1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI SGK LỊCH SỬ 10 CƠ BẢN

105 362 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang bìa phụĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐỖ VĂN DŨNG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ VĂN DŨNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI

SGK LỊCH SỬ 10 - CƠ BẢN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

Trang bìa phụ

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ VĂN DŨNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI

SGK LỊCH SỬ 10 - CƠ BẢN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học lịch sử

Giáo viên hướng dẫn khoa học : Tạ Tương Chân

Thái Nguyên, năm 2013

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ VĂN DŨNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI

SGK LỊCH SỬ 10 - CƠ BẢN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2013

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2011

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt iv

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 9

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh 10

1.1.2 Một số vấn đề về xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 21

1.2.1 Đặc điểm tâm, sinh lý học sinh THPT 21

1.2.2 Thực tế của việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay 23

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI 26

2.1 Nội dung kiến thức cơ bản cần khai thác trong phần lịch sử thế giới cận đại SGK lịch sử 10 - Cơ bản 26

2.1.1 Các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại 26

2.1.2 Chủ nghĩa tư bản xác lập thắng lợi trên phạm vi thế giới và chuyển sang giai đoạn đế quốc 33

2.1.3 Phong trào công nhân đầu thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX 35

Trang 4

2.2 Cách xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học phần lịch sử thế giới cận

đại SGK lịch sử 10 - cơ bản 37

2.2.1 Cách xây dựng sơ đồ 37

2.2.2 Cách xây dựng biểu đồ 55

2.3 Cách sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học bài “CMTS Pháp cuối thế kỷ XVIII” 66

2.3.1 Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong bài nội khoá 67

2.3.2 Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong bài ngoại khoá 76

2.3.3 Những ưu thế khi ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị 81

2.4 Thực nghiệm sư phạm 83

2.4.1 Mục đích thực nghiệm 83

2.4.2 Nội dung thực nghiệm 83

KẾT LUẬN 85

PHỤ LỤC 89

Trang 5

Tư bản chủ nghĩaTrung học phổ thông

Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nềntảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Với cuộc cách mạng về khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm

vi toàn cầu hiện nay, khoa học và công nghệ đã thực sự trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”, trong đó tri thức và thông tin là yếu tố quan trọng, là

nguồn tài nguyên đặc biệt, có giá trị cao Ở đó, yếu tố trí tuệ có vai trò quyếtđịnh nhất trong mối tương quan với các yếu tố tài nguyên thiên nhiên, vốn vàsức lao động Đồng thời, cũng chính yếu tố trí tuệ đã hình thành nên nguồnlực nội sinh cho sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc

Xuất phát từ nhu cầu phát triển của đất nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam

và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc “Bồi dưỡng thế hệ trẻ cách mạng cho đời sau” Tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng (1996) khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Cho tới nay, Nghị quyết Đại hội XI (01/2011) tiếp tục xác định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển” [23, tr52] Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” –

điều đó đã được lịch sử chứng minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểmnghiệm Nhận thấy rõ tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, Người luônchú trọng xây dựng một nền giáo dục mới - nền giáo dục mà mục tiêu, nộidung và phương pháp phải hướng đến việc phát triển con người toàn diện,cũng như động viên mọi lực lượng tham gia sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Kế thừa và phát huy quan điểm ấy, Điều 2, Luật giáo dục 2005 nêu rõ “Mục

tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,

Trang 7

tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất

và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ tổ quốc” Để đạt được mục tiêu đó, ngoài sự đóng góp, trách nhiệm của

toàn xã hội thì nhà trường được xem là vị trí trung tâm, có vai trò quan trọngthông qua các môn học của mình, trong đó có môn lịch sử

Trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, lịch sử với tư cách làmột môn khoa học không chỉ cung cấp hệ thống kiến thức khoa học về lịch sửnhân loại, lịch sử dân tộc cho học sinh mà còn góp phần to lớn trong việc giáodục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, óc thẩm mỹ, hình thành tư duylogic, kỹ năng, kỹ xảo cho các em; đồng thời, giúp các em thấm nhuần truyềnthống yêu nước, niềm tự hào về quá khứ anh hùng của dân tộc, tin yêu vàocuộc sống hiện tại và tương lai, tin yêu chủ nghĩa xã hội Nó góp phần to lớnvào việc giáo dục con người phát triển một cách toàn diện G.Tsecnưspexki –

Nhà văn dân chủ người Nga thế kỷ XIX có viết: “Có thể không biết, không cảm thấy say mê học toán, tiếng Hy Lạp hoặc chữ Latinh, hoá học, có thể biết hàng nghìn môn học khác, nhưng dù sao đã là một con người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì có thể là một con người không phát triển đầy đủ trí tuệ”.

Nhìn chung, bên cạnh một số thành tựu đáng khích lệ đã đạt được, côngtác dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, bất

cập Đại hội Đảng XI (2011) chỉ rõ: “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; Chương trình, nội dung, PPDH còn lạc hậu, đổi mới chậm; Chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”[23, tr51] Sở dĩ có tình trạng

như vậy, là do nhiều học sinh, phụ huynh và thậm chí không ít giáo viên cho

rằng lịch sử là “môn phụ” Thêm vào đó, thời lượng lên lớp dành cho môn sử

là không nhiều, mà khối lượng kiến thức có trong chương trình lại rất lớn,

Trang 8

điều này cũng gây tâm lý, gây áp lực nặng nề cho học sinh trong quá trình họctập Chính vì vậy, chất lượng dạy và học môn lịch sử chưa đáp ứng được yêucầu Có thể nói, ngoài vấn đề nhận thức sai lầm từ phía học sinh, gia đình và

xã hội cũng phải kể tới yếu tố từ phía giáo viên Do nhiều nguyên nhân kháchquan và chủ quan, khiến giáo viên chưa tích cực cải tiến, đổi mới PPDH mà

vẫn mang nặng lối dạy theo kiểu “Thầy đọc, trò chép”, “Dạy chay”, không hiệu quả Bởi vậy, vấn đề đổi mới PPDH theo hướng tích cực, “Lấy người học làm trung tâm” đã và đang được đặt ra, và cần triển khai một cách triệt

để, có hiệu quả Coi đây là “cuộc cách mạng” trong nhận thức về công tác dạy

học hiện nay

Để đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, cũng như mục tiêugiáo dục bộ môn hiện nay, việc dạy học nói chung và dạy học lịch sử nóiriêng cần phải đổi mới, nâng cao hơn nữa về cả nội dung cũng như phươngpháp dạy học Trong đó, cần phát huy được tính tích cực học tập của học sinh,biến các em trở thành chủ thể của quá trình nhận thức, không bị gò bó, thụđộng Điều này sẽ giúp học sinh tìm thấy động lực khát khao trong việc lĩnhhội tri thức mới, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết, tránh áp đặt kiếnthức cho học sinh, làm ảnh hưởng rất xấu đến quá trình nhận thức của các em

Như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng căn dặn giáo viên: “Dạy sử cũng như dạy bất cứ môn học nào, đòi hỏi giáo viên phải khơi gợi trí thông minh Làm sao ngay ở nhà trường ta phải bắt buộc học sinh dùng trí thông minh, trí khôn, sự suy nghĩ để hiểu biết rộng ra và nhờ đó đến lúc vào đời mới phát huy được tài năng”[9, tr29].

Trong dạy học lịch sử, đồ dùng trực quan nói chung và các loại đồ dùngtrực quan quy ước nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải nộidung kiến thức cho học sinh, đồng thời, còn làm cho giờ học lịch sử trở nênsinh động, hấp dẫn, lôi cuốn hơn, giúp các em nhớ kỹ, hiểu sâu kiến thức vàbiết vận dụng vào thực tiễn

Trang 9

Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT, vàviệc học tập của sinh viên khoa lịch sử ở trường đại học sư phạm trong việcrèn luyện kỹ năng xây dựng và sử dụng các loại đồ dùng trực quan quy ước

với việc phát huy tính tích cực của học sinh, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Xây

dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại SGK lịch sử 10 - cơ bản”.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan đóng vai trò quan trọng trong việcnâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông Đồ dùng trực quangiúp cho học sinh hiểu một cách sâu sắc sự kiện, hiện tượng lịch sử, làphương tiện rất có hiệu lực để hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh;đồng thời, cũng khiến cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn, tạo cho các em

sự hứng thú và yêu thích môn lịch sử hơn Bởi vậy, việc sử dụng đồ dùng trựcquan trong DHLS nhằm phát huy tính tích cực của học sinh được nhiều nhànghiên cứu khoa học, giáo dục trong và ngoài nước đề cập tới Xin dẫn radưới đây một số công trình nghiên cứu mà tôi đã tiếp cận được

2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

N G Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” [6] đã

tập trung nghiên cứu quá trình chuẩn bị và các bước tiến hành bài học lịch sử

ở trường phổ thông Trong đó, ông cũng đặc biệt nhấn mạnh việc cần tiến hành sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử.

I.F.Khalamốp với tác phẩm “Phát huy tính tích cực học tập của học

sinh như thế nào?” [13] tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận, trên cơ sở

đó ông đã đưa ra những biện pháp, kinh nghiệm cụ thể về việc phát huy tínhtích cực học tập khi trình bày bài mới, củng cố kiến thức, ôn tập kiến thức cũ,

hay tổ chức công tác tự học cho học sinh Trong đó, ông đã khẳng định việc

sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả lớn trong dạy học.

Trang 10

K.Đ.Usinxki trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề” [24] đã đi sâu nghiên

cứu và đề xuất phương pháp dạy học nêu vấn đề nhắm phát huy tính tích cựchọc tập của học sinh Qua đó, ông đã nêu lên tác dụng to lớn của việc sử dụng

đồ dùng trực quan trong dạy học: chính nhờ trực quan mà hình ảnh thu được gắn chặt trong trí nhớ học sinh.

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Cuốn “Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm” của

Hội giáo dục Lịch sử Việt Nam, khẳng định rằng muốn nâng cao chất lượng

dạy học thì trước hết phải tiến hành đổi mới mục tiêu giáo dục, chương trình,

nội dung giáo dục trong đó hướng vào đổi mới PPDH từ quan điểm “Lấy thầy làm trung tâm” sang “Lấy người học làm trung tâm” mà thực chất là phát huy

tính tích cực của học sinh Ví dụ, trong bài báo cáo của GS Phan Ngọc Liên

“Nhận thức và hành động trong đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm” có viết: “ Lấy học sinh làm trung tâm trong công tác giáo dục phổ thông không hề hạ thấp, làm giảm vai trò của giáo viên, không kích thích tính tự phát của học sinh mà chính là giáo dục, hướng dẫn, phát huy tính chủ động, năng lực tư duy, sáng tạo của học sinh trong tiếp thu và vận dụng kiến thức đã học có hiệu quả ” [12, tr23]

Nguyễn Thị Côi – Trịnh Đình Tùng với cuốn “Rèn luyện kỹ năng

nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”[4], đã trình bày một cách chi tiết, có hệ

thống về những kỹ năng sư phạm cần thiết trong dạy học lịch sử Trong đó,khẳng định kỹ năng sử dụng đồ dùng trực quan được coi là yếu tố quan trọng

trong dạy học lịch sử Trong đó có viết: “Sơ đồ lịch sử nhằm cụ thể hoá nội dung một biến cố hay một hiện tượng lịch sử để học sinh nắm được những nét chủ yếu, các logic vận động, phát triển của lịch sử Trên cơ sở ấy các em nắm vững được các đặc trưng có bản, cấu tạo nội hàm của khái niệm” [4, tr55]

Trang 11

GS Phan Ngọc Liên (Chủ biên) trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch

sử” (tập 2) đã trình bày khái quát những vấn đề cơ bản về phương pháp sử

dụng đồ dùng trực quan trong giờ học lịch sử

Nguyễn Hà Giang (2004), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh

trong dạy học khoá trình lịch sử thế giới cận đại (SGK lịch sử 10 - THPT)

[10], luận văn cử nhân, ĐHSP Thái Nguyên đã viết khá cụ thể về các phươngpháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học khoátrình lịch sử thế giới cận đại Trong đó, có đề cập tới việc sử dụng đồ dùngtrực quan

Nguyễn Thuý Hằng với luận văn cử nhân khoa học (2008) “Xây dựng

và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, niên biểu trong dạy học khoá trình lịch sử thế giới cận đại, SGK lịch sử 10 – THPT (Chương trình chuẩn)” [11], Đại học sư

phạm Thái Nguyên đã đề ra một số biện pháp xây dựng và sử dụng sơ đồ,biểu đồ, niên biểu trong dạy học khoá trình lịch sử thế giới cận đại khá đầy

đủ, nhưng chưa nhấn mạnh vào việc phát huy tính tích cực trong học tập của họcsinh, cũng như chưa đưa ra một cách cụ thể các bước xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ

thị Trong đó có viết về cách xây dựng sơ đồ: “ Khi xây dựng các sơ đồ có thể dùng các hình học đơn giản như hình vuông, hình chữ nhật, hoặc hình tròn, trong

đó có ghi nội dung các sự kiện, hiện tượng lịch sử ” [11, tr40]

Xét thấy, các công trình nghiên cứu trên thực sự là những tài liệu vô cùngquý giá cho chúng tôi tham khảo để hoàn thành công trình nghiên cứu này

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thịtrong bài nội khoá và ngoại khoá nhằm phát huy tính tích cực của học sinhtrong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại SGK lịch sử 10 - cơ bản

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ sởthực tiễn, nội dung của việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm

Trang 12

phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học nội khoá, ngoại khoá phầnlịch sử thế giới cận đại SGK lịch sử 10 - cơ bản.

4 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trước hết là nhằm mục đích nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trườngphổ thông Bởi vì, trong quá trình chuẩn bị bài giảng và lên lớp, yêu cầungười giáo viên không chỉ biết xác định cách xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị

mà còn phải có phương pháp sử dụng phù hợp sáng tạo để phát huy tính tíchcực học tập của học sinh

Nghiên cứu đề tài này, là cơ sở giúp bản thân tác giả đề tài tích luỹ thêmđược nhiều kinh nghiệm cho bản thân trong việc nghiên cứu khoa học; đồngthời, cũng mong góp một phần nhỏ sáng kiến của mình làm phong phú hơnphương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông

5 Phương pháp nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

5.1 Phương pháp nghiên cứu

5.1.1 Nghiên cứu lý luận

Dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học Mácxit, lý luận của chủ nghĩaMác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng có liên quan; kếthợp với phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic trong nghiên cứu các tàiliệu phục vụ cho đề tài

Từ đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu các nguồn tài liệu: Tâm lý – Giáodục học, phương pháp dạy học lịch sử, các tài liệu lịch sử có liên quan, SGKlịch sử 10 (cơ bản), thiết kế bài giảng ở trường THPT, và nhiều tài liệu thamkhảo khác

5.1.2 Nghiên cứu thực tiễn

Tiến hành điều tra thực tế dạy học lịch sử ở trường THPT (qua sổ điểm,trao đổi, dự giờ của giáo viên, điều tra qua phiếu )

Trang 13

- Với học sinh: tiến hành điều tra qua sổ điểm, tìm hiểu hứng thú học tập,

và suy nghĩ của các em về môn sử học sinh (kiểm tra, trắc nghiệm, phỏng vấntrực tiếp )

- Với giáo viên: tìm hiểu tình hình giảng dạy môn sử ở trường THPT.

Quan niệm của giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nhằm pháthuy tính tích cực của học sinh thông qua trao đổi trực tiếp, dự giờ

đề xuất kết luận theo mục đích nghiên cứu đã đề ra

6 Ý nghĩa của đề tài

* Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu góp phần nâng cao lý luận dạy học

bộ môn lịch sử, rèn luyện kỹ năng xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thịnhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần lịch sử thế giớicận đại SGK lịch sử 10 - cơ bản

* Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định tầm

quan trọng và ý nghĩa việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằmphát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT Đềtài nhiên cứu sẽ giúp bản thân người nghiên cứu nâng cao lý luận dạy học bộmôn, rèn luyện kỹ năng xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị Đồngthời, thông qua các biện pháp sư phạm được đề xuất cũng nhằm phục vụ choquá trình học tập, nghiên cứu của sinh viên khoa sử ở trường ĐHSP, và bướcđầu vận dụng vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông

7 Giả thuyết khoa học của đề tài

Trang 14

Trong quá trình dạy học, không có một phương pháp dạy học nào là vạnnăng Vì vậy, ta phải biết phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt và sáng tạo hệ thốngcác phương pháp, nhằm nâng cao hiệu quả của bài học Trong đó, cần chútrọng phương pháp xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huytính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử.

Đề tài thành công, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn, đápứng những đòi hỏi của mục tiêu giáo dục hiện nay

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, thì nội dung chínhgồm 2 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng sơ

đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.

Chương II: Một số biện pháp xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại SGK lịch sử 10 - cơ bản.

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG

VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ TRONG DẠY HỌC

LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh

1.1.1.1 Tầm quan trọng của việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Trong công cuộc đổi mới giáo dục – đào tạo hiện nay, đổi mới PPDH làmột yêu cầu được đặt ra thường xuyên, cấp bách và có ý nghĩa quan trọng.Bởi vì, theo mục tiêu giáo dục của Đảng và nhà nước thì con người được đàotạo ra phải là người lao động làm chủ, có trình độ văn hoá cơ bản, đáp ứngđược yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thông minh, sáng tạo, có phẩm chấtđạo đức, có lý tưởng cách mạng Họ phải được rèn luyện trong quá trình đàotạo, và tự đào tạo

Trong suốt một thời gian dài trước đây, việc dạy học ở trường THPT

luôn nhấn mạnh vai trò của người giáo viên, coi “Giáo viên là trung tâm” của

quá trình dạy học Việc dạy học lấy giáo viên làm trung tâm là nhấn mạnh vaitrò chủ thể, độc quyền trong việc cung cấp kiến thức và đánh giá học sinh củagiáo viên; còn học sinh, chỉ thụ động ghi chép, học thuộc lòng và lặp lạinhững gì đã nghe giảng, hoặc đọc trong SGK Điều này, dẫn tới phương pháp

độc giảng, nhồi nhét kiến thức, khiến học sinh trở thành “con rối” của quá

trình nhận thức, hạn chế sự phát triển trí thông minh, óc sáng tạo trong học

tập Đây là “Cách dạy học lấy động lực từ bên ngoài (Giáo viên) để phát triển học sinh, lấy giáo viên làm trung tâm, đã tồn tại từ rất lâu đời, hạn chế sự phát triển của bản thân người học” [13, tr19] Thực trạng trên nếu còn tiếp

tục kéo dài, sẽ gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng và sản phẩm của giáo dục

và đào tạo Vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần phải thay đổi tình trạng nêu

Trang 16

trên Nghị quyết Trung ương Đảng lần 2, khoá VIII chỉ rõ: “Đổi mới mạnh

mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các biện pháp tiên tiến và PPDH vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp toàn dân, nhất là thanh niên” [7, tr49].

Với định hướng trên, việc đổi mới PPDH nói chung, dạy học lịch sử nói

riêng ở trường phổ thông, đòi hỏi chúng ta chuyển từ mô hình dạy học “Lấy giáo viên làm trung tâm” sang mô hình “Lấy học sinh làm trung tâm” Thực

chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm chính là phát huy tính tíchcực của học sinh

Tích cực là chủ động, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ được giao Tínhtích cực là phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Để tồn tại

và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá, cải biến môi trường để phục

vụ cho cuộc sống của mình Theo Thái Duy Tuyên thì “Tích cực hoá là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập” [22, tr269] Tính tích cực của học sinh có hai mặt tự

giác và tự phát Mặt tự giác biểu hiện ở sự tò mò, hiếu động, sôi nổi tronghoạt động vốn có của các em Mặt tự giác của tính tích cực thể hiện ở óc quansát, sự phê phán, nhận xét trong tư duy, tò mò khoa học Đây chính là trạngthái tâm lý tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt, có hoạt động cụ thể đểchiếm lĩnh đối tượng đó

Phát huy tính tích cực học tập của học sinh tức là làm cho các em trở

thành chủ thể của quá trình nhận thức, là “trung tâm” của quá trình dạy học,

chủ động, hăng hái trong việc tự chiếm lĩnh tri thức, dưới sự tổ chức, hướngdẫn, điều khiển của giáo viên Như vậy, vai trò của người thầy không những

Trang 17

không bị gạt bỏ, mà ngược lại đòi hỏi người thầy phải giỏi về chuyên môn,vững về phương pháp.

Việc học tập của học sinh là quá trình nhận thức đặc thù với tính giántiếp, tính lãnh đạo và tính giáo dục Như vậy, tính tích cực học tập chính làtính tích cực của nhận thức Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt độngnhận thức của học sinh thể hiện trong khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và cónghị lực cao trong quá trình lĩnh hội tri thức Hoạt động nhận thức tích cực có

ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học, giáo dục và pháttriển toàn diện học sinh Trước hết, tính tích cực trong nhận thức giúp các emlĩnh hội và khắc sâu kiến thức; đồng thời, còn là phương tiện tốt để hình thànhtri thức, khơi dậy những cảm xúc lịch sử, kích thích hứng thú học tập, tạo cơ

sở để giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm cho học sinh Ngoài ra, tính tíchcực trong nhận thức còn là phương thức tốt góp phần phát triển các năng lựcnhận thức, năng lực thực hành, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh; tạo hứng thúhọc tập và rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh

Để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đòi hỏi bảnthân giáo viên phải vững về trình độ chuyên môn, giỏi về năng lực sư phạm,vận dụng sáng tạo và linh hoạt các phương pháp dạy học trong quá trình giảngdạy Theo đó, giáo viên phải thường xuyên trau dồi trình độ chuyên môn,nghiệp vụ; không ngừng tiếp thu những thành tựu khoa học mới Mặt khác,phải thay đổi nhận thức về học sinh, coi các em thực sự là chủ thể của hoạtđộng học, khơi gợi khả năng tư duy, sáng tạo, ham học hỏi của các em trongquá trình lĩnh hội tri thức Trên cơ sở đó, tạo được sự lôi cuốn, hứng thú củahọc sinh trong giờ học lịch sử, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn

1.1.1.2 Nguyên tắc phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh thể hiện ở quan niệm coihọc sinh là chủ thể của quá trình nhận thức Có nghĩa là, dưới sự hướng dẫn,

tổ chức, điều khiển của giáo viên, học sinh được phát huy cao độ khả nănglĩnh hội, tự khám phá kiến thức, tự các em thông qua các hoạt động của mình

Trang 18

mà hình thành nhân cách, phát triển trí thông minh, sáng tạo theo mục tiêu vànhiệm vụ của bộ môn đề ra.

Thực hiện nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh tức là trong

quá trình học tập phải giúp các em thấm nhuần quan điểm “Dựa vào sức mình

là chính”, tăng cường hoạt động tư duy, hướng tới sự độc lập trong quá trình

nhận thức Học sinh tự phát hiện ra vấn đề, tự giải quyết vấn đề trong quátrình tìm kiếm cái mới chưa biết, lĩnh hội tri thức một cách sáng tạo, và vậndụng chúng một cách linh hoạt, có hiệu quả vào thực tiễn

Để đạt được mục tiêu giáo dục bộ môn, đòi hỏi phải phát huy tính tíchcực của học sinh Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là phó mặc để học sinhtuỳ tiện, tự chiếm lĩnh nguồn tri thức rộng lớn, mà cần có sự hướng dẫn, tổchức và điều khiển của giáo viên Ở đó, có mối quan hệ tương tác giữa giáoviên với học sinh chan hoà, thân ái, hợp tác thông hiểu lẫn nhau; làm giảmdần mối quan hệ điều khiển, chỉ huy và bị điều khiển, bị chỉ huy một chiều.Muốn thực hiện có hiệu quả việc phát huy tính tích cực của học sinh, yêucầu phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc sau:

Một là, tránh dạy học theo lối “Thầy đọc, trò ghi” mang tính giáo điều,

“nhồi sọ”, biến giáo viên thành người thuyết trình, giảng giải và học sinh thụ

động tiếp nhận những điều đã được ghi, được nghe, không tích cực suy nghĩ,đặt vấn đề và giải quyết vấn đề Hậu quả của việc làm này là khiến học sinh

dễ rơi vào tình trạng “học vẹt”, chỉ nắm máy móc sự kiện, mà không hề đi vào

tìm hiểu bản chất của sự kiện, không thể hiểu và vận dụng những tri thức đó

vào thực tiễn cuộc sống Nhà giáo dục Đức Đixteve đã nói: “Người giáo viên tồi truyền đạt chân lý, người giáo viên giỏi dạy cách tìm ra chân lý” Nghĩa

là, người giáo viên không nên coi việc cung cấp cho học sinh những kiến thức

có sẵn, để các em học thuộc lòng, rồi kiểm tra việc ghi nhớ của học sinh nhưthế nào, mà phải khơi gợi, nêu ra vấn đề để các em bám vào đó nghiên cứucác nguồn tài liệu, vận dụng những tri thức đã có mà tự tìm ra và lĩnh hội nó

Trang 19

một cách sáng tạo Phải cho học sinh hiểu rõ rằng, không nên coi những điềugiáo viên cung cấp là tuyệt đối đúng và đầy đủ, mà chỉ nên coi đây là một

trong những “kênh” thông tin, là hướng gợi mở cho các em chủ động, tích cực

nắm bắt các nguồn tài liệu tham khảo khác để bổ sung cho vấn đề, làm sâusắc, phong phú sự hiểu biết của bản thân Có như vậy, tri thức mới thực sự làcủa các em, khó phai mờ, giúp cho việc vận dụng những tri thức ấy vào thựctiễn cuộc sống trở nên linh hoạt và sáng tạo

Hai là, tăng cường hoạt động trao đổi, đàm thoại trong giờ học Đây là

công việc mà giáo viên xây dựng và sử dụng một hệ thống câu hỏi để học sinhnghiên cứu trả lời Đồng thời, học sinh có thể trao đổi với nhau dưới sự chỉ đạocủa giáo viên Điều này rất có ưu thế trong việc hình thành kiến thức trên cơ sởhoạt động tư duy tích cực, độc lập của học sinh Qua trao đổi, các phẩm chấtcần thiết của hoạt động nhận thức như: Tính tích cực, độc lập, sáng tạo, óc phêphán được hình thành ở học sinh Đồng thời, cũng rèn cho các em tính kiênnhẫn trong học tập, tạo không khí sôi nổi trong giờ học, cuốn hút hứng thú họctập của học sinh, giúp các em lĩnh hội kiến thức sâu sắc, vững chắc hơn

Ba là, nguồn tài liệu cung cấp tới học sinh phải phong phú, tránh việc

làm cho học sinh cho học sinh thấy mệt mỏi, nhàm chán khi phải làm việc

quá lâu với một loại tài liệu Đồng thời, cần phải kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt và sáng tạo các PPDH khác nhau như: tường thuật, miêu tả, sử

dụng đồ dùng trực quan nhằm giúp các em hiểu được bản chất của sựkiện lịch sử, tạo sự hấp dẫn lôi cuốn học sinh vào giờ học

Bốn là, vận dụng thường xuyên, linh hoạt và sáng tạo việc dạy học nêu vấn đề, bởi đây là nguyên tắc chỉ đạo việc tiến hành nhiều PPDH Dạy học

nêu vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với việc hình thành kiến thức, trên

cơ sở hoạt động tư duy độc lập của học sinh Đồng thời, trong quá trình dạy

học, giáo viên cần phải quan tâm đến trình độ nhận thức của toàn lớp và cả những học sinh khá, giỏi Từ đó, đề ra việc lựa chọn nội dung, PPDH và cách

Trang 20

tổ chức quá trình nhận thức của học sinh, đảm bảo tính vừa sức trong dạy họclịch sử ở trường phổ thông.

1.1.2 Một số vấn đề về xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

1.1.2.1 Vai trò, ý nghĩa việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong

dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị là các loại đồ dùng trực quan quy ước được sửdụng thường xuyên trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, nhằm minhhoạ, cụ thể hoá kiến thức trong SGK Đó còn là nguồn cung cấp kiến thứcmới, củng cố, ôn tập kiến thức đã học, phát triển tư duy, khả năng hoạt độngđộc lập của học sinh Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị giúp các em lĩnh hội được tri thứcmột cách nhanh nhất, có hệ thống nhất; đồng thời, cũng tránh được sự quá tải,nhồi nhét kiến thức cho học sinh

* Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị là công cụ đắc lực cho việc tạo biểu tượng lịch sử

Quá trình học tập nói chung, học tập lịch sử nói riêng luôn tuân theo quy

luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Khoa học lịch sử có những đặc trưng riêng với tính quá khứ, tính

không lặp lại, tính cụ thể, Nên quá trình nhận thức lịch sử cũng mang nhữngnét độc đáo so với quá trình nhận thức các môn học khác Đó là, trong quátrình nhận thức, học sinh không thể trực tiếp quan sát sự kiện, nhân vật lịch sử

mà chỉ được tiếp xúc với tri thức lịch sử một cách gián tiếp qua lời giảng củagiáo viên, các nguồn tài liệu và đồ dùng trực quan Vì vậy, giai đoạn trựcquan sinh động là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình nhận thức, làm cơ

sở hình thành biểu tượng lịch sử Để có được điều này, ngoài việc cung cấp sựkiện, giáo viên cần phải biết cách xây dựng và sử dụng một cách linh hoạtcác loại đồ dùng trực quan quy ước (trong đó có sơ đồ, biểu đồ, đồ thị) vàoquá trình dạy học

Trang 21

Như ta đã biết, học sinh không thể trực quan sinh động quá khứ lịch sử,

nên việc tạo biểu tượng lịch sử là một yêu cầu quan trọng trong DHLS “Biểu tượng lịch sử là những hình ảnh về sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý được phản ánh trong đầu óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất” [18, tập 1-tr189] Nội dung của một sự kiện lịch sử, được học sinh nhậnthức, thông qua việc tạo nên hình ảnh về quá khứ, bằng những hoạt động củacác giác quan: Thị giác tạo nên hình ảnh trực quan, thính giác đem lại hìnhảnh về quá khứ, thông qua lời giảng của giáo viên Ở đây, sơ đồ, biểu đồ, đồ

thị góp phần làm tăng tính chính xác, cụ thể của bài học, hình thành nên biểu

tượng lịch sử Đây cũng là cơ sở quan trọng để hình thành nên khái niệm lịch

sử, giúp các em “biết” để “hiểu” lịch sử, từ đó rút ra được bài học kinh

nghiệm, quy luật lịch sử, biết vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn mộtcách hiệu quả

* Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị khái quát được bản chất của sự kiện lịch sử

Quá trình nhận thức của học sinh chỉ thực sự có hiệu quả khi học sinh

không chỉ “biết” về sự kiện mà phải “hiểu” về sự kiện đó một cách sâu sắc.

Như Bác đã từng căn dặn đồng bào ta:

“Dân ta phải biết sử ta.

Cho tường gốc tích, nước nhà Việt Nam”.

“Tường” ở đây là yêu cầu phải hiểu sử, chứ không phải chỉ dừng lại ở việc biết sử Bởi vì, khi ta có hiểu được sự kiện lịch sử thì ta mới có thể lý giải, khôi

phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó đã từng tồn tại; trên cơ sở đó, rút ra bàihọc, quy luật lịch sử mà vận dụng linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống

Bản chất của sự kiện lịch sử được hiểu là nội dung cơ bản nhất, đặctrưng và sâu sắc nhất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Chỉ khi, nắm chắc đượcbản chất sự kiện thì học sinh mới nhớ kỹ, hiểu sâu sự kiện và biết vận dụngvào thực tiễn một cách có hiệu quả

Trang 22

Quá trình học sinh khái quát được bản chất của sự kiện lịch sử chính là

quá trình hình thành khái niệm lịch sử “Khái niệm lịch sử là sự phản ánh khái quát hoá quá trình lịch sử; nó phản ánh những mối liên hệ khách quan của hiện tượng và quy luật lịch sử” [18, tập 1-tr200] Nếu biểu tượng là hình

ảnh trực quan thì khái niệm là sự phản ánh đặc trưng và thuộc tính bản chấtcủa sự vật, hay hiện tượng khác nhau của hiện thực khách quan, những mốiliên hệ và quan hệ giữa chúng với nhau Điều này được thể hiện rõ qua nhữngđặc trưng vốn có của sơ đồ, biểu đồ, đồ thị

* Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị có tác dụng phát huy tính tích cực học

tập của học sinh

Đồ dùng trực quan (trong đó có sơ đồ, biểu đồ, đồ thị) không chỉ có tácdụng minh hoạ, cụ thể hoá bài học, mà còn là một nguồn kiến thức lịch sửquan trọng giúp học sinh tìm ra bản chất, quy luật của sự kiện lịch sử Sơ đồ,biểu đồ, đồ thị còn có tác dụng rèn luyện, thúc đẩy các kỹ năng tư duy pháttriển như: phân tích, so sánh, giải thích, tổng hợp đồng thời gây hứng thú,say mê, hình thành ý thức tự giác học tập cho học sinh

* Xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị có ý nghĩa giáo dục lớn đối

với giáo viên và học sinh

Việc xây dựng và sử dụng các loại đồ dùng trực quan quy ước đòi hỏiphải chính xác và khoa học, qua đó sẽ rèn luyện tính cẩn thận, sự tỉ mỉ tronggiảng dạy và học tập Hơn nữa, thông qua việc xây dựng và sử dụng sơ đồ,biểu đồ, đồ thị của giáo viên cũng giáo dục tính thẩm mĩ, biết yêu cái đẹp củahọc sinh

Ngoài ra, việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị còn có tác

dụng to lớn trong việc phát triển tư duy lôgic, năng lực quan sát, trí tưởngtượng, tư duy, ngôn ngữ, đặc biệt có hiệu lực với các cơ quan cảm giác trong

quá trình nhận thức của học sinh Về điều này, KĐ Usinxki có nói: “Người giáo viên nào có kỳ vọng phát triển trí tuệ cho trẻ em, thì trước hết, cần phải luyện tập năng lực quan sát của chúng, dẫn chúng đi từ sự tri giác tổng hợp đến sự tri giác định hướng, phân tích” [24, tr106] Cùng với đó, sơ đồ, biểu

Trang 23

đồ, đồ thị còn có tác dụng to lớn trong việc cung cấp kiến thức mới, củng cố,

ôn tập những kiến thức đã học, khắc sâu tri thức vào đầu óc học sinh

Tóm lại, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị là những loại tài liệu cơ bản, trung thực,chính xác về quá khứ, giúp ta khôi phục lại bức tranh sinh động về những sựkiện, nhân vật lịch sử Bởi vậy, việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ

thị sẽ góp phần phát huy tính tích cực học tập của học sinh, nâng cao chất

lượng, hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông

1.1.2.2 Nguyên tắc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị để phát huy tính

tích cực học tập của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Việc xây dựng và sử dụng các loại đồ dùng, thiết bị dạy học nói chung,

xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nói riêng không được phép tuỳ

tiện, nếu ta không thận trọng dễ dẫn đến việc phản tác dụng trong quá trình

dạy học Bởi vậy, việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị cũng phải

tuân thủ những nguyên tắc nhất định, cụ thể như sau:

Một là, phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu đào tạo, chương trình cấp học và nội dung SGK

Trên cơ sở nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình SGK lịch sử, giáo

viên tiến hành xây dựng hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phù hợp với mục tiêu từng

bài, từng tiết học và từng bước hoàn chỉnh cho cả chương hay cả khoá trình

Hai là, phải đảm bảo tính khoa học

Tính khoa học là một nội dung quan trọng của phương pháp luận sử học

Tính khoa học của sơ đồ, biểu đồ, đồ thị được thể hiện ở chỗ nó được xây

dựng trên cơ sở những kiến thức lịch sử cơ bản, chính xác, từ đó giúp họcsinh nhận thức đúng đắn, khách quan nội dung lịch sử, góp phần thực hiệnchức năng, nhiệm vụ bộ môn Tuy nhiên, trong quá trình dạy học bộ môn, do

“tính ổn định tương đối” của SGK nên giáo viên có thể và cần thiết khai thác,

sử dụng những nguồn kiến thức mới đã được thẩm định mà chưa kịp đưa vào

SGK để xây dựng hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị đảm bảo tính cập nhật với

sự phát triển của khoa học lịch sử

Trang 24

Ba là, phải đảm bảo tính hiện đại, tiện lợi và thẩm mỹ

Hiện nay, trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin thì việcứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nói chung và dạy học lịch sử nóiriêng là một biện pháp hỗ trợ tích cực góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.Các phần mềm như Power point, Violet chính là công cụ hữu ích giúp giáoviên có thể xây dựng hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị một cách dễ dàng, tiệnlợi và đẹp mắt, hơn hẳn phương pháp kẻ, vẽ bằng tay trước đây Để làm đượcđiều này, yêu cầu giáo viên cần phải không ngừng học tập, trau dồi các kỹnăng sử dụng công nghệ thông tin, đồng thời cũng phải biết khai thác triệt đểnhững tiện ích đó, phục vụ cho quá trình giảng dạy đạt kết quả cao nhất

Khi xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị yêu cầu giáo viên cần phải có kiến

thức có hiểu biết về hình khối, màu sắc cần thiết để xây dựng sơ đồ, biểu đồ,

đồ thị đẹp mắt và đạt hiệu quả sử dụng cao trong dạy học bộ môn Việc bố trí

các hình khối, mũi tên, đường kẻ thể hiện mối quan hệ giữa các đối tượngcũng phải chính xác, lôgic Màu sắc phải hài hoà, trang nhã, dễ nhìn (nền màunhạt, chữ màu đậm) Nếu thiếu hiểu biết, hoặc tuỳ tiện trong việc xây dựng hệ

thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị sẽ dẫn đến hậu quả phản giáo dục.

Việc xây dựng hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phải đảm bảo tính tiện lợi,

hiệu quả giúp cho học sinh thấy dễ dàng, thuận lợi trong hoạt động nhận thức nộidung lịch sử, hình thành những biểu tượng lịch sử làm cơ sở cho việc hình thànhkhái niệm và rút ra bài học kinh nghiệm, quy luật của sự phát triển lịch sử

Bốn là, phải phát huy tính tích cực của học sinh.

Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị không chỉ để minh hoạ, cụ thể hoá bài học mà còn

là một nguồn kiến thức lịch sử giúp học sinh tìm ra bản chất, quy luật của sự

kiện lịch sử Do vậy, việc xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị cần phải hướng đến

mục đích giúp học sinh tiếp thu hiệu quả kiến thức bài học ngay ở trên lớpmột cách chủ động, tích cực Nhằm hướng tới việc rèn luyện, thúc đẩy kỹnăng tư duy phát triển như: Phân tích, so sánh, giải thích, tổng hợp Đồngthời, phải gây hứng thú, say mê, hình thành ý thức tự giác trong hoạt động

Trang 25

học tập của học sinh Để nâng cao tính tích cực của học sinh, thì việc xâydựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phải được kết hợp chặt chẽ với cácPPDH khác, đặc biệt là hệ thống câu hỏi có vấn đề Qua việc nêu vấn đề củagiáo viên, giúp học sinh có phương hướng, cách thức suy nghĩ đúng đắn để

hiểu được bản chất của sơ đồ, biểu đồ, đồ thị và tự rút ra nhận xét cho mình.

Năm là, phải đảm bảo tính sư phạm

Việc xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm mục đích phục vụ hoạt động

dạy học lịch sử, vì vậy cần phải đảm bảo tính sư phạm Trên cơ sở đó, giáoviên mới có điều kiện thuận lợi để tiến hành các hoạt động sư phạm hướngdẫn, tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức: Tạo tình huống có vấn đề

để gợi mở sự tò mò, kích thích khả năng tư duy độc lập của các em; nhận thứcnhững nội dung chủ yếu và mối quan hệ giữa chúng với một sự kiện lịchsử Học sinh có thể chủ động tiến hành các hoạt động tư duy như phân tích,liên hệ, so sánh

Đảm bảo tính sư phạm còn đòi hỏi sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phải có nội

dung khoa học, kiến thức phù hợp, phong phú, đảm bảo tính thẩm mỹ; phùhợp với nội dung chương trình và trình độ nhận thức của người học, phù hợpvới điều kiện cụ thể của nhà trường và địa phương; biết tận dụng triệt đểnhững thành tựu công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy

Sáu là, phải xác định thời điểm sử dụng phù hợp

Việc sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phải được xây dựng trong kế hoạch

sư phạm của giáo viên trước khi lên lớp Hình thức sử dụng phải căn cứ vàonội dung, yêu cầu Về thời điểm sử dụng, cần phải linh hoạt trong việc cungcấp kiến thức mới, củng cố hay ôn tập

Phải sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trên khổ giấy lớn treo tường (loại này

cần phải chuẩn bị trước ở nhà) nếu lớp rộng và đông học sinh để tất cả các emđều có thể quan sát được Khi sử dụng, phải treo đúng nơi quy định, tiện choquá trình giảng dạy và theo dõi của học sinh Yêu cầu, giáo viên cần cóphương tiện hỗ trợ (thước, đèn laze) để chỉ dẫn cho học sinh, tránh sử dụngmột cách tuỳ tiện

Trang 26

Đối với những loại sơ đồ, biểu đồ, đồ thị có kích thước nhỏ, giáo viên vẽ

nhanh lên bảng cho các em tiện theo dõi, hoặc yêu cầu các em theo dõi trongSGK (nếu có), hoặc in sẵn ra giấy phát cho các em, trên cơ sở đó hướng dẫnhọc sinh nghiên cứu nội dung bài học Yêu cầu, phải luôn đảm bảo cho tất cảhọc sinh trong lớp đều có thể tiếp cận được với sơ đồ, biểu đồ, đồ thị, có điềukiện thuận lợi để học tập, tránh việc sử dụng một cách hình thức, đối phó

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Đặc điểm tâm, sinh lý học sinh THPT

Lứa tuổi học sinh THPT bao gồm những em có độ tuổi từ 14 đến 18 tuổi,

đó là những học sinh đang theo học lớp 10, 11,12 ở các trường THPT Cácnhà tâm lý học lứa tuổi còn gọi độ tuổi này là tuổi thanh niên mới lớn, và đâycũng được coi là thời kỳ đặc biệt quan trọng của cuộc đời Là thời kỳ kết thúccăn bản quá trình trưởng thành và phát triển lâu dài của đứa trẻ về tâm, sinh

lý Là thời kỳ năng lực trí tuệ, nhân sinh quan, thế giới quan, lý tưởng và toàn

bộ nhân cách con người đang biến đổi và phát triển về chất Ở độ tuổi này,hầu hết các em đã phát triển, hoàn thiện về mọi mặt, cả về thể chất và tâm lý

Có thể nói, nhân cách của các em đã được định hình về cơ bản

Cùng với sự phát triển về các mặt như: Chiều cao, trọng lượng cơ thể, hệxương, hệ cơ, các chức năng sinh lý được hoàn thiện thì sự phát triển của hệthần kinh cũng có những thay đổi quan trọng, do cấu trúc bên trong của bộnão phức tạp và các chức năng của não phát triển Cấu trúc của tế bào bán cầuđại não có những đặc điểm như trong cấu trúc của não người lớn Số lượngdây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần của vỏ não lại Điều đó tạotiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích, tổng hợp của vỏbán cầu đại não trong quá trình học tập và tư duy Tính chủ động, tích cực, tựgiác được thể hiện rõ rệt ở tất cả các quá trình nhận thức Có thể nói, năng lực

tư duy, tưởng tượng và các năng lực khác ở các em được hoàn thiện nhanhchóng và có chất lượng cao Các quá trình cảm giác và tri giác đạt tới mức độhoàn thiện và tinh tế Việc ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt

Trang 27

động trí tuệ của các em Đồng thời, khả năng ghi nhớ lôgic trừu tượng, ghinhớ ý nghĩa ngày một tăng lên rõ rệt.

Ở độ tuổi này, tư duy của các em đã có những thay đổi quan trọng Tưduy trừu tượng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong mọi hoạt động, đặc biệt

là hoạt động học tập Khả năng tư duy lý luận, tư duy độc lập, sáng tạo rấtphát triển Việc vận dụng các thao tác tư duy khá nhuần nhuyễn và đạt hiệuquả cao Song đôi khi, các em còn kết luận vội vàng nên chưa phát huy đượcnăng lực độc lập, suy nghĩ của mình

Lứa tuổi THPT có quá trình tự ý thức, tự giáo dục, tu dưỡng diễn ra sôinổi, mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện hơn ở tuổi thiếu niên rất nhiều Các emkhông chỉ có nhu cầu tự đánh giá, mà còn có khả năng đánh giá sâu sắc cácphẩm chất của những người sống xung quanh, của chính mình Thêm vào đó,đời sống tình cảm của học sinh THPT vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp

và bền vững hơn thời thiếu niên Các em rất giàu cảm xúc, giàu tâm trạng, rấtnhạy cảm với những rung động của người khác và có những phản ứng cảmxúc mạnh mẽ đối với những nhân vật trong văn học, lịch sử, với cái đẹp củanghệ thuật, tự nhiên

Ở lứa tuổi này, phần lớn các em đã ý thức rõ được vai trò, vị trí của mìnhtrong gia đình, nhà trường và xã hội

Trong gia đình, các em đã là một thành viên chính và muốn được tham

gia vào các công việc quan trọng trong gia đình, muốn được coi là người lớn

Ngoài xã hội, các em hăng hái tham gia vào các hoạt động xã hội, vào

các mối quan hệ xã hội để tự rèn luyện bản thân và khẳng định mình

Còn ở nhà trường, các em tích cực học tập để trau dồi tri thức, hoàn

thiện nhân cách, say mê tìm tòi chân lý và lẽ sống Thái độ, ý thức học tập củacác em không ngừng được nâng cao và có tính lựa chọn hơn với các môn họctheo sở thích, định hướng nghề nghiệp của mình Vì vậy, các em chỉ tích cựchọc một số môn có liên quan đến xu hướng nghề nghiệp, và tỏ ra lơ là, xao

Trang 28

nhãng các môn học khác, dẫn đến tình trạng học lệch khá phổ biến Do nhậnthức chưa đúng, nên môn lịch sử cũng là một trong những môn bị rơi vào tình

trạng trên Phần lớn các em chỉ coi, lịch sử là “môn phụ”, chỉ cần học thuộc

lòng, ghi nhớ máy móc sự kiện mà chưa hiểu hết bản chất và ý nghĩa lớn lao

dạy học bộ môn là việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát

huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Một mặt, giúp các emchủ động nắm và khắc sâu tri thức; mặt khác, góp phần vào việc hoàn thiệnnhân cách cho học sinh, đào tạo con người mới – XHCN, phục vụ cho sựnghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hôm nay và mai sau

1.2.2 Thực tế của việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu

đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị là những loại đồ dùng trực quan quy ước có vai trò

quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường THPT, là chiếc “cầu nối” giữa quá

khứ với hiện tại Nó không chỉ giúp bài giảng của giáo viên thêm phong phú,sinh động, mà còn kích thích hứng thú học tập, phát triển các kỹ năng quansát, óc tư duy và ngôn ngữ của học sinh Giúp các em nắm được bản chất sựkiện, hiện tượng lịch sử, nhớ kỹ, nhớ lâu kiến thức lịch sử; đồng thời, cũng cótác động mạnh mẽ trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, óc thẩm mỹ củahọc sinh

Trang 29

Mặc dù yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổthông đòi hỏi cần tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan, xong việc thực hiệnchưa thực sự triệt để Thực tiễn cho thấy, ở các trường THPT hiện nay, việcxây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước còn nhiều hạn chế, phần nàolàm cho hiệu quả dạy học lịch sử còn thấp.

Có thể khẳng định rằng, việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thịtrong dạy học lịch sử không đòi hỏi quá nhiều điều kiện vật chất, kỹ thuật.Nếu như có kỹ năng và đầu tư thời gian, tâm huyết thì các thầy, cô giáo hoàntoàn có thể xây dựng cho mình nhiều loại đồ dùng trực quan quy ước hỗ trợcho bài giảng thêm hiệu quả Tuy nhiên, xây dựng như thế nào? Đầu tư rasao? là những vấn đề hiện đang tồn tại và cần giải quyết

Để hiểu rõ vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành điều tra thực tế tại trường

THPT Thái Nguyên (Phường Quang Trung, TP.Thái Nguyên), và trường THPT Sơn Nam (Tuyên Quang) trong đợt thực tập sư phạm II (từ tháng

2/2013 đến tháng 4/2013) vừa qua

Bằng phương pháp điều tra dưới hình thức bảng hỏi một số giáo viên bộmôn lịch sử và học sinh đang giảng dạy, theo học tại 2 trường này phần nàocho chúng tôi một góc nhìn về thực trạng dạy và học lịch sử ở trường phổthông hiện nay

Nhìn chung, giáo viên đã đổi mới cách giảng dạy theo hướng “Lấy học sinh làm trung tâm” Tuy nhiên, các đồ dùng phụ trợ cho giảng dạy còn ít, đặc

biệt là các loại đồ dùng trực quan quy ước Nguyên nhân là các thầy, cô chưakhai thác triệt để giá trị to lớn của việc xây dựng và sử dụng các loại đồ dùngtrực quan quy ước nên chưa dành nhiều thời gian cho vấn đề này

Về phía học sinh, phần lớn các em đều tỏ ra không thích học sử, vì thếthời gian các em dành cho việc học sử ở nhà cũng rất ít Thời gian học ở nhàdành cho môn sử cũng không nhiều khiến cho chất lượng giờ học sử trên lớp

bị ảnh hưởng lớn Về việc sử dụng đồ dùng trực quan (đặc biệt là sơ đồ, biểu

Trang 30

đồ, đồ thị) trong DHLS, cũng đã có khá nhiều em tỏ ra hứng thú và mongmuốn được tiếp cận nhiều hơn nữa với các loại đồ dùng trực quan quy ướcnày.

Từ thực tế dạy và học lịch sử như vậy, đã đặt ra yêu cầu phải nâng caonhận thức của giáo viên về vai trò, ý nghĩa, cũng như các biện pháp xây dựng

và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử, góp phần nâng cao

chất lượng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

Trang 31

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU

ĐỒ, ĐỒ THỊ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH

TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI

Chương trình LSTG ở trường THPT được chia ra làm 5 giai đoạn cụ thể:Nguyên thuỷ, cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại Mỗi giai đoạn lại giữ mộtvai trò nhất định trong tiến trình lịch sử nhân loại Trong đó, khoá trình LSTGcận đại chiếm một vị trí quan trọng trong tiến trình LSTG

Khoá trình LSTG cận đại (trong chương trình SGK 10 – cơ bản) là mộtgiai đoạn lịch sử đầy biến động, sôi nổi, mở đầu là sự bùng nổ và thắng lợicủa hàng loạt các cuộc CMTS, từng bước đưa CNTB xác lập quyền thống trịtrên phạm vi toàn thế giới Sự ra đời của nhà nước tư sản, tạo điều kiện chocác ngành khoa học - kỹ thuật, văn học nghệ thuật phát triển mạnh mẽ Tiếp

đó, là sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân từ tự phát sang tựgiác, hình thành lý luận về con đường đấu tranh giải phóng của giai cấp vôsản Học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học đã ra đời, tạo nên sức mạnh mớicho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân

2.1.1 Các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại

Trong khoá trình LSTG cận đại, thì lịch sử các cuộc CMTS là nội dunglớn, và có vị trí rất quan trọng CMTS hiện diện trong suốt tiến trình LSTGcận đại với tốc độ, quy mô và nhịp điệu khác nhau, nhưng đều có xu hướngxoá bỏ cát cứ phong kiến, thành lập quốc gia tư sản với 4 yếu tố chung về:

Kinh tế, văn hoá, lãnh thổ và ngôn ngữ.

Trang 32

Hàng loạt các cuộc CMTS đã diễn ra với nhiều hình thức khác nhau,nhưng đều nhằm lật đổ CĐPK để xác lập quyền thống trị của GCTS Tuynhiên, do diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau nên thành quả đạt được của cáccuộc CMTS cũng khác nhau

* Nguyên nhân bùng nổ cách mạng tư sản

Ngay từ thế kỷ VI, nhất là từ thế kỷ XV - XVI, sự xuất hiện của cácthành thị và tầng lớp thị dân đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của xãhội Nó phá vỡ từng bước nền kinh tế phong kiến, tạo điều kiện cho nền kinh

tế hàng hoá phát triển Đồng thời, từ sau các cuộc phát kiến địa lý thế kỷ XV XVI, CNTB càng phát triển mạnh mẽ

-Trong bối cảnh ấy, Nêđéclan (nay là lãnh thổ của Hà Lan và Bỉ) vớinhững điều kiện thuận lợi đã vươn lên trở thành một trong những vùng cókinh tế phát triển nhất châu Âu Tuy nhiên, sức sản xuất mới của Nêđéclan bị

sự thống trị của vương quốc Tây Ban Nha ngăn cản

Ở Anh, quan hệ sản xuất TBCN đã sớm xâm nhập vào nông nghiệp Đầuthế kỷ XVII, Anh có nền kinh tế phát triển nhất châu Âu Công trường thủ cônglấn át phường hội, tư sản Anh giàu lên nhanh chóng nhờ sự phát triển mạnh mẽcủa ngoại thương, chủ yếu là bán len dạ và buôn nô lệ Quý tộc kinh doanhtheo lối TBCN đã giàu lên nhanh chóng, hình thành tầng lớp quý tộc mới.Các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ có nền kinh tế phát triển Tại bốn thuộc địaphía bắc, bên cạnh các trang trại đã xuất hiện nhiều công trường thủ côngchuyên sản xuất rượu, làm bột, thuỷ tinh, luyện sắt Phát triển mạnh nhất làcông nghiệp đóng tàu Tuy nhiên, nền kinh tế công, thương nghiệp của cácthuộc địa Anh ở Bắc Mĩ bị chính sách thống trị của thực dân Anh ngăn cản.Thế kỷ XVIII, kinh tế Pháp tuy kém hơn Anh, nhưng cũng phát triển khámạnh: Sản xuất công nghiệp tăng gấp đôi trong thế kỷ XVIII, nhiều ngành đã

sử dụng các loại máy móc vào sản xuất với quy mô lớn, tập trung hàng ngàncông nhân

Trang 33

CNTB ở Pháp cũng như nhiều nước Tây Âu, Bắc Mĩ đều bị chế độphong kiến kìm hãm sự phát triển Có thể nhận thấy trở ngại chủ yếu trêncon đường xác lập và phát triển quan hệ TBCN chính là chế độ phongkiến chuyên chế Trong khi phương thức sản xuất TBCN thúc đẩy kinh tếphát triển mạnh mẽ, thì chế độ phong kiến lại duy trì nền nông nghiệp lạchậu, cản trở sự phát triển công thương nghiệp, cùng nhiều chính sách ápbức bóc lột nhân dân thậm tệ Đó là mầm mống chủ yếu đưa đến sự bùng

nổ cách mạng tư sản

Sự xâm nhập của phương thức sản xuất TBCN khiến cho xã hội phânhoá sâu sắc Nhiều giai cấp tầng lớp mới xuất hiện, trong khi các giai cấp cũkhông mất đi Trong xã hội, một bên là quý tộc phong kiến, giáo hội phảnđộng có quyền lực tối cao về chính trị nhưng lại không có thực lực về kinh tế,bên kia là giai cấp tư sản, bình dân thành thị, nông dân Đại diện là giai cấp

tư sản có tiềm lực kinh tế mạnh, song không có địa vị chính trị Chính sự mâuthuẫn, đối lập về quyền lợi đó cũng đã đưa đến sự bùng nổ của các cuộcCMTS

Mâu thuẫn gay gắt trong xã hội còn thể hiện trên lĩnh vực tư tưởng, đâyđược coi là một sự chuẩn bị cho cách mạng Chính những trào lưu tư tưởngmới là người đi trước, dọn đường cho cuộc cách mạng xã hội Các nhà tưtưởng, nhà văn, nhà khoa học tiến bộ thuộc các tầng lớp, giai cấp khác nhauđều có chung một mặt trận chống chế độ chuyên chế phong kiến và chỗ dựa

tư tưởng của nó chính là Giáo hội Thiên chúa giáo Tiêu biểu ở cách mạng Hà

Lan có tư tưởng Tân giáo của Can-vanh; ở Anh là sự ra đời và phát triển của Thanh giáo; ở Pháp có trào lưu “Triết học ánh sáng”

Ngoài ra ở Đức và Italia, do tình trạng đất nước bị chia 5 sẻ 7 đã kìm

hãm sự phát triển kinh tế, đặt ra yêu cầu cần phải thống nhất đất nước, đưađến nguồn cơn của cách mạng

* Nhiệm vụ của cách mạng

Cách mạng tư sản nhằm vào mục tiêu đánh đổ chế độ phong kiến, xáclập chế độ TBCN thông qua việc thực hiện hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ

Trang 34

Nhiệm vụ dân tộc nhằm xoá bỏ tình trạng phong kiến cát cứ, thống nhất

thị trường, văn hoá, bảo vệ đất nước khi có ngoại xâm Điều này được biểuhiện khác nhau ở mỗi cuộc cách mạng tuỳ theo điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụthể của mỗi nước Trong cách mạng Hà Lan, nhân dân tiến hành cuộc đấutranh giải phóng dân tộc, lật đổ ách thống trị của vương quốc Tây Ban Nha ỞPháp, nhân dân đấu tranh trước là xoá bỏ đặc quyền của quý tộc, xoá bỏ sựphân cách giữa các địa phương với những hệ thống đo lường, hàng rào thuếquan riêng rồi tiếp tục tiến hành chiến tranh cách mạng bảo vệ tổ quốc vàthành quả cách mạng mới đạt được Với cuộc đấu tranh của 13 bang thuộc địaAnh ở Bắc Mĩ là cuộc chiến tranh đánh đổ sự thống trị của thực dân Anhgiành độc lập

Nhiệm vụ dân chủ thể hiện ở việc xoá bỏ chế độ phong kiến chuyên chế,

xác lập nền dân chủ tư sản với việc thành lập Nhà nước cộng hoà tư sản(Quân chủ lập hiến) và ban bố các quyền tự do dân chủ tư sản, trong đó nhấnmạnh quyền tư hữu bất khả xâm phạm Vấn đề ruộng đất là vấn đề cơ bản củaCMTS, đó là biểu hiện để đánh giá tính triệt để của CMTS thông qua mức độ,kết quả của việc giải quyết yêu cầu này Trong CMTS Anh giữa thế kỷ XVII,

do quý tộc mới và tư sản tiến hành nên tư sản dung dưỡng cho quý tộc mớichiếm đoạt phần lớn ruộng đất của nông dân làm đồng cỏ, biến nông dân

thành những người “vô sản lang thang” CMTS Pháp 1789 đã tiến hành chia

nhỏ từng lô đất bán cho nông dân trả dần trong 10 năm, bởi vậy nông dân trởthành tiểu nông và gắn bó chặt chẽ với tư sản Vì thế, CMTS Pháp triệt đểhơn CMTS Anh

Với Đức và Italia là phải thống nhất đất nước, ở nội chiến Mĩ là xoá bỏchế độ nô lệ ở miền Nam tạo điều kiện cho CNTB phát triển

* Động lực cách mạng

Cuộc CMTS nhằm lật đổ chế độ phong kiến, xoá bỏ sự thống trị thuộcđịa và tất cả các rào cản trên con đường phát triển của CNTB nên đã tập hợpđược đông đảo các tầng lớp và giai cấp trong xã hội, song cũng có nhữngđiểm khác nhau về quyền lợi và mục đích

Trang 35

Động lực chủ yếu của CMTS là quần chúng nhân dân, trước hết là nôngdân, bình dân thành thị, thợ thủ công, người da đen (ở Bắc Mĩ) Quần chúngnhân dân bao giờ cũng giữ vai trò chủ yếu thúc đẩy cách mạng tiến lên Điềunày thể hiện rõ qua cuộc CMTS Pháp 1789 Ngày 14-7-1789, quần chúng Parinổi dậy tấn công pháo đài – ngục Baxti, mở đầu cho thắng lợi của cách mạng,Hạn chế quyền lực của vua, xoá bỏ chế độ đẳng cấp Tuy nhiên, ngay sau đónhững người lãnh đạo cách mạng lúc đó đã phản bội nhân dân, liên kết vớinhà vua và lực lượng phong kiến nước ngoài Nhân dân Pháp lại nổi dậy lật

đổ chính quyền của phái Lập hiến ngày 10-8-1792, đưa cách mạng tiến thêmmột bước trong việc xoá bỏ chế độ quân chủ, thành lập nền cộng hoà Tầnglớp tư sản công thương sau khi lên cầm quyền lại đi ngược với quyền lợi củanhân dân, vì vậy quần chúng lại tiếp tục nổi dậy ngày 2-6-1793, đưa nhữngngười tiểu tư sản tiến bộ lên nắm quyền Những người Giacôbanh xây dựngnền chuyên chính dân chủ cách mạng, thủ tiêu mọi nghĩa vụ phong kiến đốivới nông dân, đưa CMTS Pháp đến đỉnh cao

Trong CMTS vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân bị kìm hãm

vì GCTS chỉ lợi dụng quần chúng để lật đổ chế độ phong kiến, nắm chínhquyền, chứ không nhằm đáp ứng những quyền lợi cơ bản của họ Bởi vậy,ngay trong cách mạng, đặc biệt sau khi cách mạng thành công thì mâu thuẫngiữa quần chúng nhân dân và giai cấp cầm quyền lại nảy sinh, đưa đến nhữngcuộc đấu tranh như trong CMTS Anh giữa thế kỷ XVII

* Lãnh đạo cách mạng

Lãnh đạo CMTS là giai cấp tư sản – lực lượng tiên tiến nhất lúc bấy giờ.Song đôi khi, do điều kiện cụ thể ở mỗi nước, giai cấp tư sản có thể không đủkhả năng lãnh đạo, mà phải chia sẻ quyền lãnh đạo với tầng lớp khác như ởCMTS Anh quyền lãnh đạo được chia sẻ với quý tộc mới

Trong cách mạng, với sự lớn mạnh của cuộc đấu tranh của quần chúngnhân dân mà trong hàng ngũ giai cấp tư sản có sự phân hoá Ta thấy rõ điều

Trang 36

này trong CMTS Pháp cuối thế kỷ XVIII, khi vai trò của quần chúng tăng lên,thúc đẩy cách mạng lên cao, thì hàng ngũ lãnh đạo giai cấp tư sản phân hoá sâusắc Ban đầu là phái Phơiăng của quý tộc đại tư sản lãnh đạo, khi thoả mãnquyền lợi của mình lại ngả về phe phong kiến, chống lại nhân dân Tiếp đó, pháiGirôngđanh của tư sản công thương lên nắm quyền cũng dần xa rời quần chúng,hạn chế sự phát triển của cách mạng Cuối cùng là tầng lớp tiểu tư sản, đưa cáchmạng đạt đến đỉnh cao và rồi cũng một lần nữa bị lật đổ do sự phân hoá.

* Các hình thức của cách mạng tư sản

Tuỳ thuộc vào vị trí địa lý, điều kiện lịch sử của mỗi quốc gia khu vựcthì cách mạng tư sản lại diễn ra dưới những hình thức khác nhau

Thứ nhất là nội chiến cách mạng – hình thức đấu tranh giữa các lực

lượng trong nước, không có sự can thiệp bên ngoài, điển hình là cuộc CMTSAnh bùng nổ năm 1640 Đó là cuộc chiến giữa một bên là quan lại, quý tộcbảo thủ với một bên là liên minh giai cấp tư sản và quý tộc mới

Thứ hai là hình thức chiến tranh giành độc lập Tiêu biểu là cách mạng

Hà Lan - 1566, cách mạng Mĩ - 1775 Chính giai cấp tư sản tiến bộ đã lãnhđạo quần chúng nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chống lại ách

nô dịch của phong kiến ngoại bang Có thể kể tới ở Hà Lan là thế lực phongkiến Tây Ban Nha, ở Mĩ là sự thống trị của thực dân Anh

Ba là hình thức chống thù trong, giặc ngoài Cách mạng tư sản Pháp

năm 1789 là một dẫn chứng điển hình Cách mạng đã thực hiện hai nhiệm vụnặng nề đó là đấu tranh lật đổ nền thống trị của chế độ quân chủ chuyên chếtàn bạo và chống lại sự can thiệp của liên minh phong kiến Châu Âu nhằm

xác lập những giá trị tiến bộ của lịch sử “Tự do, bình đẳng, bác ái”.

Thứ tư là hình thức đấu tranh thống nhất đất nước Tiêu biểu là quá

trình đấu tranh thống nhất Đức và Italia Nước Đức thời trung đại là tồn tạichế độ phong kiến cát cứ phân quyền, đất nước bị chia thành 34 công quốc và

4 thành phố Chính sự chia cắt đó đã khiến cho nền kinh tế Đức kém pháttriển Giai cấp tư sản bị hàng rào thuế quan của giai cấp phong kiến kìm hãm

sự phát triển Bởi vậy, giai cấp tư sản đã đứng lên tiến hành cuộc cách mạng

Trang 37

tư sản dưới hình thức thống nhất đất nước nhằm xoá bỏ tình trạng cát cứphong kiến, thống nhất thị trường, mở đường cho CNTB phát triển.

Giống như Đức, Italia cũng bị chia thành 7 quốc gia nhỏ theo chế độquân chủ chuyên chế, lệ thuộc Áo Năm 1860, cuộc đấu tranh thống nhất đấtnước của giai cấp tư sản Italia đã tương đối hoàn thành, lật đổ sự thống trị của

đế quốc Áo và các thế lực phong kiến bảo thủ Italia, tạo điều kiện cho CNTBphát triển

Tuy diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng tất cả các cuộc cáchmạng tư sản đều có đặc điểm chung là phá bỏ thành trì lạc hậu của chế độquân chủ phong kiến tàn bạo, lỗi thời, mở đường cho sự phát triển của TBCN,thúc đẩy lịch sử nhân loại tiếp tục tiến lên

* Ý nghĩa lịch sử của cách mạng tư sản

Các cuộc CMTS có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của lịch sử thếgiới Trước hết, CMTS đã xác lập sự thắng lợi của CNTB trước chế độ phongkiến, mở ra thời đại mới cho lịch sử loài người – thời cận đại Mỗi một cuộccách mạng lại có một vị trí và ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của nướcmình và thế giới

CMTS Hà Lan thế kỷ XVI đánh dấu sự mở đầu cho thời cận đại Đó

được coi là “phát súng đầu tiên” bắn thẳng vào thành trì mục nát của chế độ

phong kiến đương thời

Thắng lợi của CMTS Anh giữa thế kỷ XVII đã tạo điều kiện cho CMTSphát triển mạnh mẽ hơn, đưa đến cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên, tácđộng mạnh mẽ đến đời sống xã hội

Với thắng lợi của cuộc chiến tranh giành độc lập của nhân dân Bắc Mĩcho thấy CMTS đã vươn ra khỏi phạm vi Châu Âu, đồng thời thúc đẩy mạnh

mẽ phong trào cách mạng chống phong kiến ở Châu Âu, trước hết là CMTSPháp 1789

CMTS Pháp cuối thế kỷ XVIII có ảnh hưởng to lớn đến lịch sử thế

giới, trước hết là trào lưu tư tưởng của phái khai sáng ở Pháp được xem

Trang 38

như người dọn đường cho cách mạng xã hội thắng lợi Sau khi CMTS Phápthành công, tư tưởng dân tộc, dân chủ được truyền bá rộng rãi ở châu Âu,thúc đẩy phong trào cách mạng ở các nước châu Âu phát triển mạnh mẽ

trong thế kỷ XIX, như Lênin đã từng nhận định: “ Thế kỷ XIX là thế kỷ đem lại văn minh và văn hoá cho toàn thể nhân loại đã tiếp diễn dưới dấu hiệu của cách mạng tư sản Pháp”.

Tuy nhiên, CMTS cũng có những hạn chế nhất định như chỉ thay thế chế

độ bóc lột này bằng chế độ bóc lột khác, vấn đề cơ bản của CMTS – vấn đềruộng đất vẫn không được giải quyết triệt để, quyền tự do của nhân dân chưađược đảm bảo

2.1.2 Chủ nghĩa tư bản xác lập thắng lợi trên phạm vi thế giới và chuyển sang giai đoạn đế quốc

Kể từ sau khi cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII kết thúc, nướcPháp và châu Âu lại chuyển sang thời kỳ phản động của sự phục hồi chế độquân chủ chuyên chế Tuy nhiên, do sự phát triển hợp quy luật của lịch sử,chủ nghĩa tư bản đã từng bước xác lập sự thắng lợi trên phạm vi thế giới Đó

là cuộc đấu tranh thống nhất Đức và Italia, cuộc nội chiến Mĩ -1861…Chođến những năm 50 - 60 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã xác lập sự thắnglợi với chế độ phong kiến trên phạm vi thế giới

Song song với việc củng cố chính quyền của giai cấp tư sản, thì các cuộccách mạng công nghiệp nhanh chóng được tiến hành, đầu tiên là Anh, sau lan

ra nhiều nước ở Âu, Mĩ Đó là cuộc cách mạng về kỹ thuật với việc phát minh

ra máy móc thay thế cho lao động chân tay Bên cạnh đó, cách mạng côngnghiệp cũng kéo theo sự biến đổi về xã hội, đó là sự hình thành hai giai cấpchính trong xã hội tư bản: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản

Sự phát triển của cách mạng công nghiệp đã tạo cơ sở vật chất kỹ thuậtcho CNTB phát triển và lớn mạnh nhanh chóng Sau cách mạng công nghiệp

là sự phát triển của khoa học kỹ thuật từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Đó

là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đầu tiên, có sự gắn kết giữa sự phát

Trang 39

triển của kỹ thuật với sự phát triển của khoa học Trên cơ sở đó, việc ứngdụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã làm cho các ngành côngnghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc… có bước pháttriển vượt bậc Cùng với đó, các ngành khoa học xã hội cũng từng bước lớnmạnh, phục vụ một cách thiết thực cho đời sống con người trong chế độ tưbản chủ nghĩa.

Bằng những thắng lợi to lớn và những thành tựu rực rỡ về mọi mặt, đặcbiệt là sự phát triển của sản xuất đã đưa CNTB từng bước chuyển từ tự docạnh tranh sang giai đoạn độc quyền – đế quốc chủ nghĩa Quá trình này diễn

ra với việc những xí nghiệp lớn dựa vào kỹ thuật cao, vốn lớn, có sức mạnhcạnh tranh đã thôn tính các xí nghiệp nhỏ, tiêu biểu là các tổ chức lũng đoạnhình thành như: Cácten, Xanhđica, Tơrớt, Công-xoóc-ti-on Trong đó,Cácten, Xanhđica là hình thức độc quyền trong sản xuất phổ biến ở Anh,Pháp, Đức Tơrớt là hình thức cao nhất của tổ chức độc quyền điển hình ở Mĩ

Sự xuất hiện và dần chiếm ưu thế của các tổ chức độc quyền là tiêuchí để xác định CNTB chuyển sang giai đoạn đế quốc Những đặc điểmnổi bật của chủ nghĩa đế quốc đã được Lênin phát hiện và tổng kết lại mộtcách cụ thể:

Một là, sự tập trung sản xuất và tư bản đạt tới mức độ phát triển cao, vớicác tổ chức lũng đoạn, chiếm giữ vai trò chủ yếu trong sản xuất và chi phốimọi mặt của đời sống xã hội

Hai là, tư bản ngân hàng kết hợp với tư bản tài chính

Ba là, việc xuất khẩu tư bản giữ vai trò quan trọng, vượt qua xuất khẩuhàng hoá như thời kỳ trước

Bốn là, các khối liên minh tư bản độc quyền đã hình thành và chia nhauthế giới

Năm là, các cường quốc tư bản lớn đã chia nhau xâm chiếm các nướclàm thuộc địa và nảy sinh yêu cầu chia lại thế giới, đó chính là nguyên nhânchủ yếu đưa đến sự bùng nổ của chiến tranh đế quốc

Trang 40

Tuỳ vào tình hình, điều kiện cụ thể của các nước tư bản, chủ yếu là dotương quan lực lượng trong nước và trên thế giới mà ngoài những đặc trưng

chung mỗi nước đế quốc lại có đặc điểm riêng của mình: CNĐQ Anh là chủ nghĩa đế quốc thực dân, CNĐQ Pháp là chủ nghĩa đế quốc cho vay lãi, CNĐQ Đức là chủ nghĩa đế quốc quân sự - phong kiến, CNĐQ Mĩ là quê hương của các Tơrớt khổng lồ với những tập đoàn tư bản tếch xù.

2.1.3 Phong trào công nhân đầu thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

Sau khi cách mạng tư sản thành công, giai cấp tư sản trở thành kẻ thốngtrị, mâu thuẫn giữa 2 giai cấp ngày càng gay gắt Cuộc đấu tranh của côngnhân chống tư sản trải qua nhiều thời kỳ, phát triển từ tự phát đến tự giác Banđầu, do nhận thức còn nhiều hạn chế, công nhân vẫn lầm tưởng máy móc lànguồn gốc gây nên khổ đau cho họ Phong trào đập phá máy móc, đốt côngxưởng diễn ra từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, trước hết ở Anh rồilan ra các nước khác Song không mang lại kết quả gì ngoài sự tăng cườngđàn áp của giai cấp thống trị Ở giai đoạn sau, đội ngũ công nhân ở nhiềunước châu Âu đã trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Họđấu tranh đòi cả quyền lợi về kinh tế và chính trị với nhiều hình thức phongphú Tiêu biểu có khởi nghĩa Li-ông ở Pháp (1831), phong trào hiến chương ởAnh (1836 - 1848), khởi nghĩa Sơ-lê-din ở Đức (1844)…song tất cả đều thấtbại vì chưa có đường lối chính trị đúng đắn

Trên cơ sở của phong trào công nhân thì chủ nghĩa xã hội khoa học rađời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập.Đây là bước ngoặt quan trọng của phong trào công nhân thế giới, vì từ đây đã

có học thuyết giúp họ nhận thức được đúng sứ mệnh lịch sử của mình, xácđịnh đúng phương hướng, đường lối cách mạng của mình Tuyên ngôn củaĐảng Cộng sản đã kết thúc bằng lời tuyên bố đanh thép: “Trong cuộc cáchmạng ấy, người vô sản chẳng mất gì hết ngoài những xiềng xích trói buộc họ.Trong cuộc cách mạng ấy, họ giành lại được cả một thế giới về mình Vô sảntất cả các nước đoàn kết lại” Khẩu hiệu chiến đấu đó đã có ý nghĩa lớn lao

Ngày đăng: 22/09/2017, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.M.A Lecxeep (Chủ biên) (1976), Phát triển tư duy học sinh, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy học sinh
Tác giả: M.A Lecxeep (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1976
2.Đặng Đức An (Chủ biên) (2000), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, (tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mẩu chuyện lịch sử thế giới
Tác giả: Đặng Đức An (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
3.Nguyễn Văn Ánh – Trần Thái Hà – Trịnh Đình Tùng (2007), Tư liệu lịch sử lớp 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu lịch sửlớp 10
Tác giả: Nguyễn Văn Ánh – Trần Thái Hà – Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
4.Nguyễn Thị Côi (Chủ biên) (1995), Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạmmôn lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Côi (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1995
5. Nguyễn Thị Côi (2009), Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử 10 THPT, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáokhoa lịch sử 10 THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
6.N.G.Đairi (1973), Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào
Tác giả: N.G.Đairi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1973
7.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần 2, BCH Trung ương Đảng khoá VIII (1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần 2, BCH Trung ương Đảngkhoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần 2, BCH Trung ương Đảng khoá VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
8.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2009), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
9.Phạm Văn Đồng (1979), Sự nghiệp giáo dục trong chế độ XHCN, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp giáo dục trong chế độ XHCN
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb SựThật
Năm: 1979
10. Nguyễn Hà Giang (2004), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học khoá trình lịch sử Thế giới cận đại (SGK Lịch sử 10 - THPT), Luận văn cử nhân, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinhtrong dạy học khoá trình lịch sử Thế giới cận đại (SGK Lịch sử 10 - THPT)
Tác giả: Nguyễn Hà Giang
Năm: 2004
11. Nguyễn Thuý Hằng (2008), Xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, niên biểu trong dạy học khoá trình lịch sử thế giới cận đại, SGK lịch sử 10 – THPT (Chương trình chuẩn), Luận văn cử nhân, Đại học sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, niên biểutrong dạy học khoá trình lịch sử thế giới cận đại, SGK lịch sử 10 – THPT(Chương trình chuẩn)
Tác giả: Nguyễn Thuý Hằng
Năm: 2008
12. Hội đồng giáo dục lịch sử (Hội khoa học lịch sử Việt Nam) – Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (1999), Thiết kế bài giảng lịch sử ở trường trung học phổ thông, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng lịch sử ở trường trung học phổthông
Tác giả: Hội đồng giáo dục lịch sử (Hội khoa học lịch sử Việt Nam) – Phan Ngọc Liên (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
13. I.F.Kharlamốp (1978), Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào
Tác giả: I.F.Kharlamốp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1978
14. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (Chủ biên) (1998), Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tíchcực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1998
15. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2000), Hồ Chí Minh với sử học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với sử học
Tác giả: Phan Ngọc Liên (Chủ biên)
Nhà XB: NxbĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
16. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường (Đồng Chủ biên) (2002), Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường (Đồng Chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2002
17. Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên) (2006), Sách giáo khoa lịch sử lớp 10 (Cơ bản), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa lịch sử lớp 10(Cơ bản)
Tác giả: Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
18. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) – Trịnh Đình Tùng – Nguyễn Thị Côi (2009), Phương pháp dạy học lịch sử, (tập 1, 2), Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên (Chủ biên) – Trịnh Đình Tùng – Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2009
19. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2009), Từ điển thuật ngữ lịch sử trung học phổ thông, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ lịch sử trung họcphổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2009
20. Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng (2010), Lịch sử thế giới cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Tác giả: Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w