1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án TS CTH - Hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay

191 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu Quả Giáo Dục Văn Hóa Học Đường Cho Sinh Viên Các Trường Đại Học Ở Hà Nội Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại luận án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 346,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hành vi văn hóa đó thấm sâu và chuyển hóa thành những phẩm chất và nănglực tốt đẹp trong sinh viên, định hình nên nhân cách sinh viên phù hợp vớimục tiêu giáo dục và đào tạo và đáp ứng đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội được Đại hội Đảng XI (năm 2011) thông qua, đã định hướng phát triểnvăn hóa: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thầnnhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vàotoàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nộisinh quan trọng của phát triển…” [6; Tr.37]

Văn hóa được coi là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh

tế, làm hài hòa, lành mạnh các quan hệ xã hội Từ các nền văn minh sớm nhất,

văn hóa luôn luôn gắn liền với giáo dục và giáo dục cũng song hành với văn

hóa Ngày nay, đào luyện lực lượng sinh viên phát triển toàn diện cả đức, trí,thể mỹ là vun bồi một nguồn lực quý báu của đất nước, là kiến tạo tiền đồ,tương lai của dân tộc Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến nhiệm vụ này, đãphải ra 2 nghị quyết chuyên đề chỉ đạo trong một nhiệm kỳ Đó là Nghị quyếthội nghị Trung ương 8 khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) “Về đổi mới cănbản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đạihóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hộinhập” và Nghị quyết hội nghị Trung ương 9 khóa XI (Nghị quyết số33-NQ/TW) “Về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đápứng nhu cầu phát triển bền vững đất nước” Hai nghị quyết này đã xác địnhnhững nội dung và giải pháp xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứngyêu cầu của giai đoạn phát triển mới Đây là một trong những nhiệm vụ trọngtâm, trụ cột của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Trách nhiệm đó trướchết thuộc về ngành giáo dục, nhất là giáo dục bậc đại học Để thực hiện tốtnhiệm vụ đó, một trong những biện pháp quan trọng là xây dựng trường đạihọc thật sự trở thành môi trường văn hóa và làm những giá trị, chuẩn mực

Trang 2

hành vi văn hóa đó thấm sâu và chuyển hóa thành những phẩm chất và nănglực tốt đẹp trong sinh viên, định hình nên nhân cách sinh viên phù hợp vớimục tiêu giáo dục và đào tạo và đáp ứng được yêu cầu của xã hội, thực hiệnnhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam theo Nghị quyếtcủa Đảng.

Trên thực tế ở các trường đại học hiện nay, phần lớn sinh viên vẫn giữđược những giá trị, nét đẹp văn hóa truyền thống như: tôn sư trọng đạo, tíchcực, chủ động, sáng tạo trong học tập; nêu cao ý thức trách nhiệm, rèn luyệnphẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, dám đấu tranh chống lại những tiêucực; tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tương lai của đất nước Bêncạnh đó, trước sự tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, sự bùng nổ thôngtin qua Internet, các mạng xã hội; sự du nhập ào ạt các trào lưu văn hóa, quanniệm sống lai căng cùng với sự chống phá, lôi kéo từ hệ tư tưởng thù địch vớinhững sản phẩm mang danh văn hóa, một bộ phận thanh niên, trong đó cósinh viên trong các trường đại học chạy theo lối sống thực dụng, xa lạ với cácgiá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, vô tổ chức, vô kỷ luật… không có ý chívươn lên Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong sinh viên có chiều hướnggia tăng về quy mô, phức tạp về tính chất, gây nhức nhối cho gia đình, nhàtrường và xã hội Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII chỉ rõ: “Nhiều biểuhiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo làm cho xã hội lo lắng như sựsuy thoái đạo lý trong quan hệ thầy trò, bè bạn, môi trường sư phạm xuốngcấp; lối sống thiếu lý tưởng, hoài bão, ăn chơi, nghiện ma túy, tệ nạn xã hội…

ở một bộ phận học sinh, sinh viên; việc coi nhẹ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ vàcoi nhẹ các bộ môn chính trị, khoa học xã hội và nhân văn” [24, tr.47]

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đánh giá: “Chất lượng giáo dục vàđào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình

độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã

Trang 3

hội Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng caochất lượng, giữa dạy chữ và dạy người Chương trình, nội dung, phương phápdạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnhvực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đápứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lý nhànước về giáo dục còn bất cập Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đứctrong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúccủa xã hội.”[28, tr 167, 168]

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đánh giá kết quả thựchiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phươnghướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 có đề cập đếnvấn đề giáo dục: “Phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học, công nghệcòn chậm Chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học và đào tạonghề cải thiện còn chậm; thiếu lao động chất lượng cao Hệ thống giáo dụccòn thiếu tính liên thông, chưa thật hợp lý và thiếu đồng bộ Công tác phânluồng và hướng nghiệp còn hạn chế Đổi mới giáo dục, đào tạo có mặt cònlúng túng Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạokhắc phục còn chậm, công tác đào tạo chưa gắn chặt chẽ với nhu cầu xã hội

Cơ chế, chính sách có mặt chưa phù hợp; xã hội hóa còn chậm và gặp nhiềukhó khăn, chưa thu hút được nhiều nguồn lực ngoài nhà nước cho phát triểngiáo dục, đào tạo Cơ sở vật chất vẫn còn thiếu và lạc hậu Chất lượng dạy vàhọc ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn thấp Đội ngũ nhà giáo vàcán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu.”[32, tr.248- 249]

Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là nhiều trường chỉtập trung vào việc dạy tri thức, kỹ năng… mà ít chú trọng giáo dục nhân cách,đạo đức, lối sống lành mạnh, tích cực cho sinh viên Kết quả là môi trườnghọc đường nơi văn hoá đáng được coi trọng lại đang diễn ra thực trạng thiếuvăn hoá Điều này chứng tỏ kết quả giáo dục văn học đường chưa cao, nhận

Trang 4

thức về văn hóa học đường chưa đúng, giáo dục văn hóa học đường trong cáctrường đại học chưa thực sự đạt hiệu quả Ở Việt Nam hiện nay, giáo dục vănhóa học đường là một bộ phận của công tác tư tưởng Định hướng và chuẩnmực của nó phải phù hợp với lý tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuân thủ pháp luật của nhà nước Việt

Nam xã hội chủ nghĩa.

Nâng cao hiệu quả giáo dục văn học đường trong trường đại học là điềukiện để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo và nâng cao chất lượng, đểđào tạo ra những sinh viên có đủ đức, đủ tài đáp ứng yêu cầu ngày càng caocủa sự nghiệp đổi mới và xu thế hội nhập quốc tế nhất là trong điều kiện cuộccách mạng công nghiệp 4.0, của thị trường lao động trong kỷ nguyên số nềnsản xuất của con người đạt đỉnh cao của sự thông minh, với các ứng dụng kỹthuật sáng tạo không ngừng, với nền tảng công nghệ số, với mạng lướiinternet của vạn vật và trí tuệ nhân tạo… Xuất phát từ cơ sở lý luận và thựctiễn, tác giả chọn: Hiệu quả giáo dục văn học đường cho sinh viên các trườngđại học ở Hà Nội hiện nay (qua khảo sát một số trường đại học đào tạo cácngành kỹ thuật) làm đề tài luận án tiến sĩ của mình Kết quả nghiên cứu thànhcông có thể ứng dụng ở nhiều trường đại học đào tạo các khối ngành khácnhau, góp thêm một căn cứ lý luận và thực tiễn vào hệ thống những giải phápthực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quảgiáo dục văn hóa học đường cho sinh viên, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệuquả giáo dục văn hóa học đường, luận án đánh giá thực trạng hiệu quả giáodục văn hóa học đường và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảgiáo dục văn hóa học đường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiệnnay

Trang 5

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả luận án cần hoàn thànhnhững nhiệm vụ:

- Tổng quan và có đánh giá, nhận định về tình hình nghiên cứu có liênquan đến hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên các trường đạihọc

- Làm rõ khái niệm, nội dung, biểu hiện đặc trưng của văn hóa họcđường và giáo dục văn hóa học đường trong trường đại học Xây dựng tiêuchí đánh giá hiệu quả giáo dục văn học đường cho sinh viên ở các trường đạihọc

- Khảo sát thực tế, phân tích thực trạng văn hóa học đường, giáo dụcvăn hóa học đường và hiệu quả giáo dục văn học đường của sinh viên cáctrường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật ở Hà Nội Phát hiện nguyên nhân

và những vấn đề đặt ra trong giáo dục văn hóa học đường và hiệu quả giáodục văn học đường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội

- Xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục vănhóa học đường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu hiệu quả giáo dục văn học đường chosinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay (Khảo sát một số trường đàotạo các kỹ thuật)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu hiệu quả giáo dục văn hóa học đường chosinh viên các trường đại học ở Hà Nội qua khảo sát các trường: Đại học Côngnghiệp Hà Nội, Đại học Thành Đô, Đại học Giao thông vận tải, Đại học Xây

Trang 6

dựng, Đại học Kiến trúc Hà Nội Chủ thể giáo dục VHHĐ cho sinh viên làcác trường đại học, các thiết chế văn hóa xã hội, gia đình, bạn bè… Luận ángiới hạn phạm vi chủ thể giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên là cáctrường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật Chọn trường đại học Xây dựng HàNội, đại học Giao thông vận tải là các trường tốp đầu trong đào tạo các ngành

kỹ thuật (cả lý thuyết và thực hành), trường đại học Kiến trúc Hà nội làtrường đại học đào tạo kỹ thuật liên quan đến nghệ thuật, trường đại Côngnghiệp Hà nội là trường đào tạo đa ngành, đa cấp và đào tạo các ngành kỹthuật theo hướng ứng dụng và thực hành, trường đại học Thành đô là trường

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biệnchứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng tổng hợp các phương phápnghiên cứu khoa học nói chung; các phương pháp của những bộ môn liênquan như Văn hóa học, Quản lý văn hóa - Tư tưởng, Tâm lý học, Giáo dụchọc và Xã hội học… Các phương pháp chính cụ thể là:

- Phương pháp thu thập thông tin, phân tích tài liệu từ các tác phẩmkinh điển, nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định và các công trình khoa học…

Trang 7

cập nhật thông tin chuyên ngành từ các tạp chí chuyên ngành và các phươngtiện truyền thông khác.

