1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)

144 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Sinh Lý Học Trẻ Em (Lứa Tuổi Tiểu Học)
Tác giả Ts. Nguyễn Công Thùy Trâm
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sinh Lý Học
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Sinh lý học trẻ là môn học nghiên cứu quá trình phát triển các chỉ số sinh học, chức năng và hoạt động chức năng của cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể trẻ.. Giáo trình Sinh lý học

Trang 1

i

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TS Nguyễn Công Thùy Trâm

GIÁO TRÌNH SINH LÝ HỌC TRẺ EM (LỨA TUỔI TIỂU HỌC)

\

Đà Nẵng, 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TS Nguyễn Công Thùy Trâm

GIÁO TRÌNH SINH LÝ HỌC TRẺ EM (LỨA TUỔI TIỂU HỌC)

\

Đà Nẵng, 2023

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I CƠ THỂ CON NGƯỜI LÀ MỘT KHỐI THỐNG NHẤT 2

1.1 Các bằng chứng về sự thống nhất của cơ thể con người 2

1.2 Môi trường bên trong và nội cân bằng 5

1.3 Quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể 8

1.4 Tính quy luật sinh trưởng và phát triển của cơ thể 9

1.5 Gia tốc phát triển của cơ thể trẻ em 10

1.6 Những chỉ số phát triển thể lực của trẻ em 11

1.7 Các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi 12

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 13

CHƯƠNG 2 MÁU 15

2.1 Chức năng của máu 15

2.2 Thành phần của máu 15

2.3 Nhóm máu 21

2.4 Quá trình đông máu 22

2.5 Miễn dịch 24

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2 25

CHƯƠNG 3 HỆ TUẦN HOÀN 26

3.1 Cấu tạo của hệ tuần hoàn 26

3.2 Sinh lý tuần hoàn 30

3.3 Một số bệnh về tuần hoàn ở trẻ em 37

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3 38

CHƯƠNG 4 HỆ HÔ HẤP 39

4.1 Chức năng của hệ hô hấp 39

4.2 Cấu tạo hệ hô hấp 39

4.3 Hoạt động của cơ quan hô hấp 42

4.4 Sự vận chuyển khí và trao đổi khí ở phổi và mô 45

4.5 Một số bệnh về hô hấp ở trẻ 47

CHƯƠNG 5 HỆ TIÊU HÓA 49

5.1 Vai trò thức ăn, ý nghĩa của sự tiêu hóa 49

5.2 Cấu tạo hệ tiêu hóa 49

5.3 Tuyến tiêu hóa 53

5.4 Sự tiêu hóa và hấp thu thức ăn 53

5.5 Một số bệnh về tiêu hóa ở trẻ em 57

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 5 59

Trang 4

CHƯƠNG 6 HỆ TIẾT NIỆU 60

6.1 Vai trò của hệ tiết niệu 60

6.2 Cấu tạo hệ tiết niệu 60

6.3 Chức năng lọc máu và tạo nước tiểu ở thận 62

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 6 65

CHƯƠNG 7 TRAO ĐỔI CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG 66

7.1 Khái niệm và chức năng quá trình trao đổi chất và năng lượng 66

7.2 Sự trao đổi chất 66

7.3 Trao đổi năng lượng 69

7.4 Cơ sở sinh lý của khẩu phần thức ăn 70

7.5 Một số bệnh về trao đổi chất ở trẻ em 71

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 7 72

CHƯƠNG 8 HỆ SINH DỤC 73

8.1 Các cơ quan sinh dục nam 73

8.2 Các cơ quan sinh dục nữ 76

8.3 Vệ sinh đường sinh dục 81

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 8 82

CHƯƠNG 9 HỆ NỘI TIẾT 83

9.1 Hormone 83

9.2 Chức năng các tuyến nội tiết 85

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 9 96

CHƯƠNG 10 HỆ VẬN ĐỘNG 97

10.1 Hệ xương 97

10.2 Hệ cơ 100

10.3 Đặc điểm phát triển hệ cơ – xương ở học sinh Tiểu học 102

10.4 Các biện pháp phòng ngừa sự sai lệch tư thế của trẻ 103

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 10 104

CHƯƠNG 11 CÁC CƠ QUAN PHÂN TÍCH 105

11 1 Đại cương về cơ quan phân tích 105

11.2 Các cơ quan phân tích cơ bản 108

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 11 117

CHƯƠNG 12 HỆ THẦN KINH 119

12.1 Cấu tạo và sự phát triển của hệ thần kinh ở con người 119

12.2 Đặc điểm của hoạt động thần kinh cấp cao ở trẻ em 126

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 12 137

TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Chiều cao, cân nặng vòng ngực theo tuổi và giới tính của trẻ em

lứa tuổi tiểu học

12

Bảng 2.1 Tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể của trẻ em 16

Bảng 2.2 Sự tương tác giữa huyết tương máu nhận và hồng cầu máu cho 22

Bảng 3.1 Biến đổi tần số tim theo tuổi của trẻ em Việt Nam (lứa tuổi tiểu

học)

32

Bảng 4.1 Khối lượng phổi của trẻ em Việt Nam lứa tuổi tiểu học 42

Bảng 4.2 Dung tích sống của trẻ em lứa tuổi tiểu học 45

Bảng 6.3 Lượng nước tiểu của trẻ em theo tuổi trong 1 ngày đêm 64

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Khả năng truyền máu giữa các nhóm máu thuộc hệ nhóm máu

ABO khi truyền 1 đơn vị máu

Trang 7

MỞ ĐẦU

Sinh lý học trẻ là môn học nghiên cứu quá trình phát triển các chỉ số sinh học, chức năng và hoạt động chức năng của cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể trẻ Bên cạnh đó, môn học còn nghiên cứu sự điều hòa hoạt động chức năng nhằm đảm bảo sự tồn tại, phát triển của trẻ và sự thích ứng với điều kiện môi trường Môn

Sinh lý học trẻ em được đưa vào giảng dạy trong ngành Giáo dục Tiểu học trong

các trường Đại học Sư phạm

Giáo trình Sinh lý học trẻ em (lứa tuổi Tiểu học) là tài liệu được biên soạn

cung cấp cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học đặc điểm phát triển của cơ thể trẻ

em lứa tuổi tiểu học, đặc điểm phát triển của hệ thần kinh, cơ quan phân tích, hệ vận động, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết… Các hệ trong cơ quan đều

có sự liên quan chặt chẽ với nhau, hoạt động của mỗi cơ quan đều có tác động đến các cơ quan khác và chịu sự điều hòa bởi cơ chế thần kinh và cơ chế thể dịch

Các kiến thức trong giáo trình giúp cho sinh viên có thể vận dụng trong đời sống như chăm sóc sức khỏe cho trẻ, phòng ngừa một số bệnh tật cho trẻ… và trong hoạt động chuyên môn sau này

Cấu trúc giáo trình được viết theo logic sau: Từ vấn đề chung của cơ thể đến các hệ cơ quan, cơ quan; Phân tích từ cấu tạo của hệ cơ quan, cơ quan đến chức năng của chúng Giáo trình còn bổ sung các số liệu về chỉ số sinh lý trẻ ở lứa tuổi tiểu học trong trạng thái sinh lý bình thường và một số bệnh có thể gặp ở trẻ em, nguyên nhân, hậu quả của một số bệnh và đề xuất cách phòng tránh bệnh cho trẻ lứa tuổi tiếu học

TÁC GIẢ

Trang 8

CHƯƠNG I CƠ THỂ CON NGƯỜI LÀ MỘT KHỐI THỐNG NHẤT

Sau khi học xong chương 1, người học có thể:

1 Trình bày được một cách khái quát về cấu tạo chung của cơ thể con người

2 Trình bày đặc điểm về cấu tạo và chức phận thể hiện sự thống nhất của cơ thể sống

3 Phân tích được cơ chế tự điều chỉnh chức năng trong cơ thể nhằm đảm bảo được sự thống nhất giữa cơ thể với môi trường

4 Phân tích được quy luật và các đặc điểm của quá trình sinh trưởng và phát triển

5 Vận dụng các kiến thức của chương trong việc giảng dạy và trong cuộc sống

1.1 Các bằng chứng về sự thống nhất của cơ thể con người

Cơ thể người không phải là phép cộng của các cơ quan hay tế bào riêng lẻ Mọi tế bào, mô, cơ quan trong cơ thể đều được liên kết với nhau thành một khối thống nhất trong cơ thể Sự thống nhất của cơ thể con người được thể hiện thông qua 2 khía cạnh : thống nhất về mặt cấu tạo và thống nhất về mặt chức năng

1.1.1 Sự thống nhất về cấu tạo

Sự thống nhất về mặt cấu tạo của cơ thể được thể hiện mọi bộ phận, mọi cơ quan đều được tạo thành từ các tế bào Tập hợp các tế bào có cùng chức năng tạo thành các mô Mô tập hợp lại tạo thành các cơ quan và hệ cơ quan

Mô là tập hợp các tế bào chuyên hóa (cùng chất gian bào) có cấu tạo giống nhau, đảm nhận chức năng nhất định Ở một số loại mô còn có các yếu tố không có cấu trúc tế bào như huyết tương trong máu, calci, phospho và các chất cốt giao (một loại chất hữu cơ trong xương) Trong cơ thể người gồm 4 loại mô cơ bản: mô biểu

bì, mô liên kết, mô cơ, mô thần kinh

- Mô biểu bì: có cấu tạo chủ yếu là tế bào, chất gian bào rất ít hoặc không đáng kể Có hai loại mô biểu bì: biểu bì bao phủ và biểu bì tuyến

Biểu bì bao phủ thường có một hay nhiều lớp tế bào có hình dáng giống nhau hoặc khác nhau Nó thường ở bề mặt ngoài cơ thể (da) hay lót bên trong các cơ quan rỗng như ruột, bàng quang, thực quản, khí quản, miệng

Biểu bì tuyến nằm trong các tuyến đơn bào hoặc đa bào Chúng có chức năng tiết các chất cần thiết cho cơ thể (tuyến nội tiết, tuyến ngoại tiết) hay bài tiết ra khỏi

cơ thể những chất không cần thiết (tuyến mồ hôi)

Trang 9

- Mô liên kết: có hầu hết ở các cơ quan Thành phần của mô liên kết là các tế bào liên kết, sợi liên kết và chất căn bản (sợi và chất căn bản gọi là chất nền) Có hai loại mô liên kết: mô liên kết dinh dưỡng và mô liên kết đệm cơ học

Mô liên kết dinh dưỡng: máu, bạch huyết có chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng nuôi cơ thể

Mô liên kết đệm cơ học: mô sợi, mô sụn, mô xương Mô sợi có ở hầu hết các

cơ quan, có chức năng làm đệm cơ học, đồng thời cũng dẫn các chất dinh dưỡng (mô mỡ, dây chằng, gân cũng là loại mô sợi đã được biến đổi) Mô sụn thường nằm

ở các đầu xương, có cấu tạo đặc biệt, yếu tố phi bào rất phát triển Các tế bào nằm rải rác hoặc thành từng nhóm Mô xương gồm có hai loại: mô xương xốp và mô xương cứng Xương xốp ở các đầu xương, chứa nhiều tủy đỏ Xương cứng ở thân xương được cấu tạo bởi nhiều trụ xương, trong trụ xương có các dây thần kinh, mạch máu và các tế bào xương

- Mô cơ là thành phần của hệ vận động, có chức năng co giãn Có ba loại mô cơ: mô cơ vân, mô cơ trơn, mô cơ tim

Mô cơ vân tham gia tạo nên hệ vận động của cơ thể Cơ vân được cấu tạo từ các tế bào cơ vân có chiều dài thay đổi Mỗi tế bào cơ vân được cấu tạo gồm màng

tế bào bao quanh một khối nguyên sinh chất Trong khối nguyên sinh chất có nhiều nhân và tơ cơ Sự sắp xếp của các tơ cơ tạo nên những khoanh sáng, tối xen kẽ nhau

