BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM. LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA KHÁC Danh sách nhóm 1: TP. Hồ Chí Minh, năm 2021 MỤC LỤC BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3 LỜI NÓI ĐẦU 4 CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI 5 1. Khái niệm áp dụng PLNN 5 2. Nguyên nhân của việc áp dụng PLNN 5 3. Cơ sở áp dụng PLNN 5 CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC TRƯỜNG HỢP ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 8 1. Phân tích các trường hợp áp dụng PLNN theo các quy định trong BLDS 2015 8 1.1. Cách thức xác định nội dung PLNN 8 1.2. Các trường hợp PLNN được áp dụng 8 1.3. Áp dụng pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật 10 1.4. Các trường hợp không áp dụng PLNN 11 2. Phân tích các trường hợp áp dụng PLNN theo các quy định trong các văn bản pháp luật khác 11 2.1. Trường hợp 1: PLNN được áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, theo pháp luật Việt Nam (sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột). 12 2.2. Trường hợp 2: PLNN được áp dụng theo sự thỏa thuận của các bên (nếu đáp ứng các điều kiện chọn luật). 12 2.3. Trường hợp 3: PLNN được áp dụng khi là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài 13 CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 15 1. Đánh giá về điều kiện áp dụng PLNN 15 2. Đánh giá về xác định nội dung PLNN 17 CHƯƠNG IV: LIÊN HỆ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA KHÁC 19 1. Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam 19 2. Liên hệ thực tiễn tại các quốc gia khác 20 KẾT LUẬN 22 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23 BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT BLDS Bộ luật Dân sự BLTTDS Bộ luật tố tụng Dân sự HĐTTTP Hiệp định tương trợ tư pháp HNGĐ Hôn nhân và Gia đình PLNN Pháp luật nước ngoài TPQT Tư pháp quốc tế LỜI NÓI ĐẦU Để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã xây dựng cho mình những quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật của mình cũng như là trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc xây dựng các quy phạm xung đột đã dẫn đến pháp luật Việt Nam phải thừa nhận và cho phép áp dụng PLNN. Đây là một đòi hỏi thực tế khách quan đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện của quốc gia với nước ngoài Xuất phát từ tình hình khách quan đó, bài tiểu luận này của nhóm sẽ đi phân tích, đánh giá về những quy định của pháp luật Việt Nam về áp dụng PLNN và tìm hiểu những thực tiễn áp dụng PLNN tại Việt Nam và một số quốc gia khác trên thế giới. Do đó mục đích của bài tiểu luận nhằm đánh giá những điểm hay, điểm chưa phù hợp quy định của pháp luật và từ đó sẽ giúp cải thiện tình hình áp dụng áp dụng PLNN tại Việt Nam theo hướng tích cực hơn. Bài tiểu luận dùng phương pháp phân tích và nghiên cứu quy định Pháp luật Việt Nam, đồng thời tìm hiểu một số quy định PLNN mang tính so sánh. Kết cấu của bài viết này bao gồm các phần: phần mở đầu, nội dung nghiên cứu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung nghiên cứu bao gồm các chương như sau: • Chương 1: Khái quát chung về áp dụng PLNN; • Chương 2: Phân tích các trường hợp áp dụng PLNN theo pháp luật Việt Nam; • Chương 3: Đánh giá các quy định về áp dụng PLNN theo pháp luật Việt Nam; • Chương 4: Liên hệ thực tiễn về áp dụng PLNN tại Việt Nam và một số các quốc gia khác. CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm áp dụng PLNN Áp dụng PLNN là hoạt động thi hành pháp luật quốc gia thông qua việc áp dụng quy định của PLNN nhằm điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. 