- Phương pháp điều tra bằng trưng cầu ý kiến các cán bộ quản lý, cáccán bộ Đoàn thanh niên trong nhà trường, đại diện sinh viên trong các kỳ giaoban Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (anket)

- Phương pháp xử lý thông tin và trình bày kết quả nghiên cứu: phânloại thông tin, hệ thống hóa thông tin, diễn giải, quy nạp, phương pháp phântích và tổng hợp, lôgic và lịch sử; phương pháp so sánh; chứng minh, kháiquát hóa, tổng kết kinh nghiệm và phương pháp chuyên gia…

5 Đóng góp mới của luận án

- Hệ thống hóa các tri thức về văn hóa học đường, chỉ ra rõ hơn vai trò

và nội dung của văn hóa học đường

- Nhận diện những giá trị cốt lõi của văn hóa học đường trong trườngđại học so sánh với thực tiễn từ đó có các kết luận làm sơ sở để xây dựngphương hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đườngcho sinh viên Rút ra những bài học có tính lý luận về giáo dục văn hóa họcđường cho sinh viên đại học, qua đó làm sâu sắc hơn, sinh động hơn công tác

tư tưởng trong trường đại học

- Xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa họcđường cho sinh viên trong các trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật ở HàNội hiện nay Những giải pháp đó có thể mở rộng sử dụng cho các trường đạihọc khác

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của văn học đường cũng như

sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đường, nhằm gópphần nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học, thực hiện mục tiêugiáo dục

Trang 8

- Đề xuất một số phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm nângcao hiệu quả giáo dục văn học đường cho sinh viên của các trường đại học.

- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo và vận dụng trong nghiên cứu

và giảng dạy cho chuyên ngành Công tác tư tưởng nói riêng, ngành Chính trịhọc nói chung và các ngành có liên quan như Triết học, CNXH khoa học, Vănhóa học, Quản lý văn hóa, Quản lý giáo dục… ở hệ thống các học viện, cáctrường đại học và cao đẳng của Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung của luận án được kết cấu thành 4 chương 11 tiết

Trang 9

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Xuất phát từ vai trò của văn hóa học đường và thực trạng xây dựng vănhóa học đường ở Việt Nam, trong những năm qua, đã có nhiều công trìnhnghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài Nâng cao hiệu quảgiáo dục VHHĐ đã thực sự trở thành vấn đề cấp thiết cả trên phương diện lýluận và thực tiễn, nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý, cácnhà khoa học Trong phạm vi bao quát của chúng tôi, có thể khái quát một sốcông trình tiếp cận đề tài theo các hướng:

1.1 Các công trình nghiên cứu về văn hóa học đường và giáo dục văn hóa học đường

1.1.1 Những nghiên cứu về văn hoá và văn hóa học đường

Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ loài người.Cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại, nhận thức của con người về vănhóa, khái niệm văn hóa cũng không ngừng thay đổi và luôn được bổ sungnhững nội dung mới, những cách nhìn mới

Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại giành được sự quan tâm như hiện nay

cả về phương diện lý luận và thực tiễn Điều này càng chứng tỏ vai trò quantrọng của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội Khái niệm “văn hóa”(Cultura) có nguồn gốc từ phương Tây, theo tiếng Latinh có nghĩa là: cày,cấy, vun trồng, làm ruộng, chăm bón, cải thiện, gìn giữ trong sản xuất nôngnghiệp Xét theo nguồn gốc thuật ngữ, văn hóa là khái niệm gắn với lao độngsản xuất, một hoạt động sáng tạo mang bản chất người nhất Về sau thuật ngữvăn hóa được bổ sung thêm những nghĩa mới trừu tượng hơn, nói về tính cóhọc vấn, tính có giáo dục, sự mở mang trí tuệ của con người

Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng đã đi tìm nội dung tích cực và bổsung những nhận thức mới mẻ về văn hóa Thời kỳ này được xem như thời kỳ

Trang 10

phát hiện lại con người Bởi vậy, “văn hóa” được nhìn nhận như lĩnh vực tồntại chân chính của con người, lĩnh vực “tính người” thật sự đối lập với lĩnhvực “tính tự nhiên”, “tính động vật” Văn hóa được xem như sự phát triển củacon người phù hợp với bản chất của nó.

Từ nguyên nghĩa của văn là xăm thân, và nghĩa gốc của văn hóa là nét

xăm mình mà qua đó người khác nhìn vào để nhận ra mình Theo cách triết tựHán Việt (bộ Từ Hải năm 1989), văn có nghĩa là “vẻ đẹp” (= có giá trị), hóa

là “trở thành”, là “giáo dục” Như vậy, văn hóa có nghĩa là trở thành đẹp, giáodục đẹp, thành có giá trị Sau này, văn hóa thường được dùng với nghĩa: cáichứa cái đẹp, chứa các giá trị, là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và conngười

Theo quan điểm của C Mác, văn hóa gắn liền với sức sáng tạo và nănglực bản chất của con người Sự sáng tạo đó bao giờ cũng bắt đầu từ lao động.Lao động sáng tạo ra con người và xã hội loài người, làm cho con người ngàycàng trở thành thật sự người Vì vậy, văn hóa là năng lực tạo nên sáng tạo, là

sự phát triển những năng lực bản chất của con người V.I Lênin khi bàn vềvăn hóa cho rằng, nó là tổng thể các dạng hoạt động sáng tạo của con người

và tất cả giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trìnhlịch sử của chính mình Theo đó, có thể hiểu văn hóa là “thiên nhiên thứ hai”được “nhân hóa” qua thực tiễn của con người [36, tr.27, 90]

Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quátrình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và

sản xuất tinh thần Theo nghĩa này, tại “Mục đọc sách” viết xen tập “Nhật ký trong tù” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công

cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp

Trang 11

mọi phương thức sinh hoạt cùng sự biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [82, tr 431]

F.Gonzles quan niệm văn hóa bao gồm các giá trị, quan niệm, thái độ,hành vi và các mối quan hệ tạo nên ý nghĩa, niềm tin và sự thống nhất củamột nhóm người [138]

Tiếp cận văn hóa dưới góc độ tổ chức, Ehlers (2009) tổng hợp các tácgiả và cách tiếp cận văn hóa

hòa hợp với bên trong

Giá trị, sự việc hữu hình,

Quy tắc và giá trị, quanđiểm và thái độ, hiện thực

và huyền thoại, cách nghĩ,thói quen, ngôn ngữ,mong đợi của tập thể.Gareth

Mogan

(2002)

Văn hóa là một hiện tượng của tập thể

và xã hội liên quan đến các ý tưởng, giátrị và ảnh hưởng đến hoạt động của mộtnhóm người mà họ không nhận thấy rõ

Giá trị, kiến thức, niềmtin, chuẩn mực, lễ nghi

Bảng 1 Cách tiếp cận khác nhau về văn hóa [137, tr.343-363]

Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm xuất phát từ lý thuyết hệthống, trình bày mô hình văn hóa gồm ba thành tố cơ bản:

Trang 12

Văn hóa nhận thức: Mỗi nền văn hóa đều là tài sản của một cộng đồngngười nhất định - một chủ thể văn hóa Trong quá trình tồn tại và phát triển,cộng đồng người - chủ thể văn hóa đó luôn có nhu cầu tìm hiểu, tích lũy đượcmột lượng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và bản thân con người

- đó chính là văn hóa nhận thức

Văn hóa tổ chức: Là những giá trị văn hóa tổ chức của cộng đồng nhưvăn hóa tổ chức đời sống tập thể (những vấn đề liên quan đến tổ chức sảnxuất trong một quy mô rộng lớn như tổ chức nông thôn, đô thị, quốc gia) vàvăn hóa tổ chức đời sống cá nhân (những vấn đề liên quan đến đời sống củamỗi con người như tín ngưỡng, phong tục, tập quán, đạo đức, văn hóa giaotiếp, nghệ thuật )

Văn hóa ứng xử (đối với tự nhiên và đối với xã hội): Cộng đồng người

- chủ thể văn hóa - tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường - môi trường

tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu v.v) và môi trường xã hội (hiểu ở đây là các xãhội, dân tộc, quốc gia) Do đó có văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên vàvăn hóa ứng xử với môi trường xã hội [107, tr.28-29]

Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor khái quát khái niệm văn hóa,cho rằng: “Văn hóa là tổng số sống động các hoạt động sáng tạo trong quákhứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một

hệ thống các giá trị, truyền thống và thị hiếu những yếu tố xác định đặc tínhriêng của mỗi dân tộc” (Tạp chí Người đưa tin UNESCO, Tháng 11-1989, tr.5)

Tổng hợp các định nghĩa trên, cho thấy văn hóa bao gồm các nội dungsau:

- Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạora

Trang 13

- Văn hóa là hoạt động của con người, yếu tố quyết định sự hình thành

và phát triển của văn hóa

- Văn hóa là sự thể hiện trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗicộng đồng người, mỗi dân tộc

Văn hóa là sản phẩm của hoạt động người, là kết quả sáng tạo ra củanhiều thế hệ nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần khôngngừng tăng lên của con người Văn hóa bao gồm các giá trị văn hóa và hoạtđộng sáng tạo ra những giá trị đó Khi tạo ra thế giới văn hóa, con ngườikhông chỉ làm biến đổi những điều kiện khách quan, mà còn làm biến đổichính bản thân con người, phát triển những năng lực tiềm tàng trong bản thânmình Không chỉ có vậy, con người còn có khả năng tự đánh giá trình độ pháttriển của bản thân mình thông qua các sản phẩm do chính mình tạo ra Bởi vìtrong quá trình hoạt động con người đã đối tượng hóa bản thân mình vào cácgiá trị ấy Mỗi giá trị văn hóa đều hàm chứa trong bản thân nó năng lực trítuệ, tinh thần, cảm xúc, những lực lượng vật chất nhất định