Mô cơ trơn tham gia tạo nên thành nội quan như dạ dày, ruột, mạch máu, bàng quang, Cơ trơn được cấu tạo từ các tế bào cơ trơn Tế bào cơ trơn có hình sợi thuôn nhọn hai đầu Mỗi tế bào cơ trơn được cấu tạo gồm 1 màng tế bào bên ngoài bao bọc khối nguyên sinh chất Bên trong khối nguyên sinh chất là nhân và các tơ

cơ xếp dọc theo chiều dài của tế bào cơ

Mô cơ tim tạo nên thành tim Tế bào cơ tim cũng có vân giống tế bào cơ vân,

tế bào phân nhánh, có một nhân

- Mô thần kinh: nằm trong não, tủy, gồm những neuron (tế bào thần kinh) và neuroglia (tế bào thần kinh đệm) Phần ngoại biên có các hạch thần kinh, các dây thần kinh và các cơ quan thụ cảm Neuron gồm có thân chứa nhân, từ thân phát đi nhiều tua ngắn gọi là sợi gai và một tua dài gọi là sợi trục Diện tích tiếp xúc giữa đầu mút của sợi trục của neuron này và neuron kế tiếp hoặc cơ quan phản ứng gọi là cúc synap Chức năng của mô thần kinh là tiếp nhận kích thích, xử lý thông tin và điều hòa hoạt động các cơ quan đảm bảo sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan và

sự thích ứng với môi trường

Trang 10

Cơ quan là đơn vị hoạt động của cơ thể Chúng mang tính chất chuyên biệt nhằm hoàn thành các nhiệm vụ phức tạp đảm bảo sự tồn tại tối ưu nhất của cơ thể như một khối thống nhất Các cơ quan có cùng một chức năng tạo thành hệ cơ quan Các hệ cơ quan trong cơ thể người:

- Hệ tuần hoàn tạo thành một hệ thống khép kín vận chuyển máu từ tim đến các mô cơ thể rồi đưa máu trở về tim Thông qua đó hệ tuần hoàn vận chuyển oxy, hormone và các chất dinh dưỡng thiết yếu vào các tế bào trong cơ thể để nuôi dưỡng

nó và giúp nó hoạt động tốt và vận chuyển các sản phẩm của quá trình trao đổi chất đến các cơ quan bài tiết (thận, da, phổi) để đào thải ra ngoài

- Hệ hô hấp đảm bảo sự trao đổi khí nhằm cung cấp O2 cho hoạt động của cơ thể vào đào thải CO2

- Hệ tiêu hóa giúp cơ thể chuyển thức ăn từ dạng hữu cơ phức tạp thành những chất đơn giản (acid amin, glucose, glycerin, acid béo…) thông qua quá trình tiêu hóa

cơ học, hóa học và vi sinh vật Các chất đơn giản được cơ thể hấp thu và sử dụng Hệ tiêu hóa còn đào thải những chất không tiêu hóa được và không được hấp thu

- Hệ tiết niệu có vai trò lọc máu, tạo nước tiểu, bài tiết nước tiểu, ngoài ra bài tiết các sản phẩm khác của quá trình trao đổi chất

- Hệ nội tiết: điều tiết mọi hoạt động của cơ thể thông qua con đường thể dịch

- Hệ sinh dục đảm bảo sự phát triển và sinh tồn của nòi giống

- Hệ vận động: đảm bảo cho cơ thể di chuyển được trong không gian và tham gia vào việc hình thành các khoang trong cơ thể như: lồng ngực, khoang bụng chứa các cơ quan nội tạng ở bên trong

- Hệ thần kinh liên kết tất cả các thành phần cơ thể thành một khối thống nhất

và đảm bảo trạng thái cân bằng trong hoạt động tương ứng với các điều kiện môi trường sống luôn thay đổi Trong mối liên hệ mật thiết với hệ nội tiết, hệ thần kinh thực hiện điều tiết hoạt động của các bộ phận và các cơ quan trong cơ thể bằng con đường thần kinh - thể dịch

Tất cả các cơ quan đều liên quan mật thiết với nhau, tương tác với nhau trong hoạt động nhằm đảm bảo sự thống nhất của cơ thể về cấu tạo và chức phận

1.1.2 Sự thống nhất về chức phận

Các hoạt động của các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể nhằm mục đích đảm bảo khả năng thích nghi của cơ thể để sinh tồn, muốn vậy các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể phải hoạt động đồng bộ, thống nhất Hoạt động đồng bộ, thống nhất của các cơ quan thể hiện sự thống về mặt chức phận: mọi hoạt động của cơ thể đều thể

Trang 11

hiện qua quá trình trao đổi chất và trao đổi năng lượng Trong đó, trao đổi chất gồm

2 quá trình đồng hóa và dị hóa

Đồng hóa (anabolism) hoặc sinh tổng hợp (biosynthesis) là tập hợp các phản ứng sinh hóa nhằm mục đích xây dựng các phân tử lớn, phức tạp từ các thành phần nhỏ, đơn giản để tích lũy năng lượng Đây là quá trình biến đổi các chất không đặc hiệu trong thức ăn như glucid, lipid, protein từ các nguồn thực vật, động vật, vi sinh vật, thành các chất hữu cơ khác đặc hiệu của cơ thể Đặc điểm của quá trình này là thu năng lượng Năng lượng cần thiết cung cấp cho các phản ứng tổng hợp trên chủ yếu là nhờ vào sự thủy phân của adenosine triphosphate (ATP)

Dị hóa (catabolism) là tập hợp các phản ứng sinh hóa nhằm mục đích phá vỡ các phân tử phức tạp thành các phân tử đơn giản hơn để giải phóng năng lượng cho hoạt động sống Đây là quá trình phân giải các chất dự trữ, đặc trưng của cơ thể thành các sản phẩm phân tử nhỏ không đặc trưng và tạo những chất thải (carbon dioxide, ure, amoniac, axit axetic, axit lactic…) ra môi trường

Năng lượng được tích lũy ở quá trình đồng hóa sẽ được giải phóng trong quá trình dị hóa để cung cấp lại cho hoạt động tổng hợp của đồng hóa Hai quá trình này tuy trái ngược nhau nhưng hỗ trợ lẫn nhau Nếu không có đồng hóa thì không có nguyên liệu cho dị hóa và ngược lại không có dị hóa thì không có năng lượng cho hoạt động đồng hóa

Trao đổi chất luôn gắn liền với trao đổi năng lượng Đối với cơ thể người thì nguồn năng lượng duy nhất là năng lượng hóa học của các chất trong thức ăn Trong

cơ thể, các chất dinh dưỡng chủ yếu, quan trọng nhất là glucid, protein, lipid đều bị oxy hóa Các quá trình oxy hóa khử sinh học thuộc các phản ứng dị hóa có ý nghĩa quan trọng Chúng cung cung cấp năng lượng cho cơ thể thực hiện các phản ứng tổng hợp khác nhau, cung cấp các hợp chất trung gian dùng làm nguyên liệu cho phản ứng tổng hợp, ngoài ra chúng còn đóng vai trò quan trọng trong việc liên hợp các quá trình trao đổi chất

1.2 Môi trường bên trong và nội cân bằng

1.2.1 Môi trường bên trong

Các tế bào trong cơ thể hoạt động và phát triển trong môi trường bên trong (nội môi) cơ thể Môi trường bên trong được tạo thành từ máu, bạch huyết và dịch gian bào

Đặc điểm môi trường bên trong cơ thể: tương đối ổn định về thành phần hóa học Chính sự ổn định về tính chất lý hóa học tạo sự cân bằng trong hoạt động của các bộ phận các cơ quan trong cơ thể được gọi là nội cân bằng

Trang 12

Nội cân bằng được tồn tại trên cơ sở hoạt động đồng bộ các bộ phận và các

cơ quan, hệ cơ quan như một khối thống nhất Khi một hệ cơ quan nào đó cần tăng cường hoạt động thì bộ phận, cơ quan, hệ cơ quan khác sẽ điều chỉnh hoạt đông của mình nhằm tái thiết lập lại nội cần bằng cho cơ thể Nhờ có trạng thái nội cân bằng mọi bộ phận, cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể liên kết với nhau, bù đắp cho nhau nhằm đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động

1.2.2 Khả năng tự điều chỉnh

Tự điều chỉnh là khả năng thiết lập lại trạng thái cân bằng sinh lý ban đầu, đây là tính chất chung của tất cả các bộ phận, cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể Dưới tác động của các kích thích của môi trường bên trong và bên ngoài, trạng thái cân bằng sinh lý của cơ thể sẽ bị thay đổi Để mọi cơ quan có thể hoạt động bình thường, cơ thể phải tự điều chỉnh

1.2.3 Cơ chế điều tiết các chức năng trong cơ thể

1.2.3.1 Điều hòa chức năng bằng con đường thể dịch

Điều hòa chức năng bằng con đường thần kinh thể dịch được thực hiện nhờ tác dụng của các chất hóa học được tạo ra trong các tế bào, trong các cơ quan trong quá trình chuyển hóa vật chất Chất này có hoạt tính sinh học rất cao, với nồng độ không đáng kể, chúng có khả năng gây ra những biến đổi lớn trong chức năng cơ thể

Đặc điểm của sự điều hòa bằng con đường thể dịch

- Các chất hóa học này sau khi được tạo ra sẽ qua dịch kẽ vào máu và được mang đến khắp cơ thể, do đó, chúng có thể tác dụng lên bất cứ một cơ quan nào, một mô nào trong cơ thể Tuy nhiên tác dụng của các chất hóa học này lên các tế bào khác nhau thì khác nhau Có những tế bào nhạy cảm đối với chất hóa học này, còn tế bào khác nhạy cảm với các chất khác, điều này được giải thích bởi sự có mặt của các receptor (các thụ cảm thể) khác nhau trên màng tế bào

Ví dụ: adrenoriceptor B2 trên màng tế bào tim nhạy cảm với adrenalin nhưng không hoạt hóa bởi noradrenalin

- Tác dụng điều hòa chức năng bằng con đường dịch thể diễn ra chậm hơn so với con đường thần kinh

Sự điều hòa chức năng bằng các hormone của các tuyến nội tiết và các chất thần kinh nội tiết là một loại điều hòa rất quan trọng theo kiểu điều hòa thể dịch

Ví dụ: adrenaline là hormone do tuyến thượng thận tiết ra theo máu đến gây ảnh hưởng nhiều cơ quan khác nhau của cơ thể như tăng quá trình thủy phân glycogen và giảm lượng dự trữ các chất này trong gan; tăng sức co bóp và tăng nhịp đập của tim; giảm hoạt động của ruột và dạy dày…

Trang 13

1.2.3.2 Điều hòa bằng con đường thần kinh và thần kinh thể dịch

Hệ thần kinh điều hòa các chức năng thông qua các phản xạ, đó là đáp ứng của cơ thể với các kích thích từ môi trường bên ngoài và môi trường bên trong cơ thể Có hai loại phản xạ: phản xạ không điều kiện (bẩm sinh) và phản xạ có điều kiện (tập nhiễm, hình thành trong quá trình sống) Cấu trúc (cơ chất) của phản xạ là cung phản xạ Cung phản xạ gồm 5 phần: thụ cảm thể, đường dẫn truyền hướng tâm, trung ương thần kinh, đường dẫn truyền ly tâm và cơ quan thực hiện

Thụ cảm thể tiếp nhận kích thích từ môi trường (bên trong, bên ngoài cơ thể)

và biến năng lượng của kích thích thành các xung động thần kinh Xung động thần kinh này theo các sợi thần kinh hướng tâm đi đến các trung khu thần kinh Xung động ly tâm được tạo ra theo các sợi thần kinh ly tâm đi đến cơ quan thực hiện, các

cơ quan thực hiện sẽ chuyển sang trạng thái hoạt động - đáp ứng lại kích thích

Như vậy, các phản ứng phản xạ được thực hiện nhờ những luồng xung động thần kinh truyền theo các cung phản xạ bao giờ cũng kết thúc bằng một hoạt động nào đó Tuy nhiên, trong hoạt động thích nghi của cơ thể, đặc biệt các hành vi, tập tính điều quan trọng không phải là động tác mà là kết quả cuối cùng của động tác có mang lại lợi ích gì cho cơ thể hay không Dó đó, cấu trúc để thực hiện chức năng không là cung phản xạ gồm 5 khâu như trên là một hệ thống chức năng (Anokhin)

Hệ thống chức năng gồm 5 khâu trên của cung phản xạ và đường liên hệ ngược Đường liên hệ ngược là đường truyền thông tin từ cơ quan thực hiện về trung khu thần kinh, thông báo cho trung khu thần kinh kịp điều chỉnh cho phản ứng cho phù hợp với điều kiện thích nghi với sự biến đổi của môi trường sống Đường liên hệ ngược có thể là đường thần kinh và cũng có thể là đường thể dịch

Điều hòa bằng con đường thần kinh có những đặc điểm sau:

- Điều hòa bằng con đường thần kinh nhanh hơn so với con đường thể dịch (gấp khoảng 100 lần)

- Xung động thần kinh bao giờ cũng có địa chỉ nhất định, đến đúng cơ quan, đến nhóm cơ, nhóm tế bào nhất định

Điều hòa bằng con đường thần kinh không tách rời khỏi quá trình điều hòa bằng con đường thể dịch Hai cơ chế này gắn liền với nhau, nhưng trong đó điều hòa bằng con đường thần kinh đóng vai trò chủ yếu

Các chất khác nhau, các hormone được tạo ra trong cơ thể có ảnh hưởng đến

tế bào thần kinh, có tác dụng làm thay đổi trạng thái thức tỉnh của các tế bào thần kinh Mặc khác, sự tổng hợp các chất trong cơ thể trong đó có sự tổng hợp các loại hormone lại phụ thuộc vào sự chi phối của hệ thần kinh

Trang 14

Bên cạnh đó, hệ thần kinh thực vật gây ra tác động giống như các hormone

Sự giống nhau này chứng tỏ hai kiểu điều chỉnh đều có các cơ chế hóa học tương tự nhau Ví dụ chất trung gian hóa học do sợi thần kinh thực vật tiết ra có tính chất hóa học giống hormone do tuyến thượng thận tiết ra Trong khí đó, tuyến tủy thượng thận lại chịu ảnh hưởng của hệ thần kinh giao cảm Trên thực tế, chức năng của hệ thần kinh thực vật và hệ nội tiết là đảm bảo sự ổn định của nội môi - đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho cơ thể sống và hoạt động bình thường

Trong quá trình phát triển của cơ thể con người, mối quan hệ giữa hệ thần kinh và thể dịch thay đổi theo tuổi Ở trẻ em, vai trò điều tiết mọi hoạt động của hệ thần kinh chiếm ưu thế nên các phản ứng diễn ra nhanh và chính xác Ở người lớn tuổi, ảnh hưởng của yếu tố thần kinh giảm dần và vai trò của yếu tố thể dịch lại tăng dần lên vì vậy, phản ứng của người lớn tuổi trở nên chậm chạp so với của người trẻ

1.3 Quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể

Đặc điểm cơ bản của cơ thể sống là sự sinh trưởng và phát triển Hai quá trình này xảy ra liên tục từ lúc trứng mới được thụ tinh cho đến lúc chết Nó gồm nhiều giai đoạn khác nhau về mặt tính chất và đặc điểm

Sự sinh trưởng là một quá trình tăng liên tục khối lượng cơ thể do số lượng

và kích thước của các tế bào tăng lên Kết quả của quá trình sinh trưởng là làm thay đổi về mặt kích thước của các cơ quan trong cơ thể nói riêng và các cơ thể nói chung

- Quá trình sinh trưởng xảy ra trong các bộ phận và các cơ quan không giống nhau Ví dụ: Ở phổi, xương quá trình sinh trưởng thể hiện qua sự tăng số lượng tế bào, nhưng ở tế bào thần kinh quá trình sinh trưởng thể hiện qua sự tăng kích thước

- Tốc độ sinh trưởng không đồng nhất Các giai đoạn tăng kích thước nhanh xen kẽ với các giai đoạn tăng chậm Ví dụ: ở giai đoạn dậy thì cơ thể trẻ lớn nhanh, nhưng sau đó thì chậm lại

- Quá trình sinh trưởng của các hệ thống chức năng không đồng đều Đây là yếu tố quan trọng đảm bảo điều động khả năng dự trữ một cách tối ưu để thích nghi với môi trường luôn thay đổi Chỉ tiêu cơ bản để đánh giá quá trình sinh trưởng là mức độ tăng trọng lượng protein toàn phần và kích thước của các xương Do đó sinh trưởng là một trong số các yếu tố cơ bản của phát triển Đó là yếu tố để ta phân biệt được cơ thể trẻ em với cơ thể người lớn

Sự phát triển là quá trình thay đổi về mặt số lượng và chất lượng xảy ra trong

cơ thể Đặc trưng của sự phát triển là những biến đổi về chất của cơ thể, là sự xuất hiện dấu hiệu và những thuộc tính được hình thành trong quá trình tăng trưởng Quá trình phát triển diễn ra từ từ, liên tục nhưng đồng thời cũng có những bước nhảy vọt

Trang 15

Quá trình phát triển của cơ thể đi từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa phân hóa đến phân hóa Sự phát triển của cơ thể được biểu hiện qua các chỉ số đo như: chiều cao, cân nặng, vòng ngực, chiều rộng vai Trong đó, chiều cao và cân nặng là 2 chỉ số

cơ bản Sự phát triển thường bao gồm 3 yếu tố cơ bản:

- Sự tăng trưởng của cơ thể, của các cơ quan riêng lẻ và sự tăng cường các chức năng của chúng

- Sự phân hóa của các cơ quan, hệ cơ quan và các tổ chức

- Tạo hình dáng đặc trưng cho cơ thể

Ba yếu tố này liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau

1.4 Tính quy luật sinh trưởng và phát triển của cơ thể

Trong quá trình sinh trưởng, phát triển cơ thể của trẻ, các tỉ lệ trên cơ thể thay đổi theo lứa tuổi

- Trong quá trình phát triển của cơ thể trẻ em lứa tuổi tiểu học, tỉ lệ chiều dài đầu so với chiều dài của thân thay đổi theo lứa tuổi Tỉ lệ này ở giai đoạn 6 tuổi là 1/6; 12 tuổi là 1/7; người lớn là 1/8 chiều dài cơ thể

- Với các lứa tuổi độ dài đầu nhỏ dần và độ dài xương tăng lên so với chiều dài cơ thể Đến tuổi dậy thì ở nữ chiều dài tay và chân ngắn hơn, thân dài hơn, xương chậu rộng hơn so với nam

- Có 3 thời kỳ khác nhau về tỉ lệ giữa chiều dài và chiều ngang của cơ thể: giai đoạn 4-6 tuổi; giai đoạn 6-15 tuổi và giai đoạn từ 15 tuổi đến lớn

Sự thay đổi không đồng đều của các phần riêng biệt của cơ thể, của cơ quan

Về cơ bản sự thay đổi của các cơ quan phù hợp với sự sinh trưởng không đồng đều

về chiều dài của cơ thể nhưng một số cơ quan và một số phần của cơ thể có kiểu sinh trưởng khác Sự sinh trưởng không đồng đều đảm bảo sự sinh trưởng nhanh và

có chọn lọc Ví dụ: Đến thời kỳ dậy thì cơ quan sinh dục mới phát triển mạnh và hình thành những dấu hiệu sinh dục phụ

Một số cơ quan tỷ lệ thuận với khối lượng cơ thể Ví dụ: So với lúc mới sinh

cơ tăng 35 đến 40 lần, tim tăng khoảng 15 lần

Một số cơ quan tăng nhanh ngay trong giai đoạn phát triển bào thai, sau khi sinh khối lượng của chúng tăng khoảng 3-4 lần Ví dụ: Não trẻ sơ sinh nặng khoảng 390g, 6 tháng tuổi tăng gấp đôi, 3 tuổi tăng gấp 3, 9 tuổi nặng 1300g, não người lớn 1480g Đến tuổi dậy thì trọng lượng não hầu như không thay đổi

Một số cơ quan hầu như không thay đổi sau khi sinh Ví dụ: Cơ quan thính giác và các ống bán khuyên nằm trong xương thái dương

Mỗi thời kỳ lứa tuổi có những đặc điểm phát triển cá nhân Sự phát triển phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, điều kiện và mức độ phát triển của hệ thần kinh

Trang 16

1.5 Gia tốc phát triển của cơ thể trẻ em

1.5.2 Gia tốc phát triển

Gia tốc sinh học là toàn bộ những biến đổi có liên quan đến mặt sinh học của

sự phát triển con người Gia tốc sinh học có liên quan đến một loạt các chỉ số phát triển hình thái, chức năng của cơ thể, trước hết là chỉ số về chiều cao, cân nặng

Gia tốc xã hội là sự tăng khối lượng tri thức của trẻ so với những trẻ em cùng

độ tuổi ở 40-50 năm trước đây

a Sự phát triển về chiều cao, cân nặng

So sánh về chiều cao và cân nặng của trẻ lứa tuổi tiểu học tại các năm khác nhau cho thấy hiện tượng tăng tốc vầ chiều chiều cao và cân nặng của trẻ Chiều cao của trẻ em 10 tuổi năm 2001 tăng cao so với năm 1975: trẻ em nam tăng 10,87 cm ; trẻ em nữ tăng 21,7 cm ; Tượng tự, cân nặng của trẻ giai đoạn 10 tuổi năm 2001 tawng5,82 kg đối với trẻ em nam và 5,56 kg đối với trẻ em nữ

b Sự cốt hóa của xương

Sự cốt hóa của xương bàn tay của trẻ em xảy ra sớm hơn 1-2 năm so với năm

1936 Sự thay thế răng sữa bằng răng vĩnh viễn cũng được gia tăng với tốc độ như vậy

c Sự phát triển về mặt sinh dục

Thời điểm trưởng thành sinh dục của trẻ em hiện nay cũng xuất hiện sớm hơn Thời điểm xuất hiện kinh nguyệt: Trước đây thường xảy ra ở em gái 14 tuổi

Từ năm 1959, xảy ra ở em gái 12-14 tuổi Hiện nay, ở em gái 11-13 tuổi

1.5.3 Nguyên nhân gia tốc phát triển

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguyên nhân dẫn đến gia tốc phát triển

Nguyên nhân chủ yếu gây ra gia tốc phát triển là yếu tố dinh dưỡng Yế tố dinh dưỡng bao gồm sự thay đổi trong thức ăn, tăng chất lượng của thức ăn… xác định tất cả sự biến thiên của sự phát triển

Sự thay đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân làm gia tốc phát triển Khí hậu ấm lên làm cho cơ thể sinh trưởng và phát triển chậm, còn khí hậu mát mẻ, khô ráo kích thích sự sinh trưởng của cơ thể

Hình thức và phương pháp mới của giáo dục mà trước hết là sự tiếp xúc thường xuyên giữa nam và nữ, sự rèn luyện thể dục, thể thao… dẫn đến gia tốc phát triển

Gia tốc phát triển có mối liên hệ với tác nhân kích thích nhịp điệu sống Thường trẻ em ở thành phố phát triển trí tuệ và tình dục sớm hơn so với trẻ em ở nông thôn

Trang 17

Yếu tố di truyền là nguyên nhân của gia tốc phát triển Ở những nước phát triển, quá trình di dân diễn ra mạnh, hôn nhân được mở rộng, đây là nền tảng thay

đổi di truyền, do đó trẻ em lớn và trưởng thành sớm hơn bố mẹ

Chiều cao là một trong những chỉ số phát triển thể lực và sức khỏe quan trọng nhất Sự tăng lên về chiều cao của cơ thể phụ thuộc chủ yếu vào quá trình tăng trưởng cơ thể Trẻ từ 7-11 tuổi có chiều cao trung bình khoảng 117,43 - 130,41 cm đối với nam và 110,64 – 132,17 cm đối với nữ Để ước tính chiều cao của trẻ trên 1 tuổi có thể ước tính theo công thức:

X(cm) = 75(cm) + 5.n Trong đó: X: chiều cao (cm)

75cm: chiều cao trẻ 1 tuổi n: số tuổi tính theo năm

Sự phát triển về cân nặng là chỉ số được dùng để đánh giá về dinh dưỡng – thể lực của con người Trung bình cân nặng ở trẻ tăng 2kg/năm và cân nặng của bé gái thường nhẹ hơn bé trai Trẻ từ 7 - 11 tuổi có cân nặng trung bình khoảng 17,59 -25,14 kg đối với bé trai và 16, 91 – 25,42 kg đối với nữ

Đối với trẻ từ 2 đến 10 tuổi, cân nặng có thể ước tính theo công thức

CN = 9  1,5 (n-1) Hay CN = 9,5  2 (n-1) Đối với trẻ từ 11-15 tuổi, cân nặng có thể ước tính theo công thức

Trang 18

Bảng 1.1 Chiều cao, cân nặng vòng ngực theo tuổi và giới tính của trẻ em

lứa tuổi tiểu học

(Nguồn “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập niên 90 – thế kỷ XX”) [2]

Vòng ngực (cm)

Chiều cao (cm)

Cân nặng (kg)

Vòng ngực (cm)

1.7 Các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi

Sự phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ em là một thực tế khách quan, nhưng ranh giới gữa các giai đoạn không rõ ràng và có sự khác biệt ở từng trẻ, giai đoạn trước làm tiền đề cho giai đoạn sau Có nhiều cách phân loại các giai đoạn phát triển khác nhau của cơ thể

A.F Tua phân chia quá trình phát triển của trẻ em thành các giai đoạn:

- Giai đoạn phát triển trong tử cung (270 - 280 ngày), gồm: Giai đoạn Phôi thai (3 tháng đầu); Giai đoạn nhau thai nhi (từ tháng 4 đến khi sinh)

