Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin: Trong đời sống xã hội có vô vàn các hiện tượng và quá trình kinh tế khác nhau, cần cómột khoa học nhằm phát hiện bản chất và mối
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÁC-LÊNIN
1, Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác-Lênin
Kinh tế chính trị là môn học thuộc khoa học xã hội, là một trong ba bộ phận cấu thànhchủ nghĩa Mác – Lênin
1.1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin:
Trong đời sống xã hội có vô vàn các hiện tượng và quá trình kinh tế khác nhau, cần cómột khoa học nhằm phát hiện bản chất và mối quan hệ của các hiện tượng và quá trình
đó, giải thích nguồn gốc và động lực của sự phát triển kinh tế, xác định những quy luậtchi phối sự vận động của chúng Môn khoa học đó là kinh tế chính trị Từ thời xưa, trongcác công trình nghiên cứu của nhà bác học cổ đại như Cơ-xê-nô-phông, Platôn, A-ri-xtốt
và trong các tác phẩm của nhà tư tưởng Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ thời đó xem xét tớinhiều quá trình kinh tế quan trọng Tuy nhiên, đó mới chỉ là những kiến thức kinh tế rờirạc, pha trộn với kiến thức khoa học khác, chưa tách thành hệ thống của một khoa họcriêng Thuật ngữ “Kinh tế chính trị” lần đầu tiên được nhà kinh tế học người Pháp làMông-cơ-rê-chiên sử dụng để đặt tên cho môn khoa học này vào năm 1615 Song, kinh tếchính trị chỉ thực sự trở thành môn khoa học mà lúc đầu là kinh tế chính trị tư sản cổ điểnAnh kể từ W Petty, A Smith, D Ricardo Đặc biệt, vào giữa thế kỷ XIX, kinh tế chính trịMác – xít ra đời, do C Mác và F Ăngghen sáng lập, sau này được V.I Lênin bổ sung vàphát triển trong điều kiện chủ nghĩa tư bản độc quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa.Các ông đã phát triển lý luận một cách xuất sắc, thực hiện cuộc cách mạng trong lĩnh vựckinh tế chính trị Theo C Mác, F Ăngghen và V.I Lênin: Kinh tế chính trị là môn khoahọc xã hội, không trực tiếp nghiên cứu mặt tự nhiên của sản xuất mà nghiên cứu mặt xãhội của sản xuất – nghiên cứu những cơ sở kinh tế chung của đời sống xã hội, tức lànghiên cứu các quan hệ kinh tế trong giai đoạn phát triển nhất định – của xã hội loàingười Tức là, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là mối quan hệ giữa người vớingười hình thành trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải, tức lànghiên cứu quan hệ sản xuất Tuy nhiên, khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu của kinh tếchính trị, cần lưu ý hai đặc điểm: - Không nghiên cứu quan hệ sản xuất một cách cô lập
mà nghiên cứu trong sự tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng
Vì lực lượng sản xuất với tư cách là nội dung có ảnh hưởng quyết định đối với quan hệsản xuất với tư cách là hình thức kiến trúc thượng tầng, nhất là Nhà nước mà các lụâtpháp và chính sách và cơ chế của nó khi ban hành sẽ có tác dụng nhất định đối với quan
hệ sản xuất với tư cách là cơ sở kinh tế - Không dừng lại ở hiện tượng mà nghiên cứu
Trang 2bản chất của quan hệ sản xuất – nghiên cứu các phạm trù, các quy luật kinh tế ở các giaiđoạn phát triển nhất định của xã hội loài người Phạm trù kinh tế là những khái niệmphản ánh bản chất của những hiện tượng kinh tế như hàng hoá, tiền tệ, giá trị, tư bảnv.v… Quy luật kinh tế là những mối liên hệ tất yếu, bản chất, có tính ổn định, thườngxuyên lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế Quy luật kinh tế mang tínhchất khách quan, tồn tại độc lập với ý thức con người; nó xuất hiện và phát huy tác dụngtrên cơ sở những điều kiện kinh tế nhất định Quy luật kinh tế chỉ có thể phát sinh tácdụng thông qua sự hoạt động của con người Đa số quy luật kinh tế có tính chất lịch sử,chỉ tồn tại trong điều kiện lịch sử nhất định Trong một phương thức sản xuất thường chỉ
có ba loại quy luật kinh tế hoạt động: các quy luật kinh tế chung tồn tại trong mọi phươngthức sản xuất như quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất, quy luật tăng năng suất lao động xã hội…; các quy luật chung, tồn tạitrong một số phương thức sản xuất như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ…; cácquy luật kinh tế đặc thù của mỗi phương thức sản xuất, trong đó có quy luật kinh tế cơbản phản ánh bản chất của phương thức sản xuất và quy định xu hướng vận động củaphương thức sản xuất đó Các phương thức sản xuất khác nhau được phân biệt bởi cácquy luật kinh tế đặc thù, nhưng chúng liên hệ với nhau nhờ những quy luật kinh tế chung.1.2 Phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị:
- Cũng như tất cả các khoa học, kinh tế chính trị sử dụng phép biện chứng duy vật làmphương pháp chung, cơ bản để nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế - Phươngpháp trừu tượng hoá khoa học là phương pháp quan trọng mang tính đặc thù của kinh tếchính trị để tiếp cận đối tượng nghiên cứu Đó là phương pháp loại bỏ khỏi quá trình vàhiện tượng được nghiên cứu những cái đơn nhất (không phổ biến), ngẫu nhiên, tạm thời,hoặc tạm gác lại những nhân tố nào đó để tách ra những quá trình và hiện tượng phổbiến, ổn định, điển hình, nhờ vậy mà nắm được bản chất của hiện tượng và quá trình đó.Trừu tượng hóa khoa học gắn liền với quá trình nghiên cứu đi từ cụ thể đến trừu tượng,nhờ đó tìm được những khái niệm, phạm trù và quy luật kinh tế Nó cũng được bổ sungbằng một quá trình ngược lại - đi từ trừu tượng đến cụ thể Song cái cụ thể này khôngphải là cụ thể trực quan mà là cái cụ thể đã được nhận thức và giải thích có căn cứ khoahọc - Phương pháp lôgic kết hợp chặt chẽ với phương pháp lịch sử Theo nguyên tắc lịch
sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy (lôgic) cũng bắt đầu từ đó – theo cách nói của F.Ăngghen – sự vận động tiếp tục của nó chẳng qua chỉ là sự phản ánh của quá trình lịch sửdưới hình thái trừu tượng nhất quán về lý luận C.Mác đã làm cuộc cách mạng trong việcxác định đối tượng và phương pháp của kinh tế chính trị so với các nhà kinh tế chính trịhọc tư sản cổ điển Kinh tế chính trị học có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội
Trang 3Trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay, viẹc học tập, nghiên cứu kinh tế chính trị
dã trở thành bức thiết nhằm khắc phục sự lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách rời
lý luận với cuộc sống, góp phần hình thành tư duy kinh tế mới không chỉ đối với cán bộlãnh đạo, quản lý và tổ chức thực tiễn, mà còn rất cần thiết đối với sinh viên các trườngĐại học, Cao đẳng trong cả nước
2, Hàng hóa (Khái niện hàng hóa; Hai thuộc tính của hàng hóa và tính chất hai mặt của lao động hàng hóa; Lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa)
* Khái niệm hàng hóa: Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu
cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
* Hàng hóa có hai thuộc tính: Giá trị sử dụng và Giá trị.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa:
+ Khái niệm: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của sản phẩm, có thế thỏa mãnnhu cầu nào đó của con người
+ Nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; có thể là nhu cầu chotiêu dùng cá nhân, có thể là nhu cầu cho sản xuất
+ Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng Nền sản xuấtcàng phát triển, khoa học, công nghệ càng hiện đại, càng giúp cho con người phát hiện
ra nhiều và phong phú hơn các giá trị sử dụng của sản phẩm
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu của người mua.Cho nên, nếu là người sản xuất, phải chú ý hoàn thiện giá tri sử dụng của hàng hóa domình sản xuất ra sao cho ngày càng đáp ứng nhu cầu khắt khe và tinh tế hơn của ngườimua
- Giá trị của hàng hóa:
+ Giá trị hàng hóa là do lao động xã hội (lao động trừu tượng) của con người sản xuấthàng hóa kết tinh trong hàng hóa
+ Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi Chất của giá trị là lao động, nên sảnphẩm không chưa đựng lao động thì không có giá trị Sản phẩm chứa đựng nhiều laođộng để tạo ra thì có giá trị cao Lượng giá trị là biểu hiện lượng lao động kết tinh trong
Trang 4hàng hóa Lường lao động kết tinh thay đổi dẫn đến giá trị trao đổi thay đổi Giá trị traođổi là hình thức biểu hiện của giá trị.
- Lao động trừu tượng:
+ Khái niệm lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không
kể đến hình thức cụ thể của nó; đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sảnxuất hàng hoá về cơ bắp, thần kinh, trí óc
+ Lao động trừu tượng là lao động đồng chất của người sản xuất hàng hóa
+ Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá
- Tính chất hai mặt nói trên liên quan đến tính chất tư nhân và tính chất xã hội của laođộng sản xuất hàng hóa
+ Tính chất tư nhân: Mỗi con người sản xuất hàng hóa có tính tự chủ của mình nên sảnxuất ra cái gì, sản xuất như thế nào là việc riêng của họ Vì vậy, lao động của họ trởthành việc riêng, mang tính tư nhân và lao động cụ thể của họ là biểu hiện của lao động
tư nhân
+ Tính chất xã hội: Lao đọng của mỗi sản xuất hàng hóa cũng là một bộ phận của laođộng xã hội trong hệ thống phân công lao động xã họi Phân công lao động xã hội làmcho lao động của người sản xuất trở thành một bộ phận trong lao động xã hội, từ đó tạo
ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất hàng hóa Việc trao đổi hàng hóakhông thể dựa vào lao động cụ thể mà phải quy thành lao động đồng nhất là lao độngtrừu tượng Do đó, lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã hội
Trang 5* Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
- Lượng giá trị hàng hóa
+ Giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội, trừu tượng của người sản xuất hàng hóakết tinh trong hàng hóa
+ Lượng lao động đã hao phí được tính bằng thời gian lao động Thời gian lao động nàyphải được xã hội chấp nhận, không phải là thời gian lao động của đơn vị sản xuất cábiệt, mà là thời gian lao động xã hội cần thiết
- Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sửdụng nào đó trong những điều kiện bình thường của xã hội với trình độ thành thạo trungbình, cường độ lao động trung bình
+ Trong thực hành sản xuất, người sản xuất thường phải tích cực đổi mới, sáng tạonhằm giảm thời gian hao phí lao động cá biệt tại đơn vị sản xuất của mình xuống mứcthấp hơn mức hao phí trung bình cần thiết Khi đó sẽ có được ưu thế trong cạnh tranh.+ Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa được sản xuất ra baohàm: hao phí lao động quá khứ (chứa trong các yếu tố vật tư, nguyên nhiên liệu đã tiêudùng để sản xuất ra hàng hóa đó) + hao phí lao động mới kết tinh thêm
* Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
- Năng suất lao động
+ Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượngsản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí để sảnxuất ra một đơn vị sản phẩm
+ Khi tăng năng suất lao động, sẽ làm giảm lượng thời gian hao phí lao động cần thiếttrong một đơn vị hàng hóa Cho nên, tăng năng suất lao động, sẽ làm giảm lượng giá trịtrong một đơn vị hàng hóa Năng suất lao động có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lượnggiá trị trong một đơn vị hàng hóa
+ Năng suất lao động gồm những yếu tố chủ yếu như: trình độ của người lao động; trình
độ tiên tiến và mức độ trang bị kỹ thuật, khoa học, công nghệ trong quá trình sản xuất;trình độ quản lý; cường độ lao động và yếu tố tự nhiên
- Cường độ lao động
Trang 6+ Là mức độ hao phí lao động của người lao động trong một đơn vị thời gian.
+ Cường độ lao động tăng nghĩa là mức hao phí sức lao động trong một đơn vị thời giantăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên Và nếucường độ lao động cững tăng lên thì tổng số hàng hóa cũng tăng lên nhưng tổng hao phísức lao động cũng tăng lên tương ứng cùng tỉ lệ Do đó , giá trị một đơn vị sản phẩmkhông thay đổi Vậy, trong thực tế, tăng cường độ lao động như kéo dài thời gian laođộng nên hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm không đổi
+ Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lí, quy mô và hiệu suất của tưliệu sản xuất, đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao động
- Mức độ phức tạp của lao động
Căn cứ theo độ phức tạp có thể chia ra lao động phức tập và lao động đơn giản
+ Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ thống,chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ cũng có thể thao tác được
+ Lao động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua một quá trìnhđào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn nhấtđịnh
Trong cùng một thời gian hao phí như nhau, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị lớnhơn gấp bội lần lao động giản đơn
3, Quy luật giá trị (Nội dung và tác động của quy luật giá trị)
a) Nội dung của quy luật giá trị
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá Ở đâu có sản xuất vàtrao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị
- Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiến hành trên cơ
sở của hao phí lao động xã hội cần thiết
- Theo yêu cầu của quy luật giá trị, người sản xuất muốn bán được hàng hóa trên thịtrường, muốn được xã hội thừa nhận sản phẩm thì lượng giá trị của một hàng hoá cá biệtphải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết Vì vậy họ phải luôn luôn tìm cách
hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần
Trang 7thiết Trong lĩnh vực trao đổi, phải tiến hành theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị xãhội làm cơ sở, không dựa trên giá trị cá biệt.
- Quy luật giá trị hoạt động và phát huy tác dụng thông qua sự vận động của giá cả xungquanh giá trị dưới sự tác động của quan hệ cung - cầu Giá cả thị trường lên xuống xoayquanh giá trị hàng hóa trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị Thông qua sự sựvận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị
- Những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tuân theo mệnh lệnh của giá cả thịtrường
b, Tác động của quy luật giá trị
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá điều hoá, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa:
các ngành, lĩnh vực
+ Thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quyluật cung cầu
+ Thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường
- Kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lựclượng sản xuất xã hội phát triển
+ Người sản xuất phải tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt bằng cách cải tiến kĩthuật,… để tăng năng suất lao động
+ Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm đẩy mạnh quá trình này
- Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất thành người giàu và ngườinghèo, đây là kết quả tất yếu của quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị
Quy luật giá trị vừa có tác dụng đào thải cái lạc hậu, lỗi thời, kích thích sự tiến bộ,làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ; vừa có tác dụng lựa chọn, đánh giángười sản xuất, bảo đảm sự bình đẳng đối với người sản xuất; vừa có cả những tác độngtích cực lẫn tiêu cực Các tác động đó diễn ra một cách khách quan trên thị trường nêncần có sự điều tiết của nhà nước để hạn chế tiêu cực, thúc đẩy tác động tích cực
4, Hàng hóa sức lao động(Khái niệm sức lao động và hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động)
Trang 8a, Khái niệm
- C.Mác viết: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất
và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem
ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”
- Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
+ Một, người lao động được tự do về thân thể
+ Hai, người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết hợp với sứclao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động
b, Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
- Giá trị hàng hoá sức lao động:
+ Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động
+ Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người
+ Thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động được quy thànhthời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt mà người laođộng cần sử dụng để tái sản xuất ra sức lao động liên tục
+ Giá trị hàng hoá sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của tư liệu sinh hoạt màngười lao động cần thiết để nuôi sống mình và gia đình của mình
+ Giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử
+ Giá trị hàng hoá sức lao động do 3 bộ phận hợp thành: Một là, giá trị tư liệu sinh hoạtcần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất ra sức lao động; Hai là, phí tổn đào tạongười lao động; Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần)nuôi con của người lao động
- Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động:
+ Giá trị sử dụng cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình sử dụng, tiêu dùng sức lao động
Trang 9+ Khác biệt: Giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá thông thường bị tiêu biến đi theothời gian, còn của sức lao động thì không bị tiêu biến mà còn sản xuất ra những cái mới,sáng tạo hơn
-> sức lao động là nguồn gốc sinh ra giá trị, tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bảnthân
- Phần giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động bị các nhà tư bản chiếm đoạt được gọi làgiá trị thặng dư
5, Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
a, Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:
- Kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều kiện thời gian lao động tấtyếu không đổi
- Giá trị thặng dư được sản xuất ra là giá trị thặng dư tuyệt đối
- Ngày lao động có những giới hạn nhất định: tinh thần, thể chất con người, sự phảnkháng của giai cấp công nhân
b, Sản xuất giá trị thặng dư tương đối:
- Rút ngắn thời gian lao động tất yếu, kéo dài thời gian lao động thặng dư trên cơ sởtăng năng suất lao động xã hội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi
- Giá trị thặng dư được sản xuất ra là gias trị thặng dư tương đối
- Cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu:
+ Giảm gias trị sức lao động -> giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêudùng -> tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt
+ Từ đó suy ra phải tăng năng suất lao động xã hội
- Giai đoạn đầu CNTB: sản xuất gtrị thặng dư tuyệt đối, sau là tương đối
- Hai phương pháp sản xuất trên được kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lộtcông nhân làm thuê
Trang 10c, Giá trị thặng dư siêu ngạch:
- Phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cábiệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của nó.(giảm hao phí lao động cá biệt)
- Theo đuổi gtrị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản, động lực mạnh nhấtthúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lso độnglàm tăng năng suất lao động xã hội
- Hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
+ Đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động
+ Khác nhau ở chỗ gtrị thặng dư siêu ngạch tăng năng suất lao động cá biệt lên, làm giátrị cá biệt thấp hơn giá trị thị trường của nó, việc này chỉ được thực hiện bởi 1 số nhà tưbản có kĩ thuật cao, tiên tiến làm được do đó biểu hiện cả mqh giữa nhà tư bản với côngnhân làm thuê và cạnh tranh giữa các nhà tư bản Còn gtrị thặng dư tương đối tăng năngsuất lao động xã hội, gtrị này được toàn bộ giai cấp các nhà tư bản thu được, thể hiệnquan hệ bóc lột giữa 2 giai cấp
+ Khi kĩ thuật được 1 số nhà tư bản áp dụng được áp dụng đại trà bởi tất cả các nhà tưbản thì giá trị thặng dư siêu ngạch biến thành tương đối
6, Tích lũy tư bản, Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản.
a, Bản chất của tích lũy tư bản:
- Tái sản xuất giản đơn: Là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô như cũ
- Tái sản xuất mở rộng: Là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước
- Khái niệm: Là quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa, thông qua việc biến giátrị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở rộng quy mô sản xuất, hay nói cách khác nhà
tư bản không sử dụng hết giá trị thặng dư thu được cho tiêu dùng cá nhân mà biến nóthành tư bản phụ thêm
Có thể thể hiện tích lũy tư bản với công thức sau:
Tích lũy tư bản = Giá trị thặng dư – Tiêu dùng cá nhân
+ Nguồn gốc của tích lũy tư bản là giá trị thặng dư, tư bản tích lũy chiếm tỉ trọng ngàycàng lớn trong toàn bộ tư bản
+ Động cơ tích lũy tư bản là quy luật GTTD và quy luật cạnh tranh
+ Tích lũy tư bản làm cho quan hệ SXTBCN trở thành thống trị và không ngừng mởrộng sự thống trị đó