Văn hóa là khái niệm phức tạp, cách nhìn nhận về cấu trúc của văn hóacũng phong phú và đa dạng Từ hướng tiếp cận của triết học, xem văn hóanhư cái được sinh ra từ sự tồn tại của con người trong hoạt động thực tiễn,con người là chủ thể hoạt động và điểm khởi đầu của văn hóa, nhà triết họcM.S Kagan [63, tr.188-208] đã mô tả cấu trúc của văn hóa như “vòng xoắnchập ba” (3 thành tố) gồm có: hoạt động mang tính vật thể của con người là

cơ sở của văn hóa; sự giao tiếp của con người diễn ra ở bình diện không gianvăn hóa và thời gian văn hóa xã hội và sự sáng tạo nghệ thuật, một phươngthức để nhân đôi đời sống hiện thực của con người, tạo nên một đời sống ảo

và qua “ảo” để hiểu hiện thực sâu sắc hơn

Cũng có thể xem xét văn hóa với cấu trúc gồm văn hóa sinh hoạt vậtchất, văn hóa sinh hoạt tinh thần Hoặc xem xét dưới góc độ văn hóa sản xuất,văn hóa tiêu dùng Văn hóa nếu tiếp cận từ những lĩnh vực cụ thể, sẽ có văn

Trang 14

hóa doanh nghiệp, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa nghệ thuật,văn hóa công sở, văn hóa trang phục, văn hóa học đường, văn hóa giao thông,

… Dù được diễn đạt theo cách nào nó cũng có nội dung chung: văn hóa là sựphát triển những năng lực bản chất của con người hướng tới các giá trị nhânvăn Mỗi một hình thức cộng đồng người, cộng đồng xã hội có một mô thứcvăn hóa riêng Trường đại học là một thiết chế xã hội, vì vậy việc hình thànhvăn hóa riêng để góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo, sứ mệnh của mình làmột tất yếu khách quan

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm đến vấn đề văn hóa Điềunày thể hiện trong mỗi kỳ đại hội đều có phần xác định đường hướng pháttriển văn hóa Thậm chí Đảng còn ra cả một Nghị quyết Trung ương về xâydựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bàn sắc dân tộc Ở đó nhấnmạnh: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là độnglực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [24, tr 55] Nghị quyết tập trungvào những lĩnh vực lớn: tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, giáodục, khoa học, văn học nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa với

thế giới, các thể chế và thiết chế văn hóa… và khái quát: “Văn hóa Việt Nam

là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựngnước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu vàtiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiệnmình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh ViệtNam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”.[24, tr 40]

Sau hơn 15 năm, từ năm 1998 đến năm 2014, nhận thức về văn hóa vàvai trò của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

đã phát triển thêm một bước dài Trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI,Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó có 2 quan

Trang 15

điểm phát triển, bổ sung rất sâu sắc Đây là bước phát triển mới trong tư duy

lý luận về văn hóa:

Một là, Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xâydựng con người để phát triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm làchăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính

cơ bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết cần cù, sáng tạo

và quan điểm: xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vaitrò của gia đình, cộng đồng

Hai là, Phát triển hài hòa kinh tế và văn hóa, cần chú ý đầy đủ đến yếu

tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế

Khi nghiên cứu văn hóa, giới chuyên môn đã sử dụng phạm trù “môitrường văn hóa” để thể hiện mối quan hệ giữa con người và văn hóa

Trong cuốn “Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin” (1981, Nxb Văn hóa,tr.75) các tác giả quan niệm: “Môi trường văn hóa là một tổng thể ổn địnhnhững yếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau.Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hóa, tới nhucầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ Môi trường văn hóakhông chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hóa vật thể mà còn có những conngười hiện diện văn hóa”

Huỳnh Khái Vinh trong tác phẩm “Những vấn đề văn hoá Việt Namđương đại” nhấn mạnh: “Với tính chất là tổng thể (các hoạt động và sinh hoạtcủa con người và các giá trị vật chất tinh thần cũng như điều kiện và cơ chếvận hành các hoạt động và giá trị vật chất ấy), môi trường văn hóa luôn luôncan thiệp và quy định các hoạt động sống, cách thức sống và cả lẽ sống củacon người Cái cốt lõi tạo nên khuôn mẫu và chiều hướng vận động của môitrường văn hóa là chuẩn mực giá trị xã hội” [128, tr 382]

Trang 16

Từ góc nhìn giá trị học, tác giả Đỗ Huy trong “Xây dựng môi trườngvăn hóa ở nước ta hiện nay - Từ góc nhìn giá trị học” nhấn mạnh vai trò củacon người khi đưa ra định nghĩa: “Môi trường văn hóa chính là sự vận độngcủa các quan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá,lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình” [59, tr 35]

Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định 129 ngày 2/8/2007 về Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan nhà nước Quyết định này có thể được

xem như căn cứ xây dựng và thực hiện VHHĐ như một loại hình văn hoácộng đồng cần được đặc biệt quan tâm

Thuật ngữ VHHĐ hay văn hóa trường học bắt đầu xuất hiện tại cácnước nói tiếng Anh vào những năm 1990 Một số nước như Mỹ, Úc đã cótrung tâm nghiên cứu, khảo sát thực tiễn và đánh giá vấn đề này Từ điểnTiếng Anh định nghĩa văn hóa trường học : school culture can be defined as

the guiding beliefs and values evident in the way a school operates (Văn hóa trường học có thể được định nghĩa là niềm tin hướng dẫn do những giá trị rõ ràng trong cách một trường hoạt động) hay “school culture” can be used to

encompass all the attitudes, expected behavior and values that impact how the

school operates (Văn hóa trường học có thể được sử dụng bao gồm tất cả những thái độ, hành vi mong đợi và những giá trị tác động đến cách hoạt động của trường) Dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng đều thống nhất mỗi

trường học ngoài là tấm gương phản chiếu những giá trị văn hóa, sự phát triểnchung của cộng đồng đều có những nét văn hóa riêng độc đáo tác động đếnhoạt động của nhà trường

Nghiên cứu của GS Peter Smith Đại học Sunderlans cho thấy VHHĐảnh hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng và hiệu quả hoạt động của mộtnhà trường Các lý do cần phải nuôi dưỡng vun trồng VHHĐ tích cực, lànhmạnh có thể tóm tắt như sau:

Trang 17

-Sự phát triển của học sinh chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường vănhóa - xã hội mà họ lớn lên

- Văn hóa học đường lành mạnh giảm bớt sự không hài lòng của giáoviên và giúp giảm thiểu hành vi cử chỉ không lịch sự của học sinh

- Văn hóa học đường tạo ra môi trường thuận lợi hỗ trợ việc dạy vàhọc, khuyến khích GV và học sinh nỗ lực trong rèn luyện, học tập đạt thànhtích mong đợi

Tổng hợp các quan niệm về VHHĐ của các học giả nước ngoài đã làmnổi bật vị trí, vai trò của VHHĐ đối với sự duy trì và phát triển của trườnghọc Họ đều khẳng định văn hóa là tài sản của tổ chức trường học, nó luôn chiphối trực tiếp đến sự phát triển và tiến bộ của nhà trường cũng như nét đặcsắc riêng của từng trường

Ở Việt nam thuật ngữ VHHĐ được sử dụng chưa lâu nhưng nội dungcủa VHHĐ trong các nhà trường ở Việt Nam từ xa xưa đã có và trở thành cáctruyền thống quý báu của dân tộc ta như: tôn sư trọng đạo, kính thầy yêu bạn,nhất tự vi sư bán tự vi sư, kính trên nhường dưới, Nhiều thập kỷ qua, cácnhà trường ở tất cả các cấp học đều liên tục cố gắng phấn đấu để “thầy rathầy, trò ra trò, trường ra trường” với mục tiêu giáo dục nhân cách cho họcsinh, sinh viên, xây dựng trường học lành mạnh Văn hóa học đường trở thànhmối quan tâm đặc biệt của các nhà lý luận, và tùy góc độ tiếp cận, VHHĐđược thể hiện với những nội dung khác nhau:

Phạm Thị Kim Anh trong bài viết Văn hóa học đường – một góc nhìn

từ thực tiễn đăng trên tạp chí Dạy và học ngày nay số 10-2007 có một cáchnhìn và cách tiếp cận độc đáo về VHHĐ Theo tác giả, VHHĐ bao gồm 4 yếu

tố cụ thể là văn hóa ứng xử, văn hóa dạy, văn hóa học, văn hóa thi cử

Trang 18

Trên tạp chí Tâm lý học số 10 (10 - 2008) tác giả Đào Thị Oanh chorằng: VHHĐ là giá trị cần có của một nhà trường Văn hóa học đường là mộtcấu trúc gồm 3 thành tố có sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau là:

- Hệ thống thái độ và niềm tin của những cá nhân trong nhà trường

- Hệ thống các chuẩn mực văn hoá của nhà trường

- Hệ thống các mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, thành viên bêntrong trường với nhau, giữa các cá nhân của trường với cộng đồng

Trên mục “Bàn tròn văn hóa”, báo Lao động số 117 ra ngày 26 tháng 5năm 2008, các tác giả khẳng định “Xây dựng văn hóa học đường có ý nghĩaquyết định chất lượng đào tạo của các trường đại học”, VHHĐ được nhìnnhận trên 2 khía cạnh là khung cảnh sư phạm bao gồm vị trí xây dựng trườnghọc, cơ sở vật chất… và môi trường sư phạm với nội hàm phong cách giaotiếp trong nhà trường giữa thầy với trò, thầy với thầy, trò với trò

Trên tạp chí Tuyên giáo tháng 11-2009, nhà nghiên cứu Phạm MinhHạc cho rằng VHHĐ Việt Nam cần đảm bảo 3 yếu tố: cơ sở vật chất đảmbảo, môi trường giáo dục tốt và văn hóa ứng xử, giao tiếp chuẩn mực (TCTuyên giáo, tháng 11 năm 2009, tr.41) Tác giả Phạm Ngọc Trung sau khikhảo cứu các quan niệm đã được xã hội hóa và đúc rút qua thực tiễn giảngdạy, định nghĩa: “Văn hoá học đường là hệ thống những giá trị vật chất vàtinh thần được hình thành và tích luỹ trong lịch sử bao gồm những suy nghĩ,quan niệm thói quen, tập quán, tư tưởng, luật pháp nhằm thiết lập mối quan

hệ giữa thầy, trò và các thành viên có liên quan để việc dạy và học đạt kết quảcao” [116, tr 51]

Phạm Văn Khanh quan niệm trường học là một tổ chức, vì vậy xem vănhóa học đường là văn hóa tổ chức - một tổ chức sau khi được hình thành, tồntại và phát triển thì tự khắc nó sẽ dần dần hình thành nên những nề nếp, chuẩnmực, lễ nghi, niềm tin và giá trị Đó là sợi dây vô hình gắn kết các thành viên

Trang 19

trong tổ chức lại với nhau cùng phấn đấu cho những giá trị chung của tổ chức.