- Giai đoạn sơ sinh (từ lúc lọt lòng đến 1 tháng)

- Giai đoạn bú mẹ (nhũ nhi): tiếp theo thời kỳ sơ ssinhkéo dài đến hết năm đầu (1-12 tháng)

- Giai đoạn răng sữa (1tuổi đến 6 tuổi), gồm 2 giai đoạn nhỏ: Giai đoạn nhà trẻ: 1 – 3 tuổi; Giai đoạn mẫu giáo: 4 - 6 tuổi

- Giai đoạn thiếu niên (7 - 15 tuổi), gồm 2 giai đoạn nhỏ: Giai đoạn học sinh nhỏ: 7 – 12 tuổi; Giai đoạn học sinh lớn: 12 – 15 tuổi

- Giai đoạn dậy thì (tuổi học sinh Trung học Phổ thông): thường không xác định rõ Con gái bắt đầu dậy thì ở giai đoạn 8-11 tuổi và kết thúc ở giai đoạn 12-14 tuổi Con trai dậy thì ở giai đoạn 9-12 tuổi và kết thúc ở giai đoạn 16-18 tuổi

Theo tổ chức Y tế Thế giới, quá trình phát triển của trẻ em được chia thành các giai đoạn sau:

- Giai đoạn sơ sinh: là giai giai đoạn trẻ từ khi được sinh ra đến khi trẻ được

Trang 19

1 tháng tuổi

- Giai đoạn bú mẹ: là giai đoạn trẻ từ 1 đến 23 tháng tuổi

- Giai đoạn tiền học đường: là giai đoạn trẻ từ 2 đến 5 tuổi

- Giai đoạn nhi đồng: là giai đoạn trẻ từ 6 đến 12 tuổi

- Giai đoạn vị thành niên: là giai đoạn trẻ từ 13 đến 18 tuổi

Như vậy trẻ em lứa tuổi tiểu học nằm trong thời kỳ thiếu niên hoặc trẻ nhi đồng ứng với từng cách phân chia ở trên Ở giai đoạn này, đặc điểm hình thái chức năng các cơ quan gần như đã phát triển hoàn toàn Hệ cơ phát triển mạnh, các cơ nhỏ đã phát triển nên trẻ có thể làm những việc khéo léo hơn Răng sữa được thay thế bằng răng vĩnh viễn Neuron đã hoàn thiện về mặt cấu tạo và hoàn toàn được biệt hóa Chức năng của vỏ não phát triển mạnh và phức tạp hơn, trí tuệ phát triển

và hình thành rõ rệt tâm sinh lý giới tính

Trẻ có thể mắc các bệnh như người trưởng thành như các bệnh nhiễm trùng: amidal, thấp tim, viêm cầu thận Một số bệnh xuất hiện trong quá trình học tập như biến dạng cột sống (cong, vẹo), bệnh về thị giác (cận thị, viễn thị), bệnh về răng miệng và xuất hiện các rối loạn tâm lý Vì vậy, trong giai đoạn này cần quan tâm đến y tế học đường nhằm giúp các em lứa tuổi này phát triển đầy đủ Cần nắm vững các đặc điểm sinh lý trẻ lứa tuổi tiểu học để có những biện pháp nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tốt hơn, giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tâm lý

Thời kỳ dậy thì thực chất bắt đầu từ lứa tuổi thiếu niên, khi bắt đầu có những biểu hiện đặc điểm sinh dục thứ cấp như sự thay đổi tuyến vú, tinh hoàn, mọc lông ở nách và xương mu, hiện tượng vỡ giọng… Sự thay đổi hệ thần kinh, hoạt động của tuyến sinh dục, gây ra những thay đổi về hình thái và sự tăng trưởng của cơ thể Sau khi dạy thì hoàn toàn, tốc độ tăng trưởng giảm xuống và ngừng hẳn ở giai đoạn 19-

20 tuổi đối với nữ và 21-25 tuổi đối với nam Giai đoạn này trẻ dễ bị rối loạn chức năng tim mạch và hoạt động của hệ tuần hoàn không đáp ứng được nhu cầu về máu của các cơ quan và hệ cơ quan đang phát triển, do đó, trẻ chống bị mệt khi làm việc Hiện tượng mệt mỏi này tăng nhanh ở trẻ khi trẻ ở trong phòng đông người, trong điều kiện thiếu không khí hay khi lao động nặng Bên cạnh đó lượng máu cung cấp cho não của trẻ cũng bị ảnh hưởng dẫn đến trẻ ở tuổi dậy thì kém tập trung, khả năng ghi nhớ giảm sút Ngoài ra hoạt động tâm lý của trẻ cũng không ổn định dễ dẫn đến rối loạn tâm lý vì vậy cần phải chú ý quan tâm đến trẻ

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1

1 Phân tích các quy luật sinh trưởng và phát triển ở người?

Trang 20

2 Hãy chứng minh cơ thể người là một khối thống nhất và là hệ thống tự điều chỉnh

3 Phân tích đặc điểm của chế điều tiết các chức năng trong cơ thể con người nhằm đảm bảo trạng thái nội cân bằng

4 Phân tích đặc điểm của tuổi học sinh nhỏ có những đặc điểm gì? Trong giáo dục học sinh nhỏ, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề gì về mặt sinh lý?

5 Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển về thể lực của trẻ lứa tuổi tiểu học Từ đó, hãy đề xuất những biện pháp tác động nhằm nâng cao thể chất của trẻ

em lứa tuổi tiểu học

Trang 21

CHƯƠNG 2 MÁU

Sau khi học xong chương 2, người học có thể:

1 Trình bày được các kiến thức cơ bản về cấu tạo, chức năng và cơ chế hoạt động của máu

2 Trình bày được đặc điểm của quá trình sản xuất máu và các thành phần của nó

3 Giải thích được cơ chế đông máu, nhóm máu

4 Vận dụng được các kiến thức đã học vào giải thích cơ sở sinh lí học của biện pháp cầm máu khi trẻ bị chấn thương

2.1 Chức năng của máu

Máu là một tổ chức di động, là chất dịch lỏng, đục, màu đỏ, lưu thông trong

hệ thống tuần hoàn đảm bảo mối liên hệ giữa các cơ quan trong cơ thể Máu có các chức năng sau:

- Chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng từ nhung mao ruột và khí O2 từ phổi đến mô cũng như vận chuyển khí CO2 từ mô đến phổi và sản phẩm của quá trình trao đổi chất đến các cơ quan bài tiết…

- Chức năng cân bằng nước và muối khoáng nhằm đảm bảo sự ổn định nồng

độ pH, áp suất thẩm thấu, nồng độ các ion kim loại … của nội môi

- Điều hoà nhiệt độ cơ thể nhờ có các đặc điểm sau:

Máu chứa nhiêu nước mà tỷ lệ nhiệt của nước cao hơn so với tỷ lệ nhiệt của các dịch thể khác Khi nước bốc hơi sẽ lấy nhiệt đi do đó làm giảm nhiệt độ cơ thể

Nước trong máu là chất dẫn nhiệt tốt, có thể đem nhiệt độ từ nơi này đến nơi khác trong cơ thể thông qua sự lưu thông máu trên toàn cơ thể nhất là hệ mao mạch dưới da

- Chức năng bảo vệ cơ thể, chức năng này chủ yếu là do bạch cầu đảm nhiệm qua quá trình thực bào các vi khuẩn, các vật lạ, các độc tố xâm nhập vào cơ thể Một

số bạch cầu có khả năng sinh ra các kháng thể thực hiện các phản ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể…

2.2 Thành phần của máu

2.2.1 Khối lượng và thành phần của máu

Khối lượng máu được tính theo phần trăm khối lượng cơ thể hay theo đơn vị ml/kg khối lượng cơ thể, thay đổi theo lứa tuổi Tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể ở trẻ em lớn hơn người lớn Trong quá trình phát triển của trẻ em, tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể giảm dần

Trang 22

Bảng 2.1 Tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể của trẻ em

STT Giai đoạn Tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể (%)

Ngoài ra khối lượng máu còn thay đổi tùy theo trạng thái sinh lý cơ thể

Ví dụ: lượng máu tăng lên sau bữa ăn, khi mang thai và giảm khi đói, khi cơ thể bị mất nước, ở trẻ em có tỷ lệ thể tích máu so với trọng lượng cơ thể cao hơn người trưởng thành

Khi để máu lắng có thể phân biệt máu thành 2 phần Phần trên trong suốt, có màu vàng nhạt là huyết tương tương chiếm 55-60% thể tích máu toàn phần Phần dưới có màu đỏ là các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu) chiếm 40-45% thể tích máu toàn phần

2.2.2 Huyết tương (Plasma)

Huyết tương là một dịch thể lỏng, trong, màu vàng nhạt, vị hơi mặn, chiếm tỷ

lệ 55-60% khối lượng máu toàn phần Độ nhớt của huyết tương so với nước khoảng 1,7-2,2

Chức năng của huyết tương là tạo dòng chảy trong hệ mạch tạo điều kiện cho

sự di chuyển của các tế bào máu, là dung môi hoà tan của các chất hữu cơ và vô cơ nên có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng vận chuyển, đảm bảo áp suất thẩm thấu và độ ổn định pH trong máu, tham gia bảo vệ cơ thể

Thành phần của huyết tương gồm: nước chiếm 90-92%; chất khô chiếm khoảng 8-10%

* Các chất hữu cơ chủ yếu của huyết tương gồm:

Protein của huyết tương chiếm tỷ lệ 7,5%, gồm 3 loại chủ yếu: albumin, globulin, fibrinogen

- Albumin chiếm khoảng 54% protein toàn phần, tham gia vào cấu trúc, đặc trưng cho khả năng sinh trưởng phát triển của cơ thể, tham gia tạo ra áp suất thể keo của máu và tham gia vào quá trình vận chuyển các chất trong cơ thể

- Globulin chiếm khoảng 38% protein toàn phần gồm 4 loại 1, 2, ,  globulin Trong đó 1, 2,  globulin tham gia vào quá trình vận chuyển các chất lipid như acid béo, phosphatid, steroid…còn  globulin tham gia vào chức năng bảo

vệ cơ thể, nó là những kháng thể có tác dụng trung hòa các kháng nguyên, tạo khả năng miễn dịch cho cơ thể Đó là những globulin miễn dịch Ig (immunoglobulin) gồm

5 loại : IgG, IgA, IgM, IgD, IgE Nồng độ Ig trong huyết tương tăng chứng tỏ cơ thể

Trang 23

đang phản ứng lại các kháng nguyên, và giảm trong các bệnh chức năng của các lympho giảm sút như trong các bệnh bạch cầu dòng hạt, bệnh thiếu lympho bẩm sinh…

- Fibrinogen chiếm tỷ lệ 4-5% protien toàn phần, tham gia vào quá trình đông máu của cơ thể

Lipid của huyết tương không có dạng tự do mà kết hợp với protein tạo thành các hợp chất hoà tan là lipoprotein Hàm lượng lipoprotein tăng lên sau khi ăn Lipid của huyết tương tham gia vào quá trình vận chuyển lipid của thức ăn vào cơ thể thông qua hệ bạch huyết, vận chuyển acid béo, cholesteron, ngoài ra lipid của huyết tương còn là nguyên liệu để tổng hợp các loại lipid, các loại hormone của các tuyến nội tiết

Glucid của huyết tương hầu hết ở dạng glucose có hàm lượng ổn định ở mức 1,0-1,2g/l và tăng lên sau bữa ăn Nếu tỷ lệ glucose trong máu cao hơn 1,8g/l thì glucose sẽ được đào thải theo nước tiểu (bệnh đái tháo đường) Glucid là nguồn cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho quá trình tổng hợp các chất trong tế bào

* Các hợp chất hữu cơ không phải là protein

Các hợp chất hữu cơ không phải là protein trong huyết tương gồm:

- Nhóm có chứa N bao gồm các chất như acid uric, acid amin tự do, creatin, bilirubin và amoniac…

- Nhóm không có chứa N gồm các chất như glucose, lipid, cholesteron, acid lactic

* Các thành phần vô cơ

Các chất vô cơ trong huyết tương chiếm 0,75% khối lượng của huyết tương, trong đó thành phần quan trọng nhất là muối NaCl, ngoài ra còn có muối calci, kali, magie…Các muối trong huyết tương thường ở dạng clorua, phosphat, bicarbonat Hàm lượng muối trong huyết tương thường không cao và được coi như là hoàn toàn phân li thành các ion như: Na+, K+, PO43-, HCO3- …

