1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy tập làm văn ở trường tiểu học

200 92 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy Tập Làm Văn
Tác giả TS. Nguyễn Trí
Trường học Nhà Xuất Bản Giáo Dục
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Sách Tham Khảo
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 4,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mồn Tiếng Việt, khi trả lời câu hỏi trong các bài học, khi tập kê chuyện trong tiết kể chuyên và đặc biệt khi học tập làm văn TLV, HS được luyện tập để có thể sản sinh ngồn bản có

Trang 1

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

"Dạy tập làm văn ở trường tiểu học" là cuốn sách tham khảo mở rộng cho giáo viên tiếu học, giáo sinh các trường sư phạm tiểu học (CĐSP tỉểu học, ĐHSP tiểu học ), là tài liệu b ổ trợ cho giáo trình phươỉĩg pháp dạy tập làm vãn ở trườĩìg sư phạm tiểu học Ngoài ra, các vị phụ huynh hục sinh có thể nghiên cứu sách này đổ hướng dẫn thêm cho con em mình về tập làm văn Sách viết chủ yếu phục vụ cho việc dạy tập làm vãn theo chươtĩg trình Tiếng Việt hiện hành Bên cạnh đó, sách cũng giới thiệu một

s ố quan niệm sẽ dùng làm cơ sở cho tập làm văn trong chươỉĩg trình Tiếng Việt tiểu học sau năm 2000.

Sách gồm 3 chương :

- Chương I Phân tích mối quan hệ giữa tập làm văn với các loại h:'’i học khác trong môn Tiếng Việt, giới thiệu ngắn gọn chương trình, cúc Mức độ yêu cầu VCI các dạng bài tập làm vân ở tiểu học.

Mục thứ 2 cùa chương nàV giới thiệu một s ố nét khái quát về quan niệm dùng làm cơ sở cho chương trình tập làm văn sau năm 2000 : hai dạng tập làm văn (tập làm văn nói và tập làm văn viết) có quan hệ với nhau, hổ trợ cho nhau nhưng mỗi dạng lại có đặc điểm và yêu cầu rièng

Do đỏ cần có chương trình tập làm văn nói VCI chươtìg trình tập làm văn viết Hai chương trình này cô phần độc lập nhimg lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, có bộ phận hỗ trợ nhau.

- Chương II Nêu những kiến thức cơ sở cần vận dụng vào tập làm văn và dạy tập làm văn Tập làm văn là môn học cỏ tính chất tổng hợp nên kiến thức cơ sở lien quan đến nhiều ngành khoa học Tux nhiên, do phạm vi còn hạn hẹp, cuốn sách chưa thể giới thiệu hết các kiến thức cư

sở n à \ và cũng chưa thế di sâu vào từng vấn đề.

3

Trang 4

- Chưong III Trình bày phương pháp dạx lập lăm văn ở íiẽu học íheo chương trình hiện hành Các phương pháp dạy dược xem xét trên hai bình diện : theo kĩ năng cán rèn luyện ờ các tiết dạy trong quy trình dạy một

dê bai và theo các kiểu loại bãi tập làm văn Quan diẽtn cơ bán là quan diêm thực hành gán với đặc điểm từng kiểu loại bài (cùng.là thực hành tìm ý nhimg ở văn miêu tă có cách làm riêng khác với văn kể chuyện, văn tường thuật ).

Sách dược bien soạn iân dâu chác chưa thể đáp ứng yêu câu của anh chị em giáo viên tiểu học, giáo sinh sư phạm tiểu học và các vị phụ huynh học sinh Nếu có diêu gì cân góp ý xin gửi vê NXB Giáo Dục, ốỉ Trân Hưng tìạo, Hà Nội.

Tác giả

4

Trang 5

Chương I

TẬP LÀM VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH

TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC

I - QUAN HỆ GIỮA TẬP LÀM VĂN VỚI CÁC PHÂN

MỒN KHÁC TRONG CHƯCXNG TRÌNH

TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC

A QUAN HỆ GIỮA TẬP LÀM VĂN VÀ TẬP ĐỌC, KẺ CHUYỆN

1 Về phumig, diện ngôn ngữ

Khi học sử dụng tiếng Việt, học sinh (HS) cần được luyện tạp thành thạo trên hai phưoTìg diện : hiểu, tiếp nhận đúng và đủ thông tin ; diễn đạt chính xác và đầy đủ những gì cần nói ra, viết ra

a) Hiếu, tiếp nhận đúng và đủ nội dung ý nghĩa, thông tin

truyền đạt qua lòi nói và chữ viết

Một lời nói, một câu văn khi chuyển đến người đọc hay người nghe đều chứa đựng các nội dung ý nghĩa hoặc thông tin cản thiết Người nghe hay người đọc muốn giao tiêp được phải hiểu đúng và

dủ các ý nghĩa và thôn" tin đó Trong đoạn đối thoại sau đây, do chỉ hiểu khác nhau nghĩa của một ngữ, em HS đã trả lời không đúng câu hỏi của thầy :

"Thầy giáo hỏi một học sinh :

- Hm hày nói về công dụng cúa lông cừu

5

Trang 6

Em học sinh suy nchĩ, chưa biết trả lời thế nào thì thầy nới tiếp :

- 'rhầy gợi ý em nhé ! Thế cái áo vét em đang mặc làm bằng cái eì ? Nét mặt em học sinh tươi hẳn lên :

- Thưa thầy, em nhớ ra rồi !

- Em nói đi !

- Chiếc áo vét em đang mặc làm từ chiếc áo vét của ba em ạ !"Trong đoạn đối thoại ưên, em HS bí vì không biết công dụng của lông cừu Điều ấy không gây cười Tinh huống gây cười chỉ xuất hiện từ câu gợi ý của thây Khi nêu câu hỏi gợi ý> thay dùng

ngữ " làm bằng cái gì ?" và nghĩ đến nguồn goc cúữ chất liệu làm

thành vải may áo vét của HS là lông cừu Em HS khi nghe ngữ

"làm bằng cái gìT' lại nghĩ đến nguồn gốc loại vái em dùng may

áo vét vì thế mới trả lời "lừ chiếc áo vét của ba em" Em HS vì hiểu không đúng nghĩa của ngữ "làm bằng cái gì? " như thầy mong

muốn nên đã tạo ra tình trạng "ông nói gà, bà nói vịt" ưong giao tiếp khiến người nghe bật cười

Theo ngôn ngữ học, ngữ " làm bằng cái gì ? " trong câu hỏi của thây giáo là tiêu điểm hay điếm nhấn của câu Trọng tâm nội dung

của câu, thỏng tin có trong câu rơi vào điểm nhấn Sự hiểu nhầm (nhâm vị trí điểm nhấn, nhầm nội dung ý nghĩa điểm nhấn ) sự wểu h<h hợt, qua loa nội dung thông tin se gây ra những "trục lrặc lr°ng giao tiếp tạo nên nhiều tình trạng nực cười như ví dụ trên hoặc ví dụ sau dây

Trang 7

Ở đoạn đối thoại trên, thầy và trò đã hiểu khác nhau về ý nehla

từ kết quá nên mới tạo ra tiếne cười cho người đọc Nhiều truyện

vui cười đã khai thác cách hiểu nhầm điểm nhấn để tạo nẽn yếu tố gây cười

Tóm lại, muốn giao tiếp có hiệu quả, người nghe hoặc đọc phải hiểu đúng và đủ nội dune ý nehĩa thông tin của các ngôn bản nghe

và đọc Về phưong diện này ngôn ngữ học gọi đó là sự lĩnh hội ngôn bán^K Ở tiểu học, khi học các phân môn tập đọc, kể chuyện,

lúc nghe thây giảng bài, khi đọc truyện HS được rèn luyện để lĩnh hội ngôn bản thông qua việc nghe hiểu và đọc hiểu nội dung

b) Diễn đạt chính xác và đầy đủ những gì cần nói ra, viết ra

Khi tham gia giao tiếp, mõi người có nhu câu diễn đạt ý nghĩ, nội dung cần trao đổi Lúc ấy người ta se nói ra hoặc viết ra những nội dung, ý nghĩ đó Nếu nói hoặc viết không đầy đủ chính xác các nội dung cần thiết, người nghe hoặc đọc se không hiểu đúng và đủ những thông tin cần trao đổi Do đó cuộc giao tiếp gặp Mtrục trặc" :

"Một em học sinh đánh đổ lọ mực ra sàn lớp Vừa lúc ấy tháy- giáo bất chợt bước vào lóp và hỏi :

- Ai đánh đổ mực ?

Em học sinh luống cuống, lắp báp ưả lời :

- Thưa thảy ! em em ạ ! (*)

(*) " Chuỗi các yếu tố ngôn ngữ mà người giao tiếp tạo nOn đổ truyẻn đạt nội

dung giao tiếp được gọi là nẹôn bôn" (Dỏ Hữu Châu - Nguyên Thị Ngọc DiỌu -

Giáo trình giản yốu vồ ngữ pháp văn bản - NXB Giáo Dục 1995 tr.5)

Vân bán là một thỏ hoàn chỉnh vồ hình thức, trọn vẹn vỏ nội dung, thống nhất

vẻ cấu trúc và độc lập vồ giao tiốp Ici một bien ỉ hê' dạn % viết liên tục cùa nẹôn

bản thực hiỌn một hoặc một só đích nhát định, nham vào những ngưửi tiếp nhận

nhái định tlnrởng là khòng có mặt khi ván bản dirọc sản sinh" Dỗ Hữu Châu Nguyỏn Thị Ngọc DiỌu 'lai liệu đã dẩn tr 10.

7

Trang 8

Thầy giáo ngạc nhiên vì khônơ hiểu sao em của em học sinh lại đến lớp để đánh đổ mực.”

Nguyên nhân nào gâv ra tình trạng hiểu lầm trên ? Vì câu trả lời của em HS không mạch lạc, gày gọn Em luống cuống nên đã

lặp lại hai lần từ "em” Hai tiếng em em đi liền nhau đã tạo nên một ngữ với nghĩa mới " em của em" như thầy giáo nghĩ.

Tóm lại, muốn giao tiếp cho hiệu quả, người ta phải biết cách nói và viết, diễn tả chính xác và đầy đủ những gì cần nói ra, viết

ra Ngôn ngữ học gọi đó là sự sản sinh ngôn bản Trong mồn Tiếng Việt, khi trả lời câu hỏi trong các bài học, khi tập kê chuyện trong tiết kể chuyên và đặc biệt khi học tập làm văn (TLV), HS được luyện tập để có thể sản sinh ngồn bản có hiệu qua cao trong giao tiếp

Các ví dụ trên cho thấy giữa lĩnh hội ngôn bản và sản sinh ngôn bản có môi quan hệ khàng khít Em HS vì không lĩnh hội câu hỏi theo cách hiểu của thầy giáo nên đã sản sinh ra câu trả lời chệch nội dung

c) Các kết luận rút ra

- Quan hệ giữa TLV và tập đọc, kể chuyện là mối quan hệ giữa

các kĩ năng sứ dụng tiếng V iệt.

- Tập đọc, kể chuyện có nhiệm vụ chủ yếu là rèn luyện kĩ năng

đọc và đọc hiếu, nghe và nghe hiểu các ngôn bản như bài tập đọc,

câu chuyện kể Bên cạnh đó, các phân môn này cũng góp phận rèn 'uyện kĩ năng sàn sinh ngôn bản qua việc trả lời câu hỏi hoặc tập

kc lại câu chuyện

- TLV có nhiệm vụ chủ yếu là rèn luyện kĩ năng sàn sinh ngôn b<hl nỏi VCI viêl- Khỏng học tốt T L V , khả năng nói và viêt ngón bản cua HS sẽ bị hạn chế.

^goài mối quan hệ trOn, tập đọc, kể chuyện còn là kho tàng quý, cuns cho HS vón tư phong phú đa dạng, các ví dụ dien hình8

Trang 9

vê nshệ thuật dùnsi từ đặt câu, viết đoạn, viết bài để các em vận

dụní> vào bài làm văn Khi dọc các bái miêu tả hay như Cây trang vườn, ỉiũi dâu, Rfmg hồi xứ Lạng (lóp 3) Những cánh bướm bên

bờ sóng Can chuồn chuồn nước (lóp 4) Bà tôi, Bà cụ bán hàng nước chè (lóp 5) Đàn bò, Đám ma bác giun, Những chú gà xóm tôi (sách 100 tuân) : các bài kể chuyện sinh động, eợi cảm như Mình bậìt học, Giàn dị, Bài tập làm văn (lóp 3) Lời hóa, Lê nin

và ông lão đi săn (kíp 5), HS học được cách dùng tính từ, động

từ, học được cách dùna các phép so sánh, nhân hóa đổ chắp thêm cánh cho trí tưởng tượne, liên tưởne khi làm các bài miêu tả, kể chuyện trong chương trình làm vãn Nhà văn Va Thị Thường có cách dùng tính từ tả màu vàng, cách so sánh thật đáng yêu khi tả mấy con vịt mới nở Nào chúng có "lông và mỏ vàng suồm suộm", rổi "con nào con nấy tròn xoe xoe, y như những cái trứng vàng hưom biết cử động" Chí một tính từ "nhọc nhằn", một từ láy "lẹt xẹt" dùng đúng chỗ, Ngô Tất Tố đã tả được độ dày đặc của sương

mù, độ thấp nhỏ của dây đổi vùng trung du trong câu văn "Mặt tr ' ■

cuối thu nhọc nhằh chọc thủng màn sương từ từ nhô lên ngàn cây trên day núi dồi ìẹt x ẹ t” Cách kể chuyện chặt che, cách sử dụng

các chi tiết miêu tả để kết thúc câu chuyện, cách vào truyện ngắn gọn của các câu chuyện kể trẽn là những gợi ý dé các em học lập và vận dụng vào bài làm văn của mình Các ví dụ da nêu và

nhiều ví dụ khác cho thấy : TLV được thừa hưởng và cân phải tận dụng vốn tứ vimg, nghệ thuật dũng từ, đặt câu mà ỈỈS thu nhận dược từ các hài tập đọc, kể chuyện

2 Vé phuưng diện nhặn thức, tình cảm

Các bài tạp dọc, kể chuyện, do đạc điểm da dạng vồ thể loại,

Ve đe tài nên có khả năng cung cấp thêm cho HS nhiều vốn sống một cách gián tiếp, bồi dương cam xúc, tình cảm lành mạnh trong

sáng Chẳng hạn các bài Mùa xuân xinh dẹp dã về, Ngày xuân Ban dem ờ nhà máy giấy, Dánh cá ngoài kh(ú, Ở nhà máy gà (lóp 3),

9

Trang 10

Đườỉĩg đi Sapa, Trên hồ Ba B ể C h i m rừng Tây Nguyên, Rừng phương nam (lớp 4), Hoa hồng Bun-ga-ri, Anh công nhân da đen Hô-xê, Câu chuyện Vua Mi-đát thích vàng, Chú bé Kô-li-a, Mia Cu-ba (lớp 5) đà mở ra trước mắt HS cuộc sống muồn màu muôn

vẻ, làm nhân lên gấp mười, gấp trăm lần các hiểu biết của các em

về phong cảnh, về phong tục, tập quán, về các mối quan hệ xã hội trên đất nước ta và nhiều nước trên thê giới Những tình cảm nhân hậu, yêu thương con người, chan hòa cùng cỏ cây, muôn loài, những tình cảm giàu chất nhân văn từ các bài tập đọc, các câu chuyện cổ tích, các câu chuyện về các danh nhân văn hóa, khoa học, các anh hùng liệt sĩ như dòng suối nhỏ mát lành làm tâm hôn các em thêm phong phú, cao đẹp Chính những tinh cam cao đẹp đó kêt hợp với vốn sống trực tiếp giúp các em co thêm hiêu biết và cảm xúc để làm bài miêu tả cây cối, miêu tả các con vật,

tả phong cảnh, kể lại câu chuyện vê nếp sống văn minh, về tinh thần kiên trì làm việc được tốt hơn

; T1'r n g ữ , n g ữ p h á p

~ * dung chủ yếu là hệ thong Chương trình từ ngữ ở tiểu học c0 • ^ q u a các bài ôn tậphóa, tích cực hóa và mở rộng von t^ ^ nhiên, thời tiết, vê theo chủ điểm, vốn từ về hoa, v ê qua, v e ^ được nhắc lại, giải giao thồng vận tải, về quân đội, vê lang đến lớn, được đưanghĩa và sắp xếp theo các trường tư vựng Nhờ thế vôn từvào các tình huống cụ thề đê cac crn p^ ^ theo hệ thống, theo

của các em tầng lên và cùng VỚI nÓ’ có thôrn công cụ vè tư duy

sự phân toại hình thành giúp các em 0 u ^ tiếng Việt, tự nhan

đẽ khám phá những giá trị mới mẻ cua v^ giao tiếp và vân dụng vôn từ của rmnh tên thông qua các hoạt đọus

Mọt phần của chương trình từ ngữ va toa * ■ tír ^ tượng

pháp la các kiến thúc sơ giản vè từ đơn, tư &

10

Trang 11

thanh, tượng hình, về nghĩa của từ, về câu đơn, câu ghép, các thành phân của câu .

Nhữnt? kiến thức này eiúp HS khống chỉ dùng tiếng Việt (dùng

từ, đặt câu) dựa trên cảm quan của người bản ngữ mà dần có ý thức, có cơ sở lí thuyết Điều ấy sẽ có ích nhiều cho việc học và làm bài TLV

Qua phân tích trên, TLV đa nhận và sử dụng kết quả học tập của từ ngữ, ngữ pháp Đối với việc học từ ngữ và ngứ pháp, TLV

là nơi để HS luyện tập các kĩ năng và vận dụng các kiến thứ'’ đa học vào thực tiễn

Tóm lại, TLV có tính chất tổng hợp, có quan hệ chặt che với việc học tập đọc, kể chuyện, từ ngữ, ngữ pháp Đây là nơi tiếp nhận

và cũng là nơi luyện tập càng ngày càng nhuần nhuyễn các kĩ năng

và kiến thức của các phân môn ưên Bài TLV ưở thành sản phẩm tổng hợp, là nơi trình bày kết quả đích thực nhất của việc học tiếng Việt

11

Trang 12

• ánh trong nó chỉ thông qua chính công cụ này "(*) Do đó tre em càn được học tiếng mẹ đe một cách khoa học, cẩn thận để có thể

sử dụne công cụ này trong những năm tháng học tập ở nhà trường cũng như trong suốt cuộc dời Tiếng mẹ đẻ và toán học là nhữnp môn học công cụ quan trọng ở trưởng tiểu học Khi trở thành một môn học, tiếng mẹ dỏ có tính chất hai mặt : nó vừa là đối tượng học tập của HS, vừa tạo cho các em công cụ để học các môn khác,

là công cụ dể tư duy, giao tiếp

Do tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ, không quốc gia nào không chăm lo việc dạy môn học này ưong nhà trường, đặc biệt ở trường tiểu học Môn học tiếng mẹ đẻ là môn học bắt buộc suốt cấp tiểu học, chiếm nhiều thời gian học tập Sau đây là thời gian học tập tiếne mẹ dẻ ở trường tiểu học một số nước :

6 Chương trình tiếng Phi - lip - pin 40%

9 Chương trình tiếng Nga (Liỏn Xô cQ) 40%

Nghiên cứu chương trình dạy tiếng mẹ đỏ của nhiều nước cho thấy, mục tiêu môn học này là dạy trẻ em học cách sù dụng tiếng

mẹ dé làm cõng cụ dể tư duy và giao tiếp

Xét vê cách cấu tạo nội dung, các chươne trình dạy tiếng mẹ đỏ

ớ tiểu học ma chúng ta sưu lầm dược, có the chia thành hai nhóm :

(* > < 'huyền dán Ilic-O

P|l;T ‘rìy học liêng Vièt Irls l õ Phin TIU’ Nga, Dỏ Xuin Thào 1.0 tlriu Tỉnh-Plnnni 'T ,'C‘U -Tnrơnị |)ỊJSP Ịlà Nội 1-1994- tạp 1, tr.37

Trang 13

nhóm có cấu tạo theo phân mồn và nhóm có cấu tạo theo các năng lực ngôn ngữ Dù cấu tạo theo cách nào, chương trình học tiếng mẹ

đẻ các nước đẻu đặt vấn đề dạy cả ngỏn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong đó việc dạy ngôn bản nói và ngổn bản viết ià trọng tâm Xem xét nội dung dạy tiếng mẹ dẻ, cần chú ý tránh cả hai xu hưởng thièn lệch, hoặc coi nhẹ việc dạy ngồn ngữ nói, ngôn bản nói, chỉ nhấn một cliiỗu việc dạy ngôn ngữ viết, ngôn bản viết, hoặc quá chú trọng dến vai trò của ngôn ngữ nói, ngổn bẳn nói Đây là kinh nghiệm rút ra sau 10 năm thực hiện chương trình tiếng Pháp ban hành năm 1969 của bang Que - bec (Ca-na-đa)

Kinh nghiệm dạy tiếng Việt cũng cho thấy : cần chú ưọng dạy

cả ngồn ngữ nói và ngôn ngữ viết nhưng có điểm nhấn ở ngôn ngữ viết

2 Một số khái niệm cần xác định

Trong nghiên cứu ngôn ngữ học, ngưừi ta phân biệt ba khái niệm : ngôn ngữ, lời nói và họạt động ngôn ngữ

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ở dạng khả năng tiềm tàng,

trừu tượng hóa khỏi bất kì một,sự áp dụng cụ thể nào của chúng

Còn lời nói là phương tiện giao tiếp ở dạng hiện thực hóa tức là

à dạng hoạt động, gán liên với các tình huống cụ thể, nội dung cụ thể Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói ỉà mồi quan hệ giữa cái chung và cái riêng.

