Phân phối lại thu nhập.Bất bình đẳng thu nhập là sự chênh lệch lớn về phân phối thu nhập, với phần lớn tổng thu nhậptrong nền kinh tế tập trung trong tay một nhóm người chiếm tỉ lệ nhỏ t
Trang 1CHƯƠNG 5: PHÂN PHỐI LẠI THU NHẬP
Chương này nghiên cứu nguyên nhân của việc phân phối lại thu nhập, các cơ sở cho việc phânphối và cuối cùng là xem xét tác động của chính sách phân phối lại thu nhập chủ Chính phủ đốivới các chủ thể trong nền kinh tế
Tài liệu tham khảo:
1 Nguyễn Thị Cành (2011) Tài chính công NXB ĐHQG TP.HCM (Chương 6
trang 162).
2 Nguyễn Văn Hiệu và Trần Thị Vân Anh (2020) Giáo trình Tài chính công
NXB ĐHQG Hà Nội (Chương 3 trang 98).
Trang 25.1 Phân phối lại thu nhập.
Bất bình đẳng thu nhập là sự chênh lệch lớn về phân phối thu nhập, với phần lớn tổng thu nhậptrong nền kinh tế tập trung trong tay một nhóm người chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng dân số
Khi xảy ra bất bình đẳng thu nhập, có một khoảng cách lớn giữa tài sản và sự giàu có của mộtphân khúc dân số so với phân khúc dân số còn lại
Trang 3Nhìn chung các nguyên nhân gây bất bình đẳng thu nhập có thể xếp vào hai nhóm:
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản;
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ lao động
5.1 Phân phối lại thu nhập.
Trang 45.1 Phân phối lại thu nhập.
Bên cạnh các yếu tố trên, chênh lệch về thu nhập có thể khác nhau do sự phân biệtđối xử Sự phân biệt đối xử là việc tạo ra các cơ hội khác nhau cho các cá nhân tương tự
nhau do sự khác nhau về chủng tộc, sắc tộc, giới tính, tuổi tác hoặc các đặc điểm cá nhân
khác
Ngoài ra, trong mô hình nền kinh tế hai khu vực Lewis (1954) cho rằng dư thừa laođộng ở khu vực nông thôn tại các nước đang phát triển có xu hướng làm tăng bất bình
đẳng về thu nhập vì tiền lương của lao động nông nghiệp không thể tăng theo sự tăng
trưởng công nghiệp ở các đô thị
Trang 55.1 Phân phối lại thu nhập.
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, bất bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng tiêu cực đếnquá trình phát triển nói chung, gây tổn hại đến sự gắn kết xã hội như ảnh hưởng xấu tới chấtlượng cuộc sống của người dân, làm tăng tỷ lệ nghèo đói, cản trở tiến bộ y tế - giáo dục nóichung Về lý thuyết có hai quan điểm ủng hộ và không ủng hộ phân phối lại thu nhập
Trang 65.1 Phân phối lại thu nhập.
Quan điểm ủng hộ lập luận đứng về phía phân phối lại thu nhập dựa trên thực tế rằng độ thỏadụng cận biên bị bỏ qua bởi một cá nhân có thu nhập cao thì ít hơn nhiều so với thỏa dụng cận biênđạt được bởi một cá nhân có thu nhập thấp Vì thế tổng thỏa dụng cận biên sẽ tăng lên nếu thu nhậpđược phân phối lại Một lập luận khác nhìn vào những chương trình phân phối lại thu nhập như mộthình thức bảo hiểm trong trường hợp một cá nhân có thu nhập cao gặp phải trong những giai đoạnkhó khăn
Quan điểm ngược lại cho rằng những chương trình phân phối lại thu nhập không có tính chấtkhuyến khích những người phải đóng góp cũng như những người nhận Một nguy cơ có thể xảy ra đó
là tổng sản lượng của nền kinh tế vì thế mà có khả năng suy giảm
Trang 75.1 Phân phối lại thu nhập.
Có hai cách suy nghĩ về phân phối thu nhập:
Sự bất bình đẳng thu nhập tương đối (Relative Income Inequality);
Sự bần cùng tuyệt đốì (Absolute Deprivation)
Trang 85.1 Phân phối lại thu nhập.
5.1.1 Sự bất bình đẳng thu nhập tương đối
Sự bất bình đẳng thu nhập tương đối là đo lường tỷ lệ phần trăm trong tổng thu nhập của một quốc giatrên cơ sở phân nhóm người nghèo so với nhóm người giàu Thực tế về mất bình đẳng thu nhập tương đối
ở Mỹ theo thời gian được thể hiện ở bảng sau:
Trang 95.1 Phân phối lại thu nhập.
5.1.1 Sự bất bình đẳng thu nhập tương đối
Bảng này chỉ ra tỷ lệ phần trăm của tổng thu nhậpquốc dân tính trên 20% của mỗi nhóm thu nhập ở Mỹ (tức là
mỗi một 1/5 của nhóm phân phối thu nhập) Chẳng hạn, năm
1967, 20% của hộ gia đình nghèo nhất chỉ nhận được 4%
tổng thu nhập của năm đó Ngược lại, 20% của hộ gia đình
giàu nhất lại nhận được tới gần 44% tổng thu nhập quốc dân
Trong một xã hội không có sự mất bình đẳng thu nhập tương
đối thì mỗi một 20% của nhóm thu nhập có tỷ lệ phần trăm
thu nhập như nhau (20%)
Sự bất bình đẳng thu nhập tương đối được đo lường bằng chênh lệch giữa tỷ lệ phần trăm thu nhậpđốì với nhóm thu nhập cao và tỷ lệ phần trăm thu nhập đối nhóm thu nhập thấp hơn Có một sự tiến triểnđáng kể về giảm bất bình đẳng thu nhập tương đối trong thời gian qua Giai đoạn từ 1960 - 1970, sự bất bìnhđẳng thu nhập có chiều hướng giảm: Tỷ lệ thu nhập trong tổng thu nhập quốc dân của 20% số hộ thuộcnhóm nghèo nhất tăng và tỷ lệ trong tổng thu nhập quốc dân của 20% số hộ thuộc nhóm giàu nhất có chiềuhướng giảm.Tuy nhiên, từ 1980 đến nay, bất bình đẳng thu nhập đang có chiều hướng gia tăng Hiện nay,gần 1/2 trong tổng thu nhập ở Mỹ thuộc về 20% số hộ gia đình thuộc nhóm giàu nhất
Trang 105.1 Phân phối lại thu nhập.
5.1.2 Sự bần cùng tuyệt đối và tỷ lệ nghèo đói
Cách tiếp cận thứ hai về phân phối thu nhập là sự bần cùng tuyệt đối: Người nghèo có liên quan đến đolường mức thu nhập tối thiểu có thể chấp nhận hợp lý là bao nhiêu? Ở Mỹ, tiêu chuẩn đo lường sự bần cùngtuyệt đối là đường nghèo đói Cách đo lường này được phát triển năm 1964 bởi Molly Orshansky, một nhânviên của ban quản trị an ninh xã hội, nhằm tính toán tiêu chuẩn cuộc sống tối thiểu ở nước Mỹ Khởi đầu, cô
ta sử dụng các tiêu chuẩn dinh dưỡng cho một người ăn kiêng ở mức tối thiểu chấp nhận được, và áp dụngchi phí thực phẩm trung bình của quốc gia để định ra giá mua của tập hợp hàng hóa đối với các gia đình cóquy mô khác nhau Kết quả này chính là đường nghèo đói Những con số tương tự qua thời gian sẽ được cậpnhật, điều chỉnh theo lạm phát Ở Mỹ năm 2004, một gia đình có 4 người với thu nhập dưới 18.850 đôla đãđược coi là sống trong nghèo khổ
Trang 115.1 Phân phối lại thu nhập.
5.1.2 Sự bần cùng tuyệt đối và tỷ lệ nghèo đói
Ở Việt Nam, về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025, các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều gồm tiêuchí thu nhập và tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản Cụ thể, tiêu chí thu nhập với khu vực nôngthôn 1,5 triệu đồng/người/tháng, khu vực thành thị 2 triệu đồng/người/tháng Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ
xã hội cơ bản, gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin Cùng với đó là các chỉ
số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình;dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở;diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông;phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin
Trang 125.1 Phân phối lại thu nhập.
Một câu hỏi quan trọng đặt ra cho chính sách tái phân phối của chính phủ là, liệu sự bần cùng tuyệt đốihay tương đối, chỉ tiêu nào đo lường thích hợp cho việc định hướng tái phân phối Chính phủ có nên quantâm đến thu nhập của người nghèo là bao nhiêu trong mối tương quan với người giàu hay trong mối tươngquan với tiêu chuẩn tuyệt đối
Bằng trực giác có thể nhận thức dường như cái thứ hai (trong mối tương quan với tiêu chuẩn tuyệt đối) làquan trọng cho chính sách của chính phủ Bởi vì, một khi người nghèo có thể chạm đến một mức tiêu dùng cóthể chấp nhận được trong xã hội (lo cho việc thoát nghèo trước), thì người giàu trong xã hội có bao nhiêu tiềnlại là vấn đề mới được xem xét sau đó? Do vậy, quốc gia cần quan tâm đo lường sự bần cùng tuyệt đối hơn làbất bình đẳng thu nhập tương đối
5.1.3 Tầm quan trọng của hai chỉ tiêu
Trang 13Kinh tế học phúc lợi truyền thống đã thừa nhận rằng phúc lợi xã hội phụ thuộc vào tình trạng sứckhỏe của các thành viên trong xã hội Về phương diện đại số, nếu như có n thành viên trong xã hội vàhữu dụng của thành viên thứ i là Ui, khi đó phúc lợi xã hội W là một hàm nào đó F(.) của các hữu dụng
cá nhân: W= F (U1, U2,…, Un)
Phương trình trên xem như là hàm vị lợi phúc lợi xã hội bởi vì nó liên quan đến các triết gia vị lợi xãhội của thế kỷ 19 Nó được giả thiết rằng, tăng lên bất kỳ Ui nào, các yếu tố khác không đổi, W sẽ tăng.Một sự thay đổi mà sẽ làm cho người nào đó phong lưu hơn nhưng không làm cho bất kỳ một người nàokhác nghèo đi sẽ làm cho phúc lợi xã hội tăng lên
5.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.1 Thuyết vị lợi giản đơn
Trang 14Tóm lại: Thuyết vị lợi cho rằng: (1) Phúc lợi xã hội chỉ phụ thuộc vào độ thỏa dụng của cá nhân; (2)Phúc lợi xã hội là tổng đại số độ thỏa dụng của tất cả các thành viên trong xã hội; (3) Mục tiêu của xã hội
là phải tối đa hóa tổng phúc lợi xã hội (W)
5.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.1 Thuyết vị lợi giản đơn
Trang 155.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.1 Thuyết vị lợi giản đơn
Thuyết vị lợi giả định rằng:
(1) Các cá nhân có các hàm hữu dụng đồng nhất và các hàm này chỉ phụ thuộc vào thu nhập của họ;(2) Các hàm hữu dụng này thể hiện sự phân biệt hữu dụng biên tế của thu nhập—như thu nhập củacác cá nhân tăng lên, họ sẽ trở nên sung túc hơn nhưng ở tốc độ giảm đi;
(3) Tổng số thu nhập có thể có được là cố định Với các giả định này và hàm cộng vào phúc lợi,chính phủ sẽ phải phân phối lại thu nhập để đạt được sự bình đẳng hoàn toàn
Để chứng minh cho điều này, giả sử rằng xã hội gồm chỉ có hai người, Peter và Paul Trong hình dưới đây, khoảng nằm ngang OO’ đo tổng số thu nhập có thể có được trong xã hội
Trang 165.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.1 Thuyết vị lợi giản đơn
Thu nhập của Paul được đo bằng khoảng cách đến phía trái của
điểm O’ Vì vậy bất kỳ điểm nào chạy theo OO’ biểu thị một phân
phối nào đó về thu nhập giữa Paul và Peter Vấn đề đặt ra là cần tìm
một điểm tốt nhất (điểm sau khi phân phối lại để đạt yêu cầu của
thuyết vị lợi).
Hữu dụng biên tế thu nhập của Paul được đo theo đường thẳng
đứng, bắt đầu từ điểm O Theo giả định 2, giản đồ liên quan của hữu
dụng biên tế thu nhập của Paul với mức thu nhập của anh ta đổ
xuống dưới được gọi là MUPaul.
Hữu dụng biên tế thu nhập của Peter được đo theo đường thẳng đứng, bắt đầu từ điểm O’ Hữu dụng biên tế thu nhập của anh ta được ký hiệu là MUPeter ( Ghi nhớ rằng chuyển động về phía trái trên trục hoành thể hiện sự tăng lên thu nhập của Peter) Bởi vì Paul và Peter có các hàm hữu dụng đồng nhất, nên MUPeter là tấm gương phản chiếu của MUPaul.
Trang 175.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.1 Thuyết vị lợi giản đơn
Giả sử rằng, lúc đầu thu nhập của Paul là Oa và thu nhập của
Peter là O’a Liệu có phải phúc lợi xã hội càng cao càng tốt hoặc
tổng hữu dụng có thể được tăng lên, nếu thu nhập bằng cách nào đó
đã được phân phối giữa Paul và Peter hay không? Chính phủ lấy ab
đô la đã lấy từ Peter và chuyển cho Paul Rõ ràng điều này sẽ làm
cho Peter nghèo đi và Paul sung túc lên Tuy nhiên, câu hỏi cốt yếu
là cái gì sẽ xảy ra đối với tổng các hữu dụng của họ Bởi vì Peter
giàu hơn Paul, những mất mát của Peter về hữu dụng nhỏ hơn lợi
lộc mà Paul nhận được, vì vậy tổng hữu dụng của họ là đi lên
Trang 185.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.1 Thuyết vị lợi giản đơn
Trên phương diện hình học, phân phối ab đô la cho Paul
sẽ làm tăng hữu dụng của anh ta lên bằng diện tích abfe Lấy
đi ab đô la của Peter sẽ làm giảm hữu dụng của anh ta xuống
bằng diện tích abdc Tổng hữu dụng của họ, vì thế sẽ tăng lên
bằng diện tích cefd Với lý lẽ cho rằng chừng nào còn bất
bình đẳng trong thu nhập, thì còn bất bình đẳng trong hữu
dụng biên tế, và tổng các hữu dụng có thể được tăng lên qua
việc phân phối thu nhập cho người nghèo Chỉ có tại điểm I*,
ở đó thu nhập và hữu dụng là bằng nhau MUPaul=MUPeter, và
phúc lợi được tối đa hoá Sự bình đẳng về thu nhập đầy đủ sẽ
được thực hiện
Trang 195.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.1 Thuyết vị lợi giản đơn
Điều kiện này vẫn đúng trong trường hợp hàm hữu dụng biên của các
cá nhân không giống nhau Tuy nhiên, khi đó điểm phân chia thu nhập giữa
các cá nhân không phải là I*, mà có thể là lệch sang một bên, hàm ý xã hội
chấp nhận mức độ bất bình đẳng ở mức hợp lý.
Tuy nhiên, với giả định 2 là thu nhập biên giảm dần chỉ phù hợp với
thu nhập dành cho chi tiêu để có hữu dụng Nhưng đối với thu nhập tích lũy
(tiết kiệm hay đầu tư) thì mô hình phân tích trên chưa hằn đã đúng Với
phần thu nhập tích lữy chưa hản hửu dụng biên giảm dần thậm chí còn tăng
vì tiết kiệm và đầu tư là không giới hạn Khi đó chính sách phân phối lại có
thể không làm tăng phúc lợi xã hội mà có thể làm giảm Hàm ý của vấn đề
này là không nên thực hiện theo kiểu cào bằng, mà nên chấp nhận một mức
bất bình đẳng hợp lý.
Trang 205.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.1 Thuyết vị lợi giản đơn
Liên quan đến giả định thứ 3 là thu nhập xã hội không thay đổi.
Trên thực tế, sự phân phối lại thường kèm theo những chi phí hoặc thất
thoát do phải vận hành bộ máy hành chính, hoặc làm giảm động cơ tạo
thu nhập của những người thu nhập cao Càng phân phối làm cho chiếc
bánh dùng để phân chia của xã hội càng giảm Vì thế khi phân phối cần
phải tính toán những mất mát, việc phân phối lại có ý nghĩa khi phúc lợi
xã hội tăng lên vượt qua phần bị mất mát này.
Một nhược điểm quan trọng của thuyết vị lợi là không xem xét sự
khác nhau của hàm hữu dụng giữa người giàu và nghèo trong xã hội, mà
chỉ quan tâm đến sự tăng lên của phúc lợi xã hội Do vậy có trường hợp
khí áp dụng thì người nghèo bị mất mát hữu dụng của mình cho người
giàu.
Trang 215.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.2 Tiêu chuẩn tối đa tối thiểu
Còn gọi là lý thuyết cực đại thấp nhất, lý thuyết này khắc phục nhược điểm của thuyết vị lợi, là tối đahóa hữu dụng của người nghèo nhất trong xã hội, gắn trọng số hũu dụng khác nhau giữa người giàu vàngười nghèo, trong đó người nghèo nhất có trọng số cao nhất
Thuyết này chỉ quan tâm đến lợi ích của người nghèo nhất, nên bất cứ sự phân phối nào làm tăng lợiích của người giàu mà không tăng lợi ích của người nghèo thì không có ý nghĩa nâng cao phúc lợi xã hội.Theo đó, xã hội sẽ phân phối lại chừng nào còn có khả năng tăng phúc lợi cho người nghèo nhất Qúatrình phân phối lại thu nhập chỉ dùng lại khi độ hữu dụng của mọi cá nhận là bằng nhau hoặc hữu dụngcủa người nghèo nhất đạt tối đa
Trang 225.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.2 Tiêu chuẩn tối đa tối thiểu
Hãy xem xét một xã hội có một người giàu là Peter - người thuê người làm và một người nghèo làPaul – người làm thuê Nếu chính phủ đánh thuế vào Peter để chuyển thu nhập cho Paul, nhưng điều đó cóthể làm cho Peter giảm sản xuất và Paul có thể mất việc Nếu lương của Paul cao mức mức trợ cấp củachính phủ thì chính sách này làm cho anh Paul bị thiệt hại Lý thuyết cực đại thấp nhất chỉ quan tâm phúclợi của anh Paul, thì việc đánh thuế như thế này là không hiệu quả Điều đó có nghĩa là có thể chấp nhậntồn tại một sự phân hóa thu nhập trong xã hội nếu điều đó góp phần tăng hữu dụng của người bần cùngnhất
Trang 235.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
Thảo luận trên về các hàm phúc lợi xã hội và tối đa tối thiểu phúc lợi xã hội đã cho thấy rằng phânphối lại thu nhập sẽ làm cho một số người sống sung túc hơn và một số người khác sẽ giảm sung túc đi.Đây là hệ quả của một giả định mà theo đó hữu dụng của mỗi cá nhân chỉ phụ thuộc vào thu nhập của anh
ta hoặc cô ta
Phân phối lại như thế là chưa phải một cải thiện Pareto, tức là sự thay đổi đã phải cho phép tất cả các
cá nhân tối thiểu sẽ có được sự sung túc hơn tình trạng hiện tại mà những người khác không bị giảm hữudụng
5.2.3 Phân phối lại thu nhập hiệu quả Pareto
Trang 245.2 Cơ sở hợp lý cho phân phối thu nhập
5.2.3 Phân phối lại thu nhập hiệu quả Pareto
Thực tế trong xã hội, có những cá nhân thu nhập cao, có lòng vi tha, các hữu dụng của họ không chỉ phụthuộc vào thu nhập của học mà còn phụ thuộc vào thu nhập của người nghèo Với tình huống như vậy việcphân phối lại là một hiệu quả Pareto
Giả sử người giàu có lòng vị tha như Peter, chi một số tiền từ thu nhập của mình cho người nghèo làPaul, khi đó sự thỏa mãn của Peter sẽ tăng lên từ việc làm tốt của mình hơn là đem số tiền đó cho chi tiêu.Trong khi đó hữu dụng của Paul sẽ tên lên do anh ta nhận được tiền Cả hay cùng sung sướng hơn cho việcchuyển nhượng này