2.2.3 Hồng cầu

2.2.3.1 Hình dạng hồng cầu

Tế bào hồng cầu ở người dạng hình tròn lõm 2 mặt, đường kính khoảng 7 - 8

m, dày khoảng 2 m ở xung quanh và 1m ở phần lõm, thể tích trung bình khoảng

77 ± 5 m3

Thành phần chung của hồng cầu gồm: nước 63-67%, chất khô 33-37% trong đó: protein 28%; các chất có nitơ 0,2%, ure 0,02%, glucid 0,075%, lipid và lecithin, cholesterol 0,3%

Hai thành phần quan trọng nhất của hồng cầu được nghiên cứu nhiều là hemoglobin (Hb) và màng hồng cầu

Trang 24

- Mỗi hồng cầu có khoảng 200-300 triệu phân tử Hb, chiếm khoảng 1/3 khối

lượng hồng cầu Mỗi phân tử Hb gồm 1 phân tử globin (gồm 4 chuỗi polypeptid ) và

4 nhân hem Globin gồm 4 chuỗi polypeptid giống nhau từng cặp là α, β, γ, δ Hb ở

bào thai là HbF (gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi γ) Hb ở người trưởng thành gồm HbA1

(gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi β), HbA2 ( 2 chuỗi α và 2 chuỗi δ) Mỗi phân tử Hb có

thể gắn với 4 phân tử oxy 1g Hb gắn với 1,34 ml oxy Ở trẻ em lứa tuổi tiểu học

hàm lượng Hb khoảng 128±10g/l máu đối với nam và 128±0,9g/l máu đối với nữ

- Màng hồng cầu có khả năng đàn hồi và có tính thấm chọn lọc Màng hồng

cầu mang nhiều kháng nguyên nhóm máu

Số lượng hồng cầu được tính bằng triệu/mm3 máu thay đổi tuỳ thuộc vào độ

tuổi, trạng thái hoạt động, trạng thái sinh lý Ở trẻ em giai đoạn 7 - 17 tuổi, số lượng

hồng cầu 4,78 ± 0,44 triệu/mm3 máu ở nam và 4,80 ± 0,40 triệu/mm2 máu ở nữ

2.2.3.2 Chức năng của hồng cầu

- Chức năng vận chuyển O2 và CO2 được thực hiện bởi huyết cầu tố Hb

O2 liên kết Fe2+ của nhân Hem bằng liên kết hydro theo phản ứng sau:

HbCO là dạng liên kết bền do đó hàm lượng Hb tự do giảm, không đủ để vận

chuyển O2 và CO2 kết quả dẫn đến hiện tượng ngộ độc khí CO (bị ngạt)

- Chức năng miễn dịch: hồng cầu giữ lấy các phức hợp kháng thể - kháng

nguyên - bổ thể tạo thuận lợi cho quá trình thực bào (các phức hợp miễn dịch có khả

năng bám vào hồng cầu nhiều gấp 500-1000 lần so với bạch cầu)

- Chức năng điều hoà cân bằng acid - base trong máu thông qua hệ đệm

protein

2.2.3.3 Đời sống hồng cầu trong cơ thể

Ở giai đoạn bào thai, trong những tuần đầu của phôi hồng cầu được sản sinh

ở lá phối giữa; từ tháng thứ hai trở đi, hồng cầu được sinh ra ở gan và lách; cuối giai

đoạn bào thai về sau, hồng cầu được sinh ra ở tuỷ đỏ của xương

Phổi

Mô bào Phổi

Mô bào

Trang 25

Thời gian tồn tại của hồng cầu người khoảng 90-120 ngày Khi hệ thống enzyme của hồn cầu giảm đi, màng hồng cấu trở nên dễ vỡ Khi đi qua các mao mạch nhỏ của lách, hồng cầu vỡ ra và giải phóng Hb Hb sau khi được giải phóng sẽ

bị các đại thực bào của gan, lách và tủy xương thực bào Có 150 triệu hồng cầu bị tiêu huỷ trong 1 phút

2.2.4.2 Phân loại bạch cầu

Dựa vào kích thước tế bào, cấu tạo hình thái nhân, sự có hạt hay không hạt trong nguyên sinh chất, độ lớn của các hạt và sự bắt màu các hạt đối với thuốc nhuộm toan kiềm, bạch cầu được chia thành 2 nhóm gồm 5 loại:

Nhóm bạch cầu không hạt, đơn nhân: trong bào tương không có hạt và có nhân không phân thuỳ được chia làm 2 loại:

- Bạch cầu mono (monocyte) có kích thước lớn nhất với đường kính khoảng 15-15m, nhân lớn chiếm hết khoảng nội bào, bào tương không có hạt

- Bạch cầu lympho (lymphocyte) có kích thước khoảng 5-15m, nhân có dạng hình tròn hay dạng hình hạt đậu chiếm hết khoang nội bào, bắt màu đậm

Nhóm bạch cầu có hạt đa nhân: nhân chia làm nhiều thuỳ, bào tương có các hạt bắt màu đặc trưng khi nhuộm giemsa

- Bạch cầu trung tính (neutrophil) có kích thước khoảng 10-15 m, nhân chia làm 3, 4 hay 5 thùy, trong bào tương có các hạt bắt màu đỏ nâu khi nhuộm giemsa

- Bạch cầu ưa acid (eosinophil) có kích thước 10-15m, nhân phân đoạn như bạch cầu trung tính, trong bào tương có các hạt bắt màu hồng đỏ khi nhuộm giemsa

- Bạch cầu ưa base (basophil) có kích thước khoảng 10-15 m, nhân chia làm 2-3 thuỳ, bào tương có các hạt bắt màu xanh tím khi nhuộm giemsa

Công thức bạch cầu là tỷ lệ phần trăm của các loại bạch cầu trong máu

2.2.4.3 Chức năng bạch cầu

Trang 26

Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách sau:

Thực bào là khả năng mà bạch cầu sẽ tiêu hóa những chất lạ hoặc các vi

khuẩn xâm nhập vào cơ thể, tạo cho cơ thể có sức đề kháng tự nhiên dẫn tới hình thành sự miễn dịch bẩm sinh Quá trình thực bảo gồm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn gắn: các kháng nguyên, vi khuẩn, các chất lạ… sẽ được gắn vào các điểm tiếp nhận của bạch cầu

- Giai đoạn nuốt: bạch cầu hình thành chân giả bao vây lấy kháng nguyên, vi khuẩn, vật lạ…

- Giai đoạn tạo thành hốc: chất nguyên sinh sẽ lõm vào để tạo các hốc và các lisosom sẽ tiết enzyme vào các hốc đó

- Giai đoạn tiêu diệt: kháng nguyên, vi khuẩn và chất lạ sẽ bị phân giải dưới tác dụng của các enzyme

Bạch cầu trung tính có khả năng thực bào các loại vi khuẩn và các vật thể có kích thước nhỏ (1 tế bào có khả năng thực bào khoảng 5-26 vi khuẩn)

Bạch cầu mono có khả năng thực bào vi khuẩn, các vật có kích thước lớn hơn

và hồng cầu già (1 tế bào có khả năng thực bào khoảng 100 vi khuẩn) Ngoài ra bạch cầu mono còn có khả năng kích thích bạch cầu lympho sản xuất kháng thể

Bạch cầu ưa acid có khả năng thực bào nhưng yếu và chủ yếu tập trung ở vùng viêm nhiễm vào giai đoạn cuối để dọn sạch sản phẩm viêm nhiễm

Đáp ứng miễn dịch: kháng nguyên lạ khi xâm nhập vào cơ thể sẽ gây ra một

đáp ứng miễn dịch bằng cách sản sinh ra các kháng thể tương ứng đặc hiệu với kháng nguyên để bảo vệ cơ thể Đáp ứng miễn dịch gồm 2 dạng:

Miễn dịch dịch thể: do lympho B tiết ra IgG hoà tan huyết thanh, huyết thanh này được dùng để phòng chữa bệnh như huyết thành phòng dại, huyết thanh chống uốn ván…

Miễn dịch tế bào: do lympho T bị kích thích bới các kháng nguyên, độc tố… Lympho bào T trở thành lympho cảm ứng Nhờ đó lympho T tiêu diệt được các tác nhân xâm nhập vào cơ thể bằng con đường trực tiếp hay gián

Tạo interferon do bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính sản sinh ra khi

có các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể Interferon có tác dụng ức chế sự sản sinh

ra các virut hạn chế hiện tượng ung thư

2.2.4.4 Đời sống bạch cầu

Thời gian sống của bạch cầu trong điều kiện sinh lý bình thường khoảng 8-12 ngày Bạch cầu có hạt sống được từ 4-5 ngày trong các mô; bạch cầu mono lớn thời gian sống khoảng 10-20 giờ trong máu lưu thông sau đó xuyên qua mạch máu để đến các mô và sống ở đó (có thể kéo dài hàng tháng, hàng năm); bạch cầu lympho sống

Trang 27

được khoảng 4 - 24 giờ tuy nhiên tùy theo nhu cầu cơ thể có thể kéo dài hàng tháng, hàng năm Bạch cầu có hạt đa nhân được sinh ra từ tủy ở xương, bạch cầu lympho được sinh ra từ tổ chức lưới của lách và ống tiêu hóa và bạch cầu mono có có giả thuyết cho rằng được sinh ra ở hệ võng mạc nội mô Khi già, bạch cầu bị phá huỷ ở mọi nơi trong

cơ thể như gan, lách, tủy xương và các hạch bạch huyết

3.2.5 Tiểu cầu

2.2.5.1 Hình dạng và số lượng tiểu cầu

Tiểu cầu là những tế bào nhỏ, kích thước khoảng 2-4m, không nhân, có hình dạng không ổn định

Số lượng tiểu cầu thay đổi tuỳ theo độ tuổi, trạng thái cơ thể Số lượng tiểu cầu tăng khi bữa ăn có nhiều thịt, lúc chảy máu và khi bị dị ứng Tiểu cầu giảm trong các trường hợp thiếu máu ác tính, ban xuất huyết, choáng, khi bị nhiễm phóng xạ… Ở trẻ giai đoạn từ 7-17 tuổi số lượng tiểu cầu khoảng 339.000±91.000 tiểu cầu/mm3 máu đối với nam và 338.000 ±103.000 tiểu cầu/mm3 đối với nữ

2.2.5.2 Tính chất tiểu cầu

Tiểu cầu có khả năng dính kết vào các tiểu phần khác nhau và vào vi khuẩn

lạ Tiểu cầu có khả năng ngưng kết, tạo thành đám không có hình dạng nhất định Tiểu cầu rất dễ vỡ và giải phóng thromboplastin, seretonin

2.2.5.3 Chức năng của tiểu cầu

Tiểu cầu có chức năng sinh lý sau

Chức năng co các mạch máu: seretonin được giải phóng khi tiểu cầu vỡ tham gia vào chức năng làm co mạch máu khi cơ thể bị tổn thương

Chức năng đông máu: thromboplastin do tiểu cầu giải phóng là yếu tố tham gia vào quá trình đông máu

Chức năng co cục máu: tiểu cầu có tính chất ngưng kết, củng cố sự cầm máu khi bị thương

2.2.5.4 Đời sống của tiểu cầu

Tiểu cầu được sinh ra từ các tế bào có nhân khổng lồ (mẫu tiểu cầu), đường kính 40-100m có khả năng vận động bằng giả túc ở tuỷ xương và có thể ở phổi Thời gian sống của tiểu cầu khoảng 9-11 ngày và bị phá huỷ ở lách…

2.3 Nhóm máu

Năm 1901, nhà bác học Landsteiner dựa trên hiện tượng ngưng kết hồng cầu

đã tìm ra hệ thống nhóm máu ABO Hệ thống nhóm máu ABO gồm 4 nhóm máu:

- Nhóm máu O: trên màng hồng cầu không có ngưng kết nguyên, trong huyết tương có ngưng kết tố , 

Trang 28

- Nhóm máu A: trên màng hồng cầu có ngưng kết nguyên A, trong huyết tương có ngưng kết tố 

- Nhóm máu B: trên màng hồng cầu có ngưng kết nguyên B và trong huyết tương có ngưng kết tố 

- Nhóm máu AB: trên màng hồng cầu có ngưng kết nguyên A, B, trong huyết tương không có ngưng kết tố , 

- Nếu ngưng kết nguyên A gặp ngưng kết tố  và ngưng kết nguyên B gặp ngưng kết tố  thì hồng cầu bị ngưng kết Vậy trong thực hành truyền máu, khi truyền một lượng ít khoảng dưới 0,25l (một đơn vị truyền máu), người ta cho phép chú ý đến hồng cầu người cho và huyết tương người nhận Về nguyên tắc, ngưng kết nguyên trong hồng cầu người cho không được tạo ra ngưng kết với với ngưng kết tố trong huyết tương người nhận Việc truyền máu phải tục hiện theo bảng sau:

Bảng 2.2 Sự tương tác giữa huyết tương máu nhận và hồng cầu máu cho

Ghi chú: “+” xảy ra hiện tượng ngưng kết

“+” không xảy ra hiện tượng ngưng kết

III(B)

Hình 2.1 Khả năng truyền máu giữa các nhóm máu thuộc hệ nhóm máu ABO khi

truyền 1 đơn vị máu

Ngoài hệ thống nhóm máu trên còn có hệ thống nhóm máu Rh Hệ thống nhóm máu Rh do Landsteiner và Weiner tìm ra năm 1940, dựa vào sự có mặt của yếu tố Rh trên màng tế bào hồng cầu Với những người, màng tế bào hồng cầu có yếu tố Rh có nhóm máu Rhesus dương (Rh+), những người không trên màng tế bào hồng cầu không có yếu tố Rh có nhóm máu Rhesus âm (Rh-)

2.4 Quá trình đông máu

2.4.1 Khái niệm chung

Trang 29

Đông máu là một chức năng sinh lý quan trọng của cơ thể nhằm bảo vệ cơ thể không bị mất máu khi bị các tổn thương

Đông máu là một quá trình sinh lý, hoá sinh rất phức tạp do rất nhiều yếu tố khác nhau gây nên, là một hiện sinh lý máu từ thể lỏng chuyển sang dạng đông đặc

Đông máu là một chuỗi các phản ứng hoá học mà sản phẩm của phản ứng trước xúc tác cho phản ứng sau

2.4.2 Các yếu tố tham gia vào quá trình đông máu

Quá trình đông máu rất phức tạp, có 13 yếu tố sau tham gia vào quá trình đông máu:

- Yếu tố I: Fibrinogen là một loại protein huyết tương do gan và lưới nội mô sản xuất

- Yếu tố II: Prothrombin là một loại protein huyết tương được tổng hợp ở gan

- Yếu tố III: Thromboplastin mô là một loại enzyme do phổi, não và một số

mô bài tiết ra

- Yếu tố IV: ion Ca++trong huyết tương có tác dụng hoạt hoá prothrombin

- Yếu tố V: Proaccelerin là một loại globulin do gan sản sinh ra có tác dụng làm tăng nhanh quá trình đông máu

- Yếu tố VI: Accelerin (dạng hoạt hoá của yếu tố V)

- Yếu tố VII: Proconvertin là một loại prtein do gan sản sinh

- Yếu tố VIII: Antihemophilie A yếu tố chống chảy máu A có sẵn trong huyết tương

- Yếu tố IX: Christmas (antihemophilie B) yếu tố chống máu chảy B

- Yếu tố X: Stuart yếu tố do gan sản sinh ra là yếu tô tương đối bền vững

- Yếu tố XI: Tiền thromboplastin huyết tương

- Yếu tố XII: Hageman yếu tố có sẵn trong huyết tương có tác dụng hoạt hoá

sự đông máu

- Yếu tố XIII: yếu tố ổn định fibrin

2.4.3 Các giai đoạn của quá trình đông máu

Giai đoạn I Giai đoạn hình thành và giải phóng thromboplastin

Thromboplastin là một phospholipoprotein gồm 2 nhóm: thromboplastin ngoại sinh và thromboplastin nội sinh

- Thromboplastin ngoại sinh được tiết ra từ các mô và các tổ chức liên kết tiết

bị tổn thương

Trang 30

- Thromboplastin nội sinh do tiểu cầu tiết ra khi mạch máu bị tổn thương Máu chảy ra khỏi mạch, tiếp xúc với vết thương làm tiểu cầu vỡ, giải phóng thromboplastin nội sinh

Ngoài ra, sự tạo thành thromboplastin nội sinh và ngoại sinh còn đòi hỏi sự

có mặt của các yếu tố khác như ion Ca++, proaccelerin, proconvertin, stuart, hageman, hemophilie

Giai đoạn 2 Sự tạo thành thrombin từ prothrombin

Dưới tác dụng của troboplastin, prothrombin trong huyết tương ở dạng không hoạt động được chuyển hóa thành thrombin hoạt động với sự tham gia của các yếu

tố khác như proaccelerin, accelerin

Giai đoạn 3 Giai đoạn chuyển fibrinogen thành sợi fibrin

Dưới tác động của thrombin, các fibrinogen ở dạng hòa tan liên kết với nhau

để tạo thành sợi fibrin Quá trình này còn có sự tham gia của các chất khác như ion

Ca++, chất keo, yếu tố ổn định fibrin Các sợi fibrin tạo thành mạng lưới giữ các tế bào máu tạo thành cục máu đông, bịt kín thành mạch tổn thương, ngăn không cho máu chảy ra ngoài

2.4.4 Sự chống đông máu của cơ thể

Khi máu lưu thông trong hệ mạch ở dạng lỏng không bị đóng thành cục do các yếu tố sau:

- Thành mạch có lớp nội mô trơn nhẵn, tiểu cầu không bị phá huỷ, không bám vào nhau tạo thành từng đám do đó không có thromboplastin trong máu

- Trên bề mặt lớp nội mô của thành mạch có một lớp protein mỏng tích điện

âm có khả năng ngăn cản các tiểu cầu không dính vào lớp nội mô

- Trong máu có một số chất chống đông máu tự nhiên như: chất khảng thromboplastin có tác dụng làm chậm quá trình hình thành thromboplastin huyết tương; chất kháng thrombin, heparin là một mucopolysacharit, muối oxalat, citrat…

2.5 Miễn dịch

Miễn dịch là khả năng của cơ thể chống lại sự nhiễm bệnh một cách hiệu quả

Có hai loại miễn dịch: miễn dịch tự nhiên hay còn gọi là miễn dịch không đặc hiệu và miễn dịch thu được hay miễn dịch đặc hiệu

Miễn dịch tự nhiên: là khả năng bảo vệ của cơ thể sẵn có ngay từ khi mới sinh

ra, mang tính di truyền, không đòi hỏi sự tiếp xúc với cơ thể với kháng nguyên xâm nhập lần đầu hay lần sau Miễn dịch tự nhiên đóng vai trò quan trọng đối với cơ thể trong giai đoạn cơ thể chư có miễn dịch thu được

Miễn dịch thu được là khả năng bảo vệ của cơ thể khi cơ thể đã có tiếp xúc với kháng nguyên một cách chủ động (vacxin) hay ngẫu nhiên hoặc do được truyền các tế

Trang 31

bào có chức năng miền dịch (miễn dịch vay mượn) hoặc truyền kháng thế (miễn dịch thụ động)

Khả năng miễn dịch phụ thuộc vào trạng thái cơ thể, cho nên việc đảm bảo vệ sinh, chế độ dinh dưỡng, lao động, rèn luyện tăng cường sức khỏe là một yếu tố quan trọng đối với việc phòng bệnh

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2

1 Trình bày tính chất của máu người

2 Phân tích đặc điểm về thành phần và tính chất của máu theo lứa tuổi ở trẻ em

3 Quá trình đông máu diễn ra như thế nào? Vì sao khi lưu thông trong hệ mạch quá trình đông máu không diễn ra? Vai trò của quá trình đông máu đối với chức năng bảo

vệ cơ thể trẻ em

4 Nhóm máu là gì? Cách xác định nhóm máu và ứng dụng của chúng trong truyền máu

Trang 32

CHƯƠNG 3 HỆ TUẦN HOÀN

Sau khi học xong chương 3, người học có thể:

1 Trình bày được những kiến thức cơ bản về cấu tạo của hệ tuần hoàn

2 Trình bày được đặc tính sinh lý và đặc điểm hoạt động của tim

3 Chứng minh minh được mối quan hệ giữa cấu tạo và hoạt động của tim

4 Phân tích được chức năng của hệ tuần hoàn

5 Phân tích được một số nét về một số bệnh tim, mạch trong hoạt động tim mạch ở trẻ em, đề xuất cách phòng tránh các bệnh về tim, mạch ở trẻ em lứa tuổi tiểu học

3.1 Cấu tạo của hệ tuần hoàn

3.1.1 Cấu tạo của tim

Tim nằm trong trung thất giữa của lồng ngực, trên cơ hoành, sau xương ức, giữa hai phổi, hơi lệch về phía trái Ở trẻ sơ sinh, tim nằm ngang, do cơ hoành ở vị trí tương đối cao Khi trẻ 1 tuổi tim chéo, chếch về trái Từ 4 tuổi trở lên tim có vị trí thẳng và mỏm tim hơi chếch về bên trái, trước

Tim là khối cơ được bao bọc bởi màng tim Ở trẻ từ 6-10 tuổi tim có khối

lượng khoảng 100g đối với nam và 92g đối với nữ (Nguồn: “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập niên 90 – thế kỷ XX”) [2] Tim được chia làm 4

ngăn: hai tâm nhĩ và hai tâm thất, được chia làm 2 nửa riêng biệt, nửa phải và nửa trái Mỗi nửa gồm 1 tâm nhĩ ở trên và một tâm thất ở dưới Giữa tâm nhĩ và tâm thất

có van nhĩ thất đảm bảo cho máu chỉ chảy một chiều từ tâm nhĩ xuống tâm thất (giữa tâm nhĩ phải và tâm thất phải là van 3 lá, giữa tâm nhĩ trái và tâm thất trái là van 2 lá) Van tim có cấu tạo bởi mô liên kết, không có mạch máu, một đầu gắn cố định vào mấu lồi cơ ở thành trong tâm thất bằng các dây chằng, một đầu gắn với bờ ngăn tâm nhĩ với tâm thất của tim Ngoài van nhĩ – thất, giữa tâm thất với động mạch chủ và động mạch phổi có van bán nguyệt (Hình 3.1)

Trang 33

Hình 3.1 Cấu tạo của tim [15]

Thành tim được cấu tạo bởi ba lớp:

- Lớp ngoại tâm mạc (màng ngoài tim) là một túi kín gồm 2 bao: Bao sợi gọi

là ngoại tâm mạc sợi, bao bọc phía ngoài tim, có các thớ dính vào các cơ quan lân cận; Bao thanh mạc gọi là ngoại tâm mạc thanh mạc ở trong, có hai lá: lá thành ở ngoài và lá tạng ở trong dính sát vào cơ tim, giữa 2 lá là một khoang ảo, trong khoang có ít thanh dịch làm cho co bóp được trơn, dễ dàng

- Lớp cơ tim được biệt hóa một cách rất đặc biệt để phù hợp với chức năng

co bóp của tim và chiếm gần 50% khối lượng của tim Cơ tim được tạo thành bởi những tế bào hay sợi cơ tim Những sợi cơ này chia nhánh và nối với nhau thành một lưới sợi cơ, trong các lỗ lưới có các mô liên kết thưa, mạch máu và dây thần kinh Các sợi cơ tim có cấu tạo giống sợi cơ vân, chúng có những vân dọc (tơ cơ) và vân ngang (những đoạn sáng và tối nối tiếp nhau) Tuy nhiên khác với sợi cơ vân, mỗi sợi cơ tim có cấu trúc rất phức tạp, bên trong tế bào có nhiều nhân, bên ngoài mỗi sợi đều có màng riêng bao bọc, dọc hai bên của mỗi sợi kề nhau, màng hòa nhau một đoạn làm thành một cầu dẫn truyền sung động từ sợi cơ này sang sợi cơ khác, do đó tim hoạt động như một hợp bào Phần lớn các sợi cơ tim là các sợi co rút, một phần nhỏ là các sợi cơ kém biệt hóa mang tính chất thần kinh gọi là “hệ dẫn truyền của tim” nhờ vậy mà tim co bóp nhanh, nhịp nhàng và tự động, không bao giờ trở nên co cứng Ở trẻ em, cơ tim mỏng và ngắn nhưng trong cơ tim lại có nhiều mạch máu cung cấp chất dinh dưỡng và oxi cho nó hoạt động

- Lớp nội tâm mạc (màng trong tim) là một màng mỏng, phủ và dính chặt lên

Trang 34

Thành tâm nhĩ mỏng hơn thành tâm thất vì nhiệm vụ của nó là thu nhận máu

và co bóp để đẩy máu xuống tâm thất, còn tâm thất khi co bóp tống máu đến phổi và

đi đến các cơ quan trong cơ thể để nuôi cơ thể

Thành tâm thất trái dày hơn thành tâm thất phải vì áp lực tống máu trong vòng tuần hoàn lớn mạnh hơn nhiều so với áp lực tống máu trong vòng tuần hoàn nhỏ

Hệ thống dẫn truyền của tim là một cấu trúc đặc biệt có khả năng phát sinh ra hưng phấn và dẫn truyền hưng phấn Hệ thống dẫn truyền gồm: nút xoang nhĩ, đây

là nơi phát sinh xung động nhịp nhàng; đường liên nút truyền xung động từ nút xoang nhĩ đến nút nhĩ thất; nút nhĩ nhất là nơi xung động từ tâm nhĩ tới, dừng lại một thời gian ngắn trước khi đi xuống tâm thất; bó His có vai trò truyền xung động

từ tâm nhĩ đến tâm thất Bó His xuất phát từ hạch nhĩ thất tới vách liên thất chia thành 2 nhánh: phải và trái để đi đến cơ của 2 tâm thất Mỗi nhánh lại chia thành nhiều nhánh nhỏ hơn chạy giữa các sợi cơ tim và tạo thành mạng lưới Purkinje

3.1.2 Cấu tạo của mạch máu

Có 3 loại mạch máu: động mạch, mao mạch và tĩnh mạch (Hình 3.2)

Hình 3.2 Mạch máu [15]

Động mạch là những mạch máu xuất phát từ tâm thất đi đến lưới mao mạch, động mạch càng xa tim càng chia nhánh nhiều lần và thiết diện của mỗi động mạch càng nhỏ dần nhưng tổng diện tích hệ động mạch càng lớn, do đó, máu chảy trong động mạch càng xa tim, tốc độ càng giảm Những nhánh nối với lưới mao mạch được gọi là tiểu động mạch Thành động mạch rất dày gồm 3 lớp:

Trang 35

- Lớp ngoài là mô liên kết giàu sợi collagen và sợi chun, có mạch máu nuôi dưỡng và có các sợi thần kinh giao cảm Lớp ngoài có chức năng nâng đỡ và bảo vệ mạch máu

- Lớp giữa là lớp này dày nhất, do các sợi cơ trơn và các sợi chun tạo nên Sợi chun ở lớp giữa giúp cho thành mạch có tính đàn hồi, sợi cơ trơn giúp thành mạch co lại Tỷ lệ sợi cơ và sợi chun thay đổi theo đường kính động mạch, các động mạch lớn có nhiều sợi chun, ít sợi cơ trơn; động mạch càng nhỏ thì càng có nhiều sợi cơ trơn, ít sợi chun Lớp áo ngoài ngăn cách lớp áo giữa bằng một màng chun gọi là lớp đàn hồi ngoài

- Lớp trong (áo trong) còn gọi là lớp nội mạc động mạch, được tạo thành bởi lớp nội mô ở trong cùng, bề mặt lớp tế bào này trơn nhẵn giúp cho máu vận chuyển được dễ dàng Lớp trong ngăn cách với lớp giữa bằng một màng chun gọi là lớp đàn hồi trong

Mao mạch là nơi trực tiếp xảy ra sự trao đổi chất giữa máu với các tế bào và

mô Chúng là những mạch máu nhỏ, kích thước tương đối đồng đều, nối tiểu động mạch với tiểu tĩnh mạch tạo thành lưới mao mạch Thành của mao mạch rất mỏng khoảng 0,5µm và được cấu tạo bởi: 1 lớp tế bào nội mô màng đáy hoặc ngoại mạc Đường kính mao mạch khoảng 4-9µm

Tĩnh mạch là những mạch máu dẫn máu từ các cơ quan, tổ chức về hai tâm nhĩ, nên dòng máu chảy ngược chiều với dòng máu động mạch Tĩnh mạch càng gần tim đường kính càng lớn Phần lớn tĩnh mạch thường đi kèm với động mạch nằm sâu trong cơ thể, nhưng cũng có nhiều tĩnh mạch không đi kèm với động mạch, đó

là tĩnh mạch da và một số tĩnh mạch sâu Một số động mạch có hai tĩnh mạch đi kèm và tĩnh mạch lại rộng lòng do đó, hệ tĩnh mạch có số lượng và dung tích lớn hơn so với động mạch

- Thành tĩnh mạch cũng có 3 lớp như động mạch, tuy nhiên, lớp giữa mỏng hơn, màng chun kém phát triển, không có màng chun trong, thành phần cơ trơn cũng ít hơn động mạch nên khả năng đàn hồi kém, dễ bị xẹp khi tĩnh mạch bị đứt và không có khả năng điều chỉnh dòng máu bằng cách thay đổi đường kính lòng mạch được Khi tĩnh mạch bị giãn quá nhiều, khả năng co lại sẽ khó

Ở trẻ em, các động mạch phát triển và có kích thước lớn hơn tĩnh mạch Khi lớn lên, lòng tĩnh mạch phát triển dần và ngày càng lớn hơn động mạch Dưới 10 tuổi, động mạch phổi lớn hơn động mạch chủ, từ 10 đến 12 tuổi, động mạch chủ và động mạch phổi bằng nhau và sau dậy thì, động mạch chủ lớn hơn động mạch phổi

Mao mạch của trẻ em phát triển theo tuổi của trẻ và ngừng phát triển ở tuổi dậy thì

Trang 36

3.1.3 Các vòng tuần hoàn

Hệ tuần hoàn gồm tim và hệ mạch (động mạch, tĩnh mạch và mao mạch) tạo thành hệ kín Khi tim co bóp, máu được đẩy vào các động mạch và khi tâm giãn ra, máu từ các tĩnh mạch được hút về tim Hệ thống tuần hoàn được chia làm 2 vòng: vòng đại tuần hoàn và vòng tiểu tuần hoàn

- Vòng đại tuần hoàn (vòng tuần hoàn hệ thống): máu từ tâm nhĩ trái được

đẩy xuống tâm thất trái Khi tâm thất co lại, máu được đẩy vào động mạch chủ, từ

đó phân bố đến khắp cơ thể Qua hệ mao mạch, quá trình trao đổi chất và khí diễn ra giữa máu và mô, sau đó máu theo các tĩnh mạch nhỏ đổ vào tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới rồi cùng đổ vào tâm nhĩ phải

- Vòng tiểu tuần hoàn (vòng tuần hoàn phổi): máu từ tâm nhĩ phải xuống tâm

thất phải, sau đó vào động mạch phổi đến mao mạch phổi Tại mao mạch phổi, quá trình trao đổi khí được diễn ra O2 thành máu giàu phế nang vào máu và CO2 từ máu

đi ra phế nang Từ tĩnh mao mạch phổi máu đổ vào tĩnh mạch phổi đổ về tâm nhĩ trái

3.2 Sinh lý tuần hoàn

3.2.1 Sinh lý tim

3.2.1.1 Các đặc tính của tim

- Tính nhịp điệu (tính tự động) là khả năng tự phát xung động cho tim hoạt động được thực hiện bởi hệ thống dẫn truyền Khi tách ra khỏi cơ thể và được nuôi trong môi trường dinh dưỡng đầy đủ thì tim vẫn hoạt động nhịp nhàng Các phần của hệ thống dẫn truyền đều có khả năng phát ra các xung động với tần số khác nhau Trong trạng thái sinh lý bình thường tim co bóp theo nhịp của nút xoang nhĩ

và nhịp tim được gọi là nhịp xoang

- Tính hưng phấn biểu hiện ở sự co bóp của tim vì nó có khả năng phát sinh điện thế hoạt động khi đáp ứng lại kích thích Tính hưng phấn của cơ tim diễn ra theo quy luật “tất cả hoặc không có gì” Kích thích vào cơ tim, nếu kích thích có cường độ dưới ngưỡng tim không đáp ứng trả lời Kích thích vào cơ tim với kích thích có cường độ ngưỡng hoặc trên ngưỡng tim phản ứng trả lời là như nhau, tất cả

tế bào cơ tim đều co với biên độ tối đa

Đặc điểm của tính hưng phấn của cơ tim được giải thích là do cơ tim có cấu trúc theo kiểu hợp bào và có cầu nối nguyên sinh chất giữa các sợi cơ với nhau nên

cơ tim hoạt động như một khối thống nhất Như vậy khi kích thích vào cơ tim với kích thích có cường độ ngưỡng hoặc trên ngưỡng thì toàn bộ cơ tim đều co lại

Trang 37

- Tính dẫn truyền biểu hiện ở khả năng dẫn truyền các điện thế hoạt động của

cơ tim và hệ thống dẫn truyền hưng phấn trong tim (các nút, bó His, màng lưới Purkinje)

Hưng phấn bắt nguồn từ nút xoang nhĩ truyền tới tâm nhĩ theo kiểu nang hoa (hưng phấn truyền tới tâm nhĩ trái chậm hơn tâm nhĩ phải), hưng phấn tiếp đến hạch nhĩ thất trong khoảng thời và được giữ lại ở nút nhĩ thất, sau đó được truyền đến bó His, đến sợi Purkinje, đến sợi cơ tim ở tâm thất

Quá trình dẫn truyền hưng phấn thay đổi ở các phần khác nhau của tim có ý nghĩa đối với hoạt động liên tục và nhịp nhàng theo một chu kỳ nhất định đảm bảo

chức năng bơm máu của tim

- Tính trơ có chu kỳ biểu hiện sự khác nhau về tính hưng phấn của cơ tim trong các giai đoạn hoạt động của tim, được chi làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn trơ tuyệt đối: tương ứng với quá trình khử cực của màng cơ tim Trong giai đoạn này một kích thích mới không có khả năng gây hưng phấn cơ tim

Giai đoạn trơ tương đối: tương ứng với giai đoạn tái phân cực màng Trong giai đoạn này kích thích có cường độ cao hơn ngưỡng mới có khả năng gây hưng phấn cơ tim

Giai đoạn hưng vượng: tương ứng với giai đoạn giảm phân cực màng Trong giai đoạn này kích thích có cường độ dưới ngưỡng cũng có thể gây co cơ Giai đoạn này rất ngắn, không phải bao giờ cũng có

Giai đoạn phục hồi hoàn toàn: tương ứng với giai đoạn phân cực màng Trong giai đoạn này kích thích có cường độ ngưỡng có tác dụng làm cơ tim hưng phấn

3.2.1.2 Chu kỳ hoạt động tin

Chu kỳ hoạt động tim (chu chuyển tim) là toàn bộ hoạt động của tim kể từ khi tim co lần trước đến khi tim bắt đầu co lần sau Chu kỳ hoạt động của tim được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn tâm nhĩ thu, giai đoạn tâm thất thu và giai đoạn tâm trương toàn bộ

Giai đoạn tâm nhĩ thu áp suất trong tâm nhĩ cao, van nhĩ thất đang mở, lượng

máu còn lại (khoảng 1/4 lượng máu) bị đẩy từ tâm nhĩ xuống tâm thất Kết quả áp suất tâm nhĩ giảm xuống đến mức có trị số âm (thấp hơn áp suất khí quyển), áp suất trong tâm thất thất tăng Khi tâm nhĩ bắt đầu giãn ra tâm thất bắt đầu co

Giai đoạn tâm thất thu được chia thành hai giai đoạn tăng áp và giai đoạn

tống máu

- Giai đoạn tăng áp: Mở đầu giai đoạn này là giai đoạn cơ tâm thất co không đồng thời, kết quả là áp lực tâm thất tăng đột ngột, cao hơn áp lực trong tâm nhĩ,

Trang 38

làm máu đẩy ngược về phía tâm nhĩ làm cho van nhĩ thất đóng và tạo ra tiếng tim thứ nhất Tâm thất tiếp tục co bóp nhưng thể tích thì vẫn không thay đổi (co đẳng tích) đo đó, áp suất trong tâm thất tiếp tục tăng nhanh và van bán nguyệt mở ra

- Giai đoạn tống máu: máu từ tâm thất được tống ra động mạch, được chia làm 2 giai đoạn nhỏ: giai đoạn tống máu nhanh tống 4/5 lượng máu vào động mạch; giai đoạn tống máu chậm tống 1/5 lượng máu còn lại vào động mạch

Giai đoạn tâm trương toàn bộ được chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn tiền tâm trương là giai đoạn mang tính chất quá độ giữa tâm thu

và tâm trương Cơ tâm thất ngừng co, van bán nguyệt vẫn mở

- Giai đoạn cơ tim giãn đẳng kế: cơ tâm thất giãn, áp suất trong tâm thất nhỏ hơn áp suất trong động mạch, kết quả van bán nguyệt đóng lại

- Giai đoạn đầy máu: cơ tâm thất tiếp tục giãn, áp suất trong tâm thất tiếp tục giảm xuống và nhỏ hơn áp suất trong tâm nhĩ Máu từ tĩnh mạch đổ vào tâm nhĩ từ lúc tâm nhĩ ngừng co được đây xuống tâm thất qua van nhĩ thất (van nhĩ thất bắt đầu

hé mở) Giai đoạn này chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầy máu nhanh và giai đoạn đầy máu chậm

Tâm nhĩ bắt đầu co một chu kỳ hoạt động tim mới được tiếp tục

3.2.1.3 Tần số tim, lưu lượng tim

Tần số tim là số lần tim co bóp trong 1 phút Tần số tim thay đổi theo giới và theo độ tuổi Ngoài ra tần số tim còn phụ thuộc vào trạng thái tâm lý và sinh lý của trẻ Ví dụ, khi trẻ bị sốt, khi trẻ khóc, tần số tim tăng lên; khi trẻ ngủ hay khi lo sợ tần số tim giảm

Bảng 3.1 Biến đổi tần số tim theo tuổi của trẻ em Việt Nam (lứa tuổi tiểu học)

Trang 39

Thể tích tâm thu, lưu lượng tim tăng dần trong quá trình phát triển ở trẻ em: 7 tuổi thể tích tâm thu đạt 24ml máu, 12 tuổi đạt 41ml máu Thể tích tâm thu và lưu lượng của tim không ổn định, thay đổi tùy theo trạng thái cơ thể và tăng nhiều khi hoạt động mạch đặc biệt là khi lao động nặng

3.2.1.4 Điều hòa hoạt động tim

Hoạt động của tim được điều hoà theo 2 cơ chế: quá trình tự điều hòa theo lượng máu về tim và điều hòa bởi các yếu tố ngoài tim

Quá trình tự điều hoà theo lượng máu về tim (hiện tượng Frank - Starling) Máu đổ về tâm thất nhiều dẫn đến cơ tim thành tâm thất giãn ra, các sợi cơ tim bị kéo dài, dẫn đến các sợi cơ tim đáp ứng co ngắn mạnh Ngoài ra máu đổ về tâm thất nhiều vách tâm nhĩ bị kéo căng và kéo theo làm tăng tần số co bóp của tim

Điều hoà bởi các yếu tố ngoài tim

- Điều hoà theo cơ chế thần kinh

Kích thích vào dây thần kinh giao cảm làm tăng khả năng hưng phấn của cơ tim, tăng tốc độ dẫn truyền hưng phấn trong tim, tăng nhịp co bóp của tim, tăng khả năng dinh dưỡng của các tế bào cơ tim

Kích thích vào dây thần kinh đối giao cảm sẽ làm ức chế hạch xoang, hạch nhĩ thất, do đó làm giảm hưng phấn của cơ tim, giảm tốc độ dẫn truyền hưng phấn trong cơ tim, làm chậm nhịp tim, giảm cường độ co bóp của tim

- Điều hoà bằng các phản xạ với hoạt động của tim

Phản xạ gốc tim: Khi máu trong tâm nhĩ tăng lên, thụ cảm thể áp lực phân bố trong tâm nhĩ giữa 2 lỗ tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới bị kích thích tạo xung động, xung động được truyền theo dây thần kinh hướng tâm về tủy sống và lên hành tủy làm giảm trương lực trung khu dây X và tăng trương lực dây thần kinh giao cảm, kết quả tăng co bóp của tim

Phản xạ qua các thụ cảm thể áp lực: Khi áp lực quai động mạch chủ tăng lên, các thụ cảm thể áp lực ở đây sẽ bị kích thích tạo ra xung động thần kinh truyền theo dây Cyon về hành tủy kích thích vào trung khu giảm áp làm cho tim đập chậm lại và làm giảm huyết áp Khi áp lực trong xoang động mạch cảnh tăng lên các thụ cảm thể áp lực ở đây sẽ bị kích thích tạo xung động truyền theo dây Hering tới hành tủy kích thích trung khu giảm áp làm giảm sự co bóp của tim và giảm huyết áp

Phản xạ Goltz: Khi kích thích vào vùng thượng vị hay co kéo các tạng vùng bụng dẫn đến làm hoạt hóa đám rối thái dương tạo ra xung động thần kinh truyền về hành tủy kích thích vào dây X làm tim đập chậm hoặc ngừng đập

Trang 40

Phản xạ nhãn cầu: khi dùng ngón tay tác động lên nhãn cầu sẽ gây ra kích thích vào dây thần kinh V xung động thần kinh phát ra truyền về hành tủy hoạt hóa dây X làm tim đập chậm

Kích thích vào các thụ quan bản thể ở gân, cơ và các cơ quan phân tích khác như thính giác, thị giác… cũng làm tăng hoạt động của tim

- Điều hoà theo cơ chế thể dịch

Ảnh hưởng của hormone: Hormone adrenalin và noradrenalin của tuyến thượng thận, hormone thyroxin tuyến giáp trạng … có tác dụng làm tim đập nhanh

3.2.2 Sự vận chuyển máu

3.2.2.1 Vận chuyển máu trong động mạch

Động mạch là những mạch máu vận chuyển máu từ tim đến các mô Từ động mạch chủ, các động mạch được chia thành nhánh nhỏ dần, càng xa tim thiết diện của hệ động mạch càng nhỏ nhưng thiết diện của hệ động mạch càng lớn Do đó,

máu chảy trong động mạch càng xa tim thì vận tốc càng giảm

Động mạch có tính đàn hồi và tính co thắt:

- Tính đàn hồi là tính chất đảm bảo cho thành động mạch có thể trở về dạng ban đầu mỗi khi bị biến dạng Tính đàn hồi do các sợi đàn hồi quyết định Động mạch càng lớn tính đàn hồi càng cao, những động mạch gần tim (động mạch chủ, tính đàn hồi đóng vai trò quan trọng Tính đàn hồi có tác dụng điều hòa lưu lượng máu và làm cho đường kính của mạch máu thích ứng với những thay đổi của khối lượng máu trong mọi khu vực Khả năng đàn hồi của thành mạch thay đổi tùy theo

độ tuổi, tuổi càng cao tính đàn hồi càng thấp

- Tính co thắt do các sợi cơ trơn của thành động mạch co lại dưới ảnh hưởng của thần kinh làm cho lòng mạch hẹp đi, giảm lượng máu đi qua Tính co thắt làm cho động mạch thay đổi tiết diện điều hòa lượng máu đến các cơ quan và điều hòa huyết áp Tính co thắt cao ở những động mạch nhỏ vì thành động mạch nhỏ chứa nhiều cơ trơn

Huyết áp là áp lực của máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể Huyết áp được tạo ra bởi hai lực đối lập

Ngày đăng: 03/11/2023, 18:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y Tế (2003), Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90- thế kỷ XX, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90- thế kỷ XX
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2003
3. Lê Thị Mai Hoa (2014), Giáo trình bệnh học trẻ em, NXB Đại học Sư Phạm 4. Lê Thị Mai Hoa (2014), Giáo trình vệ sinh trẻ em, NXB Đại học Sư Phạm 5. Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan (2016), Sinh lý học trẻ em, NXB Đại học Sưphạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh học trẻ em", NXB Đại học Sư Phạm 4. Lê Thị Mai Hoa (2014), "Giáo trình vệ sinh trẻ em", NXB Đại học Sư Phạm 5. Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan (2016), "Sinh lý học trẻ em
Tác giả: Lê Thị Mai Hoa (2014), Giáo trình bệnh học trẻ em, NXB Đại học Sư Phạm 4. Lê Thị Mai Hoa (2014), Giáo trình vệ sinh trẻ em, NXB Đại học Sư Phạm 5. Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm 4. Lê Thị Mai Hoa (2014)
Năm: 2016
6. Tạ Thuý Lan, Mai Văn Hưng, Đỗ Đức Minh (2018), Giải phẫu sinh lý người qua hình ảnh, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu sinh lý người qua hình ảnh
Tác giả: Tạ Thuý Lan, Mai Văn Hưng, Đỗ Đức Minh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2018
7. Trần Văn Ngọc, Nguyễn Thị Lệ (2022), Sinh lý học Y khoa, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học Y khoa
Tác giả: Trần Văn Ngọc, Nguyễn Thị Lệ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2022
8. Trường Đại học Y Hà Nội, bộ môn Sinh lý học (2001), Sinh lý học (tập 1,2), NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học (tập 1,2)
Tác giả: Trường Đại học Y Hà Nội, bộ môn Sinh lý học
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2001
9. Trường Đại học Y Hà Nội, bộ môn Giải phẫu (2012), Bài giảng giải phẫu học, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu học
Tác giả: Trường Đại học Y Hà Nội, bộ môn Giải phẫu
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2012
10. Phan Thị Ngọc Yến, Trần Minh Kỳ, Nguyễn Thị Dung (2002), Đặc điểm giải phẫu Sinh lý trẻ em, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đặc điểm giải phẫu Sinh lý trẻ em
Tác giả: Phan Thị Ngọc Yến, Trần Minh Kỳ, Nguyễn Thị Dung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia
Năm: 2002
11. Cambell, Reece (2012), Biology, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biology
Tác giả: Reece Cambell
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
12. Gordon Betts J. (2013), Anatomy and Physiology, OpenStax Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anatomy and Physiology
Tác giả: Gordon Betts J
Năm: 2013
13. Katch V.L., McArdle W. D. and Katch F. I. (2015), Essential of Exercise Physiology, Fifth Edition, Printed in the USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essential of Exercise Physiology
Tác giả: Katch V.L., McArdle W. D. and Katch F. I
Năm: 2015
14. Keeton, William T. , Sircus, William , Hightower, Nicholas Carr and Dworken, Harvey J (2022). Encyclopedia Britannica, https://www.britannica.com/science Sách, tạp chí
Tiêu đề: Encyclopedia Britannica
Tác giả: William T. Keeton, William Sircus, Nicholas Carr Hightower, Harvey J Dworken
Nhà XB: Encyclopedia Britannica
Năm: 2022
15. Open star CNX (2022), General biology, https://Libre texts.org 16. Phillip.W.D, Chilton T.J. (1994), Biology, Oxford University Sách, tạp chí
Tiêu đề: General biology", https://Libre texts.org 16. Phillip.W.D, Chilton T.J. (1994), "Biology
Tác giả: Open star CNX (2022), General biology, https://Libre texts.org 16. Phillip.W.D, Chilton T.J
Năm: 1994
17. Reece J.B., Urry L.A., Cain M.L., Wasserman S.A., Minorsky P.V. and Jackson R.B. (2011). Campbell biology, ninth edition. Pearson Education Inc., San Francisco America Sách, tạp chí
Tiêu đề: Campbell biology, ninth edition
Tác giả: Reece J.B., Urry L.A., Cain M.L., Wasserman S.A., Minorsky P.V., Jackson R.B
Nhà XB: Pearson Education Inc.
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Sự tương tác giữa huyết tương máu nhận và hồng cầu máu cho. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Bảng 2.2. Sự tương tác giữa huyết tương máu nhận và hồng cầu máu cho (Trang 28)
Hình 3.1. Cấu tạo của tim [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 3.1. Cấu tạo của tim [15] (Trang 33)
Hình 4.1. Hệ hô hấp [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 4.1. Hệ hô hấp [15] (Trang 48)
Hình 5.1. Hệ tiêu hóa [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 5.1. Hệ tiêu hóa [15] (Trang 56)
Hình 6.1. Thận người [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 6.1. Thận người [15] (Trang 67)
Hình 6.2. Nephron (Đơn vị thận) [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 6.2. Nephron (Đơn vị thận) [15] (Trang 67)
Hình 8.1. Các cơ quan sinh dục nam [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 8.1. Các cơ quan sinh dục nam [15] (Trang 79)
Hình 9.1. Tuyến yên [11]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 9.1. Tuyến yên [11] (Trang 92)
Hình 9.3. Tuyến cận giáp [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 9.3. Tuyến cận giáp [15] (Trang 95)
Hình 9.4. Tuyến tụy [11]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 9.4. Tuyến tụy [11] (Trang 97)
Hình 10.1. Cấu tạo xương [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 10.1. Cấu tạo xương [15] (Trang 104)
Hình 11.1. Cơ quan cảm giác thị giác [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 11.1. Cơ quan cảm giác thị giác [15] (Trang 115)
Hình 11.2. Cơ quan cảm giác thính giác [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 11.2. Cơ quan cảm giác thính giác [15] (Trang 117)
Hình 11.3. Cơ quan cảm giác vị giác [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 11.3. Cơ quan cảm giác vị giác [15] (Trang 119)
Hình 11.4. Cơ quan cảm giác khứu giác [15]. - Giáo trình sinh lý học trẻ em (lứa tuổi tiểu học)
Hình 11.4. Cơ quan cảm giác khứu giác [15] (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm