
2 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là gì? Vì sao KTCTnghiên cứu các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi trong mối liên hệ biệnchứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầngtương ứng của phương thức sản xuất?
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin được xác định dựa trênquan điểm duy vật lịch sử Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội Nhưngbất cứ nền sản xuất nào cũng đều diễn ra trong một phương thức sản xuất nhất địnhtức là trong sự thống nhất giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất Kinh tếchính trị là khoa học xã hội, đối tượng nghiên cứu của nó là mặt xã hội của sảnxuất, tức là quan hệ sản xuất hay là quan hệ kinh tế giữa người với người trong quátrình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là quan hệ sản xuất nhưng quan hệ sản
xuất lại tồn tại và vận động trong sự tác động qua lại với lực lượng sản xuất Mặt khác, quan hệ sản xuất tức là cơ sở hạ tầng xã hội cũng tác động qua lại với kiến
trúc thượng tầng, nhất là các quan hệ về chính trị, pháp lý… có tác động trở lạimạnh mẽ đối với quan hệ sản xuất Vậy đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị
là quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúcthượng tầng
Kinh tế chính trị là khoa học nghiên cứu quan hệ sản xuất nhằm tìm ra bản chất củacác hiện tượng và quá trình kinh tế, phát hiện ra các phạm trù, quy luật kinh tế ởcác giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người
Trang 4Các phạm trù kinh tế là những khái niệm phản ánh bản chất của những hiện tượngkinh tế như: hàng hóa, tiền tệ, giá trị, giá cả… Còn các quy luật kinh tế phản ánhnhững mối liên hệ tất yếu, bản chất, thường xuyên, lặp đi lặp lại của các hiệntượng và quá trình kinh tế.
Quy luật kinh tế có những tính chất sau:
Quy luật kinh tế là khách quan, nó xuất hiện, tồn tại trong những điều kiện kinh tếnhất định và mất đi khi các điều kiện đó không còn; nó tồn tại độc lập ngoài ýchí con người Người ta không thể sáng tạo, hay thủ tiêu quy luật kinh tế mà chỉ
có thể phát hiện, nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế để phục vụ cho hoạt độngkinh tế của mình
Quy luật kinh tế là quy luật xã hội, nên khác với các quy luật tự nhiên, quy luậtkinh tế chỉ phát sinh tác dụng thông qua hoạt động kinh tế của con người Nếunhận thức đúng và hành động theo quy luật kinh tế sẽ mang lại hiệu quả, ngược lại
sẽ phải chịu những tổn thất
Khác với các quy luật tự nhiên, phần lớn các quy luật kinh tế có tính lịch sử, chỉtồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định Do đó, có thể chia quy luật kinh tếthành hai loại Đó là các quy luật kinh tế đặc thù và các quy luật kinh tế chung Cácquy luật kinh tế đặc thù là các quy luật kinh tế chỉ tồn tại trong một phương thứcsản xuất nhất định Các quy luật kinh tế chung tồn tại trong một số phương thứcsản xuất
Nghiên cứu quy luật kinh tế có ý nghĩa quan trọng bởi vì các hiện tượng và quátrình kinh tế đều chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế Quy luật kinh tế là cơ sởcủa chính sách kinh tế Chính sách kinh tế là sự vận dụng các quy luật kinh tế vàcác quy luật khác vào hoạt động kinh tế Nó chỉ đi vào cuộc sống, mang lại hiệuquả kinh tế cao khi nó phù hợp với yêu cầu của quy luật kinh tế, và đáp ứngđược lợi ích kinh tế của con người Không hiểu biết, vận dụng sai hoặc coi thườngquy luật kinh tế sẽ không tránh khỏi bệnh chủ quan, duy ý chí, chính sách kinh tế
sẽ không đi vào cuộc sống, thậm chí còn gây hậu quả khó lường
Trang 53 Phân tích chức năng của kinh tế chính trị Mác – Lênin?
Chức năng nhận thức
Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn khoa học kinh tế cung cấp hệ thống tri thức lýluận về sự vận động của các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và traođổi; về sự liên hệ tác động biện chứng giữa các quan hệ giữa người với người trongsản xuất và trao đồi với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứngtrong những trình độ phát triển khác nhau của nền sản xuất xã hội
Kinh tế chính trị Mác - Lênin cung cấp hệ thống tri thức mở về những quy luật chiphối sự phát triển của sản xuất và trao đổi gắn với phương thức sản xuất, về lịch sửphát triển các quan hệ của sản xuất và trao đổi của nhân loại nói chung, về nền sảnxuất tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng
Chức năng thực tiễn
Trên cơ sở nhận thức được mở rộng, làm phong phú, trở nên sâu sắc do được tiếpnhận những tri thức là kết quả nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin, ngườilao động cũng như những nhà hoạch định chính sách hình thành được năng lực, kỹnăng vận dụng các quy luật kinh tế vào trong thực tiễn hoạt động lao động cũngnhư quản trị quốc gia của mình
Việc vận dụng đúng các quy luật kinh tế khách quan thông qua điều chỉnh hành vi
cá nhân hoặc các chính sách kinh tế sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội pháttriển theo hướng tiến bộ Kinh tế chính trị Mác - Lênin, theo nghĩa đó, thực hiệnchức năng cải tạo thực tiễn, thúc đẩy văn minh của xã hội Kinh tế chính trị thamgia đắc lực vào sự hình thành phương pháp luận, cơ sở khoa học để giải quyết hàihòa các quan hệ lợi ích trong quá trinh phát triển, tạo động lực thúc đẩy từng cánhân và toàn xã hội sáng tạo, từ đó cải thiện không ngừng đời sống vật chất, tinhthần của toàn xã hội
Chức năng tư tưởng
Kinh tế chính trị Mác - Lênin góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng mới cho nhữngngười lao động tiến bộ, biết quý trọng thành quá lao động của bản thân và của xãhội, yêu chuộng tự do, hòa bình, củng cố niềm tin cho sự phấn đấu vì mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Trang 6Kinh tế chính trị Mác - Lênin góp phần xây dựng lý tưởng khoa học cho những chủthể có mong muốn thực hành xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp, hướng tới giải phóngcon người, xóa bỏ dần những áp bức, bất công giữa con người với con người.
Chức năng phương pháp luận
Mỗi môn khoa học kinh tế có hệ thống phạm trù, khái niệm khoa học riêng, song
để hiểu được một cách sâu sắc, bản chất, thấy được sự gắn kết một cách biện chúnggiữa kinh tế với chính trị và căn nguyên của sự dịch chuyển trình độ văn minh của
xã hội thì cần phải dựa trên cơ sở am hiêu nền tảng lý luận từ kinh tế chính trị.Theo nghĩa này, kinh tế chính trị Mác - Lênin thề hiện chức năng phương phápluận, nền tảng lý luận khoa học cho việc nhận diện sâu hơn nội hàm khoa học củacác khái niệm, phạm trù của các khoa học kinh tế chuyên ngành trong bổi cảnhngày nay Thí dụ, lý thuyết tiền tệ của kinh tế học cũng nghiên círu về tiền, chỉ racác chức năng của tiền tệ Tuy nhiên, để hiểu được cội nguồn bản chất của tiềntrong tiến trình phát triển của sản xuất và trao đổi, mối quan hệ giữa tiền và thếgiới hàng hóa phản ánh bản chất nào và vì sao tiền tệ lại có các chức năng kháchquan ấy mà không phải do tâm lý chủ quan thừa nhận, vì sao tiền có thể mua đượccác loại hàng hóa thì đòi hỏi phải dựa trên nền tảng lý luận của kinh tế chính trị
Do vậy, chức năng phương pháp luận cần được kết hợp khi nghiên cứu các khoahọc kinh tế chuyên ngành
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2
1 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng lượng giá trị của hàng hoá? Phân tích bảnchất và chức năng của tiền?
Thứ nhất: Năng suất lao động
– Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động Nó được đo bằng số lượngsản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động haophí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
– Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động,nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cầnthiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất laođộng tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại.– Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Năng suất lao động lạiphụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
+ Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân
Trang 7+ Mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ.
+ Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất.+ Trình độ tổ chức quản lý
+ Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
+ Các điều kiện tự nhiên
Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên
Thứ hai: Cường độ lao động
– Cường độ lao động là đại lương chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn
vị thời gian, nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của laođộng
– Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sảnxuất ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương ứng, vì vậy giá trị củamột đơn vị hàng hóa vẫn không đổi Tăng cường độ lao động thực chất cũng nhưkéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩmkhông đổi
– Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau là đều dẫn đếnlượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên Nhưng chúng khácnhau là tăng năng suất lao động làm cho lượng sản phẩm (hàng hóa) sản xuất ratrong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng làm cho giá trị của một đơn vị hàng hóagiảm xuống
Tăng năng suất lao động có thể phụ thuộc nhiều vào máy móc, kỹ thuật, do đó, nógần như là một yếu tố có “sức sản xuất” vô hạn, còn tăng cường độ lao động, làmcho lượng sản xuất ra tăng lên trong một đơn vị thời gian, nhưng giá trị của mộtđơn vị hàng hóa không đổi Tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào thể chất
và tinh thần của người lao động, do đó, nó là yếu tố của ‘sức sản xuất” có giới hạnnhất định Chính vì vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa tích cực hơn đối với sựphát triển kinh tế
Thứ ba: Tính chất của lao động
Trang 8– Tính chất của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hóa.Theo tính chất của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và laođộng phức tạp.
+ Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cầnphải trải qua đào tạo cũng có thể làm được
+ Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới có thểlàm được
– Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao độnggiản đơn Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên Trongquá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy về lao động đơngiản trung bình, và điều đó được quy đổi một cách tự phát sau lưng những hoạtđộng sản xuất hàng hóa, hình thành những hệ số nhất định thể hiện trên thị trường
Bản chất của tiền
Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cảcác loại hàng hoá Nó là sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời nó biểu hiện quan
hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá
Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:
Giá trị sử dụng của tiền tệ: là khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền khi có nhu cầu trao đổi Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội qui
định: chừng nào xã hội còn thừa nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai tròvật trung gian môi giới trong trao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của nó với tưcách là tiền tệ còn tồn tại
Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm “sức mua tiền tệ”, đó là khả năng
đổi được nhiều hay ít hàng hoá khác trong trao đổi Tuy nhiên khái niệm sức muatiền tệ không được xem xét dưới góc độ sức mua đối với từng hàng hoá nhất định
mà xét trên phương diện toàn thể các hàng hoá trên thị trường
Chức năng của tiền tệ
Trang 9Tiền là thước đo giá trị, là phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiệnthanh toán và tiền tệ thế giới:
Tiền là thước đo giá trị, tức là nó dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của cáchàng hóa khác Khi đó, giá trị của hàng hóa được biểu hiện bằng một lượng tiềnnhất định gọi là giá cả hàng hóa Giá cả hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiềncủa giá trị hàng hóa Giá cả hàng hóa có thể lên xuống xung quanh giá trị nhưngtổng số giá cả luôn bằng giá trị
Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hóa, tức là tiền đóng vai trò là một phươngtiện lưu thông Khi ấy, trao đổi hàng hóa vận động theo công thức H – T – H’ Đây
là công thức lưu thông hàng hóa giản đơn Với chức năng này, tiền xuất hiện dướicác hình thức vàng thỏi, bạc nén, tiền đúc và cuối cùng là tiền giấy Tiền giấy là kýhiệu giá trị do nhà nước phát hành buộc XH công nhận Tiền giấy không có giá trịthực (không kể đến giá trị của vật liệu giấy dùng làm tiền) Khi thực hiện chứcnăng này, tiền giúp quá trình mua bán diễn ra dễ dàng hơn nhưng nó cũng làm việcmua bán tách rời nhau cả về không gian lẫn thời gian nên nó bao hàm khả năngkhủng hoảng
Tiền đôi khi được rút khỏi lưu thông và cất giữ lại Chỉ có tiền vàng, tiền bạc, cáccủa cải bằng vàng có giá trị thực mới thực hiện được chức năng lưu trữ Ngoài ra,tiền làm phương tiện cất trữ còn có tác dụng đặc biệt là dự trữ tiền cho lưu thông.Tiền làm phương tiện thanh toán có tác dụng đáp ứng kịp thời nhu cầu của ngườisản xuất hoặc tiêu dùng ngay cả khi họ chưa có tiền hoặc không đủ tiền Nhưng nócũng làm cho khả năng khủng hoảng tăng lên
Chức năng cuối cùng của tiền là tiền tệ thế giới Chức năng này xuất hiện khi buônbán vượt ra ngoài biên giới quốc gia, hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước.Khi thực hiện chức năng này, tiền thực hiện các chức năng: thước đo giá trị,phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, tín dụng, di chuyển của cải từ nướcnày sang nước khác Thực hiện chức năng này phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụngđược công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế Việc trao đổi tiền của nước nàysang tiền của nước khác tuân theo tỷ giá hối đoái, tức là giá cả của một đồng tiềnnước này được tính bằng đồng tiền của nước khác
Tóm lại, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, tiền có 5 chứcnăng Những chức năng này có quan hệ mật thiết và thông thường tiền làm nhiềuchức năng một lúc
Trang 102 Hãy chọn một loại hàng hóa và đóng vai người sản xuất ra nó để thảo luận vềthuộc tính và chỉ ra tầm quan trọng của hàng hóa đó đối với xã hội? Phân tích tráchnhiệm xã hội của mình đối với người tiêu dùng, cảm nhận tác động của quy luậtcạnh tranh và đề ra phương án để duy trì vị trí sản xuất của mình trên thị trường? Bài thảo luận tiến hành phân tích và giải đáp các câu hỏi có nội dung liên quanđến: Quá trình lao động sản xuất, tư liệu sản xuất, quy luật giá trị, phạm trù hànghóa sức lao động.
Khái niệm Hàng Hóa: là sản phẩm của lao động, có giá trị có thể thỏa mãn nhu cầunào đó của con người thông qua trao đổi hay buôn bán và được lưu thông trên thịtrường, có sẵn trên thị trường
Hàng hóa lựa chọn: Trái cây
-Trái cây cũng là 1 loại hang hóa
-Trái cây cũng có 2 thuộc tính cơ bản của hang hóa giống như bao loại hang hóakhác : (Giá trị sử dụng – Giá trị)
+ Giá trị sử dụng: là tính chất có ích, công dụng của vật thể đó có thể thoả mãn mộtnhu cầu nào đó cho việc sản xuất hoặc cho sự tiêu dùng cá nhân Giá trị sử dụngđược quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên và những thuộc tính mà con ngườihoạt động tạo ra cho nó
+Giá trị sử dụng của trái cây: bổ sung đa dạng các loại vitamin, làm đồ ăn trángmiệng , nước ép, sinh tố,v…
+Giá trị trao đổi: là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị sửdụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác.( trên một cơ sởchung, cái chung đó là lao động (thời gian lao động và công sức lao động) đượcchứa đựng trong hàng hoá, đó chính là cơ sở giá trị của hàng hoá.)
+Giá trị trao đổi của trái cây: 5kg Vải = 2kg thóc
+Giả sử 1 người nông dân làm ra được 5kg mất 5 giờ, người nông dân làm ra 2kgthóc cũng mất 5 giờ Trao đổi 5kg vải lấy 2kg thóc thực chất là trao đổi 5 giờ laođộng sản xuất ra 5kg vải với 5 giờ lao động sản xuất ra 2kg thóc
+ Như vậy, hao phí để sanrn xuất ra hàng hóa là cơ sở chung của trao đổi gọi là giátrị hàng hóa
-Đặc trưng của giá trị hàng hóa:
+ Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa
+ Giá trị là một phạm trù lịch sử, nghĩa là nó chỉ tồn tại ở những phương thức sảnxuất có sản xuất và trao đổi hàng hóa +Giá trị hàng hóa biểu hiện quan hệ sản xuất
xã hội, tức là quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa Trong nền kinh
tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ kinh tế giữa người với ngườibiểu hiện thành quan hệ giữa vật với vật Hiện tượng vật thống trị mgười gọi là sự
Trang 11sùng bái hàng hóa, khi tiền tệ xuất hiện thì đỉnh cao của sự sùng bái hàng hóa là sựsùng bái tiền tệ.
+ Giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sởcủa giá trị trao đổi Giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi cũng thay đổi theo
-Tầm quan trọng của trái cây: trái cây là 1 nguồn vitamin tự nhiên dồi dào giúp conngười có thể nạp vitamin bất cứ lúc nào, là đồ ăn tráng miệng sau mỗi bữa ăn hoặcbất cứ khi nào trong ngày Hiện nay giới trẻ rất yêu thích các loại sinh tố trái câyhay các loại kem, sữa chua trái cây vì nó mát ngon và đặc biệt rất hợp lí về mặt tàichính của học sinh, sinh viên Từ đó ta thấy được phần nào tầm quan trọng của tráicây đối với xã hội
Trách nhiệm xã hội của người sản xuất đối với người tiêu dùng được thể hiện ở 4khía cạnh: kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn
Khía cạnh kinh tế: sản xuất, cung cấp hàng hóa và dịch vụ, đảm
+ Khía cạnh kinh tế: sản xuất, cung cấp hàng hóa và dịch vụ, đảm bảo về chấtlượng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ từ khâu sản xuất đến tận tay người tiêudùng, đảm bảo sự an toàn, thông tin về sản phẩm, định giá phù hợp với điều kiệnkinh tế của khách hàng
+ Khía cạnh pháp lý: thực hiện đầy đủ những quy định pháp luật liên quan đến việccạnh tranh công bằng, bảo vệ người tiêu dùng; bảo vệ môi trường; khuyến khíchphát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái
+ Khía cạnh đạo đức: tôn trọng khách hàng, không làm tổn hại tới sức khỏe và lợiích của con người
+ Khía cạnh nhân văn: đặt quyền và lợi ích của người tiêu dùng lên hàng đầu
Tác động của quy luật cạnh tranh và phương án để duy trì sản xuất trên thị trường+Khái niệm cạnh tranh: là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhânhay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợinhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác
+ Cạnh tranh là động lực phát triển : cạnh tranh là động lực cho sự phát triển kinhtế- xã hội Cạnh tranh là sự chạy đua kinh tế, mà muốn thắng trong bất kì cuộcchạy đua nào cũng đòi hỏi phải có sức mạnh và kĩ năng
Trang 12 Tác động tích cực : thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triểnkinh tế thị trường, tạo cơ cấu điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ các nguồn lực.
Tác động tiêu cực: cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến tổn hại đến môi trườngkinh doanh, lãng phí nguồn lực, tổn hại phúc lợi xã hội
+ Phương án để duy trì sản xuất trên thị trường:
Sử dụng hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp
Cải tiến kĩ thuật, sử dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất
Tham khảo ý kiến người tiêu dung
Liên tục học hỏi, tiếp thu chính sách mới của thị trường
Tiếp cận thị trường một cách tốt nhất
Không sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh
3 Phân tích vai trò của thị trường? các chức năng của thị trường? Ưu thế và khuyếttật của nền kinh tế thị trường? Các quy luật cơ bản của thị trường?
Xét trong mối quan hệ với thúc đầy sản xuất và trao dồi hàng hóa (dịch vụ) cũng
như thúc đẩy tiến bộ xã hội, vai trò chủ yếu của thị trường có thề được khái quát
Thị trường là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng Thị trường đặt ra các nhu cầucho sản xuất cũng như nhu cầu tiêu dùng Vì vậy, thị trường có vai trò thông tin,định hướng cho mọi nhu cầu sản xuất kinh doanh
Hai là, thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạo ra cách thức phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế.
Thị trường thúc đẩy các quan hệ kinh tế không ngừng phát triển Do đó, đòi hỏi cácthành viên trong xã hội phải không ngừng nỗ lực, sáng tạo để thích ứng dược với
sự phát triển của thị trường
Thông qua thị trường, các nguồn lực cho sản xuất được điều tiết, phân bồ tới cácchủ thể sử dụng hiệu quả, thị trường tạo ra cơ chế để lựa chọn các chủ thể có nănglực sử dụng nguồn lực hiệu quả trong nền sản xuất
Trang 13Ba là, thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới.
Xét trong phạm vi quốc gia, thị trường làm cho các quan hệ sản xuất lưu thông,phân phối, tiêu dùng trở thành một thể thống nhất
Xét trong quan hệ với nền kinh tế thế giới, thị trường tạo ra sự gắn kết nền kinh tếtrong nước với nền kinh tế thế giới
Vai trò của thị trường luôn không tách rời với cơ chế thị trường Thị trường trở nênsống động bởi có sự vận hành của cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường là hệ thông các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo yêucầu của các quy luật kinh tế
Cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguôn vôn,tài nguyên, công nghệ, sức lao động, thông tin, trí tuệ., trong nền kinh tế thị trường
Chức năng của thị trường:
Chức năng thừa nhận:
Nếu sản phẩm doanh nghiệp sản xuất hay nhập khẩu tiêu thụ được trên thị trường,tức là khi đó hàng hoá của doanh nghiệp đã được thị trường chấp nhận, lúc ấy sẽtồn tại một lượng khách hàng nhất định có nhu cầu và sãn sàng trả tiền để có hànghoá nhằm thoả mãn nhu cầu đó và quá trình tái sản xuất đầu tư của doanh nghiệpnhờ đó mà cũng được thực hiện
Chức năng thực hiện của thị trường
Thông qua các hoạt động trao đổi trên thị trường, người bán và người mua thựchiện được các mục tiêu của mình Người bán nhận tiền và chuyển quyền sở hữucho người mua Đổi lại, người mua trả tiền cho người bán để có được giá trị sửdụng của hàng hoá
Chức năng điều tiết và kích thích của thị trường
Cơ chế thị trường sẽ điều tiết việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tức là kích thích cácdoanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực có mức lợi nhuận hấp dẫn, có tỷsuất lợi nhuận cao, tạo ra sự di chuyển sản xuất từ ngành này sang ngành khác
Trang 14 Chức năng thông tin của thị trường
Chức năng này được thể hiện ở chỗ, thị trường chỉ cho người đầu tư kinh doanhbiết nên cung cấp hàng hoá và dịch vụ nào, bằng cách nào và với khối lượng baonhiêu để đưa vào thị trường tại thời điểm nào là thích hợp và có lợi nhất, chỉ chongười tiêu dùng biết nên mua những loại hàng hoá và dịch vụ tại những thời điểmnào là có lợi cho mình
Ưu thế của nền kinh tế thị trường
Một là, nền kinh tế thị trường luôn tạo động lực cho sự sáng tạo các chủ thể kinh
tế Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể luôn có cơ hội để tìm động lực cho sựsáng tạo của mình
Hai là, nền kinh tế thị trường luôn phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ thểcũng như lợi thế quốc gia
Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa nhucầu của con người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội
Khuyết tật của nền kinh tế thị trường
Một là, trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những rủi ro khủng hoảng Sự vậnđộng của cơ chế thị trường không phải khi nào cũng tạo được những cân đối, do
đó, luôn tiềm ẩn những nguy cơ khủng hoảng
Hai là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt tàinguyên không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
Ba là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu sắctrong xã hội
Một số quy luật kinh tế chủ yếu của nền kinh tế thị trường
* Quy luật giá trị
Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giátrị
Về nội dung, quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải đượctiến hành trên cơ sở của hao phí lao động xã hội cần thiết
Quy luật giá trị hoạt động và phát huy tác dụng thông qua sự vận động của giá cảxung quanh giá trị dưới sự tác động của quan hệ cung - cầu Trong nền kinh tếhàng hóa, quy luật giá trị có những tác động cơ bản sau:
Trang 15Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hỏa sản xuất nhằm tăng năng suất laođộng
Thứ ba, phân hoá những người sản xuất thành những người giàu, người nghèo mộtcách tự nhiên
* Quy luật cung - cầu
Quy luật cung cầu là quy luật kinh tế điều tiết quan hộ giữa cung (bên bán) và cầu(bên mua) hàng hóa trên thị trường Quy luật này đòi hỏi cung - cầu phải có sựthống nhất
Quy luật cung - cầu có tác dụng điều tiết quan hệ giữa sản xuất và lưu thông hànghoá; làm thay đổi cơ cấu và quy mô thị trường, ảnh hưởng tới giả của hàng hóa
* Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật lưu thông tiền tệ yêu cầu việc lưu thông tiền tệ phải căn cứ trên yêu cầucủa lưu thông hàng hóa và dịch vụ
Theo yêu cầu của quy luật, việc đưa số lượng tiền cần thiết cho lưu thông trongmỗi thời kỳ nhất định phải thống nhất với lưu thông hàng hóa Việc không ăn khớpgiữa lưu thông tiền tệ với lưu thông hàng hóa có thể dẫn tới trì trệ hoặc lạm phát
* Quy luật canh tranh
Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế điều tiết một cách khách quan mối quan hệganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất và trao đôi hàng hoá Quy luậtcạnh tranh yêu cầu, khi đã tham gia thị trường, các chủ thể sản xuất kinh doanh,bên cạnh sự hợp tác, luôn phải chấp nhận cạnh tranh
Kinh tế thị trường càng phát triển thì cạnh tranh trên thị trường càng trở nênthường xuyên, quyết liệt hơn
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có thể diễn ra giữa các chủ thể trong nội
bộ ngành, cũng có thể diễn ra giữa các chủ thề thuộc các ngành khác nhau
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Trang 16Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các chủ thề kinh doanh trongcùng một ngành hàng hóa
- Cạnh tranh giữa các ngành
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh giữacác ngành khác nhau
Mục đích của cạnh tranh giữa các ngành là nhằm tìm nơi đầu tư có lợi nhất
Biện pháp cạnh tranh giữa các ngành là các doanh nghiệp tự do di chuyển nguồnlực của mình từ ngành này sang ngành khác, vào các ngành sản xuất kinh doanhkhác nhau
- Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Những tác động tích cực của cạnh tranh
Thứ nhất, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất
Thứ hai, cạnh tranh thúc đấy sự phát triển nền kinh tế thị trường
Thứ ba, cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bồ các nguồn lực.Thứ tư, cạnh tranh thúc đẩy năng lực thỏa mãn nhu cầu của xã hội
Những tác động tiêu cực của cạnh tranh
Khi thực hiện cạnh tranh thiếu lành mạnh, cạnh tranh có thể dẫn tới các tác độngtiêu cực như:
Một là, cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại môi trường kinh doanh
Hai là, cạnh tranh không lành mạnh gây lãng phí nguồn lực xã hội
Ba là, cạnh tranh không lành mạnh gây làm tổn hại phúc lợi của xã hội
Trang 174 Với vai trò là người tiêu dùng, từ kinh nghiệm thực tế của bản thân, hãy thảoluận và chỉ ra vai trò và biện pháp của người tiêu dùng cần phải làm để bảo vệquyền lợi của mình đặt trong mối quan hệ với người sản xuất và xã hội khi tiêudùng hàng hóa?.
Để bảo vệ được lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng thì sẽ còn rất nhiều việc phảilàm Ngoài việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thì vấn đề là có luật rồi chúng ta sẽthực thi như thế nào và phải có bộ máy để quản lý hữu hiệu hàng hóa, thị trường.Phải xây dựng được phong trào bảo vệ người tiêu dùng trong mọi người, mọi cơquan, đoàn thể, vì bảo vệ người tiêu dùng là trách nhiệm của toàn xã hội Phải xâydựng các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng đủ mạnh, được sự đầu tư, quan tâm hơnnữa của Nhà nước Ngoài Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng ở Trungương, cần tổ chức hệ thống các hội bảo vệ người tiêu dùng tới tất cả các tỉnh, thànhphố, thậm chí phải có phân hội bảo vệ người tiêu dùng trong từng lĩnh vực, hànghóa các cơ quan báo đài truyền hình Trung ương và các phương tiện thông tin đạichúng thường xuyên đăng tải những thông tin về những cơ sở có hàng giả, hàngkém chất lượng, đối xử không tốt với người tiêu dùng để người tiêu dùng biết vàtránh
Văn hóa tiêu dùng hay chuyện từ bỏ câu “thật thà cũng thể lái buôn”
CÂU HỎI THẢO LUẬN ÔN TẬP CHƯƠNG 3
1 Để có nhiều giá trị thặng dư, các nhà sản xuất sử dụng nhiều phương pháp sảnxuất giá trị thặng dư khác nhau, hãy làm rõ việc sử dụng những phương pháp nàytrong bối cảnh Việt Nam và những hệ quả của quá trình này?
Sản xuất giá trị thặng dư việc nghiên cứu hai phương pháp nói trên, khi gạt bỏ mụcđích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêungạch có thể vận dụng trong các doanh nghiệp nước ta nhằm kích thích sản xuất,tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiếtkiệm chi phí sản xuất Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước
ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho các nhà hoạch định chínhsách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt
để các nguồn lực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh Về cơ bản lâu dài, cầnphải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp hóa,
Trang 18hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động
xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được vận dụng vàcông cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta hiện nay Giá trị thặng dư là
do lao động không công của công nhân lao động làm thuê tạo ra, là mục đích, kếtquả hoạt động của tư bản của giai cấp tư sản Trong xã hội chủ nghĩa, việc bóc lộtsức lao động không công của con người công nhân không còn nữa, nhưng không
có nghĩa là giá trị thặng dư không còn tồn tại mà giá trị thặng dư được sử dụng vàomục đích khác không giống như giai cấp tư sản, đó là giá trị thặng dư thu được là
cơ sở, tiền đề để xây đất nước, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, vìmục đích phát triển xã hội chủ nghĩa Vì con người không tách ra khỏi xu hướngcủa xã hội, Việt Nam vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào côngcuộc dây dựng đất nước, trong đó tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa là mộtnhiệm vụ hàng đầu, đây cũng là một quy luật đặc biệt của quá trình sản xuất pháttriển kinh tế mỗi quốc gia Công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta là quá trìnhchuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản
lý kinh tế xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là sử dụng một cách phổ biến côngnghệ phương tiện tiêu biểu,hiện đại hóa là quá trình tạo ra những tiền đề về vậtchất, kỹ thuật, về con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp, những yếu tố
cơ bản của lực lượng sản xuất cho chủ nghĩa xã hội Nội dung cốt lõi của côngnghiệp hóa – hiện đại hóa là cải tiến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sửdụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại đạt tới năng suất lao động xã hội cao, tạo thành sựđổi mới trong tất cả các ngành nghề lĩnh vực Là một nước tiến lên xã hội chủnghĩa và không qua giai đoạn thống trị của giai cấp tư sản Vì vậy, chúng ta khôngđược thừa kế tất cả những tiền đề nảy sinh một cách tự phát như những sáng tạocủa người đi trước cho dù chúng chỉ là nhân tố vô cớ Điểm xuất phát để nhận thứctầm quan trọng của học thuyết giá trị thặng dư chính là luận điểm sản phẩm của laođộng thừa vượt qua những chi phí để duy trì lao động và việc xây dựng, tích lũyquỹ sản xuất xã hội và dự trữ “ tất cả những cái đó đã đang và sẽ mãi mãi vẫn là cơ
sở cho mọi sự tiến bộ về xã hội, về chính trị và về tinh thần Nó sẽ là điều kiện vàđộng cơ kích thích sự tiến bộ hơn nữa” Chúng ta lựa chọn con đường đi lên chủnghĩa xã hội từ điểm xuất phát là nước tiểu nông cũng có nghĩa từ một nước chưa
có nền kinh tế hàng hóa mặc dù có sản xuất hàng hóa Cái thiếu của đất nước ta làchưa chải qua sự ngự trị của cách tổ chức của kinh tế xã hội theo kiểu tư bản chủnghĩa Đất nước ta đang đứng trước một nhiệm vụ cháy bỏng và tạo ra tiền đề thựctiễn tuyệt đối cần thiết, đó là sự phát triển của sức sản xuất, phát triển kinh tế hànghóa sẽ tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư dù chúng biểu hiện những quan hệ
xã hội khác nhau Chúng ta không thể đạt được những mục tiêu kinh tế ấy ngaytrong thời gian ngắn mà phải rút ngắn những quá trình tất yếu mà chủ nghĩa tư bản
Trang 19đã phải trải qua và đang thực hiện để có một nền kinh tế thị trường như ngày nay.
Đó là một quá trình phát triển trải qua nhiều giai đoạn phân công lao động, khikhoa học công nghệ phát triển sản xuất và chiếm đoạt giá trị thặng dư của chủnghĩa tư bản đã diễn ra một cách tự phát và tuần tự Trong hoàn cảnh đất nước tahiện nay cần có phương hướng khai thác và vận dụng những tư tưởng và cácnguyên lý của học thuyết giá trị thặng dư một cách hiệu quả để đạt được nhữngthành tựu mới đưa nền kinh tế đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa Cần phải nhận thức lại hàng hóa sức lao động không phải là phạm trù riêng
có của chủ nghĩa tư bản và phạm trù giá trị thặng dư xét về mặt định lượng cũngvậy Nó tồn tại như một bước tiến của các xã hội mà ở đó năng suất lao động vượtkhỏi lao động tất yếu của họ Nó là nguồn gốc của tích lũy để mở rộng và hiện đạihóa sản xuất kinh doanh, là nguồn gốc của sự giàu có văn minh Chính nó đòi hỏi
Xây dựng đồng bộ các loại thị trường, kể cả thị trường sức lao động
Vấn đề thu hồi giá trị thặng dư và định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chophép bóc lột giá trị thặng dư đã được Lê Nin trình bày lý luận và kinh nghiệm chỉđạo thực tiễn vấn đề đặt cho chúng ta là :
Điều tiết một cách đúng đắn, đầy đủ, không để thất phần giá trị thặng dư vào ngânsách nhà nước
Nhà nước sử dụng giá trị thặng dư được điều tiết sao cho có lợi đối với việc thựchiện mục tiêu “ Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”
Nhà nước phải đủ mạnh về thực lực kinh tế, năng lực quản lý và uy tín đối với xãhội
Ngăn chặn được những ma lực hút sự vận động của nền kinh tế đi lệch khỏi quỹđạo xã hội chủ nghĩa Kết quả phát triển khả quan của Việt Nam cho thấy trongnhững năm vừa qua nước ta đã xác định đúng mục tiêu và nhiệm vụ của mình.Chúng ta đã đi đúng hướng trong phát triển kinh tế, con đường phát triển kinh tếtheo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước là hoàn toàn phù hợp nhưngcũng phải khẳng định rằng Việt Nam cần phải cố gắng nhiều hơn nữa thì mới cóthể đạt được được mục tiêu
Trang 202 Phân tích bản chất của tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tíchlũy? Anh/chị hãy cho biết ý nghĩa của việc phân tích này trong thực tiễn ViệtNam?
tích luỹ
tư bản là sự chuyển hoá của giá trị thặng dư trở lại thành tư bản, theo ngôn ngữ dễ hiểu của các nhà đầu tư thì đây là quá trình giữ lại một phần lợi nhuận để gộp vàovới
phần giá trị vốn bỏ ra từ đầu, sau khi bán hàng đã thu về được để làm vốn cho việctái
sản xuất mở rộng vào lần sau Từ đó, có thể rút ra rằng, thực chất quá trình tích luỹ
phần giá trị vốn bỏ ra từ đầu, sau khi bán hàng đã thu về được để làm vốn cho việctái
sản xuất mở rộng vào lần sau Từ đó, có thể rút ra rằng, thực chất quá trình tích luỹ
tư
bản chính là tư bản hoá giá trị thặng dư Sở dĩ giá trị thặng dư có thể chuyển hoáthành
tư bản được bởi vì nó đã mang sẵn những yếu tố vật chất của tư bản mới
tích luỹ tư bản là sự chuyển hoá của giá trị thặng dư trở lại thành tư bản, theo ngônngữ dễ hiểu của các nhà đầu tư thì đây là quá trình giữ lại một phần lợi nhuận đểgộp vào với phần giá trị vốn bỏ ra từ đầu, sau khi bán hàng đã thu về được để làmvốn cho việc tái sản xuất mở rộng vào lần sau Từ đó, có thể rút ra rằng, thực chấtquá trình tích luỹ tư bản chính là tư bản hoá giá trị thặng dư Sở dĩ giá trị thặng dư
có thể chuyển hoá thành tư bản được bởi vì nó đã mang sẵn những yếu tố vật chấtcủa tư bản mới
Các nhân tố ảnh hưởng:
-Trình độ bóc lột giá trị thặng dư
Các nhà tư bản nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền
Trang 21giữa công nhân và nhà tư bản là sự trao đổi ngang giá, tức là tiền công bằng giá trịsức lao động Nhưng trong thực tế, công nhân không chỉ bị nhà tư bản chiếm đoạtlao động thặng dư, mà còn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, tức cắt xéntiền công, để tăng tích lũy tư bản.
Các nhà tư bản còn nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng cường
độ lao động và kéo dài ngày lao động để tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhờ đótăng tích lũy tư bản Cái lợi ở đây còn thể hiện ở chỗ nhà tư bản không cần ứngthêm tư bản để mua thêm máy móc, thiết bị mà chỉ cần ứng tư bản để mua thêmnguyên liệu là có thể tăng được khối lượng sản xuất, tận dụng được công suất củamáy móc, thiết bị, nên giảm được hao mòn vô hình và chi phí bảo quản của máymóc, thiết bị
– Trình độ Năng suất lao động xã hội
Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùnggiảm Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích lũy: một là, với khối lượng giá trịthặng dư nhất định, phần dành cho tích lũy có thể lấn sang phần tiêu dùng, trongkhi sự tiêu dùng của nhà tư bản không giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơntrước; hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích lũy cũng có thểchuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiềuhơn trước
Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều yếu tố phụ thêm cho tích lũynhờ việc sử dụng vật liệu mới và tạo ra công dụng mới của vật liệu hiện có nhưnhững phế thải trong tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân của xã hội, những vậtvốn không có giá trị Cuối cùng, năng suất lao động tăng sẽ làm cho giá trị của tưbản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh
– Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động (máy móc, thiết bị) tham gia toàn bộ vàoquá trình sản xuất, nhưng chúng chỉ hao mòn dần, do đó giá trị của chúng đượcchuyển dần từng phần vào sản phẩm Vì vậy có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng
và tư bản tiêu dùng Mặc dù đã mất dần giá trị như vậy, nhưng trong suốt thời gian
Trang 22đến phần giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian, thì máymóc phục vụ không công chẳng khác gì lực lượng tự nhiên.
Máy móc, thiết bị càng hiện đại, thì sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bảntiêu dùng càng lớn, do đó sự phục vụ không công của máy móc càng lớn, tư bản lợidụng được những thành tựu của lao động quá khứ càng nhiều Sự phục vụ khôngcông đó của lao động quá khứ là nhờ lao động sống nắm lấy và làm cho chúng hoạtđộng Chúng được tích lũy lại cùng với quy mô ngày càng tăng của tích lũy tư bản– Quy mô tư bản ứng trước
Với trình độ bóc lột không thay đổi, thì khối lượng giá trị thặng dư do khối lượng
tư bản khả biến quyết định Do đó quy mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tưbản khả biến càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được càng lớn, do đótạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích lũy tư bản
Từ sự nghiên cứu bốn nhân tố quyết định quy mô của tích lũy tư bản có thể rút ranhận xét chung là để tăng quy mô tích lũy tư bản, cần khai thác tốt nhất lực lượnglao động xã hội, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để công suất của máy móc,thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu
Liên hệ với tình hình tích luỹ ở Việt Nam
– Làm cho qui mô vốn ngày càng tăng, có điều kiện cải tiến kĩ thuật ứng dụngthành tựu khoa học công nghệ, có khả năng giành thắng lợi trong cạnh tranh
– Hiểu và nắm được các nhân tố tăng qui mô tích lũy, từ đó vận dụng trong sảnxuất kinh doanh để tăng vốn và sử dụng vốn có hiệu quả kinh tế
– Tăng năng suất lao động là cách sử dụng vốn có hiệu quả nhất (hạ giá trị cá biệt,
hạ giá trị sức lao động, tăng thêm tích lũy vốn…)
– Tăng khấu hao tư liệu sản xuất, tránh được hao mòn vô hình, có ý nghĩa rất lớntăng tích lũy vốn sản xuất và sử dụng tư liệu sản xuất có hiệu quả
Trang 233 Hãy làm rõ những hàm ý của chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận, tỷsuất lợi nhuận bình quân
Chi phí sản xuất:
+ Ý nghĩa hai mặt của CPSX:
CPSX biểu hiện sự chuyển hóa hao phí lao động thành chi phí tư bản tức là biểuhiện hình thái chuyển hóa của giá trị => CPSX là một phạm trù đặc thù củaphương thức SX TBCN
CPSX biểu hiện dưới hình thái chi phí về giá trị, những chi phí thực tế về TLSX
Nó biểu hiện những quan hệ kỹ thuật giữa sản phẩm vừa mới làm ra à những sảnphẩm đã làm ra trước đây được dùng để sản xuất sản phẩm mới Với ý nghĩa nàythì Mác nhận xét rằng: “nó hoàn toàn không phải là một khoản mục chỉ có trong kếtoán TBCN” hay nó cũng có trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn và không phảiphạm trù đặc thù của phương thức SX TBCN
Nhưng CPSX ở đây là sự chi phí các yếu tố sản xuất không phải dưới hình tháihiện vật mà dưới hình thái giá trị Ví dụ nếu người sản xuất hàng hóa mua đượccác yếu tố sản xuất rẻ hơn, thì đối với họ điều đó được coi là tiết kiệm, tiết kiệmtrong việc chi tiêu tiền, mặc dầu không có một chút tiết kiệm nào trong việc chi phíbản thân vật liệu Trong XH CSCN không có loại tiết kiệm như vậy, ở đó chỉ cóthể có sự tiết kiệm sử dụng bản thân các TLSX Còn trong SX TBCN, việc hạ thấptiền công xuống thấp hơn giá trị sức lao động cũng được coi là tiết kiệm
với ý nghĩa hai mặt trên thì CPSX là một phạm trù lịch sử chỉ có trong sản xuấthàng hóa TBCN
Trang 24Trong giá trị hàng hóa đã được thực hiện bao giờ cũng phải trích ra một bộ phận để
bù đắp cả giá trị SLĐ lẫn giá trị TLSX
không còn sự khác nhau giữa TBBB và TBKB Do đó, CPSX lại biểu hiện thànhyếu tó hình thành bản thân giá trị hàng hóa, thành nguồn gốc và kẻ sáng tạo ra giátrị hàng hóa
+ CPSX và tư bản ứng trước:
CPSX không bao gồm toàn bộ tư bản ứng trước mà chỉ gồm có bộ phận tư bản ứngtrước dùng để trả tiền công và chi phí cho những tư liệu sản xuất được tiêu dùngtoàn bộ trong quá trình sản xuất, còn công cụ lao động thì chi phí sản xuất chỉ baogồm một phần giá trị của nó thôi
Sự khác nhau giữa CPSX và tư bản ứng trước là cái trước hết bắt ta phải phân biệt
tư bản lưu động và tư bản cố định Sự khác nhau đó biểu hiện trong thực tiễn hàngngày, trong việc tính toán giá thành Khi tính giá thành, nhà tư bản buộc phải phânbiệt bộ phận tư bản phải được bù đắp lại hoàn toàn sau khi bán hàng hóa và bộphận tư bản chỉ có thể được bù đắp từng phần
Lợi nhuận:
+ Lợi nhuận là hình thái chuyển hóa của GTTD:
Lợi nhuận với nghĩa trực tiếp là số tăng thêm ngoài chi phí sản xuất và là mức lớnlên của toàn bộ tư bản ứng trước Lợi nhuận không nằm trong CPSX Theo nghĩa
đó thì một bộ phận hàng hóa tạo thành lợi nhuận vì có một bộ phận khác đã bù đắp
đủ số tư bản chi phí vào sản xuất Tư bản đã chi phí vào sản xuất quay trở về nhà
tư bản cùng với số tăng thêm, còn toàn bộ tư bản ứng trước thì được tăng thêm mộtlượng bằng tổng số lợi nhuận
Khi lợi nhuận là kết quả hoạt động của tư bản thì đối với lợi nhuận, không còn có
sự khác nhau giữa tư bản cố định và tư bản lưu động nữa Lợi nhuận được biểuhiện thành kết quả hoạt động của toàn bộ tư bản ứng trước, của cả tư bản lưu độnglẫn tư bản cố định, sự khác nhau giữa hai thứ tư bản này chỉ còn lại trong CPSX