của BLHS để cho phép cơ quan tố tụng có thẩm quyền có thể khởi tố vụ ánhình sự hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với cả nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý mà không cần có yêu cầu kh
Trang 1ĐỀ BÀI:
Phân tích, đánh giá quy định của BLTTHS về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại và nêu quan điểm cá nhân về việc hoàn thiện quy định này
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 1
1.1 Các trường hợp được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 1
1.3 Nội dung và hình thức yêu cầu khởi tố 5
1.4 Hậu quả pháp lý của yêu cầu khởi tố: 6
1.5 Rút yêu cầu khời tố 9
II Quan điểm cá nhân về việc hoàn thiện pháp luật 10
2.1 Những ưu điểm và tồn tại hạn chế 10
2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 12
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2MỞ ĐẦU
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là một trong những vấn
đề lý luận và thực tiễn rất quan trọng Quy định này trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 kế thừa các quy định trước đây về khởi tố vụ án hình
sự theo yêu cầu của bị hại, đồng thời có những sửa đổi, bổ sung quan trọng
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thủ tục giải quyết những vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại khá chi tiết và cụ thể, trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, đã và đang phát huy vai trò tích cực trong thực tiễn Để làm rõ cũng như phân tích kỹ hơn những quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của bị hại thì sau đây em xin chọn đề tài: “Phân tích, đánh giá quy định của
BLTTHS về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại và nêu quan điểm cá nhân về việc hoàn thiện quy định này”.
NỘI DUNG
I Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1.1 Các trường hợp được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Tuy pháp luật dành cho bị hại quyền yêu cầu khởi tố nhằm tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nhưng mục tiêu lớn hơn là bảo đảm trật tự và công bằng xã hội, bảo đảm nguyên tắc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi và hậu quả do mình gây ra Chính vì vậy, các tội phạm khởi tố theo yêu cầu của bị hại cần được giới hạn ở một mức độ phù hợp, đó là một
số trường hợp phạm tội do vô ý hoặc phạm tội có ý nhưng thiệt hại không lớn, tính chất của sự xâm hại không nghiêm trọng1
Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021, chỉ được khởi tố vụ án hình sự đối với 10 tội phạm quy định tại khoản 1 các các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 của BLHS khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết
Theo đó, tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 1 dự thảo BLTTHS sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 155 theo hướng bãi bỏ nội dung dẫn chiếu tới Điều 226
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,
Hà Nội, 2019
Trang 3của BLHS để cho phép cơ quan tố tụng có thẩm quyền có thể khởi tố vụ án
hình sự hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với cả nhãn
hiệu và chỉ dẫn địa lý mà không cần có yêu cầu khởi tố của bị hại; sửa đổi, bổ
sung Khoản 8 Điều 157 theo hướng bãi bỏ nội dung dẫn chiếu tới Điều 226 của BLHS để bỏ căn cứ không khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 226 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố
Hiệp định CPTPP chỉ đặt ra yêu cầu bỏ quy định khởi tố theo yêu cầu
của bị hại đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu theo Khoản 1 Điều 226 BLHS tại khoản 1 Điều 155 và khoản 8 Điều 157
BLTTHS Tuy nhiên, VKSND Tối cao đề nghị thực hiện cơ chế này đối với
cả chỉ dẫn địa lý, để bảo đảm tăng cường bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp
đối với chỉ dẫn địa lý tương tự như đối với nhãn hiệu, phù hợp với xu thế tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, nhất là trong bối cảnh ngày càng hội nhập sâu và toàn diện vào nền kinh tế thế giới như hiện nay
Theo Viện KSND Tối cao, đề nghị này xuất phát từ việc hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý có tính
chất tương đồng, mức độ nguy hiểm như nhau, cùng được quy định tại Khoản
1 của Điều 226 BLHS để xử lý ở 1 khung hình phạt Do đó, nếu chỉ bỏ quy định khởi tố theo yêu cầu của bị hại đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu mà không bỏ quy định này đối với chỉ dẫn địa
lý thì sẽ không bảo đảm công bằng, thống nhất trong áp dụng chính sách hình
sự và kỹ thuật lập pháp
Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Lê Thị Nga cho rằng việc thực hiện “khởi tố xâm phạm nhãn hiệu không cần yêu cầu của người bị hại” là quá trình “nội luật hoá” cần thiết khi Việt Nam tham gia Hiệp định CPTPP
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long nhất trí cần thiết sửa đổi BLTTHS đối với quy định về bỏ quy định khởi tố theo yêu cầu của bị hại đối
với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, đáp ứng
Trang 4yêu cầu hội nhập quốc tế, thực hiện cam kết của Việt Nam khi tham gia Hiệp định CPTPP2
1.2 Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố
Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung
năm 2021, "bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người
có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết" có quyền yêu cầu khởi
tố vụ á hình sự Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây
ra hoặc đe dọa gây ra (khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015) Như vậy, phạm
vi chủ thể có tư cách bị hại rộng hơn so với quy định của BLTTHS năm 2003:
bị hại không chỉ là cá nhân mà còn là cơ quan, tổ chức
Trong số 9 điều luật quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại thì
08 tội có khách thể bị xâm hại là sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, như vậy bị hại đối với các tội này chỉ có thể là cá nhân Theo quy định của BLTTHS năm
2003, cơ quan, tổ chức này không phải là bị hại mà chỉ tham gia tố tụng hình
sự với tư cách nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đây không phải là tư cách tố tụng có quyền yêu cầu hay không yêu cầu khởi tố vụ án, bởi vì Điều 105 BLTTHS năm 2003 chỉ quy định về khởi
tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại
Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đương nhiên và trước hết phải thuộc về bị hại, bởi lẽ họ là người trực tiếp bị thiệt hại về thế chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra Bị hại tham gia tố tụng hình sự với địa vị pháp lý
là người được Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp bị hành vi phạm tội xâm hại Chính vì vậy, quyền yêu cầu khởi tố phải được trao cho bị hại trước tiên Trường hợp bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm
về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết là những trường hợp bị hại chưa đủ năng lực hoặc mất năng lực pháp luật, thì người đại diện của bị hại có quyền
2
https://baochinhphu.vn/sua-doi-bo-luat-to-tung-hinh-su-dap-ung-yeu-cau-hoi-nhap-quoc-te-102302515.htm
Trang 5yêu cầu khởi tố vụ án Yêu cầu của người đại diện có giá trị như yêu cầu của
bị hại3
Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người đại diện của bị hại là yêu cầu độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của bị hại Việc người đại diện của bị hại yêu cầu khởi tố vụ án hình sự không loại trừ việc bị hại tự mình yêu cầu khởi
tố vụ án hình sự
Theo quy định của Bộ luật dân sự thì quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền, cả hai trường hợp này đều là đại diện hợp pháp Trong đó đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định Người đại diện theo pháp luật gồm cha, mẹ đối với con chưa thành niên và những người khác theo quy định của pháp luật Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện Các cơ quan tố tụng thường dựa vào quy định về hàng thừa kế để xác định người đại diện theo pháp luật Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hàng thừa kế thứ nhất gồm
"vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi "; Hàng thừa kế
thứ hai gồm “ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em
ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại "; Hàng thừa kế thứ ba gồm “cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chủ ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại".
Liên quan đến vẫn đề người đại diện hợp pháp của bị hại, Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn trường hợp có nhiều đại diện hợp pháp, theo đó trong trường hợp người bị hại có nhiều đại diện hợp pháp thì những người này phải
cử ra người đại diện để tham gia tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định
3 Hoàng Trọng Lượng, Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh: Luận văn thạc sĩ Luật hình sự và tố tụng hình sự, Học viện khoa học xã hội, 2020
Trang 6Đối với trường hợp bị hại là cơ quan, tổ chức thì người đại diện có thể là đại diện theo pháp luật, hoặc đại diện theo ủy quyển Trường hợp đại diện theo ủy quyền thì phải lập thành văn bản theo quy định của pháp luật4
1.3 Nội dung và hình thức yêu cầu khởi tố
* Nội dung yêu cầu khởi tố vụ án hình sự:
Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chưa có quy định về nội dung yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, mẫu đơn yêu cầu khởi tố cũng chưa được quy định Nói cách khác, bị hại có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự liên quan đến họ, giới hạn của quyền yêu cầu là quyết định khởi tố vụ án (nếu có căn cứ) đối với các tội danh theo khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015; sau quyết định khởi tố vụ án người bị hại trong quy định pháp luật khởi tố vụ án hình sự không có quyền riêng biệt, toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành theo thủ tục chung Yêu cầu khởi tố là điều kiện bắt buộc, do
đó trong trường hợp phạm vào các tội khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nêu trên, nếu khởi tố khi không có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của họ được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
* Hình thức yêu cầu khởi tố vụ án hình sự
Đây là hình thức phản ánh yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại, là một trong những tài liệu quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất
mà thiếu nó hoặc không có nó thì không thể xử lý vụ án được Trong BLTTHS không đề cập đến hình thức yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, tuy nhiên tại Thông tư Liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2018 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 có quy định về vấn đề
này tại khoản 5 Điều 7: “Trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
bị hại, thì yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện của bị hại phải thể hiện bằng văn bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của họ; trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại đến trực tiếp trình bày thì Cơ quan điều tra, Viện
4 Hoàng Thị Vân Anh, Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Kạn: Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2019
Trang 7kiểm sát phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu khởi tố để họ ký hoặc điểm chỉ vào biên bản Biên bản do Viện kiểm sát lập phải được chuyển ngay cho Cơ quan điều tra để xem xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ
vụ án”.
Mặc dù pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định cụ thể nhưng yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại phải đảm bảo các nội dụng sau5:
+ Chủ thể yêu cầu phải là bị hại hoặc đại diện của bị hại là người dưới
18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất hoặc đã chết
+ Phải có các thông tin sau: Nơi cư trú của bị hại, ngày, tháng, năm sinh, trình bày tóm tắt nội dung vụ án yêu cầu khởi tố
+ Bị hại phải điểm chỉ hoặc ký xác nhận cho yêu cầu của mình để thể hiện sự tự nguyện
1.4 Hậu quả pháp lý của yêu cầu, không yêu cầu khởi tố
1.4.1 Hậu quả pháp lý của yêu cầu khởi tố:
Khi bị hại có yêu cầu khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (khi đã đảm bảo các yêu cầu chung để khởi tố vụ án hình sự), và từ đây vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục chung của BLTTHS Trong trường hợp khởi tố vụ án thì tại phiên toà xét xử sơ thẩm, bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ sẽ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ, sau khi Kiểm sát viên tiến hành luận tội thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội (khoản 4 Điều 320 BLTTHS năm 2015) Nói cách khác, hậu quả pháp lý của yêu cầu khởi tố đó là mở ra một giai đoạn điều tra vụ án hình sự So với các trường hợp thông thường thì quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp này cần căn cứ vào căn cứ pháp
lý là yêu cầu của bị hại trong quyết định khởi tố vụ án hình sự, đây là căn cứ
5 Nguyễn Tiến Long, Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2018
Trang 8pháp lý quan trọng nhất nên phải được thể hiện rõ trong quyết định khởi tố vụ
án hình sự6
Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của bị hại phải tuân theo các quy định chung về điều tra, truy tố
và xét xử, do đó nếu có căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ thì cơ quan có thẩm quyền vẫn tiến hành theo thủ tục bình thường (trừ trường hợp đình chỉ do bị hại rút yêu cầu khởi tố, có những quy định riêng tại khoản 2 Điều 155) Đồng thời, ngoài việc cho phép bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa sơ thẩm như đã nêu trên thì những vấn đề còn lại của vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục chung
1.4.2 Hậu quả pháp lý của không yêu cầu khởi tố:
Đối với các tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu, việc không yêu cầu khởi tố là căn cứ để quyết định không khởi tố vụ án hình sự, hủy quyết định khởi tố vụ án hình sự, đình chỉ điều tra hoặc đình chi vụ án
- Không khởi tố vụ án hình sự:
Theo quy định tại khoản 8 Điều 157 BLTTHS năm 2015, không yêu cầu khởi tố đối với tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu là một trong những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự Đây là quy định mới của BLTTHS năm
2015, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết yêu cầu của thực tiễn Thẩm quyền ra
quyết định không khởi tố vụ án thuộc về “người có quyền khởi tố vụ án"
(khoản 1 Điều 158 BLTTHS năm 2015)
Theo quy định tại tiểu mục 7.2, mục 7 Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005, có thể xác định chủ thể
có quyền khởi tố vụ án theo yêu cầu là Cơ quan điều tra
Ngoài Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có quyền ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự nếu thuộc trường hợp:
- Viện kiểm sát ra Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra;
6 Hoàng Thị Vân Anh, Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Kạn: Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2019
Trang 9- Viện kiểm sát trực tiếp thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 280 BLTTHS, đối với Hội đồng xét xử, nếu phát hiện thấy có căn cứ theo khoản 8 Điều 157 BLTTHS thì Hội đồng xét xử không ra Quyết định không khởi tố mà trả hồ sơ để điều tra bổ sung và làm rõ vì đây là một trong những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
- Hủy quyết định khởi tố vụ án hình sự:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 158 BLTTHS năm 2015, nếu tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại và người đại diện
không yêu cầu thì “người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố
vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố
vụ án hình sự" Như vậy, thẩm quyền hủy quyết định khởi tố vụ án trong
trường hợp này thuộc về Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án7 Khi thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát cũng có quyền hủy quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra không
có căn cứ và trái pháp luật (điểm b khoản 1 Điều 161 BLTTHS năm 2015)
- Đình chỉ điều tra:
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS năm 2015, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra nếu có căn cứ tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại và người đại diện không yêu cầu
- Đình chỉ vụ án:
Trường hợp Viện kiểm sát đình chỉ vụ án: theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án nếu
có căn cứ tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại
và người đại diện không yêu cầu Quy định Viện kiểm sát đình chỉ vụ án do tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại và người
7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,
Hà Nội, 2019
Trang 10đại diện không yêu cầu là quy định mới của BLTTHS năm 2015, tạo cơ sở pháp lý nhanh chóng kết thúc giải quyết vụ án, tiết kiệm thời gian và chi phí
tố tụng
Trường hợp Tòa án đình chỉ vụ án: BLTTHS năm 2015 chưa quy định nếu tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại và người đại diện không yêu cầu thì phải đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm
1.5 Rút yêu cầu khời tố
Về hình thức quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại:
Hình thức phải thể hiện bằng đơn rút yêu cầu có chữ ký hoặc điểm chỉ và căn cứ trên sự tự nguyện của bị hại Trường hợp việc rút yêu cầu khởi tố vụ
án hình sự được trình bày trực tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa
án phải lập biên bản ghi rõ việc rút yêu cầu khởi tố, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người rút yêu cầu Tuy nhiên, nội hàm này cần phải được hiểu thống nhất
là việc rút yêu cầu phải được thể hiện bằng một trong hai cách trên, mà không phải là việc rút (lấy lại) đơn đã yêu cầu trước đó.8
Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi
tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án
Nội dung quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại:
Nội dung rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự là yêu cầu chấm dứt tố tụng đối với vụ án hình sự đã khởi tố trước đó trên cơ sở khởi tố của của bị hại hoặc đại diện của bị hại (là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất hoặc đã chết)
8 Bình luận khoa học Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, Phạm Mạnh Hùng, NXB Lao động