Trong giao tiếp diễn ra hiện tuựng trao đổi các ngôn bản Sự trao dổi này bao gồm hai loại hành động luồn gán bỏ với nhau :

hành động sàn sinh ngôn hảìỉ (bao gồm hãnh dộng nói ra hoậc viết

ra các nội dung cản giao tiếp) và hành động lĩnh hội ngôn hán liếp nhận được (bao gỏm hành dộng hiếu ngôn bản dọc được, nghe

dược) Các hành dộng sán sinh và lĩnh họi ngôn bản gọi lù hành

động ngón ngứ HỌ thông CÜC hành dộng ngôn ĩigữ tạo thành hoại độn ạ ỉigôĩi nạữ.

13

Trang 14

Để đạt mục tiêu dạy sử dụng tiếne mẹ đẻ làm cồng cụ dể giao tiếp và tư duy, trườna tiểu học cần hướng tói việc dạy lời nói Vì vậy, việc dạy ngôn bản nói và nsôn bản viết có vai trò quan trọng, bởi như trên đa nêu, trong giao tiếp người ta chỉ trao đổi các ngôn bản.

Trong chương trình Tiếng Việt, phân môn TLV có nội dung chủ yếu là dạy HS sản sinh các ngôn bản nói và viết Đương nhiên, để

có thể nói hoặc viết được các ngôn bản, HS phải hiểu được các ngôn bản tiếp nhận khi giao tiếp Do đó, TLV cũng bao hàm cả nội

dung dạy lĩnh hội ngôn bản Song việc dạy sán sinh các ngôn bản vẫn là nhiệm vụ chính, nội dung học tập chính Để chỉ ngôn bản,

sản phẩm của phân môn TLV, nhà trường phổ thông Việt Nam quen

dùng thuật ngữ : bài văn Tương ứng với ngôn bản nói là bài văn

nói, tương ứng với ngôn bản viết là bài văn viết

3 Nên dạy tập làm văn theo phương hướng nào ?

Hiện nay dạy TLV nói và TLV viết, trong giao tiếp và để giao tiếp là phương hướng hiện đại mà nhiều nước đang phấn đấu thực hiện

Chương trình dạy tiếng Pháp của bang Quê-bec (Ca-na-đa) quy

định "việc giảng dạy tiếng Pháp phải dựa ưên việc thực hành ngôn ngữ và trong lớp học tiếng Pháp, HS phải luôn luôn dược đặt vào

‘ình huống giao tiếp" Ở một đoạn khác, chương trình lại nhấn mạnh : "cơ bản là phải đặt học sinh ưong một tình huống giao tiếp làm sán sinh hoặc thông hiểu lời nói" Chương trình dạy tiếng Pháp

năm 1985 cũng khẳng định : "việc giảng dạy tiếng Pháp sẽ cho học

sinh một ngôn ngữ giao liếp plìong phú, đa dạng, đong thơi thích

nng vở] nền văn hóa sông động của nhân loại NÓI vc mục đích eủa học tiếng Đức, chương trình Cộng hòa dân chủ Đức (cQ) xác đinh "nguyên tắc chỉ đạo việc quy hoạch và tổ chức dạy học

"éng mẹ dỏ ờ nhà trướng la triệt để phục vụ năng lực giao tiếp

c ú a ỉi ọ '\

14

Trang 15

Những tuyên ngôn trên khẳng định : dạy tiếng trong giao tiếp (hoặc hằng giao liếp) và đế giao tiếp là phtamg lutớìtg giảng dạy liếng mẹ đẻ của nhiều nước Đây là xu hướng hiện đại, tiên tiến

được khẳng định hên cơ sở kinh nghiệm hàng thế kỉ dạy tiếng mẹ

đẻ và trên cơ sở các thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại Theo phương hướng đó, việc dạy TLV nói và viết cũne lấy giao tiếp làm môi trường và phương pháp, lấy việc phục vụ giao tiếp làm nhiệm

vụ và mục đích

Phương hướng dạy TLV trong giao tiếp và để giao tiếp đa tạo nên sự thay đổi cơ bản trong cấu ưúc chương trình, lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy

a) Về cấu trúc : Chương trình TLV nói và TLV viết được xây dựng thành hai mạch riêng, độc lập nhưng vẫn có quan hệ với nhau.

Hiện nay có hai cách xây dựng chương trình dạy TLV Cách thứ nhất, xây dựng một chương ưình chung cho cả TLV nói và TLV viết Đây là cách làm của Cộng hòa dân chủ Đức (cũ), Việt Nam Chương trình làm theo cách này, nội dung và yẽu cầu dạy ngôn bản nói thường bị lu, mờ Nổi ưội hơn là nội dung và yêu cầu dạy ngôn bản viết Có 16 nguyên nhân chủ yếu dãn đến cách làm nàv la do nền tảng tri thức về ngôn ngữ học chức năng còn quá yêu chưa liếp thu được các thành'tựu của việc nghiên cứu ngôn ngữ trong giao tiếp xa hội Một nguyên nhân khác là quan niệm coi nhẹ việc dạy TLV nổi trong nhà trường, cho rằng con người sinh ra đa biết nói tiếng mẹ đẻ từ lúc hơn một tuổi, do đó nhà trường chỉ cân dạy ngốn ngữ viết, tập làm văn viết Ở Việt Nam, cách xây dựng chương trình trên đa dãn tới cách dạy trong đớ bai làm văn nói mất đi tính dộc lập, mất đi các yêu cầu phát triển ngôn ngữ nói, trử thành một thao tác chuẩn bị cho bài làm văn viết Chúng ta sẽ trở lại vấn dề này khi phân tích chương trình TI V

Cách thứ hai là xây dựng hai mạch chương trình riêng, mạch chương trình dạy TCV nói và mạch chương trình dạy TLV viết Chương trình dạy tiếng mẹ đe của các nước phát triển hoặc các

15

Trang 16

nước sớm bắt kịp trào lưu hiện đại của việc dạy tiếng đều đi theo cách này Đó là chương trình của Pháp, Anh, Mĩ, Ồt-xtrây-li-a, Xri-lan-ca

Sở dĩ việc xây dựng chương trình TLV theo cách thứ hai có thể thực hiện và trở thành phổ biến vì ngữ dụng học, ngữ pháp văn bản, tâm lí ngôn ngữ học, giáo dục học đă curig cấp những căn

cứ lí thuyết và nội dung học tạp đủ xác lập nên từng mạch chương trình Ngoài ra kinh nghiệm dạy tiếng mẹ đẻ cũng giúp xác định một quan niệm đúng đắn trong việc xử lí mối quan hệ giữa dạy làm văn nói và dạy làm văn viết

Làm theo cách thứ hai, việc dạy làm văn nói sẽ được chú trọng

vi có vị trí độc lặp Đồng thời cách làm này cũng phù hợp với đặc điểm của từng dạng bài vãn xét về mặt cấu trúc cùng như hoạt động Làm văn nói và làm vãn viết, bên cạnh những đặc điểm giống nhau (về dùng từ, đặt câu, về kiểu loại văn bản .) lại cỏ những đặc điểm riêng biệt khiến cho việc dạy chúng không thể đồng nhất Vai trò của ngừ cảnh, các quy luật của hội thoại (như quy tắc luân phiên lượt lời(*\ quy tắc liên kết hội thoại, nguyên tắc tôn trọng thể diện ) chi phối mạnh mẽ việc dạy và học làm văn nói Trái lại, nguyên tẩc liên kết nội dung và hình thức của văn bản, nguyên tắc kết cấu vãn bản chi phối sâu sắc việc dạy và học làm vãn viết Điều đó, tạo nên hai mạch nội dung học tập khác nhau Nó đòi hỏi phải xây dựng hai mạch chương trình riêng để dạy làm văn nói và làm văn viết

Phần TLV trong chương trinh Tiếng Việt tiểu học dùng sau năm

2000 được xây dựng theo tinh thần trẽn Nó gồm hai mạch : mạch chương trình dạy làm văn nói và mạch chương trình dạy làm vãn viết :

(•• ) Quy tác luân phiên lượt lời chỉ rỏ trong hội thoại để giai) tiếp có hiộu quả, cuc thành vien cần luun phiên nói, hỏi rỏi lãng nghe người khác nói, hỏi Nếu tất l'a cung nói khỏng có nginri nghe, hoậc tất ca cung im lạng đe nghe chảng có ai ilui- au-'e lu'.)i thoại không the tiên hanh đưực.

16

Trang 17

b) Về nội dung : Có sự mớ rộng kiểu loại ngôn bản và mở rộng các đề tài bài văn trong chương trình làm văn ở cấp tiểu học của nhiều nước.

Sự mở rộng này nhằm làm cho việc dạy làm văn sát với thực tiễn cuộc sống, làm cho HS khi ra đời nhanh chóng hòa nhập và

có khả năng thích ứng cao với các hoạt động đa dạng của sinh hoạt

xã hội

- Về TLV nói, HS được học, được luyện tập cả độc thoại và hội

thoại Ở các lớp đầu của tiểu học, cần chú trọng dạy độc thoại và đối thoại Càng lên lớp trên càng chú ý dành nhiều thời gian hơn cho độc thoại Ở tiểu học, để phù hợp với đặc điểm tâm lí và trình

độ nhận thức của HS, chương trình hướng chủ yếu vào các cuộc thoại hài hòa, các cuộc thoại đơn giản và có tính chất nghi thức Còn các loại hội thoại bất hòa, hội thoại phức tạp, hội thoại không

có tính nghi thức dành cho các lớp ở các cấp học trên

Đề tài các cuộc hội thoại học ở tiểu học được lựa chọn trong cuộc sống nhà trường, cuộc sống gia đình, cuộc sống xả hội trong phạm vi hẹp (trong cộng đồng dân cư ở làng xã, phường, xóm ).Dạy TLV nói theo hướng này đòi hỏi phải luyện tập nhiều kĩ năng đa dạng Muốn nói tốt cần biết nghe tốt Lúc nghe Ki<t

hợp ý nghía lời nói với sắc thái cảm xúc, ngữ điệu, nét ni

điệu của người nói để có thể hiểu ngay, hiểu hêt tình ý của họ

Để nói tốt, đòi hỏi phải biết suy nghĩ tốt : suy nghĩ nhanh, sâu sắc toàn diện Đồng thời còn phải biêt cách sử dụng lời nói với ngữ điệu thích hợp, sử dụng kết hợp các yêu tố phi ngôn ngừ (như nét mặt, cử chỉ .) Chính ngữ điệu làm cho từ ngữ có nhiều sắc thái

da dạng, có khi đối lạp hẳn nhau về nghĩa Do đó ngữ điệu, về phương diện nào đó, có chứa đựng những nội dung thồng tin quan trọng không kém (có trường hợp còn quan trọng hơn) các thông tin được chuyển tải trong lời nói Điều đó cũng đúng với một vài yếu

tố phi ngôn ngữ khi sử dụng đúng chỗ, đúng lúc Trong giao tiếp, vãn nói hướng vào tri giác và sự phản ứng không chạm trỗ của

2-DTLVOT7 H

17

Trang 18

mục đích nói năng cụ thể tronii tình huống đe đạt mục đích giao tiếp Dạy TLV nói là rèn luyện các loại kĩ năng vừa nêu.

Các kĩ năn2 phục vụ bài văn nói chia thành nhiều mưc độ khác nhau phù hợp với yêu cầu học tiêno mẹ đẻ và trình độ nhạn thức, nãng lực ngôn ngừ của HS ở từng lớp và từng cấp học ơ tiêu học, chú trọng luyện tập các kĩ năng phát âm, dùng từ đặt câu, diễn đạt phù hợp với ngữ cảnh, kĩ năng sử dụng ngữ điệu trong các kiểu thoại nói trên, tập sử dụng các yếu tô phi ngôn ngữ phụ trợ cho lời nói (ánh mắt, cử động của bàn tay, của vai, đầu sự thay đổi nét mặt), các kĩ nâng thích ứng trong một cặp trao đáp Các nghi thức lời nói trong hành vi bộc lộ (khen ngợi, chúc mừng, xin lôi, cám

ơn, chào ), cam kết (hứa hẹn, cho tặng ), trong hành VI chỉ đạo, tuyên bố, thể hiện cần được luyện tập Qua đây HS được tiếp nhận một cách tự nhiên các giá trị vãn hóa ứng xỉr của người Việt

- Về TLV viết, HS được tặp làm các bài vãn thuộc ngôn ngữ

nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật/ * Hiện nay, trên cơ sở ngốn ngữ phi nghệ thuật trong tiếng Việt hình thành năm phong cách chức năng : phonơ cách sinh hoạt, phong cách hành chinh, phong cách khoa học, phonơ cách báo chí, phong cách chinh luạn Moi phong cách trèn đều tồn tại ở cả hai dạng ngôn ngữ (dạng nói và dạng viết) Mỗi phonơ cách gồm nhiều kiểu văn bản Mỗi kiểu văn ban lại chia thành nhiều thể loại vãn bản

Các kiểu văn bản thể loại văn bản thuộc nãm phong cách chức năng và các thể loại vãn bản sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật đẻu cân thiêt cho con người Sự am hiểu và khả năng sử dụng các thê loại văn kản trong các phong cách chức năng tạo cho con người hiện dại kha nâng thích ímơ cao với cuộc sống xã hội Nhiêu thê loại

vf n bủn h°ặc kiểu văn ban gán với các lĩnh vực hoạt động chuyên sauh Ngư(?c lại một số khá lớn kiểu vãn bản, thể loại văn bản có thong dụng, mọi người binh thường cần biêt Vì thê, các kiêu

dun(’: 1 Hi -n na> phong cách học chia cac văn bản ihành 2 loại lớn : văn bàn sử

• ní?on ngữ nghe Iluiạt (ihư truyện kích ) và vàn bán ngổn ngữ phi nghẹ thuật.

18

Trang 19

vù thỏ loại van han chia Ihanh hai nhom ! nhom buôc phái dạv ơ

trường phổ thông, nhóm dạy ớ trường nghề, trường dào tạo chuyên

sâu một lĩnh vực hoạt dộng

Việc lựa chọn các kieu và thể loại văn hán dể học ớ tiêu học cản dựa vào mục liêu mồn học, kinh nghiệm của các nước (chú ý kinh nghiệm dưa vào dạy trong nhà trường các thế loại ngỏn hán cần cho cuộc sống một người bình thường ), khắc phục sự thiòn lệch trong chương trình TLV hiện nay (quá chú trọng các dạng bài miêu tả, kể chuyện, tường thuật thuộc phương thức tự sự của ngôn ngữ nghệ thuật)./Phần TLV trong chương trình Tiếng Việt tiểu học sau năm 2000 được xây dựng theo tinh thân trôn đa~chií trọng tới một số thổ loại văn bản thuộc kiểu văn thư trong phong cách hành chính, thuộc kiểu thông tin quảng cáo trong phong cách báo chí, một số thể loại vàn bản ở trình độ sơ giản thuộc các kiểu \'ăn bản khoa học tự nhiên hay khoa học xa hội, trong phong cách khoa học Bên cạnh đó, các thể loại vãn bản miêu tả, kể chuyện, tường thuật vẫn được học với một thời lượng thích đáng

Việc mở rộng đề tài các bài TLV viết được thực hiẹn theo các hướng :

- Kết hợp dạy cách viết các thể loại văn bản ở trình độ sơ giản

thuộc kiểu vãn bản khoa học tự nhiên hay khoa học xa hụi ‘ H ‘I một số môn học (ỷ tiểu học như đạo dức, tự nhiên xa hội, SLÌC Kiioc, toán (ví dụ dạy cách tóm tất bài học trong sách giáo khoa, rút

ra dan bài từ bài học đa có, tạp viết một doạn vàn cỏ de tài địa lí, lịch sử, dạo đức, khoa học )

- Đưa các vấn đổ thuộc dời thưởng của HS, của gia dinh các em., làm đề bài cho bài TLV viết

c) Về kĩ nâng TLV : Các k ĩ năng làm bài TLV viết cũng đa dạng và là mọt hệ thống gồm nhiều tầng bậc

Các kĩ năng bậc dưcri, thường là kĩ năng cỏ tính bọ phạn (kĩ năng viết chữ, kĩ năng chính tâ .) hướng t(Vi phục vụ các kĩ năng bậc trên có tính tdng hợp hơn (kĩ năng làm dùn bài .) Cuối cùng chúng phục vụ cho việc sán sinh văn ban viết

19

Trang 20

Các kĩ năng vỏ neữ âm chữ viết, dùng lừ, đặt câu do các phan mơn tập viết, tập dọc từ ngữ, ngữ pháp rèn luyện Phán mĩn TLV cản tận dụng các kết quá này đồng thời gĩp phần ren luyện

và phát triển thèm Các kiến thức và kĩ nâng xây dựng đoạn và bài phù hợp với mục dích giao tiếp, phong cách chức năng, kiểu loại văn bản chỉ do phẩn mơn TLV rèn luyện Nĩ là nội dung học tập

và luyện tập chủ yếu của phân mồn TLV HS tiểu học hầu như chưa nắm được kĩ nàng này trước khi dến trường Vì thế nhà trường cần giúp các em luyện tập từ đầu, luyện tập một cách kiên nhẫn cho tới khi thành thục Thiếu sĩt lớn nhất hiện nay là chưa tạo ra một

hộ thống bài tập để rèn luyệ.n cho HS đạt mức độ tự động hĩa các

kĩ năng nĩi trên Vì được hình thành nửa vời ở tiểu học, nên khi lên các cấp trên địi hỏi sử dụng chúng ở trình độ cao hơn, thành thục hơn, HS lúng túng vì khơng làm chủ nổi chúng

Hệ thống kĩ nãng làm văn viết hiện nay đã hồn chinh chưa ? Xem xét mối tương quan giữa bốn giai đoạn của quá trinh san sinh vãn bản (định hướng lập chương trình, hiện thực hĩa chương trình, kiểm tra kết quả) veri các kĩ năng làm vãn dang được nhà trường tiểu học luyện tập cho HS, xét trơn tổng thể, thấy cĩ sự phù herp Nhưng đi sâu vào giai đoạn định hướng, sự phân tích cụ thề cho

thấy cần co thêm kĩ năng để xác định mối quan hệ giữa văn bán viết với mục đích giao tiếp, nhân vật giao tiếp, hồn cảnh và ngơn ỉlgữ giao tiếp Hiẹn nay nhà trường tiểu học meri chú ý đến quan

hệ giừa van bản viết và đề tài giao tiếp, giữa văn bủn viết và thế loại văn bún Vì chưa xác định rỏ ngữ canil và mục đích của văn

hản n<^n HS chưa dược dặt vào tình huống giao tiêp, chưa tạo nên nhu cầu bên trong của việc viết văn bản Các em thưởng lúng túng khi lam bài hoặc bai làm thiếu tính cụ the, cá thê Đê khăc phục cac nhmyc diểm dã nêu, cần bổ sung thêm ki năng nhằm tìm câu trà lơi cho các câu hoi : Viết vãn ban cho ai đọc ? Nhầm mục đích Ciìì ^c*fỉ ditợc vict tron í' hótỉ cành nào ■ Iheo v.l Ca-pi-nox,

la ki năng dinh hướng trong giao tiốp

20

Trang 21

d) Vê phm m g pháp dạy TLV

Việc chia (hành hai mạch ehươne trình (làm văn nói và làm văn vií'0 với các nội dung luyện tập lchác nhau đa dẫn đến yêu cầu xác lập hai nhóm phương pháp khác nhau áp dụng cho mỗi dạng bài làm văn Phương pháp dạy TLV nói và phương pháp dạy TLV viết, bên cạnh những dicm giống nhau, mỗi nhóm phương pháp lại có những nót đặc thù

Hai nhóm phưcmg pháp đều cố gắng dưa người học vào các tình huống giao liếp, tạo cho họ môi trường giao tiếp cụ thể từ đó nảy sinh nhu cầu nội tại sản sinh các vãn bản (dù là nới hay viết) Nhỏm phương pháp dạy TLV nói chú trọng sử dụng trò chơi sắm vai, tập đống kịch cương, đóng kịch theo kịch bản đa có, chú trọng sử dụng hình thức làm việc theo nhóm nhỏ trong đó mọi thành viên đêu tham gia các hoạt động của nhóm Nhóm phương pháp dạy TLV viết chú trọng các phương pháp luyện tập kĩ năng đạt đến mức thành thục, chú trọng luyện tập các kĩ nàng mới dược xác lẸp (các kĩ năng định hướng trong giao tiếp), các kĩ năng viết đoạn, viết bài

B THỬ NGHIỆM DẠY TẬP LÀM VÁN NÓI

Để kiểm nghiệm những quan niệm trên, chúng tôi đa tiến hành thử nghiệm ở một số tiết TLV nói như sau :

- Soạn bài trong sách giáo khoa, sách giáo viên (cho krp 2 va 3).

- Tổ chức dạy thử nghiệm

Việc chọn TLV nói dể dạy thử nghiệm vì :

- Làm vàn nói là khâu yếu nhất hiện nay Nếu có dược sự chuyển biên sC tạo niềm tin cho CÌV và HS cũng như cán bộ quản lí giáo dục

- Làm văn nói là dạng làm văn thế hiện rõ nhất phương hướng giao tiếp Nhưng dây lại là dạng làm văn chúng ta ít có kinh nghiệm, chưa dịnh lành dược phương pháp và trình tự tiến hành loại tiết học này Việc thứ nghiệm góp phần dưa ra phác thao ban dâu vé cách

21

Trang 22

bien soạn sách SŨ áo khoa, sách giáo viên, vồ phương pháp dạy học

đẽ có cơ sở trao doi và hoàn thiện dân

Sau dây là một bùi soạn và một tiết dạy thứ nghiêm ử Krp 3 :

1 Bài soạn trong sách học sinh lứp 3

TPn bùi : Tặng quà cho người thân quen.

* Dề bài : Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, một học sinh đến

nhà cổ giáo tặng cồ bó hoa Lúc đó trong nhà còn có em bé (con

+ Cồng việc tiến hành ở đâu ? Lúc đó có mặt những người nào ?

- Hay dự kiến các câu chào hỏi, câu nói của bạn HS khi đến nha cồ giáo, khi tặng cô bỏ hoa, và khi cồ giáo hỏi chuyện, khi con

co giáo chào hỏi (nêu em dược phân công đỏng vai bạn HS đó)

- Hay dự kiến các câu chào hỏi, lời nói của cô giáo khi em HS den nhà, kill nhận hoa của em dỏ và các lời trò chuyện sau khi nhạn hoa (nếu em dược phân công dỏng vai cô giáo)

- Hăy dự kiên lởi chào của con cồ giáo (neu em được phân cong dóng vai con cỏ giáo)

^ Tập dón^ vai

- lừng nhóm HS phân cóng dóng vai (mọt em dóng vai HS di lang hoa mọt em đóng vai có giáo, một em đóng vai con co giao) x,ì theo dề bài trên

^ ac hạn trong nhóm nhận xét góp ý kiến về :

1 ° 1 clìao hoi, loi nói cú a lưng nhân vật da dúng vai mình dóng

tlnia ! Net mạt diệu hộ, cứ chỉ ch) 121 ch.ưa đúng, căn sửa 7

Trang 23

* Dề bùi ỉuyỌn tập tlìừm

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam một học sinh đốn nhà cô giáo tạng cô bó hoa Lúc đỏ cỏ giáo đi vano, trono nhà chi có mẹ (hoặc bố) và em cỏ giáo

Hãy tổ chức trò choi đỏng vai theo đề bài trên

- Ghi nhớ

- Khi đến trao tặng quà cho người thân cân :

+ Chào hỏi khi mói đến theo đúng quan hệ gia đình hay xa hội.+ Nồu lí do trao tặng quà (nhân ngày lỗ hội gì ? nhân dịp có

sự kiện gì ? )

+ Nỏi lời chúc mừng

+ Trao tạng quà

+ Trò chuyện về sức khỏe, 2ia dinh, cồng việc

+ Chào hỏi khi ra vè theo đúng quan hệ gia đình hay xa hội

- Khi có ngựời dến trao tạng quà cân :

+ Chào hỏi khi neưởi trao tạng quà mới dến (theo dúng quan

+ Nói lời cảm ơn khi nhạn qua

+ Trò chuyện về sức khỏe, gia dinh, cồng việc

+ Chào hỏi khi người trao lặng quà ra vỏ (theo dúng quan

hộ gia dinh vil xa hội )

- Một số nghi thức lời nói cản thực hiện khi tặng quà cho ngươi thân lớn tuổi

+ lìm chào cô ạ ! (Cháu chào ong bà ! )

+ Hôm nay, nhan ngày .em đcMi chúc mừng cò

lìm có món quà niu’) xin dược kính tặng cô (ông bà .).+ lìm xin phép cô em vỏ !

23

Trang 24

2 Bài soạn trong sách giáo viên lớp 3

Tên bài : Tặne quà cho ngươi thân quen.

* Dề bài : Nhân neày Nhà giáo Việt Nam, em học sinh đến nhà

cô íỉiáo tặne cô bó hoa Lúc đó trong nhà còn có em bé (con

+ Thục hiện đúng các ntỉhi thức KM nói khi gập cô giao, khi chuc mừng và trao quà, khi ra vồ

b) Hiunịg dần tiến hàtìh tiết học

- lim hiểu tinh huống giao tiếp :

+ Mục dich cuộc gạp gfy 7

+ Ai gặp ai 7 Q uan hệ giữa các nhân vật 7

24

Trang 25

+ Cuộc gặp gỡ nói tới vấn đô eì 7

+ Cuộc gặp gơ diễn ra ở đâu ?

- Thái độ và tình cảm khi các nhân vật nói chuyện veri nhau ?

c) Phiamg pháp tiến hành tiết học : chơi đũng vai

Một em dóng vai học sinh, một em done vai cổ giáo, một em dóng vai con cồ giáo

d) Tiến hành chơi đóng vai

- GV chỉ định từng nhóm HS đóng vai dien theo đủng yêu câu

đé bài - HS nắm vững yêu câu de bài, thực hiện đúng vai được giao

- Mỗi nhóm bàn bạc Cíich sắm vai và cách diỗn trong 5 phút Sau đó thực hiện trò choi đóng vai.

- Sau mỗi lần choi lại rút kinh nghiệm để hoàn chỉnh "kịch bản" giúp nhốm sau luyện tập có hiệu quả hơn

ă) Nhận xét rút kinh nghiệm của lớp và của GV về trò chơi vừa diễn ra

- Từng bạn đa đóng đúng vai chưa ? Các câu chào hỏi, , ilL1yvll trò da đủng nghi thức lời nói chưa ? (mở dầu, kết thúc cuộc gặp cách trò chuyện, cách xưng hồ )

- Cuộc gặp gơ cỏ đạt muc dich khổng ?

- Cách dùng từ ngữ, dạt câu cách dùng ngữ diệu, các hành động phi ngồn ngữ có gì cần sửa để dạt mục dich cao hơn ? Có chỗ nào có thể học tạp được

( Kcl thúc mỗi lần choi CiV cho HS rút kinh nghiệm theo các gợi ý tren Trước khi VÜO lần choi mới, CiV can nhác lại những ưu điểm cần phát huy, các nhược điểm, khuyôt diểm cần khắc phục của lần chm trước)

Trang 26

e) Biến đổi tình huống trỏ chơi

- Khi thấy HS đã chơi khá nhập vai nám được các nghi thức lời nói và nội dung giao tiếp theo tình huống đề bài đã cho GV biến đổi tình huống của đề bài

- Đề bài có điều chỉnh để tạo tình huống mới (thay đổi nhân vật và hoàn cảnh giao tiếp) :

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, một học sinh đến nhà cồ giáo tặng cô bó hoa Người đón tiếp em đó là mẹ (hoặc bố) và em cô giáo Cô giáo đi vắng

Hày tổ chức trò chơi đóng vai theo đề bài trên

- Cách tiến hành trò chơi như đã hướng dẫn ở phân trên Chi nên thực hiện trò chơi này 1 lần để rút kinh nghiệm và chuẩn bị cho tiết học sau

g) GV kết luận tiết học

- Nhấn mạnh các nghi thức chào hỏi khi đến nhà người thân ở

bậc trên, các nơhi thức lời nói cần thực hiện khi trao tặng quà

- Hướng dẫn cách trò chuyện, gợi ý, nội dung câu chuyện khi giao tiếp trong hoàn cảnh trên

3 Dạy thử nghỉệm một sô tỉết làm văn nói

a) Tô chức dạy thử nghiệm

Chúng tỏi đã tổ chức dạy thử nghiêm một số tiêt làm văn nói theo dự thảo bài soạn trong sách giáo khoa và sách giáo viên tại mọt sô trường tiểu học của Hà Nội

Các trường tiểu học này là những trường nhạy bén với chủ trương doi mới phương pháp cùa Bộ và đang có phong trào mạnh dạn áp dựng phương pháp dạy học mới Các lớp được chọn thử nghiệm là những lớp loại bình thường GV tham gia thử nghiệm có tuổi nghẻ

tư 4 nam dến 10 nãm.

26

Trang 27

Yêu cáu cüa việc Ihử nghiệm là c 1V không được chuẩn bị trước cho HS, không sợ HS bộc lộ các lỏi về giao liếp trong quá trình học tập Ngược lại chính sự thể hiộn hồn nhiên khả năng giao tiếp bàng lời cua các em là tình huống sư phạm tốt nhất đổ GV hướng dẫn các em học tập các nghi thức lời nói cách ứng xử cỏ vãn hóa, văn minh trong giao tiếp bàng lời Đồng thời qua đỏ cỏ thế đánh giá ngay sự tiến bộ của các em qua mỗi tiết học, mỗi chủ đề học.Việc thử nghiệm qua các bước :

- GV nghe trình bày quan niệm mới vẻ làm văn nối và các gtri

ý vồ phương pháp len lớp một tiết làm vãn nói theo hướng giao tiếp (tiết đầu tiên của thử nghiệm là các giả định vồ phương pháp lên lớp, các tiết sau là sự mô lả lại các tiết thử nghiệm trước đó .)

- GV nghiên cứu bài soạn gợi ý và soạn bài theo chủ đẻ tiết học

- Tiến hành tiết dạy thử nghiệm

- Rút kinh nghiệm tiết dạy

h) Mô tá một tiết dạy thứ nghiệm

- Tiết dạy được tiến hành tại l(ýp 3C do cô giáo Trịnh L _ trường Thăng Long thực hiện vào ngày thứ tư, dúng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11

ĩliam dự tiết dạy còn có thêm vị đại diện ban phụ huynh HS

Vị này dồn chúc mừng cổ giáo nhân ngày Nhà giáo Viột Nam da dược mòi dự tiết dạy thử nghiệm

- Sau kill ghi dổ bài lên bang, GV cho HS trá lời các câu hỏi

de xác dịnh tình huống giao tiếp (Đề bài nêu lên may nhân vật ?

Sự việc chính diễn ra ? M ụ c dich của sự việc trên ? .) Sau dỏ GV hướng dán HS cách chơi, chọn HS tham gia lan ch(Ti dầu tiền Kêì thúc mỏi lan dun cô và tro dỏu rút kinh nghiêm rỏi mới dien lại trò chơi lần tiếp theo

27

Trang 28

Trôna tic) dạy thử nghiệm, ca lớp tiến hành được 1 lần chm Ba lần đầu theo đồ bài chính Khi thấy HS thuần thục trong việc nhập vai và sử dụng các quy tác giao tiếp trona tình huống hội thoại theo

dồ bài da cho cìV biến dổi đề bài tạo lình huốna mới trong cùng chủ đồ giao tiếp trên Lân chơi thứ tư thực hiện theo tình huống mới (HS đến nhà cô eiáo nhưng cò di vắng, chỉ có mẹ và em cô giáo tiếp )

- Lần chơi thứ nhất, em HS gổ cửa, cô giáo ra mở cửa, em vội trao tặng cố bó hoa tại cửa với câu nói đơn giản "Nhân ngày Nhằ giáo Việt Nam, em tặng cô bó hoa "rồi ù té chạy mất Sau khi cả lớp rút kinh nghiệm về cách thực hiện các nghi thức lời nói của nhân vật HS, các công việc cân thực hiện của nhân vật cô giáo và con cô giáo, lần choi thứ hai được liến hành Lần này trò chơi kéo dài hơn Cô giáo sau khi mở cửa đa mời em HS vào nhà Em HS thực hiện việc trao tặng cố giáo bó hoa đúng nghi thức và trang trọng hơn, lời nói khi trao tặng đa mạch lạc, rỗ ràng, gay gọn và

có tình cảm Con cô giáo biết chào khi thấy chị HS vào nhà Song lân này cả hai nhân vật đều lúng túng không biết làm gì sau khi trao hoa và nhận hoa Sau lần đó, cả lớp rút kinh nghiệm và ban thêm các hoạt động cân thực hiện sau khi cỏ và trò trao và nhận hoa Lần choi thứ ba tiếp tục, các nhân vật dã tiến hành các nghi thức và nội dung giao tiếp tương đối thành thạo và thực hiện trọn vẹn một cuộc giao tiếp (từ lúc bắt đâu dến khi kết thúc nhân vạt).L>ê'n (lây, (ỈV nêu ra tình huống mới (HS đến tảng hoa nhưng cô giáo váng nhà) và tổ chức trò chơi theo tình huống này Nhân vật

HS lúng lúng khi bày tỏ veri mẹ cô giáo mục dich dên thâm của minh Nhãn vật mẹ cô giáo cũng lúng túng khi nhận hoa và không biẽt trò chuyện gì veri em HS

Cl> "iáe> cher rut kinh nghiệm lần cheri cue'íi này và lurerng dàn eong việc làm er nha (tập lại 1 rõ cheri Ihco tình huéíng trẽn), riết họe két Unie

2X

Trang 29

- Hát' Vàn, đại diện han phụ huynh ciia lớp phát biếu ý kiến sau khi dự giờ : "Được may mán dự tiết dạy thứ níỉhiệm, tôi thấy cách dạy này giúp cho các em biết cách ãn nói và «iao tiếp một cách lễ phép, có văn hỏa Đề nghị nhà trườntỉ nên phát huy cách dạy này".

- Cô giáo Dung, người tiến hành tiết dạy thử nghiệm nèu ra mấy nhận xét sau tiết dạy :

+ Ngay lừ khi nghe trình bày mục đích và nội dung tiết dạy thử nghiệm, cồ dã thấy thích thú vì dạy làm văn nói, theo hướng giao tiếp se giúp ích cho HS Từ láu cô thấy băn khoăn vì các em tuy

dã dược đến trường nhưng khi giao liếp vẫn còn lúng túns trong cách ăn nói và trình bày vấn dồ Nay được học, HS sẽ biết cách chào hỏi, thưa gửi, biết thực hiện các nehi thức lời nói trong giao tiếp và dần dần tập diễn đạt đúng mục đích và nội dung giao tiếp.+ Tiến hành theo phương hướng này, tiết dạy nhẹ nhàng, vui mà

cỏ ích HS vừa học vừa chơi, chơi mà học Các em nắm rất nhanh các quy lắc và nghi thức giao tiếp bằng lời Từ lần chơi thứ nhất dến lần chơi thứ ba da có sự tiến bộ rỡ rệt Các em đóng vai nhân vật HS da biết cách chào hỏi, biết chọn lúc trao tặng què v> nói khi trao tặne quà Các em dốne vai trò cô giáo cũng bi

mời khách (tuy khách la học trò của mình), cách trò chuyện sau khi nhạn quà

+ Việc đưa ra tình huốne liiao tiếp mới dựa trên sự biên đổi tình huốne cũ Illume vẫn iỉiữ nguyên chủ de giao tiếp la thích hợp, nhằm làm cho tiết dạy dữ nhàm chán, duy trì hứng thú học tập của HS.+ CỈV tiểu học có thể dạy dược các tiết làm văn nói theo phươna hướn« liiao tiếp, nếu dược hướng dán cụ thế

c) Một sỏ kết luận n <t ơ/ (ỊUíi cac tiết dạy Ilìũ imhìệni

- Việc day làm vãn noi theo hướng giao tiếp, dâ dược các (¡V dạy thứ nghiệm và các cán bọ quan li trườn« liêu học nơi thứ nghiệm

29

Trang 30

hoan nghênh Đeme chí Hiệu trưerne trườne Trần Qiú)C‘Te)an cho rằng dạy làm văn nói Iheo hưerne eiao tiếp là kết hợp cá việc dạy liếng Việt với dạy dạo dức dạy tác phong văn minh, tạo nen sự phân hiệt ngay troné eiae) liốp hàng neày eiĩra tre có học và tré chưa qua trườne học Các cô eiáo dạy tlìử nehiệMH dều khẳng dịnlì dạy làm văn ne')i theo hưerne giao tiep làm cho khõne khí trong lerp sinh dộne eần veri cuộc sốne hàne neày của HS eiữ cho các em

sự vui tưeri hỏn nhiên Treme cuộc tọa dàm tại trườne Trăn Quốc Toán, nhiều (ÌV phát hiểu dạy lam văn nói theo hướng giao liếp sẽ nâng cao vốn nehi thức lời nói trong giao liếp của HS và tạo diều kiện dạy HS lễ phép, cỏ văn hóa hơn troné nói năne hằne neày với người lớn và hạn hè

- Kốt quá các tiết dạy thử nghiệm cho thấy càng ớ những lượt

choi sau HS càne thực hiện một cách lự nhiên và tương dối thạo các nehi thức lời nói và các nội dune eiae) tiếp theme thường Sự tiến hộ có the quan sát neay trong tiết học (eiũa lần chơi dầu tiên

và lán chơi cuối tiết học), giữa tiết học sau so với tiốt học trước

Có the nói GV dã dánh thức và ý thức hóa các kĩ năng giao tiếp hàne lời mà HS dã thu nhận dược mọt cách lự nhiêm qua cuộc sống hàng neày của tre Đó là một trong nhiều lí de) cát nghĩa cho sự tiến hộ nhanh của HS Ne') kháng dinh sự dúng dán của quan niệm dạy tiene qua eiao tiếp, dạy tiene trên cơ ser khai thác và phát trien von tieng mẹ de sẵn có cüa HS

~ Các tiết dạy thử nehiệm che) thấy có thê dần dần tiến leri xác dịnh quy trình lên lerp, các plurerng pháp cụ the de làm van ne')i theo hưerng giao tiếp Đáy là mọt việc làm doi he’)i thời gian và sự tham

ma xây dựng của nhiều chuyên eia eie)i Ở dây ce) thê nêu ra một vai kinh nghiệm dâu tiên :

+ Cấn làm cho HS hiếu rổ nen dune, ý nelìĩa cúa tình hueưig giae) tióp

V)

Trang 31

+ Đối với HS tiểu học nên thực hiện việc này qua các thao lác phân tích mối quan hộ giữa các nhân lô' giao tiếp nêu trong đầu hài.+ Kịch ban cho các lân choi hoặc các lần diễn nên hoàn thiện dần qua thực liỗn Nói cách khác, dưới sự hướníi dẫn của GV, HS

sẽ hoàn thiện dàn kịch bủn và thực hiện Từ lần choi thứ nhất hoặc lán dién thứ nhất, GV không cân thiết dưa ra chỉ dẫn vồ nchi thức lời nói nội dung giao liếp cần thực hiện Hãy dể cho HS tự tìm trong vốn hiếu biêt của minh cách ứnc xứ bànc lời nói troní» các tình huống các em sC gặp Lán diỗn này cho ta dành íỉiá dúnt! trình

dộ giao tiếp bằng liêng Việt của HS khi mới bước vào học chủ dề giao tiếp Từ dây, qua các lần choi sau HS sẽ dược rèn luyện vànãm> cao các kĩ năng giao tiếp bằng lòi nói (kĩ nãne sứ dụnst cácnehi thức lời nói, kĩ năng ứng xử bằnc lòi nói .)

+ Vai trò tổ chức và hướng dẫn của GV troni! các tiết làm vãnnói rất rồ Trình dộ giao liẽp của HS sau mỗi tiết học tiến bộ như thố nào phụ thuộc trình dộ giao tiếp bằnst tiếng Việt của GV Điều

dó dõi hỏi côntỉ phu tự tu dưỡng, ròn luyện của bản thân từnc GV dối vói việc sử dùnc tiếng Việt văn hóa và chuẩn mực Chí có như vậy họ mới hoàn thành nhiỘMn vụ của mình

c PHÂN TÍC11 n ộ i d u n g Tập lảm Vãn TRONG CHUÔNG TRÌNH Tlí-NG ViụT T1HU HỌC CÁC NÁM QUA XÚT T11HO QUAN N1ŨM MỚI l)L XUẤT

Giáo dục tiểu học Việt Nam có lịch sứ hơn mọt thè' kỉ, trong dó năm mươi năm thuộc chính quyon cach mạng, lrươc cach mạng, tic-ng Pháp là chuyến ngữ chính trong các trường học ở Việt Nam,

kể cá trương tiếu học Tất ca cac món học dủu học bằng liêng Pháp trừ 2 tiết học chữ Nho vào sáng thứ năm mói tuân

S'1U cách mạnc từ 1445 đón 1954 cac trường tiou học của la cốm 5 lớp Vỏ cơ bán vãn theo chương trình Hoang Xuân Hãn

31

Trang 32

Năm 1950 ch ươn» trinh có được cài tiến cho phù lurp ycu cầu của eiai đoạn cách mạn« mới.

Năm 1956, ta thực hiện cuộc cải cách eiáo dục lần thứ nhất Trườne tiểu học đổi thành trường cấp 1 gồm 4 năm Trước đó HS

6 tuổi phái trải qua lớp vỡ lòne để học một chương trình chuẩn hị cho việc vào học chính thức kíp 1 Môn ngữ văn chương trình cấp

1 năm 1956 bao y Ồm các phân môn tập đọc, học thuộc lòng, kể chuyện, tập chép và chính tả (chỉ có ở kíp 1, 2), ngữ pháp, tập làm văn Các bài tập đọc, neoài các đoạn trích từ tác phẩm văn học, còn gồm các bài có nội dung lịch sử, địa lí, khoa học Chỉ đến lớp

4 chương trình mới tách các nội dung trên thành các phân môn khoa học, sử, địa

Từ 1956 đến 1980, qua nhiồu lân chỉnh lí (vào các năm 1960,

1963, thời kì chống Mĩ cứu nước) nhưng tinh thần và nội dung cơ bản của môn ngữ văn không có gì thay đổi (chỉ thay đổi số tiết học của các phân môn, gia eiảm nội dung cho phù họp với số tiết sửa đổi, thay dổi một số bài cho phù hợp yêu câu cách mạng từng giai đoạn ) Đến nãm 1980, eiờ ngữ văn chiếm 43% ở lớp 1, 2 (không

kể tiết tập đọc, khoa học, sử, địa) và 34% ở lớp 3, 4

Năm 1981 bắt đâu thực hiện cuộc cải cách lần thứ hai Cấp I thành bộ phận của bậc phổ thông cơ sở Chương trình các lớp cấp

I nằm tronc chươne ưình phổ thông cơ sở Môn ngữ vãn có những thay dổi quart trọng và cổ tên mới là môn Tiếng Việt và Văn học ktến lần chỉnh lí 1986 chính thức được gọi lá môn Tiếng Việt

■-ịch sử dạy Tiếng Việt mới có trên 50 năm Môn Tiếng Việt chính thức dược cônc nhận mới trên 10 năm Món liếng Việt ở tiểu học quá tlvật còn non trỏ so với các mồn học khác ớ cùng cấp như toán, thể dục, thủ công (dù Tiene Việt tồn tại hàng ngàn năm và

ai cũng nói tiêng Việt từ khi còn lit tre thơ) Nghiên cứu nội dung phán môn làm vãn trong chươne trình tiene Việt tiểu học cần nghiên cưu chương trinh cùa hai lân cải cách (1956 và 1981) cũng như các

Trang 33

chương ninh thực nghiệm, chương trình dùng cho tre cm lởn luoi khổng có điồu kiện học hình thường Riêng chương trình dạy liêng Việt cho tré cm ngươi dàn tộc không thuộc phạm vi phân tích.Các quan dicm khoa học và sư phạm vồ phân môn tập làm văn

dồ xuất trong mục trên là căn cứ cơ hản và hiện dại dè phân tích, phát hiện mặt mạnh và mặt yếu, ưu và khuyết điểm của nội dung chương trình và tình hình dạy học làm văn ở tiổu học Việt Nam hiện nay Từ đó thấy rõ những ưu diểm cần kế thừa, những nội dung cần sửa dổi, bổ sung hoặc dổi mới

1 Tập làm văn trong chinrng trình ngữ văn 1956

Món ngữ văn trong chương trình 1956 dược giải thích là gồm hai bộ phận : Tiếng Việt và Vãn học Các loại bài tập đọc, học thuộc lòng, kể chuyện thuộc mồn vãn học Các loại bài tập chép chính ta, ngữ pháp, tập làm văn thuộc môn Tiếng Việt

Xác dịnh tập đọc, học thuộc lòng, kể chuyện thuộc mỏn vãn học khổng phải không, cỏ cơ sở nhưng xét cho cùng lại không hoàn toàn đúng với bản chít các phân mồn này Tập đọc có ba nhiệm vụ ; nhiệm vụ rèn kĩ năng dọc (dọc dứng, lưu loát ), nhiệm vụ n-ỊH Him

kiến thức ngôn ngữ, kiến thức văn học, kiến thức dời sống và nhiệm

vụ giáo dục tình cảm vù mĩ cám (do khai thác nội dung và nghệ thuật các ngữ liệu vãn học) Nhưng trong các nhiệm vụ đỏ, nhiệm

vụ nào hì chủ yếu ? Hai nhiệm vụ sau cho phép người ta xốp phàn mồn này vào mồn văn học Nhưng ở tiểu học, khi HS dọc chưa thông thạo, nhiCmi vụ thứ nhất quan trọng h(m cá Ngay ten bài dạy

là tập dọc đa chỉ ro nhiệm vụ chính của nó là rèn kĩ nang dọc HS dược rcn kĩ năng dọc dúng, dọc lưu loát, ròn kĩ nâng dọc thảm, rèn

kĩ nang dọc hicu nội dung vãn bàn, rèn kĩ năng dọc dicn cảm Như vậy, tập dọc la bài học thực hãnh, rèn luyện kĩ nâng, thuộc mòn Tiếng Việt Tuy nhiCm không dược coi nhẹ việc giao dục thâm mĩ nâng cao lõng ycu nghệ thuật, yêu cái dcp qua việc khai thac nội

33

Trang 34

duna các bái lập dọc Irícli lừ lác phẩm văn chương có giá irị nghẹ thuật cao.

Veri bài kể chuvện cũna vậy Loại bái nàv vừa có nhiệm vụ hói dưỡna tâm hỏn và lãna vốn sốna, vốn vãn hóa cito HS, vừa có nhiệm vụ rèn kĩ năna kể chuyện Chi nhấn mạnh dến nhiệm vụ bồi dưỡna lãm hồn, lăna vốn sốna, vốn văn học chỉ thấy vật liệu sử dụng irone tiết kể chuyện là các sáne lác vãn học đế xếp kể ehuyộn vào môn văn là chưa hiểu dầy đủ bản chấl phán môn cán thấy rõ

kể chuyện còn có mội nhiệm vụ cơ bản nữa là ròn kĩ nâng kể chuyện chb HS, một kĩ năne nói mang tính nghê thuật Việc thỏa mãn nhu cầu nehc kể chuyện, bồi dưỡng tâm hồn cho HS nhờ cả hai yếu tố : càu chuyện kể và lài kể chuyện của người kể Nhiều GV giỏi da quan niệm eiờ kể chuyện " là một tiết tập làm vãn miệng" dặc biệt

"một dịp rất tốt dể bồi dưỡng học sinh kém" về ngôn ngữ nói Quan niệm cấp I dạy cả văn học và tiína Việt là lí do xuất hiện tên môn học : neữ ván Quan niệm chung vổ môn học dể lại dấu

ấn sâu đậm trong việc xác dịnh nội dung TLV sc phân tích dưứi dây.Việc dưa các kiến thức khoa học, sử, địa vào nội dung một số bài tập đọc ở các lớp 1, 2, 3, xét theo quan diểm sư phạm hiện dại,

có mặt dúna đán Đó là cách tích hợp nhiêu kiến thức khác nhau vào nội duna một mồn học nhưng không phá vỡ dặc trưng cùa môn học dó, một each tiết kiệm thời aian trona dạy học Quan điổm tích hợp là quan diểm dạy học dane phát triển ở nhiều nước, kể cả Việt Nam Có lẽ nhược điem của chươna trình 1956 là kéo dài quá trình tích hợp này đến hết lớp 3 Tôì nhất là kết thúc vào cuối lớp 2 Mạt khác, phân món tạp dọc xếp vào món l iêng Việt và coi nhiệm

vụ ren kĩ nana dọc (trong dó có dọc hiểu) là mục dích chính thì việc dọc thêm các hái có nội duna khoa học sử dịa là dịp tốt dể ren lujen thêm cách dọc hiếu nội duna văn ban khoa học

34

Trang 35

TLV có 5 loại tiêt :

- riet lí thuyết vỏ kicu hài (tá đồ vật tả phong cánh tường thuật )

- Tiết lùm hài miện g

- Tiốl trá hài

- n ế t luyện câu

TLV dạy 12 kiểu hài văn gồm nhiều kiểu loại :

Các kiểu bài văn ở tiểu học theo chương trình tiếng Việt 1956

- Diồn từ vào chỗ trống

- Dùng từ đặt câu

- Trà lời câu hỏi (dựa vào quan sát

tranh hay nguửi thực việc thực)

- Kể chuyỌn ngắn, sự viỌc đơn giản.

- Miêu tả (đồ vật phong cảnh, người, cảnh sinh hoạt)

a) Chmrng trình 1956 đa coi trọng nhung xác định chưa chính xúc ycu câu cùa TLV

Hài làm văn dược bố trí 2 tiết một tuần trong suốt bốn nàm của cấp I, chiêm 156 tiết Thơi lượng học tập như vậy là khổng ít Đanh giá kết quá học tập mồn ngừ văn (V từng Urp và khi tốt nghiệp cáp 1 chú yêu dựa vào điếm só của mồn TLV Các tài liệu hướng dán

Trang 36

dáo viên và môn phương phap dạy Ti cm» Việt irony trường sư phạm lieu học đều coi TLV là món học có lính chãi toan diện, lổng h(.rp

và sán2 tạo Các loại hài khác như tập đọc, kê chuyện, ngữ pháp là những "lá dâu", cung cấp vật liệu cho HS làm hài Bài làm van do dó la "tơ", là san phẩm tinh nhà trường thu dược Xác định

vị trí như vậy nhưng phản yêu cáu -lại nêu ra nhiộm vụ "rèn luyện

kĩ năng, trau dồi nghệ thuật sư dụng ngổn ngữ vãn tự" (*) cho TLV

là quá cao Lởi giái thích "Trong ha kĩ năng cơ hản vỏ ngữ vàn là đọc, nói, viết cản dược rèn luyện một cách tập trung ở cấp 1 thì kĩ năng viết là khỏ và đòi hỏi cồng phu nhất (** và lời giải thích

"Có kĩ năng sử dụng ngỏn ngừ, vãn tự thì mớí diễn tả dược ý nghĩ cảm xúc một cách chính xác Có nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ vãn

tự thì mới viết được văn hay"*** có diem chưa đúng :

- Chưa nêu đủ 4 kĩ năng ngôn ngữ cần rèn luyện khi học tiếng Việt Thiếu hản kĩ năng nghe

- Đặt yêu câu TLV rèn luyẹn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ là đúng nhưng lại nâng lên mức ' có nghệ thuật sử dụng ngỏn ngừ" là quá cao, việc này khác nào trao cho TLV nhiệm vụ của trường dại học viết vãn Nguyen Du

- Luồn luồn dùng ngữ "ngôn ngữ vãn tự" khi xác dịnh nhiệm

vụ TLV, thể hiện quan niệm cho rằng phân mồn này dạy học bài vãn viết là chính Đieu đó chưa chính xác se dược phân tích tiếp ở mục sau

h) Chương trình 1956 nêu ra việc rèn luyện hai dạng hài văn (nói và viẽ.í) ìỉhung lại chi xây dim í* một mạch chiamg trình và đặt trạng túỉìì ứ hùi văn viết mang tính níỊÌiợ thuật

Chương trìnlì 1956 nêu ra yêu cầu dạy cả hai dạng làm văn Dạy

ta n g ư ơ i , v i ê t thư, tương thuạl dều có giờ lập làm văn nói và tập

' * N;:MvC‘n íỉlni luune Miú hicn) SiT tlnio plunm^ pháp giáng dạy »¿lữ văn (V

V I !.-p ,ãp 1 uirưno phó Hum- ar Mr - NXB c.iáo Dục 19S0 - tr 167.

Trang 37

làm văn viết Yêu cầu GV cho HS cà điểm TLV nói và diem TLV viét Đặt vân đề như trẽn về tona thè là đúna Sons nội duna học hai dạna lam văn được quy định trong một mạch chương trinh chung Cách làm này cho thấy tuy chtrơng trình đã chú ý den hai dạna làm văn nhưna lại chưa tháy rõ sự khác nhau căn bản aiữa hai dạng bài

vè nhiều mặt

Tình hình trèn dẫn tới tình trạng coi nhẹ, hạ thấp vị tri, yêu cầu luyện tập bài văn nói và không tìm ra được phương pháp dạy học thích hợp cho tima dạng bài làm vãn, hạn chế kết quả học tập Tiết làm văn nói có nêu yêu cầu luyện nói nhimg trên thực tế yêu cầu

đó khôna được coi trọng bằng yêu cầu chuẩn bị nội dung, chuẩn bị

từ n«ữ cách diễn đạt dể làm bài văn viết Từ đó dẫn đến quan niệm tiết TLV nói là tiết chuẩn bị cho tiết TLV viết Hậu quả là tron« tiết làm văn nói, HS khôna nói được theo dàn bài, các em thườna đọc nhát gìmg, ngượng ngập bài đã viết Thậm chí có em khòna nói được gì Trẽn 90% HS vấp phai tình trạng trên trong giờ TLV nói GV cũng sợ dạy các tiết này "Nhiều GV cấp I rất ngại lên lớp bài TLV nói Trong thực tế thì nói chung, các giờ TLV nói rất tẻ nhạt Mặc dầu không muốn nhưng GV thườn« - :nói nhiều hơn HS, còn HS thì lại noi một each thieu mạt

lốc hoặc thườn« nhác lại ý của người khác hơn là dien dạt ý của minh" Phươn« pháp day các tiet TLV noi dơn gian va dom diệu đến mức coi như không cổ phương pháp gì Đến giờ làm văn nói, sau khi nhắc'lại yêu cầu cùa dề bài, GV chi còn một việc là chỉ định HS lẽn trước lớp và nói HS nói xong, ca lớp nhận xét, cuối cùng GV đánh giá cho diêm

Nội dun« TLV chú trọng dên các kiếu bài văn có tính thẩm mĩ, thuộc phon« cách nghệ thuật như miêu tủ, kể chuyện Chì có 1/7 kiêu bái thuộc loại vãn cũn tiling trong dời sống thườn« ngày (viết thư) Sáu kiêu bài còn lại chu yêu thing trong các tác phám \ãn chương hoặc những cuộc giao tiôp dạc biệt Dạc diem náy vira là

37

Trang 38

vừa la diêm yốu (do quá nhấn mạnh việc dạy các kiổu hài văn có tính thấm mĩ) của chươne trình làm vãn.

(■) Chưcmg trình 1956 chỉ chú ý đến quan hẹ ạiữa tì {•ười viết với

hài văn ỉììcn chú ý đến thành phấn sự vật tron {ị chù đè bcii văn,

đến đích thuyết phục về nhận thức, đến mật Ịoạic cứa bcỉi vãn, đồng thcri chưa đưa ra được nội dung riêng cho dạy làm vãn nói

- Mỏi kiểu bài quy dịnh troné chươne trình đẻu trien khai theo

quy dịnỉì :

Lí thuyết ve kiểu bài - làm bài (nói hay viết) - trả bài,

luyện câu

Bài lí thuyết làm văn thường gồm các nội dung :

+ Khái niệm vẻ kiểu bài

+ Cách làm bài Phân này chủ yếu giửi thiệu cách khai thác sự vật dược nói tới trong bài văn để có chất liệu làm bài (tả con vật thì tả nhữne bộ phận nào, đâu là trọng tâm, viết thư cho bạn thì viết nhữne chuyện gì, nói kĩ sự việc nào

+ Yêu cảu và cách lạp dàn ý, lựa chọn ngôn từ

- Đỏ bài làm văn thườne ra theo mồ hình :

r

Sự vật cần nói tới + kiêu bài + cám nghĩ của

1 troné bài (B) (thể loại) (A) hán thân

Hai yêu tô dầu bát buộc phái cỏ và thứ tự có thê dủo lộn Yếu

ló thữ ba có cũne dược, không có cũne dược Ví dụ : "lìm hay la (A) lìinh dang mọt anh (chị) bộ dội là neươi thân hoạc la neười einthuirne eặp (B)"

Trang 39

Trono (Jé hai tren A là kiểu hài (the loại) B là sự vật tán nói tới trono hài.

Tiết Tìm hái viết chì có một việc chủ yếu là HS lànt hài

'Tiết làm hài nói tó thổ thực hiện theo một trong hai quy trình :+ c ;i lóp cùno xây clima dàn hài HS nói từng phần hoặc cả hái theo dàn bài vừa xây dựng

+ T1S nói tirna phần hoặc cả bài theo dàn bài tự chuẩn bị ớ nhà.Tiết trá bài luyện câu chủ yếu tập trung chữa các lối về ý, lỗi sai ve dung từ dật câu, lỗi chính lá có trong bài Việc chữa các lõi

vé dàn ý ít dược chú ý Kiến thức dựa vào để chữa lỗi Tà các hiểu biết vê từ, về càu do phân môn ngữ pháp cung cấp

'Toàn hô các quy trình và mô hình mô tả trên cho thấy việc dạy lam văn nói và viết cổ thiếu sót lớn là chira coi bài văn nói và bài van viết là plunrng tiện và sản phẩm của sự giao tiếp Do đó không dặt chúng vào tình huống, hoàn cảnh giao tiếp Vì thế tuy TI.V dirọc xác"dinh Ịìt môn thực hành và các nhà giáo, các nhà nghiên cưu có có' gáng tìm mọi biện pháp dể cải tiến các hoạt động thực hanh khi dạy nhưng vẫn không cỏ hiệu quả Hạn chế

hoạt động thực hành ngôn ngữ này bị cô lập khỏi môi titu le u,ụv của nó Đó lá con cá bị lách khỏi nưcrc Trong bài "Kinh nghiệm dạy tạp lam văn nói o krp 3 - 4" nhà giáo Nguyên Anh Đẳng da dặt vấn dề rất dũng "Muốn dạy cho học sinh cách nói cách viết (M trưirc hết phai XIÍC định rO dạy nrti cái gí viết cái gì" Từ dó tạo diều kiện dề các em lãng thèm hiếu biết về dối tưọng dịnh nói

do dưọc tiep xúc vói dối tượng dó (di thăm phong canh, ngưòi se miêu tá .) giúp cho HS có cái ý cản nói trước rỏi mói tim cách noi sau Hiện pháp thứ hai lá giúp aic em tìm từ chọn cách diễn

(*> Ni’uy ồn Anh i r a i y - kin h nyliiỌm day tập him vãn M.1Í 1 |,Vp V 4 Nylnvn

c ứu ìũ/ỉo tille ir 1-4 - 1K.

Trang 40

đạt dứng ý cần nói và sáp xốp ý thành dàn ý Cuối cùng là cho HS tập nói bằng nhiều cách "Trước hốt tôi hướng dẫn HS dựa vào dàn

ý chung của lớp de dien tả nội dung cơ bán cua dồ văn biên cái chung thành cái ritme Khi HS dã nói tóì theo dàn bai chung, tôi hướng (jản cho các em tìm những cách diỗn dạt khác nhau tùy theo nội dung từng bài có thế theo trật tự thời gian hoặc theo thứ tự không gian, có the từ gần đến xa ”l M 'rất cả những nỏ lực dó khóng tạo dược sự chuyến biến bao nhiêu Chat lượng học làm văn nói và viết Nhũng thành tựu của ngón ngữ học hiện dại, lâm lí học hiện dại (tâm lí học XÜ hội lủm lí học gian tiếp .) dà chí ra nguyên nhân cơ ban cua tình trạng trên Đó là sự thiếu hiếu biốt vỏ ngữ cánh của giao tiếp bang lời (trong đó có hiếu biết vồ từng yốu tố của ngữ canh) và thiếu hiểu biốt vỏ cách ứng xử trong từng ngữ cảnh

Cách dạy làm van nói và viết trong chương trình 1956 nuri chì

chú ý một số quan hệ Trước tiên, mới chú ý den quan hệ giữa bài

vãn với người viết, người nói còn quan hệ bài vãn với người dọc với người nghe, với hoàn cành giao tiếp hầu như chưa được dặt ra

Thứ hai, việc dạy TLV lúc này mới chú ý den quan hệ của bài vãn với hiựtì thực hoặc sự vật được nôi lới trong bài (bài văn tã con gì, cây nao, ke chuyện về ai .) còn (Ịuan hự lien cá ỉìlìún trong hài văn

(quan hệ giữa người làm bai và ngươi dọc bài văn .) chưa dược dặt

ra- Thứ ha là sự chú ý con phiên diện dối veri các đích hướng tới cua hai van Một bài văn co nhiều mục đích Trước tiên là lỉich ĩìỉìậtì lỉìỉa' (giúp người dọc hiếu thêm dược gì về con vật định tá về cuộc sdng qua câu chuyện muôn kê ), sau dó là (lích thuyết phục vờ tình canì rììiang lại cho người dọc tình càm yêu ehc't : yêu ai ghet ai ) th(-h ỉìùìììì dộĩin (hướng người dọc tới một số hành dộng cụ the nào.

1 1 Anh T.ii liỌn Uă aãn tr 14 - 1S

4 0

Ngày đăng: 02/11/2023, 12:09

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w