-1963-Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại Dòng sông xư
Trang 1BẾP LỬA – BẰNG VIỆT
1 Giới thiệu chung:
- Tên thật: Nguyễn Việt Bằng - 1941 - Thạch Thất - Hà Tây
- Thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, là nhà thơ tiêu biển trong phong trào thơ trẻ (cùng với Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mĩ Dạ) Ưu thế nổi bật của các nhà thơ thuộc phong trào thơ này là những trải nghiệm thực tế chiến tranh cho họ cảm nhận cái khốc liệt của chiến trường, cái ấm áp của tình quân dân, cái keo sơn như máu thịt của tình đồng đội, cái khắc khoải của tình thân nơi sâu thẳm trái tim Tất cả những điều đó khiến họ tạo nên trong thơ “những vần thơ tươi xanh, những vần thơ lửa cháy” và cũng là những vần thơ có một sức rung cảm, truyền cảm mạnh mẽ, kì lạ
- Thơ Bằng Việt trầm lắng, suy tư mà cũng ấm áp và sâu lắng Ông thường hướng đến những kỉ niệm thuở thiếu thời và gợi những ước mơ tuổi trẻ
2 Tác phẩm:
a Hoàn cảnh sáng tác:
- Viết 1963 khi đang học luật ở nước ngoài
- In trong tập “Hương cây - Bếp lửa”
- Là một trong những sáng tác đầu tay, song ngay từ khi ra đời, bài thơ đã
có một ví trí quan trọng trong đời thơ Bằng Việt và tìm được mối đồng cảm ở nhiều thế hệ bạn đọc
- Cùng với một số bài thơ khác trong “Hương cây - Bếp lửa”, Bằng Việt
đã tạo ra được một dấu ấn riêng, một phong cách thơ trầm lắng, nghiêng về giọng điệu tâm tình thấm thía song cũng không kém phần tài hoa, trí tuệ
- Trong nền thơ ca hiện đại, “Bếp lửa” được đánh giá là một trong không nhiều những bài thơ hay viết về tình bà cháu
b Bố cục:
- Một số điểm cần lưu ý:
+ Bài thơ mở ra bằng hình ảnh bếp lửa để từ đó gợi lại những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà Từ những kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu cuộc đời bà, hiểu lẽ sống của bà Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhơ mong được gặp lại bà
+ Bố cục bài thơ được triển khai theo mạch cảm xúc: Hồi tưởng Hiện tại, kỉ niệm Suy ngẫm Lựa chọn bố cục như thế là thích hợp với việc khắc
Trang 2họa kỉ niệm tuổi thơ Bố cục đó còn cho thấy hình ảnh của bà khắc sâu vào tâm khảm của người cháu, thành chỗ dựa tinh thần để người cháu trưởng thành
- Xây dựng kết cấu cho quá trình tìm hiểu:
+ Ba dòng đầu: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc cho những hồi
tưởng về bà
+ 4 khổ tiếp: Những kỉ niệm tuổi thơ và hình ảnh bà trong hồi tưởng của cháu
+ Còn lại: Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà
c Đọc và đối sánh với một bài thơ khác:
Bếp lửa - Bằng Việt
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đối mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà da diết thế!
Mẹ cùng cha bận công tác không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Đò lèn - Nguyễn Duy
Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá Níu váy bà đi chợ Bình Lâm Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thi Chân đất đi xem lễ đền Sòng Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
Bà mò cua xúc tép ở Đồng Quan
Bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn
Tôi trong suốt giữa hai bở hư - thực Giữa bà tôi và Tiên, Phật, thánh, thần Cái năm đói cực dong riềng luộc sượng
Cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm
Trang 3Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố
Mày ở viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng ba luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp in nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng khi nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
-1963-Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi Khi tôi biết thương bà thì đã muộn
Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi
9 – 1983
Giống:
- Tình cảm bà cháu đằm thắm, thấm thía bởi chân thành, là điều gan ruột
- Hình ảnh người bà rất đẹp - đẹp ngay trong những gì bình dị nhất: cuộc sống khó nhọc, đức hi sinh
Khác:
- Người bà trong “Bếp lửa”:
+ Bài thơ viết trong chiến tranh, tình cảm
bà cháu gắn bó với chủ nghĩa yêu nước + Người bà của Bằng Việt là một phần cuộc chiến, là hậu phương vững chắc cho người đi kháng chiến, là điểm tực vững chắc cho người cháu dù đã trưởng thành
khuynh hướng sử thi
- Người bà trong “Đò lèn”
+ Bài thơ viết thời kì hậu chiến, phản ánh khía cạnh tình cảm bà cháu thuần túy để làm nổi bật phần rất nhân bản ở con người
+ Người bà là nạn nhân của cuộc chiến, mọi điểm tựa như tiên, phật, thánh, thần
đã mất, mang thân phận một lương dân,
Trang 4một loạn li,
II Đọc - hiểu văn bản:
1 Phần 1: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn hồi tưởng, cảm xúc về bà
- Trong cuộc sống nhiều lo toan, bề bộn những công việc, người ta luôn hướng về phía trước Để thức dậy kí ức quá khứ thường phải có một dấu ấn, một kỉ niệm, một hình ảnh thật đặc biệt Với Bằng Việt, đó là hình ảnh bếp lửa:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
- Hình ảnh bếp lửa:
+ Quen thuộc và gắn bó bởi nó gắn với cái phần đời sống thiết cốt nhất,
nó lại là nơi quy tụ những người thân thiết nhất trong một gia đình, nó là không gian tinh thần trong văn hóa - đời sống của cộng đồng và của mỗi gia đình người Việt thời xưa
+ Trong đoạn thơ, nó được điệp lại 2 lần tạo thành mọt điệp khúc da diết
mà ám ảnh và sau đó sẽ tiếp tục được nhắc tới trong suốt phần còn lại của bài thơ trở thành tâm điểm quy tụ mọi hồi ức về phần đời sống ấu thơ có bà và gắn
bó cùng bà
+ Được gợi mở rất cụ thể: Trong khoảnh khắc thời gian “sương sớm” -buổi sáng sớm, khi gắn với con người thường gợi sự tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam - đặc điểm dễ tạo tình yêu thương và có sức lay động mạnh mẽ - nhất là người phụ nữ ấy là những hình bóng thân thương như người bà, người mẹ; với tính chất cụ thể: “chờn vờn”, “ấp ủ”, “nồng đượm” Trong ba từ dùng để đặc tả ngọn lửa, chỉ có một từ trực tiếp diễn tả hình ảnh ngọn lửa từ cái nhìn thị giác (“chờn vờn” là quanh quẩn không rời, khi gắn với
từ “sương sớm” nó diễn tả sự hòa quyện của hình ảnh ngọn lửa với làn sương buổi sớm mai), còn lại hai từ kia đều diễn tả hình ảnh như một dư ảnh sống dậy trong cảm xúc (“ấp iu” là ôm ấp và nâng niu, ngọn lửa đã trở thành biểu tượng của tình cảm bà dành cho cháu; “nồng đượm” là nồng nàn và sâu đậm - là những gì bà ấp ủ trong ngọn lửa buổi sớm mai để ngọn lửa ấy có thể sưởi ấm tâm hồn đứa cháu nhỏ)
Bếp lửa là hình ảnh đầu tiên sống dậy trong tâm trí để khơi dậy kí ức
về bàn tay khéo léo, kiên trì nhóm lửa mỗi buổi sớm mai và tấm lòng đôn hậu,
ấm áp của người nhóm lửa - người bà
- Tấm lòng, tình cảm của cháu:
“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Trang 5+ Câu thơ bật lên một cách tự nhiên như chính cảm xúc tự nhiên cháu dành để hướng về bà - một thứ tình cảm bật nảy vừa như một bản năng, vừa là
sự lắng kết của trải nghiệm và hiểu biết ở mọt người cháu đã trưởng thành
+ Hình thức biểu hiện rất giản dị “cháu thương bà” (dường như, cảm xúc chân thành, lắng sâu bao giờ cũng tìm tới những hình thức biểu hiện giản dị nhất Và ngược lại, câu thơ giản dị, cảm xúc lắng sâu bao giờ cũng để đánh động vào nơi sâu thẳm nhất của trái tim người) Thường thì bà thương cháu, đứa cháu hưởng thụ tình thương ấy một cách hồn nhiên đến vô tâm Chỉ khi cháu trưởng thành trong cả nhận thức và tình cảm, cháu mới có thể biết “thương bà” Tình thương tạo sự gắn bó, đánh động và khơi dậy trách nhiệm Ở đây, tình thương được bật nảy lên trước hết từ hiểu biết của cháu về cuộc sống của bà
“biết mấy nắng mưa” “Biết mấy nắng mưa” là dằng dặc thời gian là bao nhiêu khổ nhọc của đời bà Chữ “thương” trong trường hợp này đã lắng kết trong nó
cả nỗi thương yêu và niềm thương xót Vậy là từ hình ảnh người bà, chân dung tâm hồn cháu nhân vật trữ tình của bài thơ này cũng dần được tượng hình
-nó sẽ rõ rệt dần và được bộc lộ trọn vẹn ở phần kết của bài thơ
2 Phần 2: Những kỉ niệm tuổi thơ và hình ảnh bà trong hồi ức cháu
a Kỉ niệm năm lên 4 tuổi (5 câu)
* Cái đặc biệt của lứa tuổi: Tuổi lên 4 là tuổi rất nhỏ, nhỏ tới mức chưa thể nhận biết gì nhiều về thế giới xung quanh mà nhiều nhất cũng chỉ nhận biết những vật dụng đơn giản và nhu cầu hầu như mang tính bản năng
Nếu không phải điều gì thật đặc biệt, sâu đậm và dai dẳng sẽ khó đọng lại thành kỉ niệm
* Cái đặc biệt của ấn tượng:
- “ Mùi khói”:
+ Kết quả của rơm rạ, củi lửa chưa đủ đượm nắng để khô, nó tác động cùng lúc đến cả thị giác và khứu giác, nó trở đi trở lại tới mức trở thành quen thuộc và đọng lại thành một kỉ niệm sâu đậm trong tâm hồn
+ Tác dụng: “hun nhoèn mắt cháu” - là một phản ứng tự nhiên của mắt khi hơi khói tác động vào Thứ khói có thể “hun nhoèn mắt” là thứ khói gắn liền với khổ sở, nhọc nhằn (để nhóm được lửa và để sống được trong cuộc sống khó khăn nghèo khó); “sống mũi cay” vừa là phản ứng tự nhiên với khói lửa vừa là phản ứng tâm lí khi đối diện với những gì đau xót “Sống mũi còn cay” là một nỗi đau xót tồn tại dai dẳng Nỗi đau xót ấy có nguyên cớ từ một ấn tượng khác
- Cái đói: Hiện diện trực tiếp và gián tiếp
+ Trực tiếp: “đói mòn đói mỏi” “Mòn mỏi” là trạng thái hao sút dần theo thời gian “Đói mòn đói mỏi” là cái đói làm con người hao mòn, kiệt quệ, nó
Trang 6bòn rút sức lực, sự sống của con người - là cái đối hiện hình để săn đuổi, dồn đẩy con người
+ Gián tiếp: hình ảnh “khô rạc ngựa gầy” vừa là hình ảnh con ngựa đói, con ngực nhọc nhằn kéo xe trên những quãng đường xa, lại vừa gợi cái nhọc nhằn, cơ cực, khó nghèo đến kiệt cùng của người lao động khi nhọc nhằn trải mình qua mọi quãng đường mà không thoát nổi tình cảnh đói mòn đói mỏi
Cuộc sống đói nghèo ám vào cuộc đời bà, đọng lại thành kỉ niệm của cháu và khiến cho tuổi lên bốn chẳng còn được hồn nhiên như nó vẫn phải thế Lời thơ là lời kể, giản dị và thủ thỉ mà sao vẫn đượm nỗi xót xa ngậm ngùi
b Kỉ niệm của 8 năm sống cùng bà (11 câu)
- Hình thức trữ tình: Là sự xen lẫn của lời kể với lời tâm tình, mà đối tượng tâm tình cũng luân chuyển liên tục - khi là lời tâm tình với bà, khi lại là lời giãi bày, nhắn nhủ, trách móc với con tu hú, khi lại là lời tự nhủ với chính lòng mình Tất cả tạo nên tình cảm đa thanh phức điệu của giọng thơ để chuyển tải hết độ lắng sâu, day dứt của các cung bậc cảm xúc
- Đối tượng trữ tình:
+ Thời gian: 8 năm ấu thơ của đời người là khoảng thời gian trôi qua nhanh nhất - vì đó vốn là lúc con người được sống hồn nhiên, vô tư, thoải mái nhất Song từ “8 năm” của thời gian đời người đến “8 năm ròng” của cảm giác, của ấn tượng là cả một khoảng thời gian dằng dặc, nặng nề
+ Cuộc sống:
+) Ấn tượng nổi trội là sự li tán, chia lìa Trong gia đình là “mẹ cùng cha bận công tác không về” trong không gian sống là âm vang khắc khoải, da diết của tiếng tu hú Cần nhớ rằng tu hú là loài chim không tự làm tổ được, sống lẻ loi, lang thang Hiểu như thế sẽ thấy việc trong mọt đoạn thơ điệp lại tới 5 lần tiếng tu hú là cách để khắc họa một ám ảnh đặc biệt của nhà thơ về cuộc sống Tiếng tu hú khi “kếu”, khi “sao mà tha thiết thế”, khi “kêu hoài” Mà tiếng tu hú đâu ở gần bên để chia sẻ Không gian tồn tại của âm vang tiếng tu hú là “những cánh đồng xa” Con người lẻ lơi, con chim lang thang cô độc mà không sao gần gũi để chia sẻ cùng nhau cho lòng ấm áp Nỗi thèm khát sự sẻ chia và cảm giác
ấm áp cho cháu, cho bà lớn đến mức có lúc nhà thơ phải cất lên một câu hỏi đầy khắc khoải “Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”
+) Bên cạnh ấn tượng về sự li tán, chia lìa của gia đình lớn là ấn tượng về
sự đùm bọc, che chở của bà Để biểu đạt điều này, tác giả luôn nhấn mạnh vào
sự gắn bó giữa bà và cháu: “cháu cùng bà nhóm lửa” “cháu ở cùng bà” Chỉ một chữ “cùng” cũng gợi niềm ấm áp vì cháu có bà Cũng chỉ một chữ “cùng” ấy khiến đứa trẻ - nhà thơ thuở thiếu thời - đã có lúc chạnh lòng thương cho con tu
Trang 7hú - cháu ở cùng bà thì được bà “kể chuyện”, “bà bảo cháu nghe”, “bà dạy cháu làm”, “bà chăm cháu học”, còn tu hú “chẳng đến ở cùng bà” nên tiếng kêu mới khắc khoải, tha thiết, dai dẳng trên những cánh đồng xa
+ Hình ảnh người bà: hiện rõ dần trong những hồi tưởng của cháu về cuộc sống – bằng cính những lời nói, việc làm của bà
+) “Nhóm lửa” - một công việc thường ngày, một thói quen đã ăn sâu trong nếp sống đến mức nó không chỉ là một nét sinh hoạt mà có lẽ đã trở thành một nhu cầu Bếp lửa bà nhóm không chỉ để đun nấu bữa ăn cho gia đình mà còn là để nuôi dưỡng, nhen nhóm một niềm hi vọng Điều này sẽ rất khó để cảm nhận nếu không hiểu rõ về gia đình nhà thơ - dù như Bằng Việt đã nói: gia đình tôi có gì, tôi đã đưa hết vào trong thơ cả rồi
+) “Hay kể chuyện những ngày ở Huế” Với người đọc bình thường, một thông tin như thế này có vẻ sẽ chẳng có gì đáng kể lắm Chỉ là một thói quen của người già - hay sống với những kí ức quá khứ Vậy thôi Song ngẫm ra, ta lại không thể không băn khoăn: “ngày ở Huế” có gì để bà “hay kể” thế Và bà
kể có đơn giản chỉ là thói quen, hay việc “kể những ngày ở Huế” gắn mật thiết với những việc bà làm cho cháu sau này? Câu trả lời nằm trong chính tiểu sử của Bằng Việt: gia đình ông ở Huế 18 năm - khi cụ thân sinh ra ông là luật gia còn làm ở văn phòng giúp việc cho cụ Bùi Bằng Đoàn - thượng thư bộ Lễ triều Nguyễn Có thể nói, tuy đó không phải là một quá khứ quá vinh quang hiển hách song là một quá khứ đáng tự hào của một gia đình trí thức yêu nước Bà
“kể chuyện những ngày ở Huế” phải chăng là để gieo vào lòng đứa cháu tinh thần hiếu học, bản lĩnh trí thức và truyền thống học vấn của gia đình? Nếu đúng như vậy thì người bà đã vượt lên tầm vóc nhỏ bé của một con người cụ thể để trở thành cầu nối giữa quá khứ đáng tự hào với hiện tại bắt đầu hình thành, hoàn thiện
+) “Bà bảo cháu nghe” “bà dạy cháu làm” “bà chăm cháu học” - bà đã thay thế vai trò của người cha, người mẹ trong gia đình Trong từng việc bà làm, cháu đã lớn khôn, hiểu biết dần lên - biết “nghe”, biết “làm”, biết “học” Và trong mọi việc bà làm, có một việc mà dường như bà dành nhiều tâm trí và tình cảm nhất - đó là việc học của cháu Chỉ cần chú ý tới từ dùng của nhà thơ, ta sẽ thấy ngay điều đó: từ “bảo” và “dạy” để cháu “nghe” “làm” và từ “chăm” gắn với việc “cháu học” Nếu “bảo” chỉ là “nói cho biết để phải theo đó mà làm”,
“dạy” chỉ là “truyền lại tri thức, kĩ năng” thì “chăm” lại là trông nom, săn sóc, là bao nhiêu âu yếm, quan tâm, bao nhiêu tình cảm và hi vọng bà đặt cả vào đấy -vào việc học của đứa cháu Phải chăng, đây chính là cơ sở tạo nên mối liên hệ giữa việc “bà kể những ngày ở Huế” và việc “bà chăm cháu học” trong một đoạn mạch hồi tưởng của người cháu đã trưởng thành
Trang 8 Người bà hiện lên vừa có nét bình dị, gần gũi của hình ảnh người bà trong kí ức ấu thở của mỗi người, vừa có sự sâu sắc riêng của người bà vốn có gốc gắc từ một gia đình trí thức có truyền thống nề nếp
c Kỉ niệm về những năm tháng chiến tranh (7 câu)
- Cảnh ngộ của hai bà cháu:
+ Hòa chung trong cảnh ngộ tang thương của cả đất nước “giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi” Hiện thực trong thơ bao giờ cũng là thứ hiện thực được dồn nén ở mức độ tối đa Ở đây, nhà thơ không kể lể nhiều, chỉ nội có một câu thơ
để diễn tả sự việc Nhưng câu thơ ấy có sức chứa thật lớn Kẻ thù thì bao giờ cũng tàn độc Sự hiện diện của chúng bao giờ cũng gắn liền với sự tàn phá, hủy diệt khủng khiếp Cũng hiện thực ấy, Hoàng Cầm trong Bên kia sông Đuống từng thảng thốt:
“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Cho ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”
Còn Bằng Việt thì điềm tĩnh hơn, thơ cũng dồn nén hơn Câu thơ có tám chữ thì một chữ chỉ thời gian kỉ niệm (năm), ba chữ chỉ sự việc (giặc đốt làng)
và bốn chữ chỉ hậu quả của sự việc ấy Giặc đốt làng là rầm rập giày đinh, là mịt
mù lửa khói, là rung trời đán pháo chứ đâu chỉ một mồi lửa châm lên để ngọn lửa lan dần Bởi thế mà thành “cháy tàn cháy rụi” - là thiêu hủy đến kiệt cùng, đến chỉ còn lại tro tàn và đổ nát tang thương Người ngoài cuộc chứng kiến cảnh
ấy đã không tránh khỏi đau lòng Người trong cuộc làm sao không tái tê, nhói buốt?
+ Hòa chung vào không khí, vào đời sống tinh thần của xóm làng sau thời khắc tang thương: “Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi” Trong tan hoang đổ nát, bóng dáng một người hàng xóm đủ thành điểm tựa Hình ảnh “hàng xóm bốn bên” bỗng đem lại một cảm giác vững lòng Dù sự hiện diện của họ không phải trong vui vầy, đoàn tụ ngày thường mà là sự âm thầm, lặng lẽ với vẻ cam chịu (lầm lụi) Song có thể hiểu, cái “lầm lụi” ấy là vẻ ngoài, sự có mặt của “hàng xóm bốn bên” mới là điều quan trọng nhất Vì dù hoang tàn đổ nát, dù khủng khiếp kinh hoàng, dù kẻ thù điên cuồng hủy diệt thì tất cả cũng không thể bứt được con người khỏi mảnh đất quê hương, cũng không tách rời họ khỏi mối quan hệ gắn bó
Trang 9 Tả cảnh ngộ mà thấy được cốt cách của con người.
- Tấm lòng và tình đoàn kết xóm làng: Có một tương quan đối lập đã được dựng lên ở đây - đối lập giửa vẻ lặng lẽ, âm thầm, cam chịu trong mất mát với vẻ lặng lẽ, âm thầm khi đỡ đần nhau của con người quê huonwg; đối lập giữa cảnh làng quê “cháy tàn cháy rụi” với hình ảnh túp lều tranh được dựng lên trên nền đổ nát hoang tàn Một bên là chết chóc, một bên là sự sống; một bên là kiệt cùng mất mát, một bên là vô cùng ấm áp ngọt lành Lời thơ vẫn giản dị, mộc mạc, song chính nhờ dựng lên, tạo lập được tương quan đối lập này mà cái giản dị lại trở thành cái thật đằm thắm sâu!
- Ấn tượng về bà trong những năm tháng ấy:
+ Tâm thế: được gợi ra chỉ bằng ba chữ “vẫn vững lòng” Nếu từ “vững lòng” gợi sự bình thản, bình tâm, không hề lo ngại dù có khó khăn lớn thì từ
“vẫn” lại biểu thị tiếp tục, tiếp diễn như chưa từng và không có gì thay đổi của trạng thái tinh thần ấy Vậy là, ta lại có ở đây một đối lập nữa: đối lập giữa tuổi tác làm hao vơi sức sống của bà với tinh thần không khó khăn nào có thể lay chuyển để bà có thể trở thành điểm tựa cho con, cho cháu
+ Tấm lòng: bộc lộ qua lời dặn “đinh ninh” đứa cháu còn nhỏ dại:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
Việc ở chiến khu là việc nước, việc của hai bà cháu ở nhà là “việc nhà” Lời dặn dò của bà với cháu vừa là lòng mẹ thương con, không muốn con bận việc nước lại thêm bận lòng vì việc nhà, vừa là ý thức gánh vác trọn vẹn việc nhà để con yên tâm lo việc nước Đó vừa là tình yêu thương, là đức hi sinh, là ý thức công dân đã hòa làm một trong cả những lời nói, việc làm giản dị nhất Cứ giả sử như trong trường hợp này, nhà thơ lại ngợi ca bằng những ngôn từ đượm màu chính trị hay hình ảnh sang trọng, tranh nhã theo lối văn chương cổ xưa thì hình tượng sẽ đâu còn cái vẻ chân thực, mộc mạc để cảm động lòng người đến thế!
d Ấn tượng đọng lại (3 câu)
“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”
- Sự năng động của hình ảnh:
Trang 10+ “Bếp lửa” là hình ảnh thân thuộc trong không gian gia đình, gắn với bàn tay nhóm lửa của bà, với bữa ăn của cháu Bởi vậy, hình ảnh “bếp lửa” thuộc về đời sống vật chất, về không gian thực
+ “Ngọn lửa” có thể và trước hết cũng là một hình ảnh thực, gắn liền với bếp lửa, song sau đó và trên hết, nó có ý nghĩa như một biểu tượng tinh thần, gắn với không gian tâm hồn, với sự tồn tại của sức sống tinh thần, của “niềm tin dai dẳng”
- Nghệ thuật biểu hiện:
+ Lối nói trùng điệp “Rồi sớm, rồi chiều” gợi dòng chảy thời gian tuần tự, nối tiếp theo nhau Trong dòng chảy của thời gian ấy, bà luôn hiện diện là người nhóm lửa - ngọn lửa trên bếp để nuôi dưỡng sự sống, còn ngọn lửa trong lòng
để nuôi dưỡng niềm tin
+ Hệ thống động từ: nhen (đốt lên, thắp lên để ngọn lửa thành hình), ủ (giữ lửa), chứa (chứa đựng, gìn giữ) vừa mang ý nghĩa chỉ hoạt động tạo thành
và gìn giữ ngọn lửa theo nghĩa vật chất vừa diễn tả hành động thắp sáng và duy trì niềm tin trong thế giới tinh thần
+ Điệp ngữ “một ngọn lửa” vừa tạo cái mạnh mẽ của giọng thơ, vừa tạo
độ lung linh của hình ảnh, vừa khắc sâu ấn tượng về ngọn lửa của niềm tin và tình yêu thương của bà
- Ý nghĩa: bà đã trở thành biểu tượng bình dị mà trọn vẹn nhất về con người Việt Nam trong kháng chiến
3 Còn lại: Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà
a Về cuộc đời bà:
- Dằng dặc thời gian: “mấy chục năm rồi” là khoảng thời gian đã qua, là phần lớn của đời người Sẽ là thoáng chốc nếu thời gian ấy gắn với toàn niềm vui, hạnh phúc Song sẽ là dằng dặc nặng nề khi nó chỉ gắn với những gian khổ, khó nhọc, thậm chí là mất mát đắng cay Tách khỏi mạch thơ, cụm từ này chỉ mang hàm nghĩa thông báo Song đặt trong mạch thơ tự sự - trữ tình với bao nhiêu thông tin về những nông nỗi cơ cực bà phải một mình gánh vác mới thấy
“mấy chục năm” mà như miên man, dằng dặc Thanh bằng trong chữ “rồi” kéo
âm hưởng câu thơ chùng xuống, trầm lắng, ngậm ngùi Câu thơ cũng ngắt ở đấy, tạo ra một khoảng lặng cho bao suy tư và ngẫm nghĩ về quá khứ để rồi sau
đó mới chợt bừng tỉnh để trở về cùng thực tại “đên tận bây giờ” Cách viết tạo cảm giác dường như quá khứ và hiện tại chưa có gì thay đổi: từ cái không đổi của âm điệu đến cái không đổi của thực tế trong cuộc sống và cách sống của người bà
- Chất chồng khổ nhọc: