Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại Từ nhận thức về KTVA hình sự và nhận thức chung về bị hại, cũng như vai trò của bị hại trong tố tụng hình sự, có thể rút ra khái
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
Môn:
Luật tố tụng hình sự Việt Nam
ĐỀ BÀI 02 “Phân tích, đánh giá quy định của BLTTHS về khởi tố vụ
án hình sự theo yêu cầu của bị hại và nêu quan điểm cá
nhân về việc hoàn thiện quy định này”
Hà Nội – 2021
HỌ VÀ TÊN : ĐINH THỊ KIỀU
NHÓM LỚP
: 03 : N01.TL1
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
KTVA Khởi tố vụ án CQĐT Cơ quan điều tra
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI 1
1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự và bị hại 1
1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự 1
1.2 Khái niệm bị hại 2
2 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 2
II QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI 2
1 Các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu 2
2 Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố 3
2.1 Bị hại 3
2.2 Người đại diện hợp pháp của bị hại 4
3 Nội dung và hình thức yêu cầu khởi tố 5
4 Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố theo yêu cầu của bị hại 5
5 Hậu quả pháp lý của yêu cầu, không yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố 6
5.1 Hậu quả pháp lý của việc yêu cầu khởi tố 6
5.2 Không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 7
5.3 Rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 7
III KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI – MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 8
1 Những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại 8
1.1 Về việc yêu cầu khởi tố 8
1.2 Về việc không yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu khởi tố 9
2 Kiến nghị giải pháp khắc phục 10
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 41
MỞ ĐẦU
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu và hết sức quan trọng trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự Tuy nhiên, trong thực tế, không ít trường hợp tội phạm xảy ra gây thiệt hại cho bị hại không chỉ về thể chất, vật chất mà còn thiệt hại về tinh thần Việc khởi tố vụ án hình sự để truy cứu trách nhiệm người thực hiện tội phạm trong trường hợp này có thể gây thêm những tổn thất khác cho bị hại, vậy nên, trao cho bị hại quyền quyết định có khởi tố vụ án hay không sẽ đảm bảo được quyền và lợi ích, đồng thời giảm bớt những tổn thất không đáng có Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là một trong những vấn đề lý luận
và thực tiễn rất quan trọng Chính vì vậy, để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em
xin được lựa chọn đề bài số 02: “Phân tích, đánh giá quy định của BLTTHS về
khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại và nêu quan điểm cá nhân về việc hoàn thiện quy định này.” làm đề tài cho bài tiểu luận môn Luật tố tụng
hình sự Việt Nam
NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI
1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự và bị hại
1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự
Theo Từ điển Luật học, “KTVA hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở
đầu các hoạt động điều tra Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm.” 1
Theo giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Nội đưa ra khái niệm: “KTVA hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự,
trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.”2
1 Viện nghiên cứu Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Tư pháp, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội ,
tr 429
2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 273
Trang 52
1.2 Khái niệm bị hại
Trong Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học pháp lí, người bị hại được xác
định là: “Người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm
gây ra Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể làm pháp nhân.”3 Trong quy
định của BLTTHS hiện hành, bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm
gây ra hoặc đe doạ gây ra,
2 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Từ nhận thức về KTVA hình sự và nhận thức chung về bị hại, cũng như vai trò của bị hại trong tố tụng hình sự, có thể rút ra khái niệm KTVA hình sự
theo yêu cầu của bị hại như sau: “KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại là trường
hợp đặc biệt của KTVA hình sự, áp dụng đối với một số tội phạm xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và một số quyền nhân thân của bị hại là cá nhân hoặc tài sản, uy tín của bị hại là cơ quan, tổ chức, theo đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi xác định có dấu hiệu của tội phạm chỉ được ra quyết định KTVA hình sự khi có yêu cầu của bị hại.”
II QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI
1 Các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu
Có thể thấy, các tiêu chí được vận dụng khi đặt ra quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:
Xét về loại tội, đây là các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm
trọng Trong đó hầu hết là tội phạm ít nghiêm trọng, có 2 trường hợp thuộc loại tội phạm nghiêm trọng là tội Hiếp dâm theo khoản 1 Điều 141 BLHS và tội Cưỡng dâm theo khoản 1 Điều 143 BLHS Nhưng các tội này xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của bị hại nên cần xem xét ý chí, nguyện vọng của bị hại có
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr
198
Trang 63
muốn xử lý người thực hiện hành vi xâm phạm đến mình hay không nhằm tránh việc xử lý gây thiệt hại thêm đến họ
Xét về tính nguy hiểm cho xã hội, đây là các trường hợp hành vi có tính
chất nguy hiểm cho xã hội không cao Khách thể bị xâm hại là những quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp đến bản thân bị hại như sức khoẻ, danh dự nhân phẩm con người và quyền sở hữu trí tuệ
Xét về hậu quả của tội phạm đối với bị hại, tội phạm gây ra thiệt hại không
lớn Đối tượng thiệt hại do các tội phạm gây ra chủ yếu là con người, nhưng có thể là cơ quan, tổ chức, pháp nhân trong trường hợp cơ quan, tổ chức pháp nhân
là chủ sở hữu của quyền sở hữu công nghiệp Bên cạnh đó, hậu quả của việc KTVA trong các trường hợp này có thể gây ra những bất lợi nhất định đối với bị hại, do vậy bị hại được lựa chọn cách thức xử lý đối với người thực hiện hành vi
có dấu hiệu tội phạm gây thiệt hại cho mình
2 Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố
Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015, bị hại hoặc người
đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết, có quyền yêu cầu KTVA hình sự Bị hại là cá nhân trực
tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại
về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe doạ gây ra (khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015) Như vậy, phạm vi chủ thể có tư cách bị hại rộng hơn so với quy định của BLTTHS năm 2003: bị hại không chỉ là cá nhân mà còn là cơ quan, tổ chức.4
2.1 Bị hại
Trong các tội chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bi hại có 09 tội xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, đối với các tội này bị hại chỉ có thể là cá nhân Đối với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thì khách thể xâm hại là quyền sở hữu đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam Do đó,
cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy
4 Mai Thanh Hiếu, Phạm Thái (2018), Không yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố đối với các tội phạm chỉ được khởi
tố theo yêu cầu của bị hại, Khoa học pháp lý, (03), tr 27
Trang 74
định tại khoản 1 Điều 226 BLHS năm 2015 có quyền yêu cầu khởi tố vụ án với
tư cách bị hại.5 Quyền yêu cầu KTVA hình sự đương nhiên và trước hết phải
thuộc về bị hại, bởi lẽ họ là người trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài
sản do tội phạm gây ra Bị hại tham gia tố tụng với địa vị pháp lý là người được Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp bị hành vi phạm tội xâm hại Chính vì vậy, quyền khởi tố phải được trao cho bị hại trước tiên
2.2 Người đại diện hợp pháp của bị hại
Trường hợp bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết là những trường hợp bị hại chưa đủ năng lực hoặc mất
năng lực pháp luật, thì người đại diện của bị hại có quyền yêu cầu khởi tố vụ án
Yêu cầu của người đại diện có giá trị như yêu cầu của bị hại Yêu cầu KTVA hình sự của người đại diện của bị hại là yêu cầu độc lập, không phụ thuộc vào ý
chí của bị hại, “việc người đại diện của bị hại yêu cầu KTVA hình sự không loại
trừ việc bị hại tự mình yêu cầu KTVA hình sự.”6
Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, thường được xác định theo hàng thừa kế, quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện Pháp luật không giới hạn đối tượng được uỷ quyền đại diện, vì vậy mọi chủ thể đủ năng lực pháp luật đều có thể là người đại diện theo uỷ quyền Liên quan đến vấn đề đại diện của bị hại, Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn về trường hợp có nhiều đại diện hợp pháp thì những người này phải cử ra người đại diện để tham gia tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định Đối với trường hợp bị hại là cơ quan, tổ chức thì người đại diện có thể là đại diện theo pháp luật, hoặc đại diện theo uỷ quyền Trường hợp đại diện theo uỷ quyền thì phải lập văn bản theo quy định của pháp luật
5 Nguyễn Tiến Long (2018), Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 40
6 Phạm Thái (2014), “Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại”, Tạp chí Luật học, (9), tr 48
Trang 85
3 Nội dung và hình thức yêu cầu khởi tố
Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chưa quy định về nội dung yêu cầu KTVA hình sự Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng không ban hành mẫu đơn yêu cầu khởi tố (tương tự như mẫu đơn khởi kiện trong các vụ án dân sự), do vậy gây không ít khó khăn cho người yêu cầu khởi tố, vì nhiều trường hợp, người yêu cầu không biết cách thể hiện chính xác ý chí của mình trong đơn
Nội dung yêu cầu khởi tố là yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, xử lý sự việc có dấu hiệu tội phạm Nếu chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc chỉ yêu cầu cải chính, xin lỗi thì không phải yêu cầu KTVA hình sự.7
Hình thức yêu cầu KTVA hình sự là hình thức tài liệu phản ánh yêu cầu KTVA hình sự của bị hại, là một trong những tài liệu quan trọng BLTTHS không đề cập đến hình thức yêu cầu KTVA hình sự, nhưng tại Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định về vấn đề này tại mục 7.2 Đối với các vụ án thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì yêu cầu khởi tố là điều kiện bắt buộc để khởi tố vụ án, trong trường hợp không có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của họ mà các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
4 Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố theo yêu cầu của bị hại
BLTTHS năm 2015 quy định các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình
sự bao gồm: CQĐT, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trong đó Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chỉ có thẩm quyền khởi tố vụ án khi phát hiện
có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực quản lý của mình, Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và CQĐT thuộc Viện kiểm sát nhân
7 Mai Thanh Hiếu (2010), “Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự”, Nghề luật, (01), tr 38
Trang 96
dân tối cao chỉ có thẩm quyền điều tra một số tội phạm nhất định, trong đó không
có các tội thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại
Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm Theo quy định tại điểm d khoản
1 Điều 280 BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp việc khởi tố, điều tra, truy tố
vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, trong đó, việc khởi tố vụ án hình sụ nhưng không có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS được xác định là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Do vậy, Hội đồng xét xử không phải là chủ thể có thẩm quyền khởi
tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại Cũng theo quy định tại Mục 7.2 Thông
tư liên tịch số 05/2005/TTLT – VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005, có thể xác định chủ thể có thẩm quyền khởi tố vụ án theo yêu cầu là CQĐT Viện kiểm sát chỉ ra quyết định KTVA khi Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ
án của CQĐT đối với các vụ án thược trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại
5 Hậu quả pháp lý của yêu cầu, không yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố
5.1 Hậu quả pháp lý của việc yêu cầu khởi tố
Đối với các vụ án thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại có 02 điều kiện để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định KTVA hình sự là có dấu hiệu tội phạm được xác định tại Điều 143 BLTTHS năm 2015 và yêu cầu khởi tố của bị hại Khi có đủ 02 điều kiện trên cơ quan có thẩm quyền khởi tố mới được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, sau đó vụ án được giải quyết theo thủ tục chung Như vậy, yêu cầu KTVA hình sự của bị hại là điều kiện cần thiết và bắt buộc
để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Hậu quả pháp lý của việc yêu cầu khởi tố trong các trường hợp KTVA theo yêu cầu của người bị hại là vụ án sẽ được khởi tố và giải quyết theo thủ tục chung và tại phiên toà xét
xử sơ thẩm, bị hại hoặc người đại diện của họ sẽ trình bày lời buộc tội tại phiên toà (khoản 4 Điều 320 BLTTHS năm 2015) Bị hại đã yêu cầu khởi tố phải chịu
án phí hình sự sơ thẩm trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị
Trang 107
hại, mà sau đó Toà án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc vụ án bị đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo quy định của BLTTHS.8
5.2 Không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự
Đối với các tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu, việc không yêu cầu khởi
tố là căn cứ để quyết định không KTVA hình sự, huỷ quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án
Không khởi tố vụ án hình sự:
Theo quy định tại điểm 8 Điều 157 BLTTHS năm 2015, nếu tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại hoặc người đại diện của họ không yêu cầu khởi tố thì không được khởi tố vụ án hình sự
Huỷ quyết định khởi tố vụ án hình sự và đình chỉ điều tra:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 158 BLTTHS năm 2015, nếu tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà khi chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên toà sơ thẩm, nếu xét thấy tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại hoặc người đại diện của họ không yêu cầu khởi tố thì toà án không được ra quyết định đình chỉ vụ án theo điểm a khoản 1 Điều 282 hoặc khoản 2 Điều 299 BLTTHS năm 2015 mà phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo điểm d khoản 1 Điều 280 hoặc điểm c khoản 6 Điều 326 BLTTHS năm 2015 (việc khởi tố vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng) Tại phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu mà bị hại hoặc người đại diện của họ không yêu cầu khởi tố thì toà án không được huỷ bản án
sơ thẩm và đình chỉ vụ án theo khoản 2 Điều 359 BLTTHS năm 2015 mà phải huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại theo điểm c khoản 1 Điều 358 BLTTHS năm
2015
5.3 Rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự
Vụ án phải được đình chỉ
8 Khoản 3 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án