2. Nguyên nhân của việc áp dụng PLNN Trong TPQT, việc áp dụng PLNN xuất phát từ đòi hỏi của thực tế khách quan để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự và đẩy mạnh giao lưu dân sự quốc tế phát triển. Trong lĩnh vực TPQT, việc áp dụng PLNN là rất cần thiết do PLNN là một trong những nguồn luật để giải quyết cho một quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài. Nguyên nhân của việc áp dụng PLNN xuất pháp từ việc giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật (hay còn gọi là vấn đề chọn luật) bằng phương pháp xây dựng và áp dụng quy phạm xung đột. Cụ thể, yếu tố nước ngoài ở đây có thể là một trong ba yếu tố: chủ thể (hai bên không cùng quốc tịch hoặc ít nhất một bên là người Việt Nam định cư ở nước ngoài); khách thể của quan hệ ở nước ngoài; căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài. Khi xuất hiện quan hệ TPQT thì hiện tượng xung đột pháp luật sẽ xảy ra vì khi đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh. Việc thừa nhận khả năng áp dụng PLNN hay không, áp dụng PLNN nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể nào hoàn toàn thuộc về chủ quyền của các quốc gia. Tuy nhiên, trong xu hướng hiện nay, với mục đích tăng cường, củng cố và thúc đẩy sự phát triển bền vững các mối quan hệ quốc tế, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận khả năng áp dụng PLNN. Như vậy, có thể thấy rằng việc áp dụng PLNN không tồn tại ở các ngành luật trong nước khác mà chỉ được đặt ra trong TPQT do gắn liền với hiện tượng xung đột pháp luật và phương pháp giải quyết xung đột pháp luật. 3. Cơ sở áp dụng PLNN Việc áp dụng PLNN phải tuân thủ theo nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận. Quan hệ TPQT với bản chất là quan hệ dân sự nên một trong những nguyên tắc điển hình đó là tôn trọng sự thỏa thuận. Do vậy, nếu áp đặt phải áp dụng pháp luật của quốc gia thì sẽ không dung hòa được lợi ích của các quốc gia có liên quan. Điều này giúp điều chỉnh quan hệ TPQT được khách quan và công bằng hơn, đảm bảo tốt nhất lợi ích của công dân tham gia quan hệ dân sự quốc tế. Đồng thời, việc áp dụng PLNN đảm bảo sự ổn định, củng cố và phát triển hợp tác về mọi mặt trong giao lưu dân sự giữa các quốc gia vì sự thịnh vượng chung của cả thế giới; đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện của quốc gia với nước ngoài. PLNN có thể được áp dụng qua phương pháp giải quyết xung đột pháp luật, đó là phương pháp xây dựng và áp dụng quy phạm xung đột. Với nhiệm vụ đặc thù của quy phạm xung đột là dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật cụ thể được áp dụng và từ đó giải quyết được hiện tượng xung đột pháp luật. Bên cạnh đó, PLNN cũng có thể được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam áp dụng theo sự thỏa thuận chọn luận của các bên và sự thỏa thuận này đáp ứng các yêu cầu chọn luật. Trong xu thế toàn cầu hóa và tăng cường hợp tác, các quốc gia cùng nhau thỏa thuận để ban hành nên các quy phạm xung đột giúp giải quyết xung đột pháp luật, do đó, các quốc gia phải thực hiện các cam kết của mình một cách tận tâm, thiện chí. Nếu quốc gia nào thiếu thân thiện trong việc thực hiện các cam kết thì chính quốc gia đó sẽ bị giảm sút uy tín cũng như ảnh hưởng xấu tới việc thiết lập quan hệ hợp tác với các quốc gia khác trên trường quốc tế. Trên thực tế, Việt Nam cũng đã có một số quy định về vấn đề áp dụng PLNN trong một số văn bản quy phạm pháp luật như BLDS 2015 (Điều 759), Luật thương mại 2005 (Điều 5), Luật HNGĐ 2014 (Điều 101),… Theo đó, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng PLNN trong trường hợp các văn bản pháp luật của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng PLNN hoặc trong trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam. Điều kiện để PLNN được áp dụng tại Việt Nam được ghi nhận tại Điều 664, 668, 670 BLDS 2015. Trong đó, việc áp dụng pháp luật Việt Nam phải tuân theo nguyên tắc nhất định: 1) Các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật này có quy định khác; 2) Các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp áp dụng điều ước quốc tế, áp dụng tập quán quốc tế hoặc áp dụng PLNN theo quy định của pháp luật. 3) Việc áp dụng các nguyên tắc đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo Bộ luật được xác định theo trình tự sau: Trước hết các bên cần áp dụng Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc Luật Việt Nam. Trong trường hợp Điều ước quốc tế hoặc luật Việt Nam quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên hoặc các bên có thể lựa chọn áp dụng tập quán quốc tế nếu hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Trường hợp không xác định pháp luật áp dụng trong các trường hợp trên thì áp dụng pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ đó. CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC TRƯỜNG HỢP ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Phân tích các trường hợp áp dụng PLNN theo các quy định trong BLDS 2015 1.1. Cách thức xác định nội dung PLNN Điều 667 BLDS 2015 có quy định về áp dụng PLNN: “Trường hợp PLNN được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó”. Theo quy định này, việc áp dụng PLNN phải được thực hiện và giải thích theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đó, nguyên nhân là do pháp luật nước ngoài có thể được cung cấp bởi các nguồn khác nhau với các cách hiểu và áp dụng khác nhau bởi các Tòa án áp dụng PLNN, từ đó có thể dẫn đến những kết quả không thống nhất. Do đó cần phải có quy định này nhằm ràng buộc bất kỳ Tòa án nào khi áp dụng PLNN cũng sẽ tuân theo cách giải thích, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền nơi có PLNN được ban hành. 1.2. Các trường hợp PLNN được áp dụng Việc áp dụng PLNN để giải quyết cho các quan hệ mang tính chất dân sự và có yếu tố nước ngoài đã được quy định trong các trường hợp BLDS 2015, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và một số đạo luật chuyên ngành hiện hành. Cụ thể, có ba nhóm trường hợp PLNN có thể được áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam: PLNN được áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, theo pháp luật Việt Nam; PLNN được áp dụng theo sự thỏa thuận của các bên; và PLNN được áp dụng khi là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Điều 664 BLDS 2015). Nhóm 1: Theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và theo pháp luật Việt Nam (sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột): Theo khoản 1 Điều 664 BLDS 2015, PLNN hoặc pháp luật Việt Nam có thể được áp dụng theo quy định điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo pháp luật Việt Nam. Theo điều khoản này, cơ sở pháp lý để áp dụng PLNN chính là việc có tồn tại quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc có quy định trong pháp luật Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng PLNN. Đây chính là trường hợp có sự tồn tại của quy phạm xung đột thống nhất (chứa đựng trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên) và quy phạm xung đột được pháp luật Việt Nam đơn phương ban hành. Bên cạnh việc để điều chỉnh các mối quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài khi không có điều ước quốc tế, phần V của BLDS 2015 còn quy định những cơ sở pháp lý để xác định pháp luật áp dụng giải quyết cho các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo đó, PLNN cũng có thể được áp dụng. Ví dụ: Khoản 2 Điều 674 BLDS 2015 xác định hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch; khoản 1 Điều 676 BLDS 2015 quy định về vấn đề quốc tịch của pháp nhân… Nhóm 2: Theo sự lựa chọn PLNN của các bên (nếu đáp ứng các điều kiện chọn luật): Căn cứ quy định khoản 2 Điều 664 BLDS 2015, các bên có thể chọn PLNN hoặc pháp luật Việt Nam để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật Việt Nam cho phép các bên có quyền chọn luật. Bên cạnh các điều ước quốc tế, trong quy định của BLDS 2015 về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài cũng cho phép các bên được chọn pháp luật để điều chỉnh mối quan hệ mua bán có yếu tố nước ngoài của mình. Đơn cử, khoản 1 Điều 683 BLDS 2015 quy định: “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này”. Như vậy, quy định của pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận và cho phép các bên được chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh mối quan hệ hợp đồng của mình. Ngoài lĩnh vực hợp đồng, pháp luật Việt Nam còn cho phép các bên được lựa chọn pháp luật điều chỉnh mối quan hệ có yếu tố nước ngoài của mình trong các mối quan hệ khác. Ví dụ, BLDS 2015 còn quy định về quyền chọn luật này trong mối quan hệ về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển (khoản 2 Điều 678 BLDS 2015); quy định về mối quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này (khoản 1 Điều 687 BLDS 2015). Nhóm 3: PLNN được áp dụng trong trường hợp là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: Khoản 3 Điều 664 BLDS 2015 quy định, nếu PLNN được dẫn chiếu đến theo quy định của điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoặc theo sự lựa chọn thỏa thuận của các bên (đáp ứng điều kiện chọn luật), tuy nhiên cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện mọi cách thức theo quy định của pháp luật vẫn không xác định được nội dung PLNN đó, thì pháp luật của nước “có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó” được áp dụng. Ví dụ việc xác định nước có quan hệ gắn bó với hợp đồng được quy định tại khoản 2 điều 683 BLDS 2015: “Pháp luật của nước sau đây được coi là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng: a) Pháp luật của nước nơi người bán cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng mua bán hàng hóa; b) Pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng dịch vụ; c) Pháp luật của nước nơi người nhận quyền cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ; d) Pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động. Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lao động là pháp luật của nước nơi người sử dụng lao động cư trú đối với cá nhân hoặc thành lập đối với pháp nhân; đ) Pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú đối với hợp đồng tiêu dùng.” 1.3. Áp dụng pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật Điều 669 BLDS 2015 có quy định: “Trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định.” Trong quá trình áp dụng PLNN, Toà án có thể gặp tình trạng quy phạm xung đột dẫn chiếu đến PLNN nhưng tại quốc gia có hệ thống PLNN đó tồn tại các hệ thống pháp luật khác nhau. Ví dụ, trong Nhà nước liên bang, bên cạnh pháp luật của liên bang, mỗi một bang đều có pháp luật của mình, đơn cử như Hoa Kỳ. Đối với trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định. Nghĩa là khi quy phạm xung đột của Việt Nam dẫn chiếu đến áp dụng luật H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ
ĐỊNH VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM
LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC
GIA KHÁC
Danh sách nhóm 1:
1 Ngô Thị Vân Thảo 1963801010067
3 Bùi Thị Quỳnh Mai 1963801010095
4 Trần Phan Hoàng Yến 1963801010114
5 Đỗ Hoàng Bảo Ngọc 1963801010115
TP Hồ Chí Minh, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3
LỜI NÓI ĐẦU 4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI 5
1 Khái niệm áp dụng PLNN 5
2 Nguyên nhân của việc áp dụng PLNN 5
3 Cơ sở áp dụng PLNN 5
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC TRƯỜNG HỢP ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 8
1 Phân tích các trường hợp áp dụng PLNN theo các quy định trong BLDS 2015 8
1.1 Cách thức xác định nội dung PLNN 8
1.2 Các trường hợp PLNN được áp dụng 8
1.3 Áp dụng pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật 10
1.4 Các trường hợp không áp dụng PLNN 11
2 Phân tích các trường hợp áp dụng PLNN theo các quy định trong các văn bản pháp luật khác 11
2.1 Trường hợp 1: PLNN được áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, theo pháp luật Việt Nam (sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột) 12
2.2 Trường hợp 2: PLNN được áp dụng theo sự thỏa thuận của các bên (nếu đáp ứng các điều kiện chọn luật) 12
2.3 Trường hợp 3: PLNN được áp dụng khi là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài 13
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 15
1 Đánh giá về điều kiện áp dụng PLNN 15
2 Đánh giá về xác định nội dung PLNN 17
CHƯƠNG IV: LIÊN HỆ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA KHÁC 19
1 Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam 19
2 Liên hệ thực tiễn tại các quốc gia khác 20
KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, các quốc gia, trong đó
có Việt Nam, đã xây dựng cho mình những quy phạm xung đột trong hệ thống phápluật của mình cũng như là trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Việcxây dựng các quy phạm xung đột đã dẫn đến pháp luật Việt Nam phải thừa nhận và chophép áp dụng PLNN Đây là một đòi hỏi thực tế khách quan đáp ứng việc củng cố, tăngcường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện của quốc gia với nước ngoài
Xuất phát từ tình hình khách quan đó, bài tiểu luận này của nhóm sẽ đi phântích, đánh giá về những quy định của pháp luật Việt Nam về áp dụng PLNN và tìmhiểu những thực tiễn áp dụng PLNN tại Việt Nam và một số quốc gia khác trên thếgiới Do đó mục đích của bài tiểu luận nhằm đánh giá những điểm hay, điểm chưa phùhợp quy định của pháp luật và từ đó sẽ giúp cải thiện tình hình áp dụng áp dụng PLNNtại Việt Nam theo hướng tích cực hơn
Bài tiểu luận dùng phương pháp phân tích và nghiên cứu quy định Pháp luậtViệt Nam, đồng thời tìm hiểu một số quy định PLNN mang tính so sánh Kết cấu củabài viết này bao gồm các phần: phần mở đầu, nội dung nghiên cứu, phần kết luận vàdanh mục tài liệu tham khảo Phần nội dung nghiên cứu bao gồm các chương như sau:
Chương 1: Khái quát chung về áp dụng PLNN;
Chương 2: Phân tích các trường hợp áp dụng PLNN theo pháp luật Việt Nam;
Chương 3: Đánh giá các quy định về áp dụng PLNN theo pháp luật Việt Nam;
Chương 4: Liên hệ thực tiễn về áp dụng PLNN tại Việt Nam và một số các quốcgia khác
Trang 5CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
NƯỚC NGOÀI
1 Khái niệm áp dụng PLNN
Áp dụng PLNN là hoạt động thi hành pháp luật quốc gia thông qua việc áp dụngquy định của PLNN nhằm điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
2 Nguyên nhân của việc áp dụng PLNN
Trong TPQT, việc áp dụng PLNN xuất phát từ đòi hỏi của thực tế khách quan
để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự và đẩy mạnh giao lưu dân
sự quốc tế phát triển
Trong lĩnh vực TPQT, việc áp dụng PLNN là rất cần thiết do PLNN là mộttrong những nguồn luật để giải quyết cho một quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tốnước ngoài Nguyên nhân của việc áp dụng PLNN xuất pháp từ việc giải quyết hiệntượng xung đột pháp luật (hay còn gọi là vấn đề chọn luật) bằng phương pháp xâydựng và áp dụng quy phạm xung đột
Cụ thể, yếu tố nước ngoài ở đây có thể là một trong ba yếu tố: chủ thể (hai bênkhông cùng quốc tịch hoặc ít nhất một bên là người Việt Nam định cư ở nước ngoài);khách thể của quan hệ ở nước ngoài; căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra
ở nước ngoài
Khi xuất hiện quan hệ TPQT thì hiện tượng xung đột pháp luật sẽ xảy ra vì khi
đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh Việc thừanhận khả năng áp dụng PLNN hay không, áp dụng PLNN nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội cụ thể nào hoàn toàn thuộc về chủ quyền của các quốc gia Tuy nhiên, trong xuhướng hiện nay, với mục đích tăng cường, củng cố và thúc đẩy sự phát triển bền vữngcác mối quan hệ quốc tế, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận khả năng áp dụng PLNN
Như vậy, có thể thấy rằng việc áp dụng PLNN không tồn tại ở các ngành luậttrong nước khác mà chỉ được đặt ra trong TPQT do gắn liền với hiện tượng xung độtpháp luật và phương pháp giải quyết xung đột pháp luật
3 Cơ sở áp dụng PLNN
Trang 6Việc áp dụng PLNN phải tuân thủ theo nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận.Quan hệ TPQT với bản chất là quan hệ dân sự nên một trong những nguyên tắc điểnhình đó là tôn trọng sự thỏa thuận Do vậy, nếu áp đặt phải áp dụng pháp luật của quốcgia thì sẽ không dung hòa được lợi ích của các quốc gia có liên quan Điều này giúpđiều chỉnh quan hệ TPQT được khách quan và công bằng hơn, đảm bảo tốt nhất lợi íchcủa công dân tham gia quan hệ dân sự quốc tế
Đồng thời, việc áp dụng PLNN đảm bảo sự ổn định, củng cố và phát triển hợptác về mọi mặt trong giao lưu dân sự giữa các quốc gia vì sự thịnh vượng chung của cảthế giới; đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện củaquốc gia với nước ngoài
PLNN có thể được áp dụng qua phương pháp giải quyết xung đột pháp luật, đó
là phương pháp xây dựng và áp dụng quy phạm xung đột Với nhiệm vụ đặc thù củaquy phạm xung đột là dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật cụ thể được áp dụng và từ
đó giải quyết được hiện tượng xung đột pháp luật Bên cạnh đó, PLNN cũng có thểđược cơ quan có thẩm quyền Việt Nam áp dụng theo sự thỏa thuận chọn luận của cácbên và sự thỏa thuận này đáp ứng các yêu cầu chọn luật
Trong xu thế toàn cầu hóa và tăng cường hợp tác, các quốc gia cùng nhau thỏathuận để ban hành nên các quy phạm xung đột giúp giải quyết xung đột pháp luật, do
đó, các quốc gia phải thực hiện các cam kết của mình một cách tận tâm, thiện chí Nếuquốc gia nào thiếu thân thiện trong việc thực hiện các cam kết thì chính quốc gia đó sẽ
bị giảm sút uy tín cũng như ảnh hưởng xấu tới việc thiết lập quan hệ hợp tác với cácquốc gia khác trên trường quốc tế
Trên thực tế, Việt Nam cũng đã có một số quy định về vấn đề áp dụng PLNNtrong một số văn bản quy phạm pháp luật như BLDS 2015 (Điều 759), Luật thươngmại 2005 (Điều 5), Luật HN&GĐ 2014 (Điều 101),… Theo đó, cơ quan có thẩm quyềncủa Việt Nam áp dụng PLNN trong trường hợp các văn bản pháp luật của Việt Namhoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng PLNNhoặc trong trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng nếu sự thỏa thuận đókhông trái với quy định của pháp luật Việt Nam
Điều kiện để PLNN được áp dụng tại Việt Nam được ghi nhận tại Điều 664,
668, 670 BLDS 2015 Trong đó, việc áp dụng pháp luật Việt Nam phải tuân theonguyên tắc nhất định:
Trang 71) Các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam được áp dụng đối với quan hệdân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật này có quy định khác;2) Các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam được áp dụng đối với quan hệdân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp áp dụng điều ước quốc tế, áp dụngtập quán quốc tế hoặc áp dụng PLNN theo quy định của pháp luật.
3) Việc áp dụng các nguyên tắc đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoàitheo Bộ luật được xác định theo trình tự sau:
Trước hết các bên cần áp dụng Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viênhoặc Luật Việt Nam Trong trường hợp Điều ước quốc tế hoặc luật Việt Nam quy địnhcác bên có quyền lựa chọn thì pháp luật được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên hoặc các bên có thể lựa chọn ápdụng tập quán quốc tế nếu hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơbản của pháp luật Việt Nam
Trường hợp không xác định pháp luật áp dụng trong các trường hợp trên thì ápdụng pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ đó
Trang 8CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC TRƯỜNG HỢP ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1 Phân tích các trường hợp áp dụng PLNN theo các quy định trong BLDS 2015 1.1 Cách thức xác định nội dung PLNN
Điều 667 BLDS 2015 có quy định về áp dụng PLNN:“Trường hợp PLNN được
áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó” Theo quy định này, việc áp dụng PLNN phải được
thực hiện và giải thích theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
đó, nguyên nhân là do pháp luật nước ngoài có thể được cung cấp bởi các nguồn khácnhau với các cách hiểu và áp dụng khác nhau bởi các Tòa án áp dụng PLNN, từ đó cóthể dẫn đến những kết quả không thống nhất Do đó cần phải có quy định này nhằmràng buộc bất kỳ Tòa án nào khi áp dụng PLNN cũng sẽ tuân theo cách giải thích,hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền nơi có PLNN được ban hành
1.2 Các trường hợp PLNN được áp dụng
Việc áp dụng PLNN để giải quyết cho các quan hệ mang tính chất dân sự và cóyếu tố nước ngoài đã được quy định trong các trường hợp BLDS 2015, điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên và một số đạo luật chuyên ngành hiện hành
Cụ thể, có ba nhóm trường hợp PLNN có thể được áp dụng theo quy định củapháp luật Việt Nam: PLNN được áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế mà ViệtNam là thành viên, theo pháp luật Việt Nam; PLNN được áp dụng theo sự thỏa thuậncủa các bên; và PLNN được áp dụng khi là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bónhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Điều 664 BLDS 2015)
Nhóm 1: Theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và theo pháp luật Việt Nam (sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột):
Theo khoản 1 Điều 664 BLDS 2015, PLNN hoặc pháp luật Việt Nam có thểđược áp dụng theo quy định điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theopháp luật Việt Nam Theo điều khoản này, cơ sở pháp lý để áp dụng PLNN chính làviệc có tồn tại quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc có quyđịnh trong pháp luật Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng PLNN Đây chính là trườnghợp có sự tồn tại của quy phạm xung đột thống nhất (chứa đựng trong điều ước quốc tế
Trang 9mà Việt Nam là thành viên) và quy phạm xung đột được pháp luật Việt Nam đơnphương ban hành
Bên cạnh việc để điều chỉnh các mối quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tốnước ngoài khi không có điều ước quốc tế, phần V của BLDS 2015 còn quy địnhnhững cơ sở pháp lý để xác định pháp luật áp dụng giải quyết cho các quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài Theo đó, PLNN cũng có thể được áp dụng Ví dụ: Khoản 2 Điều
674 BLDS 2015 xác định hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật củanước mà người đó có quốc tịch; khoản 1 Điều 676 BLDS 2015 quy định về vấn đềquốc tịch của pháp nhân…
Nhóm 2: Theo sự lựa chọn PLNN của các bên (nếu đáp ứng các điều kiện chọn luật):
Căn cứ quy định khoản 2 Điều 664 BLDS 2015, các bên có thể chọn PLNNhoặc pháp luật Việt Nam để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nếu điềuước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật Việt Nam cho phép các bên cóquyền chọn luật
Bên cạnh các điều ước quốc tế, trong quy định của BLDS 2015 về hợp đồng dân
sự có yếu tố nước ngoài cũng cho phép các bên được chọn pháp luật để điều chỉnh mốiquan hệ mua bán có yếu tố nước ngoài của mình Đơn cử, khoản 1 Điều 683 BLDS
2015 quy định: “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật
áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này”.
Như vậy, quy định của pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận và cho phép các bênđược chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh mối quan hệ hợp đồng của mình Ngoài lĩnhvực hợp đồng, pháp luật Việt Nam còn cho phép các bên được lựa chọn pháp luật điềuchỉnh mối quan hệ có yếu tố nước ngoài của mình trong các mối quan hệ khác Ví dụ,BLDS 2015 còn quy định về quyền chọn luật này trong mối quan hệ về quyền sở hữu
và quyền khác đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển (khoản 2 Điều 678BLDS 2015); quy định về mối quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: các bênđược thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này (khoản 1 Điều 687 BLDS 2015)
Nhóm 3: PLNN được áp dụng trong trường hợp là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài:
Trang 10Khoản 3 Điều 664 BLDS 2015 quy định, nếu PLNN được dẫn chiếu đến theoquy định của điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên hoặc theo quy định của phápluật Việt Nam, hoặc theo sự lựa chọn thỏa thuận của các bên (đáp ứng điều kiện chọnluật), tuy nhiên cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện mọi cách thức theo quy định củapháp luật vẫn không xác định được nội dung PLNN đó, thì pháp luật của nước “có mốiliên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó” được áp dụng Ví dụviệc xác định nước có quan hệ gắn bó với hợp đồng được quy định tại khoản 2 điều
d) Pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lao động là pháp luật của nước nơi người sử dụng lao động cư trú đối với cá nhân hoặc thành lập đối với pháp nhân;
đ) Pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú đối với hợp đồng tiêu dùng.”
1.3 Áp dụng pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật
Điều 669 BLDS 2015 có quy định: “Trường hợp pháp luật của nước có nhiều
hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định.”
Trong quá trình áp dụng PLNN, Toà án có thể gặp tình trạng quy phạm xung độtdẫn chiếu đến PLNN nhưng tại quốc gia có hệ thống PLNN đó tồn tại các hệ thốngpháp luật khác nhau Ví dụ, trong Nhà nước liên bang, bên cạnh pháp luật của liênbang, mỗi một bang đều có pháp luật của mình, đơn cử như Hoa Kỳ
Đối với trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật được dẫnchiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đóquy định Nghĩa là khi quy phạm xung đột của Việt Nam dẫn chiếu đến áp dụng luật
Trang 11Hoa Kỳ thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ căn cứ vào pháp luật Hoa Kỳ đểxem pháp luật Hoa Kỳ quy định trường hợp cụ thể đó là áp dụng luật của liên bang hayluật của bang, và cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ theo quy định đó để áp dụngpháp luật cho phù hợp
áp dụng trong một số trường hợp nhất định do luật định
Việc áp dụng PLNN mà đem đến hậu quả pháp lý là trái với những nguyên tắc
cơ bản cơ pháp luật Việt Nam thì sẽ không được áp dụng Bên cạnh đó, việc tôn trọngcác nguyên tắc cơ bản của pháp luật các nước là một trong những nội dung của nguyêntắc bảo lưu trật tự công mà TPQT đã ghi nhận
Trường hợp 2: Nội dung của PLNN không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng
Trong trường hợp này, khi việc áp dụng PLNN mà nội dung của PLNN đó lạikhông được xác định rõ ràng về nội dung, về căn cứ, về đối tượng, về phạm vi áp dụng,
… mặc dù đã áp dụng biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng
Việc áp dụng PLNN mà nội dung của pháp luật không được xác định thì điềunày sẽ dẫn đến hệ quả pháp lý là việc áp dụng pháp luật sẽ không có căn cứ cũng nhưrất khó để áp dụng, làm cho việc áp dụng pháp luật trở nên mơ hồ, việc định danh,khung hình phạt cũng rất khó và khả năng xét xử đúng người, đúng tội là không đượcthực thi theo đúng nguyên tắc xét xử, do đó, trong trường hợp này cũng không được ápdụng pháp luật dân sự nước ngoài được
Theo đó, đối với trường hợp PLNN không được áp dụng vì lý do hậu quả củaviệc áp dụng PLNN trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì sẽ được
áp dụng pháp luật Việt Nam theo quy định của pháp luật của Việt Nam