1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp tri thức lý luận văn học trong dạy học đọc văn và làm văn ở trường trung học phổ thông huyện quỳ châu, tỉnh nghệ an

139 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tích hợp tri thức lý luận văn học trong dạy học đọc văn và làm văn ở trường trung học phổ thông huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An
Tác giả Lê Thị Hương
Người hướng dẫn PGS. TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2014
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
  • 4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu (13)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 6. Đóng góp của luận văn (13)
  • 7. Cấu trúc luận văn (13)
  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP (14)
    • 1.1. Một số khái niệm liên quan (14)
      • 1.1.1. Khái niệm tích hợp (14)
      • 1.1.2. Bản chất của giáo dục tích hợp (15)
    • 1.2. Cơ sở lý luận (23)
      • 1.2.1. Khái niệm tri thức lí luận văn học (23)
      • 1.2.2. Tri thức lí luận văn học là tri thức cơ sở để học tốt các phân môn Ngữ văn trong nhà trường THPT (24)
      • 1.2.3. Tri thức lý luận văn học cần thiết để mở rộng kiến thức của văn học nói chung (27)
    • 1.3. Cơ sở thực tiễn (29)
      • 1.3.1. Chương trình Ngữ Văn ở trường THPT hiện nay (29)
      • 1.3.2. Những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành và cũng cố tri thức lý luận văn học cho học sinh THPT huyện miền núi Quỳ Châu (31)
      • 1.3.3. Thăm dò ý kiến về tri thức lý luận văn học của học sinh (36)
      • 2.1.1. Chú ý đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT (38)
      • 2.1.2. Bám sát chương trình, sách giáo khoa (40)
      • 2.1.3. Sáng tạo, linh hoạt trong tích hợp tri thức lý luận văn học (41)
    • 2.2. Những nội dung tri thức lí luận văn học cần tích hợp (43)
      • 2.2.1. Các tri thức mang tính nguyên lý chung (43)
      • 2.2.2. Các tri thức về thể loại và tác phẩm văn học (44)
      • 2.2.3. Các tri thức về tiến trình văn học (47)
    • 2.3. Phương pháp tích hợp tri thức lý luận văn học trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT huyện Quỳ Châu (48)
      • 2.3.1. Tích hợp tri thức lý luận văn học trong dạy học văn học dân gian (48)
      • 2.3.2. Tích hợp tri thức lý luận văn học trong dạy học văn học trung đại (53)
      • 2.3.3. Tích hợp tri thức lý luận văn học trong dạy học văn học hiện đại (59)
      • 2.3.4. Tích hợp tri thức lý luận văn học trong dạy học làm văn ở trường THPT (71)
  • Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM (38)
    • 3.1. Thiết kế một số giáo án thực nghiệm (82)
      • 3.1.1. Giáo án 1: Tấm Cám (SGK Ngữ văn cơ bản, lớp 10, tập 1) (82)
      • 3.1.2. Giáo án 2: Vội vàng (SGK Ngữ văn 11, tập 2) (98)
      • 3.1.3. Giáo án 3: Chiếc thuyền ngoài xa - (SGK Ngữ văn 12 - Chương trình chuẩn - 2 Tiết) (107)
      • 3.1.4. Giáo án 4: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ - (SGK Ngữ văn 12, tập 1, chương trình chuẩn) (122)
      • 3.2.5. Kết luận và đề xuất (130)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (83)

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Dạy tích hợp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và củng cố kiến thức lý luận văn học cho học sinh Phương pháp này giúp học sinh học tốt các phân môn trong chương trình Trung học phổ thông, đặc biệt là trên địa bàn huyện miền núi còn gặp nhiều khó khăn Áp dụng dạy tích hợp không chỉ nâng cao hiệu quả học tập mà còn góp phần phát triển toàn diện năng lực hiểu và vận dụng kiến thức của học sinh trong môn học văn học.

- Tìm hiểu các tri thức lý luận văn học cần tích hợp trong dạy học Đọc Văn và Làm Văn ở trường THPT

Nghiên cứu, tìm hiểu về cách tích hợp tri thức lý luận văn học vào quá trình dạy học môn Đọc Văn và Làm Văn tại trường THPT huyện Quỳ Châu nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và phát triển năng lực học sinh Việc định hướng chung và xây dựng nguyên tắc phù hợp giúp giáo viên vận dụng linh hoạt các biện pháp tích hợp tri thức lý luận văn học, qua đó nâng cao kỹ năng phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học của học sinh Áp dụng các biện pháp tích hợp này phù hợp với đặc điểm của học sinh THPT, góp phần thúc đẩy hứng thú học tập môn Ngữ văn và phát triển tư duy phản biện Từ đó, hình thành một phương pháp giảng dạy linh hoạt, hiệu quả, hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục môn Ngữ văn tại địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, phân loại, so sánh Nhóm thực nghiệm: Điều tra, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm.

Đóng góp của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề tích hợp tri thức lý luận văn học vào quá trình dạy học môn Đọc Văn và Làm Văn tại trường THPT huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Nghiên cứu đề xuất các định hướng và phương pháp thực hiện khả thi nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, giúp học sinh hiểu rõ kiến thức lý luận văn học từ đó ứng dụng dễ dàng vào kỹ năng đọc hiểu và viết văn Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp lý luận với thực hành trong giảng dạy để phát huy tối đa khả năng sáng tạo và tư duy của học sinh Các đề xuất này góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tích hợp tri thức lý luận văn học trong dạy học Đọc Văn và Làm Văn ở trường THPT

Chương 2: Nội dung và phương pháp tích hợp tri thức lý luận văn học trong dạy học Đọc Văn và Làm Văn ở trường THPT huyện Quỳ Châu

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP

Một số khái niệm liên quan

Tích hợp xuất phát từ từ “Integration” trong tiếng Latin, có nghĩa là xác lập sự thống nhất hoặc cái toàn thể dựa trên các bộ phận riêng lẻ Khái niệm này thể hiện quá trình hợp nhất các thành phần riêng biệt thành một hệ thống thống nhất, nhằm tối ưu hóa chức năng và hiệu quả hoạt động Trong các lĩnh vực như công nghệ, giáo dục hoặc doanh nghiệp, tích hợp đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các giải pháp toàn diện và nâng cao trải nghiệm người dùng Việc tích hợp các bộ phận giúp tạo ra sự liên kết chặt chẽ, thống nhất giữa các yếu tố, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và cạnh tranh của tổ chức hoặc hệ thống.