Đó là nghi lễ, đồng phục, không khí học tập trật tự, sinh hoạt nề nếp, đi họcđúng giờ, tôn trọng luật giao thông…Có thể nói, văn hóa tổ chức là yếu tố cơbản trong văn hóa học đường, nó hiện diện trong khắp các hoạt động của nhàtrường [Bài phát biểu tại hội thảo khoa học toàn quốc “Tâm lý học và vấn đềcải thiện môi trường giáo dục hiện nay” tại Cần Thơ ngày 13-7-2013]

Cùng xuất phát từ góc độ tổ chức, Phạm Thị Hường đưa ra khái niệmvăn hóa nhà trường (VHHĐ): “Văn hoá nhà trường là hệ thống niềm tin, giátrị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triểncủa nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo vàđược thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắcriêng cho mỗi tổ chức sư phạm”

Trịnh Ngọc Toàn quan niệm văn hóa nhà trường (VHHĐ) là một tậphợp các giá trị, niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực cơ bản được các thành viêntrong nhà trường cùng chia sẻ và tạo nên bản sắc của nhà trường đó Căn cứtheo hình thức biểu hiện thì văn hóa nhà trường gồm phần nổi có thể nhìnthấy như: không gian cảnh quan nhà trường, lôgô, khẩu hiệu, hành vi giaotiếp và phần chìm không quan sát trực tiếp được như: niềm tin, cảm xúc,thái độ

Về góc độ tổ chức, văn hóa nhà trường được coi như một mẫu thức cơbản, tạo ra một môi trường quản lý ổn định, giúp cho nhà trường thích nghivới môi trường bên ngoài, tạo ra sự hoà hợp môi trường bên trong Một tổchức có nền văn hóa mạnh sẽ hội tụ được cái tốt, cái đẹp cho xã hội văn hóanhà trường sẽ giúp cho nhà trường thực sự trở thành một trung tâm văn hóagiáo dục, là nơi hội tụ sức mạnh của trí tuệ và lòng nhân ái trong xã hội, gópphần quan trọng tạo nên sản phẩm giáo dục toàn diện

Nhìn chung các tác giả, các nhà khoa học dù cách, góc độ tiếp cận khác

nhau nhưng đều thống nhất với nhau: thứ nhất, VHHĐ liên quan đến toàn bộ

Trang 20

hoạt động vật chất, tinh thần của một nhà trường; thứ hai, VHHĐ biểu hiện

trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lý giáo dục, mục tiêu, các giá trị,phong cách lãnh đạo, quản lý bầu không khí tâm lý; thứ ba, nó thể hiệnthành hệ thống các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử đượcxem là tốt đẹp và được mỗi người trong nhà trường chấp nhận; thứ tư, VHHĐ

có vai trò quan trọng góp phần nâng câo chất lượng đào tạo của nhà trường,góp phần tích cực trong quá trình hoàn thiện, phát triển nhân cách con ngườitheo hướng Chân, Thiện, Mỹ

Nghiên cứu khái niệm VHHĐ còn có các quan niệm môi trường vănhóa học đường, môi trường sư phạm

Hồ Sĩ Lộc trong “Xây dựng văn hóa học đường trong một số trường đạihọc ở Hà Nội hiện nay” (Đề tài cấp bộ 2011, mã số B.11-20) quan niệm: Môitrường văn hóa học đường đại học là tổng hòa các mối quan hệ (mang tínhvăn hóa) giữa các cá nhân (giảng viên, sinh viên, cán bộ, công nhân viên) vàcác tổ chức thành viên (khoa, phòng, ban, viện, trung tâm, lớp học) trong nhàtrường trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần trong một thời gian xácđịnh thuộc phạm vi không gian trường đại học đó nhằm hướng tới mục tiêuđào tạo được những cá nhân có trình độ chuyên môn vững vàng, có đạo đứcnghề nghiệp, khỏe mạnh về thể chất và phong phú về đời sống tinh thần đápứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động và tham gia đóng góp vào

sự nghiệp đổi mới đất nước

Liên quan đến việc xây dựng văn hóa học đường, Bộ trưởng Bộ Giáodục và đào tạo đã ra chỉ thị số 40/CT-BGD&ĐT về việc phát động phong tràothi đua “Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực” trong các trườngphổ thông giai đoạn 2008-2013 Bộ Giáo dục và Đào tạo có Kế hoạch số 307/KH- BGD&ĐT ngày 22/07/2008 nhằm triển khai chỉ thị nói trên Đây là nộidung văn hóa học đường trong các trường phổ thông, song nó là cơ sở quantrọng để tiếp cận nội dung VHHĐ trong hệ thống giáo dục nói chung và các

Trang 21

trường đại học nói riêng Nội dung cụ thể của phong trào thi đua “Xây dựngtrường học thân thiện - học sinh tích cực” gồm:

- Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn

- Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinhgiúp các em tự tin trong học tập

- Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

- Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh

- Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tíchlịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương: Nhận chăm sóc và phát huy giá trịcác di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương Thực hiện lồng ghépvới các môn học để giáo dục truyền thống văn hoá dân tộc, tinh thần cáchmạng một cách có hiệu quả nhất cho tất cả học sinh

Như vậy, dù còn nhiều ý kiến khác nhau, dù bàn về các cấp độ và phạm

vi khác nhau nhưng các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục đều thốngnhất: mỗi trường học cần có VHHĐ của mình Văn hóa học đường là các hệthống chuẩn mực, giá trị giúp cán bộ quản lý nhà trường, thầy cô giáo, phụhuynh, học sinh, sinh viên có cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp

Các nhà khoa học không chỉ nghiên cứu về văn hóa học đường mà cònnghiên cứu về vai trò, thực trạng của văn hóa học đường, nhận thức rõ vai tròquan trọng của VHHĐ đối với sự phát triển của các trường đại học nói riêng,giáo dục đào tạo nói chung Có nhiều hội thảo khoa học, không ít các côngtrình đề cập đến vai trò của VHHĐ dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìnchung đều khẳng định vai trò của VHHĐ là yếu tố quan trọng để nâng caochất lượng giáo dục, thậm chí được coi là yếu tố quyết định chất lượng trongmục tiêu giáo dục của nhà trường

Trang 22

Viện Nghiên cứu sư phạm trong đề tài cơ sở “Văn hóa học đường- yếu

tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục” [125] xem VHHĐ là yếu tốquan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục

Tác giả Trương Lưu trong tác phẩm “Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội”, [79] cho rằng: thông qua VHHĐ, sinh viên và thầy giáo nhận ra điểm

mạnh và điểm yếu của chính mình từ đó định hướng và hoàn thiện nhân cách,

kỹ năng cho phù hợp với yêu cầu của xã hội Phạm Minh Hạc và Hồ Sĩ Quýtrong bài viết “Nghiên cứu con người, đối tượng và những hướng chủ yếu”,

Niên giám nghiên cứu số 1 (Nxb Khoa học xã hội, 2002) cũng cho rằng: xây

dựng VHHĐ tạo điều kiện để đưa tiêu chí chân, thiện, mỹ vào trong trườngđại học

Kinh nghiệm Singapore là một nước có nền giáo dục được xem là toàndiện và phát triển nhất Đông Nam Á VHHĐ (văn hóa trường học) ởSingapore được chú trọng xây dựng Mỗi trường đều có logo, biểu tượng vàkhẩu hiệu hành động rõ ràng Các vấn đề về nghi thức, trang phục cũng đượcquan tâm Vấn đề hợp tác, xây dựng nhà trường thành tổ chức học tập là mộttrong những điểm cốt lõi trong định hình VHHĐ ở quốc gia này Bên cạnhtrang bị cho học sinh các kiến thức và kỹ năng cần thiết trong chương trìnhchính khoá, các trường học của Singapore cũng có rất nhiều hình thức tổ chứchoạt động ngoại khoá lành mạnh và bổ ích, qua đó xây dựng tinh thần đoànkết, hợp tác, thân thiện giữa các học sinh

Sự thành công của hệ thống giáo dục Phần Lan được xây dựng trên ýtưởng học ít hiểu nhiều Các học sinh được học trong một không khí thoải mái

và thân mật Các trường học ở đây cởi mở, không chịu sự gò ép về chính trị Với sự kết hợp này, người Phần Lan tin rằng không có trẻ em nào bị bỏ lại

phía sau

Từ những công trình khoa học đã phân tích dễ dàng nhận thấy có nhiềucách tiếp cận VHHĐ nên có nhiều định nghĩa khác nhau Tùy theo mục đích,

Trang 23

các nhà nghiên cứu có thể nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác Có ýkiến khẳng định VHHĐ là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các lễnghi và nghi thức, các biểu tượng và truyền thống tạo ra “vẻ bề ngoài” củatrường học Ý kiến khác cho rằng: VHHĐ là một cấu trúc, một quá trình, làcác giá trị và chuẩn mực dẫn dắt giảng viên và sinh viên đến việc giảng dạy

và học tập có hiệu quả Khuynh hướng thứ 3 tiếp cận VHHĐ đưa ra quanđiểm về sự vận động, khẳng định văn hóa nhà trường không phải là một thựcthể tĩnh Nó luôn được hình thành và định hình thông qua các tương tác vớingười khác và thông qua những hành động đáp lại trong cuộc sống nói chung.Văn hoá học đường phát triển ngay khi các thành viên tương tác với nhau,thầy với thầy, trò với trò, nhà trường với xã hội, cá nhân với cộng đồng Nótrở thành chỉ dẫn cho hành vi giữa các thành viên của nhà trường Theo đó,VHHĐ có các chức năng biểu tượng, chức năng xây dựng, chức năng hướngdẫn và chức năng gây cảm xúc Nếu các chức năng ấy của VHHĐ được làmtốt, mỗi thành viên trong các trường học sẽ vừa thấm nhuần, gìn giữ các giátrị văn hóa truyền thống và những phẩm giá quý báu của dân tộc: như tinhthần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực, tự cường, đoàn kết vì đại nghĩa;tính trung thực, cần cù sáng tạo trong mọi hoạt động; sự hiếu học và tôn sưtrọng đạo…vừa đầy đặn lòng nhân ái, tình cảm vị tha và khoan dung; tínhtrung thực, cần cù sáng tạo trong mọi hoạt động; có hành động và thái độ rõràng đối với những hiện tượng phản văn hóa

Trong môi trường học đường, văn hóa được chia làm 2 nội dung là vănhóa vật chất biểu hiện qua cơ sở vật chất nhà trường, khuôn viên trường vàvăn hóa tinh thần như tinh thần dân chủ, giao tiếp, ứng xử Như vậy, có thểhiểu VHHĐ là toàn bộ yếu tố vật chất (giảng đường, phòng thí nghiệm,xưởng thực hành, không gian, cảnh quan) đảm bảo tính thẩm mỹ, giáo dục,góp phần tạo nên môi trường và phương tiện giáo dục tốt nhất; nội quy, quychế của nhà trường phù hợp với chuẩn mực văn hóa chung của xã hội, phùhợp với nội quy, quy định của môi trường học đường đảm bảo cho các hoạt

Trang 24

động trong trường học diễn ra lành mạnh, đạt mục tiêu giáo dục là đào tạonhững con người toàn diện, có đủ đức, trí, mỹ, thể, có tri thức và có hoài bãokhát vọng vươn lên.

Xây dựng VHHĐ và giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên là một côngviệc vô cùng quan trọng góp phần tạo nên những thành công lớn trong sự

nghiệp giáo dục cho các trường đại học Một số nhà khoa học tuy có đề cập

đến xây dựng môi trường VHHĐ ở nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chung

đó là những vấn đề mang tính tổng hợp và lý luận, chưa có nhiều công trìnhthực sự đi sâu vào nghiên cứu VHHĐ trong trường đại học Theo đó tiêu chíxây dựng VHHĐ trong trường đại học tuy có được gợi mở nhưng lại chưađược xem xét một cách toàn diện với tư cách là một đối tượng nghiên cứu củacông trình khoa học

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục và giáo dục văn hóa học đường

Giáo dục với tư cách là một ngành khoa học không thể tách rời nhữngtruyền thống giáo dục từng tồn tại trước đó Trong xã hội, người đi trước,người có kiến thức, kỹ năng giáo dục thế hệ tiếp theo, người chưa biết những

kiến thức và kỹ năng cần thiết Mức độ sâu sắc và quảng bác của hiểu biết

con người được bảo tồn và trao truyền ngày càng gia tăng Sự phát triển vănhóa và sự tiến hóa của loài người, phụ thuộc vào lề lối trao truyền hiểu biết vàkinh nghiệm… Khi các nền văn hóa lan tỏa rộng ra, việc trao truyền kỹ nănggiao tiếp, đổi chác, kiếm ăn, thực hành tôn giáo,… theo phương thức kinhnghiệm giảm đi và việc giáo dục có tổ chức, theo chương trình, có mục đíchtrở lên phổ biến Giáo dục là một quá trình dạy và học nhằm chuẩn bị nhữngkiến thức và kỹ năng cần thiết hoặc làm thay đổi hành vi có hại bằng hành vi

có lợi Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều qua đó người dạy vàngười học cùng chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau

Trang 25

Về môi trường giáo dục, theo “Từ điển giáo dục học” (Bùi Hiển,Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Nxb Từ điểnbách khoa, HN, tr 264) là “Tập hợp những không gian, những hoạt động xãhội và cá nhân, những phương tiện về giao lưu, những quá trình, phối hợp lạivới nhau và tạo điều kiện thuận lợi để đạt những kết quả giáo dục có hiệu quảnhất” Liên quan đến khái niệm môi trường giáo dục còn có khái niệm môitrường nhà trường: “Môi trường nhà trường, là tập hợp những con người,những cơ sở vật chất, kỹ thuật và những phương tiện, thiết chế tổ chức quản

lý, tương tác lẫn nhau một cách thường xuyên, nhằm mục đích tạo điều kiệnthuận lợi cho sự thành công của việc học ở nhà trường” Môi trường nhàtrường là nơi hoạt động giáo dục có chủ đích, có kế hoạch của quốc gia, ảnhhưởng trực tiếp đến người học

Trong giáo trình Giáo dục học, tập 1 [91], các tác giả đã đưa ra nhữngvấn đề chung về giáo dục như: làm rõ các quan niệm vai trò của giáo dụctrong việc hình thành nhân cách con người theo lứa tuổi cũng như vai trò củagiáo dục đối với sự phát triền xã hội Kết quả của quá trình giáo dục gắn vớiquá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của đối tượng theomục đích của chủ thể giáo dục và được xã hội chấp nhận

Nhân cách là nội dung quan trọng của quá trình giáo dục đã được nhiềunhà khoa học quan tâm như: Chủ nghĩa xã hội và nhân cách, của tập thể cácnhà khoa học Liên Xô (Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, 1983) Các tác giả

đã nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến sự hình thành và phát triển nhâncách trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

Trong cuốn sách Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cáchsinh viên, tác giả Hoàng Anh [2] đã làm rõ tầm quan trọng của hoạt động giáodục đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên

Trang 26

Các giá trị văn hóa tinh thần là một trong những nhân tố tác động đếnquá trình hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức trong điều kiện kinh tếthị trường hiện nay ở Việt Nam Vấn đề này được nhiều tác giả nghiên cứu:

- Hoàng Đức Nhuận, “Kết quả điều tra về vai trò của nhà trường trongviệc hình thành và phát triển con người Việt Nam” (Đề tài KX-08, Hà Nội,1995)

- Nguyễn Thế Kiệt, “Quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc địnhhướng các giá trị đạo đức hiện nay" (Tạp chí Triết học, số 6/1996);

- Hoàng Chí Bảo: "Văn hóa và sự phát triển nhân cách của thanh niên"(Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 1/1997);

- Lê Thị Thủy, "Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cáchcủa con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay" (Luận án tiến sĩTriết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000) vớithông điệp giáo dục nghề nghiệp phải gắn liền với giáo dục văn hóa, đạo đứclối sống và phải được thể hiện ngay trong cấu trúc, chương trình đào tạo,trong từng môn học

- Trần Sĩ Phán, “Giáo dục đạo đức đối với việc hình thành và phát triểnnhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (Luận án tiến sĩ Triếthọc, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999), v.v…

Các công trình kể trên đã đề cập nhiều đến việc giáo dục văn hóa nóichung, văn hóa dân tộc với các khía cạnh: quá trình hình thành và phát triển;vai trò, tác dụng của nó trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trongcông cuộc xây dựng đất nước; những nội dung, khía cạnh cơ bản của văn hóanói chung và văn hóa dân tộc; những biểu hiện văn hóa trong các lĩnh vựckhác nhau của đời sống xã hội

Nghiên cứu về văn hóa học đường và giáo dục VHHĐ là hướng đi củamột số công trình khoa học

Trang 27

Ở nước ngoài, từ lâu các học giả cũng tỏ ra quan tâm đến việc xây dựngchiến lược nhằm thúc đẩy công cuộc GDVHHĐ Trong cuốn sách Văn hoáhọc đường là gì? (Deal, T & Peterson, K.(2009)) các tác giả đã bàn đến chiếnlược xây dựng văn hoá học đường (Mạng Google, 10-1-2009) Ở Mỹ, Úc, cáctrung tâm nghiên cứu đã tổ chức khảo sát thực tiễn, đã tiến hành đánh giá vaitrò của VHHĐ (văn hóa trường học) đối với sự phát triển của giáo dục Mặc

dù tư liệu không nhiều nhưng tất cả các tác giả đều nhất trí rằng mỗi trườngcần có văn hoá học đường của mình; thực tiễn đã chứng minh tác dụng tíchcực của văn hoá học đường, chống lại văn hoá độc hại, tiêu cực; mục tiêuchung nhất của văn hoá học đường là xây dựng trường học lành mạnh tạođiều kiện thuận lợi cho đảm bảo chất lượng đào tạo cũng như danh tiếng củacác trường

Xác định tầm quan trọng của GDVHHĐ và sự cần thiết phải xây dựngVHHĐ, các nhà khoa học đã nghiên cứu nội dung cơ bản của VHHĐ và thựctrạng giáo dục VHHĐ trong các trường đại học Việt Nam

- Trong chuyên khảo Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, do Nguyễn Viết Chức chủ biên [16], các tác giả cho rằng ở các

trường đại học, nội dung cơ bản của xây dựng VHHĐ là: giáo dục nếp sốngvăn hóa lành mạnh cho sinh viên và xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữathầy với thầy, thầy với trò, trò với trò, giữa thầy, trò với cán bộ công nhânviên

- Viện nghiên cứu Thanh niên, Trung tâm phát triển khoa học công

nghệ tài năng trẻ trong tập chuyên luận Thế hệ trẻ Việt Nam - Nghiên cứu lý luận và thực tiễn, [124] đã nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cấp, cải tạo cơ

sở vật chất trong trường đại học là để đáp ứng nhiệm vụ giáo dục và đào tạođạt chất lượng cao

Trang 28

-Phạm Minh Hạc trong tác phẩm Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI [42] nhấn mạnh giáo dục nếp sống văn hóa cho sinh viên trong học

tập, sinh hoạt, văn hóa, tiêu dùng và trong ứng xử giữ vai trò quan trọng

“Văn hóa học đường đang bị xuống cấp” là nhận xét của đông đảo nhândân và các nhà khoa học Điều này được thể hiện trong các bài viết:

- “Báo động văn hoá học đường xuống cấp”, Báo Lao động, ngày13/12/2009;

- Hồng Đức, “Thực trạng văn hoá học đường”, Bản tin ĐHQG Hà Nội

- Phạm Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục, Nxb Giáo dục;

- Viện Nghiên cứu sư phạm Trường Đại học sư phạm Hà Nội tổ chứcHội thảo khoa học (9-2007) chuyên đề: Xây dựng văn hoá học đường - Giảipháp nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường

Khía cạnh ứng xử trong VHHĐ là nội dung nhận được nhiều sự quantâm của các nhà khoa học:

- Nguyễn Thanh Tuấn trong sách Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay

(Nxb Từ điển bách khoa và Viện Văn hóa HN, 2008) [113] cho rằng kháiniệm lối sống hay văn hóa lối sống tương đương với văn hóa ứng xử Lốisống là cách ứng xử của con người với môi trường sống, gồm môi trường tựnhiên và môi trường xã hội

- Nguyễn Tiến Thông trong chuyên luận Một số vấn đề giao tiếp [110]

cho rằng văn hóa ứng xử là tổng hòa những dạng hoạt động sống ổn định của

Trang 29

con người được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó trong sự thốngnhất với các điều kiện một hình thái xã hội nhất định.

- Mạc Văn Trang trong đề tài Nghiên cứu đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên

- đề tài nghiên cứu cấp Bộ, B94-38-32, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục,

HN, 1995 đã nghiên cứu đặc điểm lối sống sinh viên Tác giả cho rằng, conđường để nắm bắt nội dung và phạm vi của văn hóa ứng xử là tìm hiểu cáchành động xã hội và các khuôn mẫu ứng xử

- Quốc Việt trong bài viết “Văn hóa giao tiếp học đường: Thầy và trò

chưa là bạn của nhau” (Báo Thanh Niên ngày 15/08/2009) đã phân tích kỹ vị

trí, vai trò của văn hóa giao tiếp trong trường học Tác giả cho rằng trongquan hệ giao tiếp giữa thầy và trò cần phải bảo đảm chuẩn mực thầy ra thầy,trò ra trò, không nên xóa bỏ ranh giới giữa thầy và trò

- Nguyễn Đức Minh trong Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng Hà Nội [85] cho rằng: Để nâng

cao chất lượng công tác sinh viên cần tập trung vào giáo dục thể chất, ý thứctrong học tập, rèn luyện, quan hệ ứng xử với giảng viên, sinh viên, cán bộcông nhân viên phải đúng mực theo đúng giá trị đạo đức

- Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang trong Giá trị định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị (Chương trình khoa học, công

nghệ cấp Nhà nước KX-07-04, HN 1995) [122] đã đưa ra hàng loạt giá trịchuẩn mực đạo đức trong nhà trường, coi đó là khuôn mẫu để áp dụng chocác trường đại học khi triển khai GDVHHĐ

- Phùng Hữu Phú trong Vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng môi trường văn hóa ở các trường đại học- cao đẳng Hà Nội [96] đề cao vai trò

của các tổ chức Đảng, đoàn trong trường đại học đối với việc xây dựngVHHĐ

Trang 30

- Nguyễn Phương Hồng trong chuyên khảo Thanh niên, sinh viên với

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa , [65] đã đề cao trách nhiệm của sinh

viên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục đích của việc xâydựng VHHĐ là để đào tạo ra những sinh viên có phẩm chất đạo đức tốt, cótrình độ chuyên môn sâu rộng

Trong những năm qua, nhiều nổi cộm về VHHĐ liên tục diễn ra: không

có ý thức góp phần xây dựng, bảo vệ cơ sở vật chất, khuôn viên trường, pháhoại tài sản chung, lãng phí điện nước, thiếu tự tin, tự lập, ngại giao tiếp, thô

lỗ, mất lịch sự trong xưng hô, giao tiếp, ăn mặc phản cảm, sống đua đòi, ích

kỉ, vô tâm, thiếu trách nhiệm với bản thân và gia đình Từ thực trạng đángbáo động này, các nhà khoa học đã nhận thức sâu sắc được vấn đề cần phảiGDVHHĐ cho sinh viên bởi “Văn hóa học đường là văn hóa diễn ra trongtrường học, thể hiện các chuẩn mực đạo đức của xã hội, trong đó, quan hệgiữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa trò với trò là quan hệ chủ đạo Xâydựng VHHĐ có ý nghĩa quyết định tới chất lượng giáo dục đào tạo và có ảnhhưởng rất lớn tới cộng đồng xã hội’’ Đây là khẳng định của các tác giảNguyễn Minh Chung [15], Nguyễn Hồng Hà [40], trong công trình nghiêncứu của Viện Nghiên cứu Sư phạm.[125]

Nói chung, văn hóa học đường chưa được nhìn nhận đúng mức đáng cótrong các trường đại học, chưa có tiêu chí khảo sát, đánh giá và chưa đượcnghiên cứu xứng tầm với vai trò của nó, công tác giáo dục văn hóa học đườngchưa thực sự được chú trọng

Hầu như chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu và xâydựng, đánh giá kết quả giáo dục VHHĐ trong hệ thống các trường đại học ở

Hà Nội Có chăng chỉ là những bài báo mang tính tổng kết, đánh giá chung vềchính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống hoặc nêu ra những tệ nạn xã hội trongcác trường đại học với những giải pháp xử lý mang tính tổng quát chungchung Có thể bắt gặp nhiều bài viết đề tài này của các nhà quản lý giáo dục,

Trang 31

các nhà sư phạm, nhà nghiên cứu, những người làm công tác đoàn thanh niên,

Hội sinh viên trên các báo, tạp chí dành cho thế hệ trẻ như Thanh niên, Tuổi trẻ, Tuổi trẻ Thủ đô, Tiền phong, Sinh viên Việt Nam, trong một số hội thảo chuyên đề của một trường đại học, các đề tài về nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới giáo dục đào tạo… và các báo tạp chí của ngành giáo dục như Giáo dục và Thời đại, Khuyến học và Dân trí, Tạp chí Giáo dục… cùng một số tập

san, nội san của các trường đại học trên địa bàn Hà Nội Có thể nói rằng, chođến nay ở nước ta chưa có nhà quản lý, nhà nghiên cứu văn hóa, giáo dục nào

đi sâu nghiên cứu, đánh thực trạng, kết quả GDVHHĐ cho sinh viên trong cáctrường đại học nói chung và các trường đại học ở Hà Nội nói riêng

1.2 Nghiên cứu về hiệu quả và hiệu quả giáo dục văn hoá học đường

1.2.1 Nghiên cứu về hiệu quả và hiệu quả giáo dục

Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm hiệu quả được hiểu là : kết quảnhư yêu cầu của việc làm mang lại Trong từ điển Le Petit Lasousse: “Hiệuquả là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định” [144, tr57] Trong ngôn ngữ Anh, effective (hiệu quả) được giải ngữ là saccessful inpeodueing a desired ar intended xesult (thành công trong việc tạo ra một kếtquả được mong đợi hoặc đạt mục đích) Trong khi đó các nhà quản lý hànhchính lại cho rằng: Hiệu quả là mục tiêu chính của khoa học hành chính, là sự

so sánh giữa các chi phí đầu tư với các giá trị đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận

và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu rađầu vào Như vậy, hiệu quả là một phạm trù so sánh giữa chi phí (các nguồnlực) và kết quả thu được Vấn đề hiệu quả được quan tâm cả trong lĩnh vựcsản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Trong kinh tế học, hiệu quả là mộtkhái niệm cơ bản và được phân định khá rạch ròi với khái niệm kết quả vàchất lượng Kết quả là toàn bộ sản phẩm mà quá trình sản xuất tạo ra, bao

Trang 32

gồm cả số lượng và chất lượng, trong đó chất lượng là những tính chất củasản phẩm mà có thể đem đến sự thoả mãn nhu cầu của người sử dụng.

Các nhà khoa học Liên Xô dựa vào luận đề của V.I.Lênin về hiệu quảcông tác nói chung là “…có khả năng thu được kết quả nhiều nhất, vững chắcnhất mà lại ít tốn sức nhất”[80, tr.79] để xây dựng khái niệm hiệu quả giáodục “… là sự tương quan giữa kết quả tác động tư tưởng đã đạt được so vớinhững mục tiêu xây dựng giác ngộ cộng sản chủ nghĩa và phẩm hạnh cộngsản chủ nghĩa của con người” [132, tr 299]

Nhiều nhà nghiên cứu phương Tây cũng quan tâm đến tiêu chí vàphương pháp đánh giá hiệu quả giáo dục Trong đó, tiêu chí đánh giá chủ yếudựa vào sự hiểu biết, thái độ và hành vi của đối tượng Trong một công trìnhnghiên cứu về lý thuyết tuyên truyền “Propaganda”, tác giả đã chỉ ra 4phương pháp (measure the effects of the propaganda) để đo hiệu quả tuyêntruyền, bao gồm: nghiên cứu thực nghiệm có kiểm soát (controlledexperiment), phân tích dữ liệu thống kê (content analysis), quan sát thực tiễn(practicipant observers) và phỏng vấn nhóm nhắc lại (panel interview –repeated interview) [139]

Trong cuốn giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, tác giả Ngô Đình Giao cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù phản ánh

chất lượng hoạt động sản xuất, kinh doanh và được xác định bởi tỷ số giữa kếtquả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Hiệu quả kinh tế được biểuhiện qua phạm trù hiệu quả kinh doanh [37, tr 408] Tác giả Nguyễn Văn Tạo,

trong bài viết “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường” đăng trên Tạp chí Thương mại [104, tr 25-27] cho rằng hiệu quả

kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được

ở đầu ra, mà là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không đạt được mục tiêu,không thể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu cần phải sử dụng nguồn lực

Trang 33

một cách hợp lý nhất, không nhất thiết phải giảm nguồn lực nếu quy trình sảnxuất đã hoàn thiện.

Nhiều nhà khoa học trong nước đã quan tâm nghiên cứu về tiêu chíđánh giá hiệu quả công tác tư tưởng, công tác giáo dục theo các góc độ khácnhau nhưng đều đề cập đến sự thay đổi nhận thức và hành động ở đối tượngsau khi có tác động của giáo dục Trong tuyển tập “Một số vấn đề về công tác

tư tưởng”, tác giả Đào Duy Tùng cho rằng: tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả côngtác tư tưởng là ở nhận thức và hành động nhưng không phải mọi hành độngtích cực của con người đều là kết quả của giáo dục Ở bình diện xã hội đó làkết quả hình thành đường lối chính trị, kinh tế và văn hóa tinh thần của xãhội ; mức độ quán triệt, truyền bá đường lối; mức độ chi phối của hệ tư tưởng,bầu không khí tâm lý xã hội lành mạnh; kết quả xây dựng con người mớiXHCN Trong mỗi nhiệm vụ chính trị cụ thể, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là:nhận thức chính trị; nhiệt tình cách mạng, ý thức trách nhiệm; tri thức chuyênmôn; hành động cụ thể và mức độ chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của mỗingười Ngoài ra, còn có thể đánh giá tiêu chuẩn cho từng bộ phận trong côngtác tư tưởng [120, tr 133-153]

Trong cuốn Nghiệp vụ công tác tuyên giáo do Ban Tuyên giáo Trungương xuất bản năm 2008, các tác giả cho rằng: hiệu quả công tác tư tưởngđược đánh giá thông qua những chuyển biến về nhận thức, tư tưởng, thái độcủa các giai cấp, tầng lớp và toàn xã hội, thể hiện ở kết quả kinh tế, chính trị,

xã hội, phong trào theo các mức độ: lâu dài, trước mắt, trực tiếp [5, tr.15 ]

Bàn về hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tác giả Vũ Ngọc

Am trong cuốn “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộđảng viên cơ sở” khẳng định đánh giá hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng làmột vấn đề rất khó, phải cân nhắc, xem xét toàn diện Cần phân biệt kết quả

và hiệu quả, mặc dù hiệu quả của công tác giáo dục chính trị tư tưởng trướchết là kết quả, phải lấy kết quả để tính hiệu quả, nhưng hiệu quả lại không

Trang 34

đồng nhất với kết quả Hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng biểu hiện

ở trình độ nhận thức, tính tự giác cách mạng, tinh thần hăng say, tận tụy tronghành động cách mạng của cán bộ, đảng viên và quần chúng Trong đó, hànhđộng và hành vi của mỗi người trong thực tế là thước đo, là tiêu chuẩn quyếtđịnh tính hiệu quả của công tác giáo dục chính trị tư tưởng Khi đánh giá hiệuquả phải xem xét, căn cứ việc áp dụng đổi mới hình thức và phương phápthực hiện sao cho có hiệu quả mà lại giảm chi phí, phải tính toán đến tất cảnhững chi phí vật chất một cách tiết kiệm nhất Hiệu quả tỷ lệ nghịch với cácchi phí vật chất của hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng Nếu kết quả đạtđược mà chi phí quá lớn, không thể nói là hiệu quả cao [ 1, tr.131-140] TheoTrần Thị Anh Đào, cơ sở đánh giá hiệu quả là sự thay đổi nhận thức, thái độ

và hành vi của đối tượng sau khi được tác động tư tưởng [33, tr.39] Tác giả

Hà Học Hợi cho rằng, hiệu quả công tác tư tưởng được đánh giá bằng cả sự

cố gắng của chủ thể và những chuyển biến về nhận thức, tư tưởng của đốitượng, thể hiện trong kết quả kinh tế, chính trị, xã hội và các phong trào hànhđộng cách mạng của quần chúng nhân dân Tác giả đưa ra ba tiêu chí đánh giáhiệu quả: mức độ tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận; mức độ nâng cao nhậnthức của cán bộ, đảng viên và quần chúng; sự chuyển biến của nhận thứcthành phong trào quần chúng qua mức độ tích cực, tự giác, số lượng ngườitham gia, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ [54, tr 27]

Có thể nói, công trình nghiên cứu tiêu biểu nhất về hiệu quả công tác tưtưởng, công tác giáo dục hiện nay là cuốn “Nguyên lý công tác tư tưởng”, tập

2 do Lương Khắc Hiếu chủ biên Đây là công trình nghiên cứu hệ thống vàsâu sắc về hiệu quả công tác tư tưởng và công tác giáo dục Tác giả đã đưa rakhái niệm hiệu quả công tác tư tưởng là: sự tương quan giữa kết quả đạt được

do tác động tư tưởng mang lại với mục đích của công tác tư tưởng được đặt ra

và với chi phí để đạt được kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định Vềphân loại, công tác tư tưởng có hiệu quả chung (toàn xã hội) và hiệu quả cụ

Trang 35

thể; hiệu quả lâu dài và hiệu quả trước mắt; hiệu quả tinh thần và hiệu quảthực tiễn [47, tr 280-281].

Ngoài đưa ra khái niệm hiệu quả tác giả Lương Khắc Hiếu còn đưa racác tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng bao gồm hai nhóm: tiêu chítinh thần và tiêu chí thực tiễn Hai nhóm tiêu chí này được đánh giá ở bìnhdiện toàn xã hội và ở bình diện cụ thể (một nội dung, một nhiệm vụ, một hìnhthức, một phương tiện, một nhóm đối tượng) Ở bình diện xã hội, tiêu chí tinhthần là tính khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; khả năngvận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và đườnglối, chính sách vào thực tiễn cách mạng; mức độ truyền bá, thâm nhập, chiếmlĩnh của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chínhsách, pháp luật trong đời sống tinh thần cá nhân và xã hội; trình độ, năng lực,phương pháp tư duy lý luận của các nhóm đối tượng và của toàn xã hội Tiêuchí thực tiễn bao gồm: tính tích cực lao động - sản xuất, tính tích cực hoạtđộng chính trị - xã hội, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc;quy mô tính chất các phong trào hành động cách mạng của quần chúng Ởbình diện cá nhân, tiêu chí tinh thần là nhận thức và niềm tin, tiêu chí thựctiễn là tính tích cực hành động của con người Cũng đồng tình với quan điểmnêu trên, trong cuốn “Công tác tư tưởng trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá”, tác giả Trần Thị Anh Đào cho rằng: hiệu quả công tác tư tưởng

là sự tương quan giữa kết quả mà công tác tư tưởng đạt được so với mục đíchcủa công tác tư tưởng được xác định từ trước trong một điều kiện xã hội nhấtđịnh và với một chi phí nhất định [33, tr.38] Hiệu quả tỷ lệ nghịch với mụcđích và chi phí nhưng nếu không chi phí gì hoặc xác định mục đích quá thấpcũng không đạt được hiệu quả như mong muốn

Lương Ngọc Vĩnh trong luận án Tiến sĩ chuyên ngành công tác tưtưởng đưa ra định nghĩa về hiệu quả công tác giáo dục Chính trị tư tưởng : Là

Trang 36

sự tương quan giữa kết quả lĩnh hội tri thức chính trị, hình thành niềm tinchính trị và tính tích cực chính trị - xã hội ở đối tượng sau tác động giáo dụccủa chủ thể với mục đích đã xác định và sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạtkết quả đó trong những điều kiện cụ thể [129, tr 52]

Qua một số khái niệm về hiệu quả, nhất là khái niệm được xây dựngdưới góc độ chuyên ngành công tác tư tưởng, đều xem hiệu quả vừa là mụctiêu, vừa là thước đo đánh giá trình độ, năng lực của chủ thể, mức độ chuyểnbiến về nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng và những chi phí cần thiết

để đạt mục đích đề ra Vì vậy, khi xem xét đánh giá một hoạt động (công tác,chương trình, lĩnh vực ) trong một thời kỳ, một giai đoạn đã qua hay xâydựng kế hoach, mục tiêu, nhiệm vụ cho một thời kỳ, một giai đoạn mới baogiờ người ta cũng phải căn cứ vào hiệu quả của quá trình trước đó

Ngoài ra, các nhà khoa học còn chỉ ra 6 đặc điểm của việc đánh giáhiệu quả công tác tư tưởng và khẳng định hiệu quả công tác tư tưởng luônnằm ở đối tượng và chỉ có thể đánh giá ở đối tượng Khi đánh giá hiệu quảcông tác tư tưởng cần phải quán triệt quan điểm toàn diện và quan điểm lịch

sử - cụ thể Để đánh giá hiệu quả cần xác định kết quả của quá trình tác động

tư tưởng Muốn đánh giá kết quả có thể sử dụng các phương pháp định lượngnhư: phỏng vấn (câu hỏi đóng), bảng hỏi (câu hỏi đóng), điều tra, thống kê vàcác phương pháp định tính như: phỏng vấn (câu hỏi mở), bảng hỏi (câu hỏimở), thảo luận nhóm, quan sát, phân tích nội dung

1.2.2 Nghiên cứu về hiệu quả giáo dục văn hóa học đường

Hiệu quả GDVHHĐ là nội dung chưa được nghiên cứu nhiều, cần đượcnghiên cứu một cách hệ thống, nghiêm túc Trong quá trình triển khai nộidung luận án, tác giả có thể không bao quát được toàn bộ tài liệu, nhưng cóthể nói những tài liệu nghiên cứu về hiệu quả giáo dục văn hóa học đường rất

ít Có thể kể đến một vài hội thảo bàn về VHHĐ và ít nhiều đề cập đếnHQGDVHHĐ như trong tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên nghiên cứu

Trang 37

Khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012 Trong số các tham luận khoahọc, HQGDVHHĐ được nhắc đến nhưng chưa được nghiên cứu kỹ, nghiêncứu một cách hệ thống Ví dụ tham luận Thực trạng và giải pháp nâng caovăn hóa học đường cho sinh viên trường đại học Ngoại ngữ - đại học ĐàNẵng của nhóm tác giả Tăng Thị Hà Vân, Đinh Thúy Vy, Lớp 10CNA 04,Khoa tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHĐN Trên tạp chí Lý luậnchính trị và truyền thông của Học viện Báo chí và Tuyên truyền số tháng3/2015 có bài viết: “Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đườngcho sinh viên hiện nay” của Trần Thị Tùng Lâm, trong đó HQGDVHHĐbước đầu được phân tích và nhận diện và đưa ra một số giải pháp mang tínhđịnh hướng cũng như cụ thể nhằm nâng cao HQGDVHHĐ cho sinh viên

Trong trường đại học hiện nay, xây dựng và GDVHHĐ là mục tiêuphấn đấu lâu dài, là nền tảng để xây dựng và phát triển thương hiệu của mỗitrường Mặt trái của kinh tế thị trường, tâm lý tiêu cực trong xã hội hiệnnay… đang tác động mạnh mẽ đến môi trường giáo dục nói chung và giáodục đại học nói riêng Thực tế đó cũng đang là lực cản đối với việc nâng caochất lượng đào tạo nguồn nhân lực và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo ở nước ta Chính vì thế, việc nghiên cứu thực trạng và đề ra giải phápnâng cao hiệu quả GDVHHĐ là việc làm cấp bách; đổi mới nội dung, hìnhthức, phương pháp GDVHHĐ là một vấn đề khá phức tạp, đòi hỏi nhiều tâmhuyết, trí tuệ, thời gian và công sức

1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu

1.3.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu

Xây dựng VHHĐ và GDVHHĐ và là một vấn đề phức tạp, khó vì liênquan đến quan niệm, tâm lý, thói quen của con người Vấn đề này được cácnhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục, những người trực tiếp tiến hành giáodục, xã hội và gia đình trong và ngoài nước ít nhiều quan tâm Nhìn chung,các công trình chủ yếu trực tiếp hoặc gián tiếp nghiên cứu về hiệu quả giáo

Trang 38

dục nói chung và hiệu quả trong giáo dục các vấn đề cụ thể trong đó cóGDVHHĐ đã thống nhất được một số vấn đề cơ bản, một số khía cạnh củavấn đề được nghiên cứu kỹ, một số nội dung khác mới chỉ được đề cập mà

chưa được giải quyết triệt để như:

- Các công trình nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn hóa ngoạihiện trong các lĩnh vực cụ thể về cơ bản đã làm rõ vị trí, vai trò, chức năng vànội dung của văn hóa đối với sự phát triển bền vững Đồng thời các công trìnhtrên cũng đã chứng minh tầm quan trọng của việc kế thừa, phát huy những giátrị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc trong quá trình phát triển và hộinhập hiện nay, với mục đích nâng cao nhận thức, hình thành niềm tin và cổ vũhành động xã hội tích cực phù hợp với yêu cầu của cộng đồng, sự tự giác củađối tượng

- Dù tiếp cận với tư cách là một hoạt động hay một mặt công tác củacác tổ chức, các nhà quản lý giáo dục, quản lý xã hội, VHHĐ cũng đã bướcđầu được nhận diện và nghiên cứu Hoạt động GDVHHĐ có mục đích là hìnhthành phẩm chất, năng lực, thái độ, hành vi đúng đắn, có văn hóa phù hợp vớicộng đồng xã hội, phù hợp với xu thế phát triển chung cho đối tượng

- Tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng đa số các tác giả đều thừa nhậnhiệu quả hoạt động giáo dục nói chung hay giáo dục từng lĩnh vực cụ thể nhưchính trị, văn hóa, đạo đức, lối sống cổ vũ hướng dẫn hành động phù hợpcủa đối tượng là sự tương quan giữa kết quả với mục đích và chi phí Đặc biệtHQGDVHHĐ đã được đề cập và gợi mở hướng nghiên cứu cho tác giả trongluận án

- Trong các công trình nghiên cứu, các nhà khoa học bước đầu đã đề racách phân loại, quan điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả công tác giáodục tư tưởng nói chung và giáo dục từng vấn đề, nhiệm vụ nói riêng nhằmhay đổi nhận thức, thái độ, hành vi ở đối tượng, đưa ra một số tiêu chí hoặctiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác giáo dục ở nhận thức thái độ, hành vi

Trang 39

cho đối tượng Đây không phải là nội dung nghiên cứu chính của luận án,nhưng kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cũng giúp tác giả luận án cóđược hướng đi đúng, khoa học khi triển khai nội dung đề tài nghiên cứu vềHQGDVHHĐ cho sinh viên trong các trường đại học ở Hà Nội hiện nay.

Mặc dù chưa bàn trực tiếp đến hiệu quả GDVHHĐ nhưng kết quảnghiên cứu của các công trình nêu trên là cơ sở lý luận vững chắc để tác giảluận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu bản chất, giải pháp trước mắt và lâu dàinhằm nâng cao HQGDVHHĐ cho sinh viên các trường đại học đào tạo cácngành kỹ thuật ở Hà Nội hiện nay Nhưng do tiếp cận ở các góc độ khác nhau

và nghiên cứu về các nội dung khác nhau nên kết quả nghiên cứu của cáccông trình, tài liệu nói trên còn một số vấn đề chưa được làm rõ hoặc chưathống nhất như sau:

Thứ nhất, do góc độ tiếp cận, mục đích, đối tượng và phạm vi nghiêncứu khác nhau nên khái niệm VHHĐ với nội dung, cấu trúc ở mỗi tác giả,mỗi công trình lại có quan niệm khác nhau Nội dung, hình thức truyền bá,giáo dục chủ yếu về văn hóa nói chung và xây dựng VHHĐ ở nhiều cấp họcnói chung đã được nghiên cứu, nhưng chưa đầy đủ, các nhà nghiên cứu chưađưa ra được bộ tiêu chí cho từng cấp học dẫn đến chưa gắn kết GDVHHĐ vớicác hoạt động khác của giáo dục, giáo dục tư tưởng - chính trị trong nhàtrường Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về hiệuquả GDVHHĐ Tuy thống nhất quan niệm hiệu quả là sự tương quan giữa kếtquả với mục đích và chi phí nhưng chưa đi sâu làm rõ các yếu tố cấu thànhhiệu quả cũng như vị trí, vai trò, mối liên hệ giữa chúng Một số công trìnhđánh giá hiệu quả ở chủ thể và đối tượng, có công trình chỉ đánh giá ở đốitượng, có công trình đánh giá cả ở nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục

tư tưởng, thái độ, kỹ năng

Thứ hai, hầu hết các công trình chưa khảo sát khía cạnh kinh tế củahoạt động giáo dục VHHĐ một cách đầy đủ, có hệ thống Đặc biệt, chưa bám

Trang 40

sát khái niệm hiệu quả là sự “so sánh”, “tương quan” giữa kết quả với mụcđích và chi phí nên không chỉ ra được sự khác biệt giữa thực trạng hiệu quả,thực trạng chất lượng hay kết quả của hoạt động giáo dục.

Thứ ba, các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục nói chung

và giáo dục văn hóa học đường nói riêng chưa được xác định rõ, hoặc nếu cóthì chưa thực sự là giải pháp riêng cho từng đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Thứ tư, các công trình nghiên cứu về giáo dục trong các trường đại họcthường tách thành hai mảng riêng biệt là giáo dục chuyên môn, kỹ năng vàgiáo dục tư tưởng - chính trị trong đó GDVHHĐ chỉ được xem là một chuyên

đề Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về GDVHHĐ chosinh viên các trường đại học nói chung và hiệu quả GDVHHĐ cho sinh viêncác trường đào tạo khối kỹ thuật ở Hà Nội hiện nay nói riêng

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa các kết quả đã nghiên cứu, với mục đích đã xácđịnh, luận án tiếp tục nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau:

- Hệ thống hoá, hoàn thiện khái niệm VHHĐ, GDVHHĐ, xác định rõvai trò của GDVHHĐ trong trường đại học, làm cơ sở để xây dựng khái niệm,tiêu chí đánh giá hiệu quả GDVHHĐ cho sinh viên trong các trường đại học ởViệt Nam

- Cụ thể hoá lý luận chung về HQGDVHHĐ vào một đối tượng cụ thể

là sinh viên các trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật ở Hà Nội hiện nay

Bổ sung, phát triển lý luận về hiệu quả hoạt động giáo dục tư tưởng, giáo dụccác lĩnh vực khác của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, pháp luật, giaothông, giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc …; phân loại, các yếu

tố tác động, tiêu chí và những vấn đề có tính nguyên tắc trong đánh giá hiệuquả giáo dục ở từng lĩnh vực để làm rõ thêm nội hàm khái niệmHQGDVHHĐ

Ngày đăng: 02/11/2023, 17:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Cách tiếp cận khác nhau về văn hóa [137, tr.343-363] - Luận án TS CTH - Hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay
Bảng 1. Cách tiếp cận khác nhau về văn hóa [137, tr.343-363] (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w