Từ "Integrate" có nghĩa là kết hợp các phần hoặc bộ phận khác nhau vào một tổng thể thống nhất, nhằm tăng cường mục tiêu và hiệu quả hoạt động Việc tích hợp các thành phần này giúp tối ưu hóa quá trình vận hành và đạt được hiệu quả cao hơn trong các hệ thống, quy trình hoặc tổ chức.

Tích hợp là quá trình hợp nhất, hòa hợp và kết hợp các thành phần thành một thể thống nhất dựa trên những nét bản chất của đối tượng Nội hàm của tích hợp thể hiện qua hai đặc tính chính là liên kết và tính toàn vẹn, trong đó liên kết tạo ra một thực thể hoàn chỉnh không còn phân chia, còn tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại của các phần Một hành động hoặc kiến thức chỉ thực sự gọi là tích hợp khi các tri thức và kỹ năng được liên kết, phối hợp một cách chặt chẽ trong quá trình tiếp thu nội dung hoặc giải quyết vấn đề, chứ không phải là sự thụ đắc riêng rẽ từng phần.

Tích hợp là một khái niệm rộng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong giáo dục, xuất hiện từ thời kỳ Khai sáng nhằm thúc đẩy phát triển con người toàn diện và hài hòa Trong dạy học, tích hợp được hiểu là sự phối kết hợp các kiến thức của nhiều môn học có nét tương đồng vào một lĩnh vực chung hoặc chủ đề, giúp tối ưu quá trình học tập và đáp ứng các mục tiêu riêng biệt Ví dụ, lồng ghép nội dung giáo dục dân số, đạo đức, môi trường, an toàn giao thông vào môn Ngữ văn nhằm xây dựng một phương pháp dạy học tích hợp từ các môn truyền thống Tích hợp trong giáo dục còn thể hiện qua việc kết hợp nội dung các môn học khác nhau thành các bài giảng hoặc chủ đề chung, giúp học sinh phát triển toàn diện, linh hoạt trong học tập.

Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp có hệ thống, hữu cơ các kiến thức và kỹ năng của nhiều môn học hoặc các phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất dựa trên mối liên hệ về lý thuyết và thực tiễn Trong chương trình Ngữ văn THPT năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái niệm tích hợp còn được coi là sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tế, nhằm hỗ trợ, tác động và tạo ra kết quả tổng hợp nhanh chóng, vững chắc.

1.1.2 Bản chất của giáo dục tích hợp

Tích hợp là xu hướng giáo dục hiện nay được ứng dụng rộng rãi trong việc xác định nội dung dạy học tại các trường phổ thông và xây dựng chương trình môn học ở nhiều quốc gia Quan điểm tích hợp dựa trên những nhận thức tích cực về quá trình học tập và dạy học, giúp tạo ra một phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn.

Thực tiễn nhiều nước đã chứng minh rằng việc tích hợp trong giáo dục giúp phát triển năng lực giải quyết vấn đề phức tạp và làm cho quá trình học tập trở nên ý nghĩa hơn so với phương pháp dạy học riêng rẽ các môn học Tích hợp là một quan điểm giáo dục nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực của học sinh, giúp đào tạo những người có khả năng đối mặt và giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Nhiều quốc gia trong khu vực châu Á và trên thế giới đã ứng dụng thành công phương pháp này, coi nó là xu hướng sư phạm tích cực thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh Thông qua hoạt động tích hợp, học sinh học cách phối hợp kiến thức và kỹ năng để tiếp thu tri thức một cách độc lập và chủ động Năng lực này đòi hỏi sự kết hợp các kiến thức và kỹ năng liên quan, không chỉ tác động riêng lẻ đến nội dung học tập, mà còn thúc đẩy sự phối hợp toàn diện trong quá trình học.

Trong dạy học, tích hợp nhấn mạnh phương pháp dạy tìm tòi sáng tạo để khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức và kỹ năng của mình nhằm giải quyết các tình huống có ý nghĩa, góp phần hình thành và phát triển năng lực tự học Đồng thời, phương pháp này còn chú trọng tạo lập mối liên hệ giữa các kiến thức và kỹ năng của các môn học hoặc phân môn khác nhau, giúp học sinh huy động hiệu quả kiến thức và năng lực để giải quyết các vấn đề trong học tập.

Trong giáo dục, tích hợp được hiểu là phương hướng tối ưu hóa quá trình học tập bằng cách phối hợp các môn học và phân môn khác nhau theo nhiều hình thức, mô hình và cấp độ nhằm đáp ứng mục tiêu cụ thể [13, 6] Khoa sư phạm định nghĩa tích hợp là quá trình học tập góp phần hình thành năng lực rõ ràng cho học sinh, chuẩn bị cho các hoạt động học tập và hòa nhập cuộc sống sau này [13, 73] Khái niệm này nhấn mạnh mục tiêu trang bị kiến thức cơ bản giúp học sinh bước vào đời và dễ dàng hòa nhập với cuộc sống, đồng thời phát triển khả năng phối hợp kiến thức, kỹ năng và vận động tổng hợp Trong lịch sử Việt Nam, quan điểm tích hợp thể hiện qua các môn như “Cách trí” và “Khoa học thường thức” từ thời Pháp thuộc, nhằm giúp học sinh suy xét các nguyên lý của sự vật để tìm hiểu chân lý Từ năm 1987, môn “Tìm hiểu Tự nhiên và Xã hội” được xây dựng dựa trên quan điểm tích hợp và đưa vào dạy từ lớp 1 đến lớp 5, mở rộng trong chương trình năm 2000, thể hiện rõ trong hoạt động giảng dạy ở tiểu học, THCS và THPT Tuy nhiên, khái niệm này còn khá mới mẻ với nhiều giáo viên, một số đã nhận thức nhưng chưa thành thạo trong vận dụng, vì vậy cần hiểu tích hợp là tư tưởng hiện đại, nguyên tắc quan trọng để nâng cao hiệu quả giảng dạy trong các phân môn liên quan.

Cuộc sống là một kho tàng tri thức, kinh nghiệm và phương pháp phong phú Mọi tình huống trong cuộc sống đều mang tính tích hợp, đòi hỏi việc sử dụng tổng hợp và phối hợp kinh nghiệm cùng kỹ năng của nhiều lĩnh vực khác nhau Rèn luyện khả năng tích hợp giúp học sinh trở nên thông minh trong học tập, sáng tạo trong vận dụng kiến thức và phương pháp của nền tảng tri thức toàn diện để giải quyết linh hoạt các vấn đề trong cuộc sống hiện đại.

Phương pháp dạy học tích hợp là xu thế hiện đại ngày càng được quan tâm và áp dụng rộng rãi trong nhà trường quốc tế cũng như ở Việt Nam Từ những năm 90 của thế kỷ XX, việc xây dựng các môn học tích hợp đã trở thành trọng tâm nghiên cứu, thử nghiệm và thực tiễn trong giáo dục phổ thông, đặc biệt ở tiểu học và trung học cơ sở Trước đó, hình thức giảng dạy tích hợp chỉ dừng lại ở mức liên hệ, phối hợp các kiến thức và kỹ năng của các môn học khác nhau để giải quyết vấn đề cụ thể Hiện nay, xu hướng tích hợp tiếp tục được phát triển trong chương trình, sách giáo khoa bậc Trung học phổ thông, với nguyên tắc tổ chức nội dung, biên soạn sách và phương pháp giảng dạy dựa trên quan điểm này Trong lĩnh vực lý luận và phương pháp dạy học, câu hỏi đặt ra cho môn Ngữ văn là làm thế nào để vận dụng phương pháp tích hợp nhằm nâng cao năng lực học sinh, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện bao gồm dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp.

1.1.3 Sự chi phối của quan điểm tích hợp tới chương trình Ngữ văn THPT hiện nay

Dạy học theo quan điểm tích hợp phù hợp với mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông hiện đại, giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức cơ bản mà còn phát triển kỹ năng hòa nhập với cuộc sống thực tế Trước kia, các môn học tồn tại riêng biệt với mục tiêu riêng, nhưng ngày nay cần hướng tới mục tiêu thống nhất để học sinh có thể thích nghi nhanh chóng với cuộc sống sau khi ra trường Môn Ngữ Văn, bao gồm các bộ phận Văn học, Tiếng Việt, và Làm Văn, đóng vai trò nền tảng trong việc xây dựng trình độ văn hóa và phát triển tư duy của học sinh, đồng thời góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và hình thành nhân cách cao đẹp cho người công dân tương lai.

Chương trình THPT đã nhấn mạnh nguyên tắc tích hợp cần được hiểu toàn diện và thực hiện trong mọi hoạt động của quá trình dạy học và học sinh, từ đọc văn đến làm văn, trong các sách giáo khoa, phương pháp dạy học và hoạt động học tập Môn Ngữ văn, như một môn khoa học xã hội, đặc biệt quan trọng trong việc hình thành tư duy, nhân cách và tình cảm của học sinh Áp dụng quan điểm tích hợp được coi là một bước đổi mới phương pháp dạy học, giúp đáp ứng yêu cầu đào tạo những con người hiện đại.

Trong chương trình Ngữ văn hiện nay, các nhà biên soạn đã bám sát nguyên tắc tích hợp làm hướng đi chính, yêu cầu giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy để phù hợp với xu hướng này Thay vì giảng dạy tách rời từng phân môn, giáo viên cần tích hợp ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn trong mỗi bài học, nhằm phát triển kỹ năng và năng lực tổng hợp cho học sinh Mặc dù việc tích hợp này quen thuộc trong quá trình học tập môn Ngữ văn, nhưng việc áp dụng trong thực tiễn lại khá mới mẻ, đặc biệt khi phải kết hợp cả ba mạch kiến thức và kỹ năng trong một bài học Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể tích hợp trọn vẹn cả ba phân môn nếu các kiến thức và kỹ năng của chúng không đồng quy, và trong những trường hợp đó, giáo viên buộc phải tổ chức giảng dạy riêng biệt cho từng yếu tố.

Hiện nay, sách giáo khoa sử dụng quan điểm tích hợp dựa trên sự kế thừa và nâng cao các chỉ dẫn tích hợp đã được đề cập trong quá trình dạy học môn Ngữ Văn, đặc biệt ở THPT, với các cơ sở lý luận mới Điểm mới của chương trình và sách giáo khoa hiện hành là tập trung bồi dưỡng cho giáo viên lý thuyết về tích hợp, giúp giáo viên nhận thức rõ ràng về phương pháp tích hợp dựa trên cơ sở khoa học để đạt hiệu quả cao hơn So với các môn học khác, môn Ngữ Văn có điều kiện thuận lợi để thực hiện tích hợp, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.

Cơ sở lý luận

1.2.1 Khái niệm tri thức lí luận văn học

Lý luận văn học, hay còn gọi là theory of literature, là môn học nghiên cứu về bản chất, chức năng xã hội và thẩm mỹ của văn học Nó phân tích các quy luật phát triển của sáng tác văn học nhằm định hướng phương pháp luận và phương pháp phân tích trong lĩnh vực văn học.

Lí luận văn học là bộ môn nghiên cứu về bản chất, đặc trưng cấu tạo, quy luật tồn tại và phát triển của văn học, giúp hiểu rõ các hiện tượng văn học từ tác phẩm, tác giả, thể loại đến trào lưu và phong cách Nó cung cấp hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học chặt chẽ để người đọc, nhà phê bình và nhà nghiên cứu có thể vận dụng hiệu quả trong việc phân tích và nghiên cứu văn học.

Lý luận văn học tập trung vào "phương diện cấu trúc và những đặc điểm chung của văn học", nhấn mạnh những đặc điểm của hiện tượng văn học đã phát triển đến mức điển hình để làm đối tượng nghiên cứu chính Đây là toàn bộ tri thức văn học liên quan đến lĩnh vực nghệ thuật, hình thái tri thức xã hội, phản ánh sự thống nhất nhưng vẫn đa dạng và không ngừng thay đổi trong dòng chảy của lịch sử.

Phạm vi nghiên cứu của lí luận văn học bao gồm:

- Bản chất đặc trưng của văn học

- Cấu trúc của tác phẩm và thể loại tác phẩm

- Tiến trình phát triển văn học

- Quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học

1.2.2 Tri thức lí luận văn học là tri thức cơ sở để học tốt các phân môn Ngữ văn trong nhà trường THPT

Chương trình Ngữ văn THPT hiện nay được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp, giúp các phần như văn học, tiếng Việt và tập làm văn không còn tách biệt mà được biên soạn chung trong một bộ SGK Ngữ văn Mặc dù mỗi bộ phận có kiến thức riêng, nhưng tất cả đều được tích hợp thông qua các hoạt động nghe, nói, đọc, viết, tập trung chủ yếu vào đọc - hiểu và làm văn Chính vì thế, hai trục chính của chương trình là đọc - hiểu văn bản và làm văn nhằm nâng cao kỹ năng ngôn ngữ và tư duy phản biện cho học sinh Trong trục đọc hiểu, kiến thức văn học còn được tích hợp với lý luận văn học, lịch sử văn học và văn hoá dân tộc, đòi hỏi cách sắp xếp các bài đọc phù hợp với việc tổ chức nội dung và kiến thức trong SGK.

Chương trình học văn gồm các văn bản được sắp xếp theo các thời kỳ lớn của lịch sử văn học và theo cụm thể loại như thơ, truyện, nghị luận, kịch, ngâm khúc, truyện Nôm, văn tế Đồng thời, chương trình còn có mục tri thức đọc - hiểu, bao gồm kiến thức về lý luận văn học, lịch sử văn học và văn hóa, trong đó chủ yếu là tri thức về lý luận văn học Việc phối hợp sắp xếp này giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và hiểu sâu hơn về lý luận văn học, phù hợp với quy luật thể loại và thúc đẩy bồi dưỡng tri thức thể loại Từ lớp 10 đến lớp 12, tri thức đọc hiểu lý luận văn học được phân chia rõ ràng: lớp 10 chủ yếu tập trung vào các thể loại văn học dân gian và trung đại, lớp 11 mở rộng nội dung về các thể loại hiện đại, tác phẩm, tác giả và phong cách, còn lớp 12 chú trọng nghiên cứu các xu hướng, khuynh hướng văn học và hiện tượng văn học hiện đại.

Phương pháp giảng dạy tích hợp dựa trên việc sắp xếp các kiến thức lý luận văn học một cách hợp lý, giúp các bộ phận tri thức liên quan kết hợp với nhau để đạt hiệu quả cao Lý luận văn học và đọc văn có mối quan hệ mật thiết, thể hiện mối liên hệ giữa lý thuyết khái quát và các hiện tượng văn học cụ thể Do đó, việc kết hợp dạy lý luận văn học với đọc văn là cần thiết để nâng cao hiệu quả học tập và phát triển kiến thức đầy đủ về văn học.

Theo nguyên tắc tích hợp, các phần trong SGK Ngữ văn: Văn bản, Làm văn, Tiếng Việt được sắp xếp xen kẽ và phối hợp chặt chẽ với nhau

Chương trình lý luận văn học được thiết kế linh hoạt, sắp xếp rải rác nhằm tối đa hóa quá trình rèn luyện năng lực đọc - hiểu của học sinh Trong đó, các bài học về lý thuyết văn bản văn học bắt đầu từ lớp 10, cung cấp kiến thức nền tảng giúp học sinh phân biệt rõ ràng giữa văn bản văn học và các dạng văn bản khác Vào đầu học kỳ I lớp 10, học sinh được học bài Văn bản văn học như một nền tảng để nắm vững kiến thức về thể loại và đặc điểm của văn bản văn học Tiếp theo, các bài đọc hiểu văn bản văn học giúp học sinh hình thành kỹ năng đọc hiểu tiếng Việt, hướng dẫn các bước phân tích văn bản Trong lớp 11, chương trình mở rộng với các bài về thể loại văn học như truyện, thơ, kịch bản và văn nghị luận, nhằm giúp học sinh nâng cao kiến thức và kỹ năng đọc hiểu dựa trên nền tảng thể loại Đến lớp 12, chương trình tăng cường các nội dung phức tạp hơn qua các bài như Giá trị văn học, Tiếp nhận văn học, Phong cách văn học và Quá trình văn học, giúp học sinh nâng cao khả năng đọc – hiểu, khám phá và đánh giá giá trị tác phẩm văn học một cách toàn diện. -Tăng cường kỹ năng đọc hiểu văn học lớp 10-12 với phương pháp học linh hoạt và kiến thức chuyên sâu, khám phá ngay! [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/2699274)

Trong chương trình lý luận văn học ở THPT, cách sắp xếp xen kẽ giữa các bài lý luận riêng biệt với mục Tiểu dẫn và Tri thức đọc hiểu là một đặc điểm quan trọng nhằm tối ưu quá trình học tập Các mục này giúp bổ sung kiến thức lý luận bị thiếu hụt do thời gian dạy lý luận hạn chế, bằng cách để học sinh tìm hiểu trước ở nhà và củng cố trên lớp Nội dung của các mục này được phân bổ từ đầu đến cuối sách, ngắn gọn nhưng có giá trị lớn, bổ sung những kiến thức quan trọng cho bài học chính Ví dụ, kiến thức về đọc truyện, truyện ngắn, tiểu thuyết như Tiểu thuyết trung đại Việt Nam, Tiểu thuyết hiện đại, cùng với các vấn đề về nghệ thuật như Tình huống truyện, Chi tiết nghệ thuật, Thời gian nghệ thuật đều được giải thích rõ ràng trong mục Tri thức đọc hiểu Các chủ đề liên quan đến bài đọc thơ như Thơ Đường, Thơ lục bát, Vẽ đẹp trí tuệ hay Cảm hứng lãng mạn, nhân vật trữ tình cũng được cung cấp đầy đủ, giúp học sinh hiểu rõ hơn về các phương diện của văn học như Văn học lãng mạn, Văn học hiện thực Nhìn chung, các bài lý luận riêng lẻ mang lại khối lượng tri thức phong phú, hỗ trợ tích cực cho việc đọc hiểu và phân tích văn bản văn học hiệu quả.

1.2.3 Tri thức lý luận văn học cần thiết để mở rộng kiến thức của văn học nói chung

Văn học gắn liền với tiến trình lịch sử của đất nước và chịu ảnh hưởng của quá trình lịch sử đất nước, khiến cho nền văn học Việt Nam luôn thay đổi theo tri thức lý luận văn học Hiểu biết về lý luận văn học mở rộng kiến thức trong quá trình sáng tác, nghiên cứu, thẩm bình và phân tích các tác phẩm văn học, giúp người tiếp cận hiểu rõ đặc điểm, thể loại, phong cách, trào lưu của tác phẩm Lý luận văn học cung cấp hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học giúp phân tích bản chất, đặc trưng và quy luật phát triển của văn học, từ đó giúp nhà phê bình, nhà nghiên cứu và người học vận dụng một cách sáng tạo trong công việc và giảng dạy Trong quá trình giảng dạy văn học, việc tích hợp tri thức lý luận giúp học sinh hiểu sâu sắc về nội dung và hình thức tác phẩm, dễ dàng tiếp thu kiến thức, và vận dụng lý luận trong sáng tác và phân tích như thể loại, kỹ năng, phong cách Chẳng hạn, dạy bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu yêu cầu giúp học sinh nhận biết đặc trưng của thơ trữ tình và cách nhà thơ thể hiện cảm xúc, tư tưởng qua cách dùng từ, hình ảnh, biện pháp tu từ sáng tạo Tương tự, dạy truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao giúp học sinh hiểu đặc trưng thể loại truyện ngắn, cách xây dựng nhân vật, tạo tình huống độc đáo, sáng tạo, qua đó tích hợp kiến thức lý luận văn học trong quá trình đọc hiểu Nguyên tắc tích hợp lý luận phải được thực hiện toàn diện trong toàn bộ quá trình dạy học từ đọc hiểu, làm văn, đến hoạt động của học sinh và trong các tài liệu tham khảo, đảm bảo các yếu tố này đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả học tập và phát triển năng lực phân tích, sáng tạo của học sinh.

Dạy học môn Ngữ văn cần tiếp cận, nghiên cứu và ứng dụng phương pháp dạy học tích hợp để củng cố kiến thức lý luận văn học, giúp hình thành và phát triển năng lực học sinh trong quá trình lĩnh hội và sáng tạo văn bản Việc vận dụng phương pháp tích hợp không chỉ nâng cao hiệu quả học tập mà còn góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của môn Ngữ văn trong nhà trường.

Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Chương trình Ngữ Văn ở trường THPT hiện nay Để phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, xu thế phát triển chương trình và đổi mới quan niệm về sách giáo khoa phổ thông cácnước trong khu vực và trên thế giới buộc Việt Nam phải đổi mới, vì thế chương trình và SGK Ngữ Văn hiện nay cũng có những đổi mới tích cực Trong chương trình cũ (Chỉnh lý hợp nhất năm 2000), môn văn gồm ba phân môn tồn tại độc lập là Văn học, Tiếng Việt và Làm văn Tương ứng với mỗi phân môn là một cuốn SGK riêng Nay theo chương trình mới, ba phân môn độc lập là văn học (bao gồm bộ phận đọc-hiểu văn bản, lý luận văn học và văn học sử); Tiếng Việt và Làm văn được tích hợp lại trong một môn học thống nhất mang tên Ngữ Văn SGK cũng chỉ còn một cuốn chung là SGK Ngữ Văn Sự thay đổi này thể hiện quan niêm giảm tải tăng tính thực hành, tính ứng dụng, tích hợp và tích cực của các nhà biên soạn Nó cũng là sự tiếp nối chương trình Ngữ Văn THCS trong tính liên thông, đồng bộ, nhất quán Nếu trong chương trình cũ ba phân môn được xây dựng tách rời, độc lập, thì chương trình mới được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp và tích cực Tích hợp ở đây được hiểu là sự gắn kết, phối hợp các tri thức gần nhau của các phân môn Văn, tiếng Việt, Làm văn nhằm hình thành và rèn luyện tốt các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh Theo tinh thần này khi dạy đọc hiểu văn bản cho học sinh, nhà trường THPT phải hình thành cho các em năng lực vận dụng một cách tổng hợp các tri thức và kĩ năng không chỉ của riêng môn văn (bao gồm các tri thức như kiến thức lịch sử văn học, lý luận văn học ) mà còn phải huy động các kiến thức và kĩ năng khác (bao gồm các kiến thức liên ngành như tiếng Việt, làm văn và các kiến văn hoá xã hội ) Điều này sẽ góp phần phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc tiếp nhận các tri thức văn chương Đọc hiểu là một bộ phận tri thức nằm trong phần văn học của chương trình Ngữ Văn Khái niện đọc -hiểu (comprehensionreading) có nội hàm khoa học phong phú, nhiều cấp độ và không những gắn liền lý luận dạy học văn, mà còn với lý thuyết tiếp nhận, tâm lý học nghệ thuật, lý thuyết giao tiếp, thi pháp học và văn bản học Cách đọc này được sách giáo viên Ngữ Văn lớp 6, tập 1, giải thích như sau: “khả năng đọc- hiểu một tác phẩm văn chương lệ thuộc không ít vào việc có thể trả lời được hay không những câu hỏi đặt ra ở những câu hỏi đặt ra những cấp độ khác nhau Mức thấp nhất chỉ cần sử dụng ngay các thông tin trong văn bản Đó là trường hợp câu trả lời đó có sẵn trong bài, là trình độ chỉ biết đọc trên dòng Mức cao hơn buộc phải suy nghĩ và sử dụng những thông tin trong văn bản, là trình độ đó biết đọc giữa các dòng Cao hơn nữa là yêu cầu khái quát, liên hệ giữa cái mà học sinh đó đọc với thế giới bên ngoài bài học, đó là trình độ biết vượt ra khỏi dòng để đọc văn bản Khám phá theo hướng này thì học sinh không chỉ hứng thú, hiểu sâu văn bản mà còn liên hệ được một cách sinh động tự nhiên việc học văn với những vấn đề của cuộc sống”

Đọc hiểu văn bản trong các giờ học Ngữ Văn là quá trình khám phá để cảm nhận và hiểu sâu nội dung, ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Phương pháp này giúp học sinh tiếp cận nghệ thuật ngôn ngữ qua cảm thụ trực tiếp, phân tích và thấu hiểu ngôn ngữ, từ đó phát hiện ý nghĩa sâu xa trong văn bản Đọc chính là con đường duy nhất giúp học sinh cảm nhận vẻ đẹp và ý nghĩa của hình thức thể hiện của văn bản nghệ thuật, đồng thời hiểu rõ nội dung tư tưởng về nhân tâm và thế sự trong tác phẩm.

Việc đổi mới sách giáo khoa hướng tới mục tiêu đáp ứng xu thế giáo dục của UNESCO, bao gồm học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình Đổi mới này đòi hỏi mỗi giáo viên phải có ý thức trách nhiệm cao trong quá trình giảng dạy nhằm giúp học sinh khám phá văn bản đọc hiểu và vận dụng kiến thức vào thực hành Đồng thời, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, tự học, tự phát hiện và tự chiếm lĩnh kiến thức mới để nâng cao hiệu quả dạy và học.

1.3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành và cũng cố tri thức lý luận văn học cho học sinh THPT huyện miền núi Quỳ Châu

Trong thực trạng dạy và học Ngữ Văn hiện nay, học sinh ngày càng thờ ơ và hững hờ với môn học này, trong khi nhiều giáo viên cảm thấy chán nản trước cảnh tượng giáo viên độc thoại trên lớp Gần đây, phương pháp giảng dạy Ngữ Văn đã có những thay đổi đáng kể về nội dung và hình thức, chuyển từ vai trò trung tâm của thầy sang vai trò điều phối và tổ chức việc tiếp nhận văn chương của học sinh một cách tích cực và chủ động Trong các giờ đọc - hiểu văn bản văn học, giáo viên đã đáp ứng yêu cầu cung cấp kiến thức đa dạng và cụ thể về thể loại, đồng thời đổi mới phương pháp dạy học, tuy nhiên, việc đổi mới quan niệm về đặc trưng của môn học vẫn còn nhiều hạn chế.

Hiện nay, phương pháp dạy học văn đã có nhiều đổi mới đáng kể, trong đó thuật ngữ “giảng văn” đã được thay thế bằng “đọc hiểu văn bản” để phản ánh rõ hơn mục tiêu của hoạt động học tập Phương pháp đọc – hiểu văn bản đã thay đổi nhấn mạnh việc giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động, đối thoại, đặt câu hỏi gợi mở và tạo tình huống có vấn đề để khơi dậy khả năng suy nghĩ và phản biện của học sinh Các hình thức giảng dạy mới đã được áp dụng, tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế về hiệu quả thực chất và chưa thực sự chạm đến chiều sâu của quá trình học tập, dẫn tới kết quả chưa như mong đợi trong việc nâng cao kỹ năng đọc hiểu cho học sinh.

Việc phát huy tính tích cực và chủ động của học sinh trong quá trình học tập là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả dạy học Một số giáo viên vẫn còn thói quen giảng dạy theo phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều, trong đó giáo viên đóng vai trò chủ đạo còn học sinh chủ yếu lắng nghe, ghi nhớ và nhắc lại nội dung Nhiều giáo viên chưa chú trọng đến việc khuyến khích học sinh tiếp thu, vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, cũng như hướng dẫn học sinh tìm ra con đường tích cực để học tập Thay vì tổ chức các giờ học sinh động, hấp dẫn, một số giáo viên lại tổ chức giờ dạy văn như buổi diễn thuyết hoặc đọc chậm rãi để học sinh chép lại, khiến giờ học chưa thực sự thu hút và gây hứng thú Điều này dẫn đến một bộ phận học sinh vẫn còn thờ ơ, thiếu cảm hứng với môn văn học.

Nhiều giáo viên đứng lớp chưa được trang bị đầy đủ về quan điểm và lý luận phương pháp dạy học văn theo hướng mới, dẫn đến khó khăn trong tổ chức và hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản hiệu quả Một số giáo viên chỉ thực hiện các hoạt động một cách hời hợt, mang tính áp đặt, chưa phát huy được khả năng sáng tạo và kỹ năng đọc hiểu của học sinh Ngoài ra, còn thiếu chú ý đến đặc điểm đối tượng tiếp nhận và đặc trưng của bộ môn, khiến việc phân tích văn bản bị rối rắm, cắt ghép, thiếu tôn trọng thông điệp nghệ thuật tự nhiên của tác phẩm.

Nhiều giáo viên chưa hiểu rõ tinh thần của đổi mới phương pháp dạy học, dẫn đến lệ thuộc vào cách dạy truyền thống khiến bộ môn văn bị xa rời bản chất Học sinh ít hứng thú với môn Văn vì không thể cảm nhận được vẻ đẹp và giá trị thẩm mỹ của tác phẩm văn học Thay vì khai thác những điểm sáng nghệ thuật và tạo cảm xúc qua phân tích văn bản, nhiều giờ dạy chỉ tập trung vào đọc hiểu như học các môn chính trị hoặc lịch sử, khiến học sinh chưa thể cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng ngôn từ và không thể bùng cháy niềm đam mê văn chương Chính sự xa rời này đã làm mất đi khả năng khơi gợi cảm xúc và nhiệt huyết đối với môn Văn của học sinh.

Trong giờ đọc - hiểu văn bản văn học, giáo viên cần cung cấp kiến thức thể loại để hỗ trợ quá trình tìm hiểu tác phẩm Việc hiểu rõ nội dung và hình thức của tác phẩm là yếu tố quan trọng trong dạy học văn học trường phổ thông Tuy nhiên, nhiều giáo viên thiếu kiến thức vững về đặc trưng thể loại, dẫn đến khó khăn trong việc vận dụng phù hợp vào giảng dạy Một số giáo viên nhầm lẫn khái niệm về thể loại, như hiểu “bi” chỉ đơn thuần là “bi kịch”, khiến việc phân tích nhân vật gặp hạn chế do không hiểu rõ quan niệm nghệ thuật của nhà văn Không nắm vững đặc trưng của thể loại và “chất của loại”, giáo viên gặp khó trong soạn giáo án và đặt câu hỏi mở, gây ảnh hưởng đến khả năng giúp học sinh nhận biết nét đặc trưng, độc đáo của văn bản Tình trạng này khiến học sinh thiếu kỹ năng đọc hiểu khi tiếp xúc với các văn bản cùng loại, hạn chế khả năng phân tích và cảm nhận tác phẩm văn học.

Dạy học văn ở trường phổ thông hiện nay chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trong giảng dạy kỹ năng đọc hiểu và phân tích tác phẩm văn học Để nâng cao chất lượng giảng dạy, cần có một cái nhìn toàn diện hơn về phương pháp tiếp cận và đổi mới phương pháp dạy học một cách đồng bộ Điều quan trọng là các nhà giáo cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thay đổi cách dạy và hành động phù hợp nhằm thúc đẩy hiệu quả trong quá trình học tập của học sinh.

Mục tiêu cuối cùng của việc dạy học Ngữ văn ở trường THPT là giúp học sinh trang bị kiến thức cơ bản về văn hóa và văn học, cùng khả năng cảm thụ và đánh giá các tác phẩm nghệ thuật Học sinh cần hiểu rõ bản thân và người khác, yêu thương và tôn trọng lẫn nhau để sống và làm việc chung trong cộng đồng Đồng thời, việc phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết từ cơ bản đến thành thạo và kỹ năng giao tiếp hiệu quả trước công chúng là trọng tâm của chương trình Học sinh cũng phải biết soạn thảo các loại văn bản cần thiết trong cuộc sống và công việc hàng ngày Tổng thể, dạy học môn Ngữ văn hướng tới mục tiêu chung của giáo dục thế giới theo tổ chức UNESCO: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”.

Dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục đề ra, khi nhiều học sinh ra trường vẫn thiếu kỹ năng soạn thảo văn bản văn học và nghị luận văn học Điều này cho thấy cần cải thiện phương pháp giảng dạy để nâng cao khả năng viết và phân tích văn học cho học sinh Bên cạnh đó, kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống của các em cũng chưa được đào tạo bài bản, ảnh hưởng đến khả năng hòa nhập xã hội sau khi tốt nghiệp.

Chức năng của văn học là nhân đạo hóa con người, giúp học sinh nhận thức sâu sắc về xã hội, con người và cuộc sống Thông qua các bài học về tác phẩm văn học, học sinh không chỉ mở rộng hiểu biết mà còn được bồi dưỡng tâm hồn, nâng cao nhân cách Đồng thời, văn học còn góp phần rèn luyện những kỹ năng sống cần thiết, giúp phát triển tư duy và cảm xúc tích cực trong quá trình trưởng thành.

Hiện nay, học sinh ít quan tâm đến môn Văn và chủ yếu học để đối phó với các kỳ thi, kiểm tra, dẫn đến tình trạng thụ động cao, hạn chế khả năng sáng tạo và vận dụng kiến thức vào thực tế Thói quen nghe – chép – ghi nhớ – tái hiện một cách máy móc đã trở thành phổ biến, khiến các em thiếu sự chủ động trong việc khám phá và cảm nhận tác phẩm văn học Điều này đã tiêu diệt ý tưởng sáng tạo và khả năng suy nghĩ của học sinh, biến họ thành những người lười suy nghĩ, diễn đạt ý kiến dựa trên lời nói mẵn hoặc ý mượn, khiến hoạt động học trở thành nô lệ của sách vở Học sinh chưa hình thành nhu cầu tự thể hiện cảm xúc và suy nghĩ cá nhân trước tập thể, gây khó khăn trong việc nói và viết, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng giao tiếp và phát triển tư duy sáng tạo trong môn Văn.

Vấn đề then chốt trong việc giảng dạy kỹ năng đọc hiểu là tập trung vào việc giúp học sinh rèn luyện khả năng đọc văn bản một cách chính xác và tự tin, đồng thời khuyến khích học sinh tiếp xúc nhiều hơn với các loại văn bản văn học đa dạng Việc này không chỉ nâng cao kỹ năng đọc mà còn giúp hình thành khả năng cảm nhận và phân tích các giá trị văn học trong từng tác phẩm Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu các văn bản văn học là yếu tố cốt lõi để phát triển năng lực tư duy, cảm thụ nghệ thuật và hiểu biết về văn học trong quá trình học tập.

Những nội dung tri thức lí luận văn học cần tích hợp

2.2.1 Các tri thức mang tính nguyên lý chung

Lí luận văn học là một bộ môn nghiên cứu về văn học, nhằm khái quát bản chất, đặc trưng cấu tạo, quy luật tồn tại và phát triển của văn học Nó giúp con người hiểu rõ các hiện tượng văn học qua các tác phẩm, tác giả, thể loại, trào lưu và phong cách Đồng thời, lí luận văn học cung cấp hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học chặt chẽ như những công cụ quan trọng cho nhà nghiên cứu, nhà phê bình và các nhà sử học văn học trong việc phân tích và nghiên cứu văn học một cách hiệu quả.

Lý luận văn học tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống, giúp làm rõ vai trò phản ánh chân thực cuộc sống trong sáng tạo văn học Đồng thời, lý luận cũng phân tích sự giao thoa giữa văn học và các loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc, mỹ thuật, và sân khấu, từ đó làm nổi bật đặc trưng và vị trí đặc thù của văn học trong đời sống văn hóa Những nghiên cứu này nhấn mạnh giá trị của văn học như một phương tiện phản ánh, phản biện và góp phần nâng cao nhận thức xã hội.

Lí luận văn học tập trung phân tích cấu trúc nội tại của tác phẩm, bao gồm các yếu tố không gian, thời gian, nhân vật, người kể chuyện, cốt truyện và kết cấu Những yếu tố này đặc trưng cho các thể loại văn học như thơ ca, tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch Việc khám phá cấu trúc này giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm và phẩm chất của từng thể loại, từ đó nâng cao khả năng phân tích và đánh giá tác phẩm văn học.

Lí luận văn học nghiên cứu quá trình vận động của văn học hay còn gọi là tiến trình văn học, nhằm hiểu rõ sự phát triển và biến đổi của các xu hướng, trường phái, trào lưu văn học qua các thời kỳ lịch sử xã hội Nội dung này giúp làm rõ đặc điểm thi pháp nghệ thuật của từng phong trào, góp phần nâng cao kiến thức về lịch sử phát triển mỹ thuật và văn học Việt Nam.

Nhìn chung kiến thức lý luận văn học mang tính chất tổng kết, phám phá những vấn đề cốt lõi, bản chất của văn học

Nắm vững kiến thức cơ bản về lý luận văn học giúp người học chủ động, tự tin trong việc nghiên cứu và phân tích các tác phẩm văn học Điều này cho phép họ dễ dàng giải mã, cắt nghĩa hàng trăm, hàng nghìn hiện tượng tác giả và tác phẩm từ cổ kim, Đông Tây Kiến thức lý luận văn học như một bảo bối cẩm nang, trang bị nền tảng vững chắc để hiểu sâu sắc hơn về các giá trị văn hóa và nghệ thuật của các tác phẩm khác nhau.

2.2.2 Các tri thức về thể loại và tác phẩm văn học

Thể loại văn học là "nhân vật chính" trong quá trình hình thành và phát triển của văn học qua các thời kỳ lịch sử Trong các sách lý luận, văn học được chia thành ba loại chính: trữ tình, tự sự và kịch, phù hợp với ba phương thức cảm thụ và phản ánh đời sống bằng các phương tiện nghệ thuật đặc trưng Chính vì vậy, khi nói đến thể loại văn học, không thể bỏ qua việc hiểu rõ bản chất của nó, đó là khái niệm quy định quy luật loại hình của tác phẩm dựa trên nội dung và hình thức cụ thể Để nhận thức và nắm vững các loại thể văn học, cần nhìn nhận tính chất biện chứng giữa các yếu tố cốt lõi được giữ lại và những thay đổi qua các tác phẩm khác nhau, từ đó tạo nên sự đa dạng của các thể loại Sự đa dạng này chính là kết quả của quá trình đổi mới liên tục trong sáng tác và thể hiện trong các tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau.

Trong nghiên cứu và dạy học đọc hiểu TPVC, cần chú trọng vào tính chất độc đáo và khác biệt của loại thể chưa từng xuất hiện trong bất kỳ tác phẩm nào Giá trị của TPVC không nằm ở mức độ giống nhau so với các tác phẩm cùng loại, mà ở chỗ nó mang lại sự đổi mới về loại thể và nâng cao chất lượng nghệ thuật Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, mỗi tác phẩm đều góp phần biến đổi khả năng của loại thể, và những tác phẩm xuất sắc chính là những tác phẩm thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của loại thể đó.

Để nắm vững đặc trưng loại thể của một thể loại văn học phản ánh, người dạy và người đọc cần chuẩn bị kiến thức về quy luật lặp lại và sự phát triển của thể loại, nhằm hiểu rõ tính chất độc đáo và khả năng vận dụng phù hợp của tác phẩm.

Thể loại là một phạm trù quan trọng trong sáng tác, không chỉ phản ánh giá trị mĩ học mà còn mang tính văn hoá lịch sử sâu sắc Việc lựa chọn thể loại giúp nhà văn thể hiện quan điểm, cảm xúc về cuộc sống và truyền tải thông điệp đến độc giả một cách rõ ràng, sinh động Chọn thể loại phù hợp là cách thể hiện quan điểm cá nhân của nhà văn về cuộc đời, đồng thời giúp người đọc hiểu rõ hơn về nội dung và ý nghĩa tác phẩm.

Kênh giao tiếp đóng vai trò là cầu nối giúp người đọc hiểu rõ hơn về vùng đời sống được quan tâm, từ đó dễ dàng tiếp cận và quan sát các yếu tố xung quanh Dự báo về cách tiếp cận mới sẽ hướng người đọc vận dụng những kinh nghiệm đã tích lũy để thưởng thức tác phẩm một cách sâu sắc hơn Việc hiểu và sử dụng các kênh giao tiếp hiệu quả sẽ nâng cao khả năng cảm nhận và đánh giá tác phẩm, đồng thời mở rộng kiến thức và trải nghiệm của người đọc trong quá trình thưởng thức nghệ thuật.

Trong đời sống thực tế, tác phẩm văn học không xuất hiện dưới dạng chung chung mà chủ yếu thể hiện qua các thể loại rõ ràng như câu tục ngữ, truyện cổ tích, bài văn tế và truyện ngắn Mỗi thể loại phản ánh thực tại và thái độ đối với thực tế theo cách riêng, tạo nên đặc trưng và phương pháp tiếp cận thực tiễn riêng biệt, được gọi là phương pháp lịch sử đặc thù Thể loại đóng vai trò là đơn vị cơ sở trong nghiên cứu và giảng dạy văn học, giúp xác định bản chất và đặc điểm riêng của từng tác phẩm.

Việc xác định thể loại là yếu tố then chốt trong quá trình phát triển khoa học phương pháp dạy học văn, giúp hiểu rõ đề tài, cảm hứng và giọng điệu của tác phẩm Thể loại quy định rõ ràng đề tài, cảm hứng, giọng điệu, kết cấu, giúp tránh tình trạng mò mẫm, bệnh lý cứng nhắc và rập khuôn trong sáng tác và giảng dạy Trong phương pháp dạy học, thể loại là nền tảng để giáo viên lựa chọn phương pháp phù hợp và trang bị kiến thức phân tích tác phẩm một cách hiệu quả hơn, từ đó nâng cao hiệu quả cảm thụ và giảng dạy văn học Khi người đọc hiểu rõ các thể loại như cổ tích thần kỳ, văn tế hay Thơ mới, khả năng cảm nhận của họ sẽ sâu sắc và tinh tế hơn, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tác phẩm văn học.

Hiện nay, nhiều giáo viên gặp khó khăn và lúng túng khi giảng dạy tác phẩm nghệ thuật trong chương trình giảng dạy văn học Mặc dù có những giờ dạy bài bản từ bước ổn định lớp, kiểm tra bài cũ đến giới thiệu tác phẩm mới, nhưng vẫn còn tồn tại những khó khăn trong cách truyền đạt và giúp học sinh cảm nhận đầy đủ giá trị của các tác phẩm văn học Việc giảng dạy tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo để tạo nên sự hấp dẫn và hiểu quả trong quá trình học tập của học sinh.

Tác phẩm có bố cục rõ ràng, chủ đề rõ ràng, có lời bình về nhân vật và nghệ thuật rất bóng bảy, cuốn hút, nhưng vẫn khiến người xem cảm thấy chưa yên tâm Có điều gì sâu thẳm và lớn lao trong tác phẩm nhưng do người hướng dẫn mở nhầm "cửa", nên người học chưa thể tiếp cận được kho tàng giá trị chứa đựng bên trong Nguyên nhân chính là chưa xác định rõ thể loại và tính chất nội dung của tác phẩm, khiến cho phân tích dù có sắc sảo đến đâu cũng khó đạt hiệu quả cao nhất.

Không dựa vào đặc trưng thể loại khi phân tích, chiếm lĩnh tác phẩm, người dạy sẽ rơi vào tình trạng võ đoán, mò mẫm Nhưng cũng có trường hợp hiểu được ý nghĩa của thể loại trong dạy học văn nhưng do quan niệm “mỗi loại có một thể tiêu biểu tạo thành những ấn tượng” nên dẫn đến tình trạng không ít giáo viên nhầm lẫn rằng nói đến trữ tình là nói đến thơ, nói đến tự sự là nói đến truyện Cách hiểu phiến diện này dẫn đến cách dạy rập khuôn, máy móc, công thức

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm