1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch ll và pl về quyền con người

11 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp đảm bảo thực hiện quyền của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và Pháp luật
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 28,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm vấn đề bảo đảm quyền con người, thực hiện bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ, trong đó, nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ, coi trọng phụ nữ trong lao động, sản xuất và làm chủ doanh nghiệp đang là một trong những vấn đề được ưu tiên hàng đầu trong sự nghiệp bảo đảm quyền con người cho phụ nữ ở nước ta hiện nay. Bảo đảm quyền của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm cũng chính là yếu tố mang tính quyết định, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, đảm bảo thực hiện các quyền của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong những năm qua, huyện .....................................luôn quan tâm tới việc đảm bảo quyền con người, thúc đẩy bình đẳng giới, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm. Với lực lượng lao động nữ chiếm gần 50% tổng số lao động toàn huyện, chị em phụ nữ đã tích cực lao động, sản xuất, tham gia vào các ngành nghề kinh tế quan trọng của địa phương như sản xuất nông lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch… nhiều chị đã phấn đấu trở thành chủ doanh nghiệp, HTX, xây dựng được các mô hình kinh tế thu nhập hàng tỷ đồng, nhiều chị đạt danh hiệu lao động tiên tiến, chiến sỹ thi đua, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội của huyện. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc đảm bảo quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm vẫn còn những bất cập, hạn chế như: tỷ lệ phụ nữ có việc làm và thu nhập ổn định còn thấp; cơ hội tìm kiếm việc của nữ đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số bị hạn chế, thu nhập bấp bênh; tỷ lệ phụ nữ không có việc làm, không có thu nhập còn chiếm tỷ lệ cao; nếu có việc làm, phụ nữ chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và khu vực không chính thức, không được đảm bảo về chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chế độ nghỉ thai sản; tỷ lệ nữ tham gia bộ máy lãnh đạo chủ chốt chưa đạt mục tiêu Nghị quyết số 11 của ủa Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; số phụ nữ làm chủ doanh nghiệp, hợp tác xã còn khiêm tốn..Từ những bất cập nêu trên, đồng thời xuất phát từ vị trí công tác là cán bộ Hội LHPN huyện, em chọn vấn đề “Giải pháp đảm bảo thực hiện quyền của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm trên địa bàn ………………….” làm đề tài viết tiểu luận cuối khóa môn Lý luận và Pháp luật về quyền con người với mong muốn củng cố thêm những kiến thức đã được học, đồng thời, vận dụng, tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm hiện thực hóa đầy đủ quyền của phụ nữ nói chung, quyền của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm nói riêng trên địa bàn huyện ........................ .............

Trang 1

A- PHẦN MỞ ĐẦU

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm vấn đề bảo đảm quyền con người, thực hiện bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ, trong đó, nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ, coi trọng phụ

nữ trong lao động, sản xuất và làm chủ doanh nghiệp đang là một trong những vấn đề được ưu tiên hàng đầu trong sự nghiệp bảo đảm quyền con người cho phụ nữ ở nước ta hiện nay Bảo đảm quyền của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm cũng chính là yếu tố mang tính quyết định, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, đảm bảo thực hiện các quyền của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong những năm qua, huyện luôn quan tâm tới việc đảm bảo quyền con người, thúc đẩy bình đẳng giới, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm Với lực lượng lao động nữ chiếm gần 50% tổng số lao động toàn huyện, chị em phụ nữ đã tích cực lao động, sản xuất, tham gia vào các ngành nghề kinh tế quan trọng của địa phương như sản xuất nông lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch… nhiều chị đã phấn đấu trở thành chủ doanh nghiệp, HTX, xây dựng được các mô hình kinh tế thu nhập hàng tỷ đồng, nhiều chị đạt danh hiệu lao động tiên tiến, chiến sỹ thi đua, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội của huyện

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc đảm bảo quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm vẫn còn những bất cập, hạn chế như: tỷ lệ phụ nữ có việc làm và thu nhập ổn định còn thấp; cơ hội tìm kiếm việc của nữ đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số bị hạn chế, thu nhập bấp bênh; tỷ lệ phụ nữ không có việc làm, không có thu nhập còn chiếm tỷ lệ cao; nếu có việc làm, phụ nữ chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và khu vực không chính thức, không được đảm bảo về chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chế độ nghỉ thai sản; tỷ lệ nữ tham gia bộ máy lãnh đạo chủ chốt chưa đạt mục tiêu Nghị quyết số 11 của ủa Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; số phụ nữ làm chủ doanh nghiệp, hợp tác xã còn khiêm tốn Từ những bất cập nêu trên, đồng thời xuất phát từ vị trí công tác là cán bộ Hội LHPN huyện, em chọn vấn đề

“Giải pháp đảm bảo thực hiện quyền của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm trên địa bàn ……….” làm đề tài viết tiểu luận

cuối khóa môn Lý luận và Pháp luật về quyền con người với mong muốn củng cố thêm những kiến thức đã được học, đồng thời, vận dụng, tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm hiện thực hóa đầy đủ quyền của phụ nữ

Trang 2

nói chung, quyền của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm nói riêng trên địa bàn huyện

B- NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận

1 Cơ sở lý luận về quyền con người

1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người (Human rights) là những giá trị thiêng liêng, cao quý, kết tinh từ nhiều nền văn hóa, văn minh của các dân tộc trên thế giới Hiểu một cách chung nhất, quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế (Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên hiệp quốc năm 1948; các công ước quốc tế về quyền con người, Hiến pháp và các văn bản pháp luật)

Quyền con người có các đặc trưng cơ bản là tính phổ biến và tính phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo; tính không thể chuyển nhượng; tính không thể phân chia; tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau

Quyền con người có thể được phân loại dựa theo chủ thể quyền và nội dung quyền Theo chủ thể quyển: gồm quyền của cá nhân, quyền của nhóm và quyền quốc gia Theo nội dung quyền gồm: nhóm quyền dân sự, chính trị và nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về quyền con người và cơ chế đảm bảo quyền con người ở Việt Nam

Kế thừa nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, xuất phát từ quan điểm mác xít, từ thực tiễn Việt Nam và thế giới, Đảng ta đã xác định một

số quan điểm cơ bản về quyền con người: Quyền con người là giá trị chung của nhân loại; trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc; quyền con người gắn với độc lập dân tộc

và chủ quyền quốc gia; quyền con người gắn liền với lịch sử, truyền thống

và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia; quyền con người được ghi nhận và bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật; quyền của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân

Để đảm bảo thực hiện quyền con người, Đảng, Nhà nước ta xác định các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau: Phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cơ chế bảo vệ quyền con người; thực hiện quyền con người, gắn quyền với nghĩa vụ theo tinh thần Hiến

Trang 3

pháp năm 2013; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ, bảo đảm quyền con người trong tình hình mới; tăng cường hợp tác quốc tế, chủ động đối thoại về quyền con người; phê phán các quan điểm sai trái trên lĩnh vực quyền con người, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền con người

Ở Việt Nam, nhiệm vụ bảo vệ, bảo đảm quyền con người được xác định là cả hệ thống chính trị, bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Chính quyền địa phương) và phi nhà nước (các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, cơ quan truyền thông báo chí…)

2 Cơ sở lý luận về quyền con người về kinh tế, lao động, việc làm

- Nhu cầu về việc làm là thiết yếu và trở thành quyền của con người được nhiều văn bản pháp luật quốc tế ghi nhận Theo đó, con người có quyền tự do lựa chon nghề nghiệp, được hưởng điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bao vệ chống lại nạn thất nghiệp, có quyền được trả lương như nhau đối với những công việc như nhau mà không bị phân biết đối xử… (Quy định tại Điều 23 UDHR, Điều 6, Điều 7 ICESCR); được nghỉ ngơi và thư giãn, được giới hạn hợp lí số giờ làm việc và được hưởng những ngày nghỉ định kì có hưởng lương (Điều 24 UDHR, khoản d Điều 7 ICESCR)

- Công ước liên quan đến quyền lao động của con người do Tổ chức lao động thế giới (ILO) ban hành là cơ sở để đảm bảo thực hiện quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm như: Công ước về đảm bảo công ăn việc làm và chống lại nạn thất nghiệp năm 1950; Công ước về hưởng tiền lương ngang bằng nhau giữa nam và nữ do lao động ngang nhau năm 1951; Công ước về không phân biệt đối xử về lao động và việc làm năm 1960; Công ước về tuổi lao động tối thiểu năm 1973; Công ước

105 về xoá bỏ lao động cưỡng bức của Tổ chức ILO năm 1957; Công ước

về bảo vệ quyền của mọi người lao động nhập cư và các thành viên gia đình họ năm 1990; Công ước về các quyền kinh tế - xã hội và văn hoá năm 1966

- Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định công dân có quyền làm việc, được tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng,

an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi (Khoản 1, 2 Điều 35) Có thể nói, quy định mới trong Hiến pháp 2013 đã đề cao quyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc Đây là một trong những quyền con người quan trọng nhất trong lĩnh vực lao động

Trang 4

- Bộ luật Lao động năm 2012 quy định người lao động có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp Đồng thời, Bộ luật Lao động cũng là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định

- Bộ luật Dân sự và Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại đều quy định về quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm của người lao động

3 Cơ sở lý luận về quyền phụ nữ và quyền kinh tế, lao động, việc làm của phụ nữ

- Quyền của phụ nữ nằm trong nhóm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương Văn kiện Quốc tế có ý nghĩa quan trọng nhất nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối

xử với phụ nữ (CEDAW); ngoài ra, phụ nữ cũng có những quyền khác, bình đẳng như mọi người về quyền dân sự, chính trị, quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa và được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn về Nhân quyền của Liên hiệp quốc năm 1948

-Tại Việt Nam Quyền của phụ nữ được pháp luật ghi nhận trong các bản Hiến pháp; Luật Bình đẳng giới; Luật Bảo hiểm xã hội; Bộ luật Lao động; Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ Luật Dân sự; Bộ luật Hình sự… Trong đó, quyền về kinh tế, lao động, việc làm của phụ nữ được ghi nhận

cụ thể trong Luật Bình đẳng giới Theo đó, trong lĩnh vực kinh tế: Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động; trong lĩnh vực lao động: Nam,

nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác; Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh

B NỘI DUNG

1 Tình hình chung của huyện Văn Chấn

là huyện miền núi phía Tây của tỉnh , diện tích tự nhiên 120.759 ha, dân số 118.195 người (nữ chiếm gần 50%), với 18 dân tộc anh em cùng sinh sống (dân tộc thiểu số chiếm 62,6%); có 24 xã, thị

trấn với 213 thôn, bản, tổ dân phố (trong đó có 15 xã khu vực III, 9 xã, thị trấn khu vực I).

Trang 5

Tổng số phụ nữ từ 18 tuổi trở lên trên địa bàn huyện là 29.889 người, trong đó, phụ nữ có mặt thường xuyên trên địa bàn: 24.609 người, phụ nữ

dân tộc thiểu số: 20.623 người (chiếm 69%), phụ nữ tôn giáo: 1.205 người,

phụ nữ khuyết tật hưởng bảo trợ xã hội 1.239 người

2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội có tác động đến việc thực hiện quyền kinh tế, lao động, việc làm của phụ nữ

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong những năm qua, các cấp uỷ Đảng, chính quyền huyện luôn quan tâm thực hiện quyền kinh tế, lao động, việc làm cho người dân; tạo điều kiện cho cả nam và nữ phát huy quyền làm chủ và bình đẳng trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội và trong gia đình, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của huyện

Giai đoạn 2016-2020, kinh tế huyện duy trì đà tăng trưởng khá Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng

và thương mại dịch vụ, giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp thủy sản Năm

2020, tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp thủy sản chiếm 24,8%, giảm 4,2%

so với năm 2015; tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng chiếm 43,4%, tăng 1,1% so với năm 2015; tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ chiếm 31,8%, tăng 3,1% so với năm 2015 Tổng sản phẩm bình quân đầu người đạt 40 triệu đồng/năm

Toàn huyện có hơn 100.678 người trong độ tuổi lao động nhưng thiếu lao động có trình độ chuyên môn Trong những năm gần đây, quy mô giá trị sản xuất ngành dịch vụ trên địa bàn huyện liên tục tăng cao Xác định phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, tập trung đầu tư cho phát triển công nghiệp đã làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp; giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản Tuy nhiên, do suy giảm kinh tế, ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19, công nghiệp của huyện phát triển chậm lại, cùng với việc thực hiện chủ trương cắt giảm đầu tư công nên ngành xây dựng gặp nhiều khó khăn nên riêng tỷ trọng công nghiệp -xây dựng không đạt mục tiêu quy hoạch đề ra

3 Công tác quán triệt, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền kinh tế, lao động, việc làm cho phụ nữ

Thời gian qua, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật

về bình đẳng giới nói chung, quyền kinh tế, lao động, việc làm của phụ nữ nói riêng đã được các cấp, các ngành quan tâm triển khai dưới nhiều hình thức đa dạng phong phú, sâu rộng, góp phần nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân Qua 10 năm (2010-2020), Huyện đã phối hợp với Sở

Tư pháp và các cơ quan liên quan tổ chức được 10 hội nghị tuyên truyền,

Trang 6

phổ biến, giáo dục pháp luật có nội dung bình đẳng giới, với trên 1.000 lượt người tham gia; Hội LHPN huyện đã tổ chức

Chỉ đạo các xã, thị trấn lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào các cuộc họp thôn, bản, tổ dân phố; không ngừng đổi mới nội dung phương thức hoạt động, tuyên truyền gắn với các phong trào phát triển kinh tế gia đình giúp cho nhiều chị em có cuộc sống ổn định, khuyến khích chị em Phụ nữ tham gia học tập, nâng cao trình độ, tích cực tham gia phong trào thi đua giỏi việc nước, đảm việc nhà, xây dựng gia đình văn hóa, chung tay xây dựng nông thôn mới

4 Công tác đảm bảo thực hiện quyền kinh tế, lao động, việc làm trong công tác tổ chức và hoạt động tại các cơ quan, đơn vị tại địa phương

- Trong lĩnh vực kinh tế: Hiện nay trên địa bàn huyện có 213 Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên, Hợp tác xã vốn điều lệ

500 triệu đồng trở lên trong đó có 42 doanh nghiệp nữ là chủ doanh nghiệp, chủ HTX đạt 19,5% (tăng 4,5% so với thời kỳ trước) (mục tiêu Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đạt 30% vào năm 2020) Tỷ

lệ phụ nữ làm chủ doanh nghiệp, HTX có sự tăng trưởng qua từng năm thể hiện sự nỗ lực, cố gắng của bản thân phụ nữ đồng thời phản ánh sự tác động tích cực của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn hiện nay nhất là các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, chính sách khuyến công, chính sách hỗ trợ vay vốn ưu đãi…Tuy nhiên, so với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới chưa đạt

- Lĩnh vực Lao động: Trong 10 năm đã giải quyết việc làm cho 29.752 lao động, trong đó nữ là 12.615 người chiếm 42,4% Dạy nghề cho lao động nông thôn ngày càng được khẳng định, tạo điều kiện thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, góp phần tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng thu nhập; có trên 30% người lao động sau học nghề đã tìm được việc làm mới

Việc khai thác các nguồn vốn để hỗ trợ vốn vay cho đối tượng phụ

nữ gặp khó khăn, thiếu vốn sản xuất kinh doanh, thông qua các nguồn vốn của Ngân hàng chính sách xã hội, quỹ quốc gia giải quyết việc làm, dự án quốc tế được đẩy mạnh… Hội phụ nữ các cấp tiếp tục phối hợp với các ngành liên quan tổ chức được hàng trăm lớp tập huấn cho hàng ngàn lượt hội viên phụ nữ về các nội dung chuyển giao khoa học kỹ thuật ứng dụng vào trồng trọt và chăn nuôi; kỹ thuật sử dụng phân bón lá, sử dụng thuốc

Trang 7

trừ sâu bệnh… Hội Phụ nữ các xã, thị trấn đã phối hợp với các ngành liên quan, quan tâm hỗ trợ vốn cho phụ nữ thông qua nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế- xã hội, chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, các nguồn viện trợ của các tổ phi chính phủ… Các cấp Hội phụ nữ đến nay đang quản lý trên 600 tỷ đồng cho trên 50 ngàn lượt

hộ phụ nữ vay vốn để phát triển kinh tế gia đình, nhằm từng bước tạo điều kiện cho phụ nữ được tiếp cận các nguồn lực kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống Mô hình giúp hộ nghèo có phụ nữ làm chủ hộ được đẩy mạnh, các hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được tập trung giúp đỡ Tỷ lệ giảm nghèo đạt bình quân 5%/năm

*Đánh giá các kết quả đạt được trong việc đảm bảo quyền kinh

tế, lao động, việc làm tại địa phương

- Hiện nay, tổng số phụ nữ từ 18 tuổi trở lên trên địa bàn huyện là 29.889 người, trong đó, phụ nữ có mặt thường xuyên trên địa bàn: 24.609 người; tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động trong khu vực hành chính khoảng 10%; tỷ lệ lao động trong các công ty, doanh nghiệp khoảng 5%, còn lại là tham gia lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, kinh doanh thương mại dịch vụ, các công việc không không chính thức, tỷ lệ phụ nữ có việc làm thường xuyên ở khu vực này khoảng 50% Thu nhập trung bình của phụ nữ nói chung còn thấp, chưa tương xứng với thời gian, công sức đã bỏ ra

- Về Lĩnh vực kinh tế: Các công ty doanh nghiệp có phụ nữ làm lãnh đạo quản lý tăng so với thời kỳ trước

- Lĩnh vực Lao động: Dạy nghề cho lao động nông thôn nữ ngày càng được khẳng định, tạo điều kiện thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, góp phần tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng thu nhập; có trên 30% người lao động sau học nghề đã tìm được việc làm mới

Nhìn chung, trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm cơ hội của phụ nữ tiếp cận việc làm có thu nhập cao và các nguồn lực kinh tế vẫn còn thấp hơn so với nam giới Tỷ lệ nữ lao động nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật còn thấp; phụ nữ chiếm tỷ lệ cao hơn trong khu vực phi chính thức của thị trường lao động, không được đảm bảo

về chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chế độ nghỉ thai sản Đa số phụ nữ vẫn phải đảm đương những công việc không được trả lương (việc nhà) bên cạnh đó, vẫn phải lao động kiếm tiền đóng góp vào kinh tế gia đình, do đó ít có thời gian, điều kiện tham gia đào tạo nâng cao trình độ để tìm kiếm công việc có thu nhập cao hơn Phụ nữ dân tộc

Trang 8

thiểu số sinh sống ở vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn ít có cơ hội tiếp cận thông tin việc làm, đào tạo nghề nên chủ yếu tham gia lao động trong ngành nông lâm nghiệp, thu nhập bấp bênh, thiếu kiến thức, kỹ năng, bản lĩnh để bứt phá, vươn lên Nhìn chung, đời sống kinh tế của phụ nữ còn nhiều khó khăn, lệ thuộc vào chống và gia đình…

Nguyên nhân: Xuất phát điểm, trình độ nhận thức của phụ nữ còn hạn chế; sự vào cuộc của UBND các xã, thị trấn trong việc lựa chọn, đề xuất nhu cầu đào tạo nghề, giới thiệu việc làm chưa chặt chẽ nên một số lớp đào tạo nghề chưa sát với nhu cầu thực tế của địa phương, do đó hiệu quả đào tạo nghề, tạo việc làm sau đào tạo nghề cho phụ nữ còn hạn chế; định kiến giới vẫn còn tồn tại, tư tưởng trọng nam khinh nữ chưa được thay đổi, coi nhẹ sự đóng góp của phụ nữ trong gia đình và xã hội, không tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia và có cơ hội đào tạo, nâng cao trình độ, cải thiện việc làm, thu nhập Nhiều Nghị quyết, chính sách liên quan về phụ nữ

và bình đẳng giới đã được ban hành nhưng trên thực tế một số nơi hiệu quả thực hiện chưa cao thiếu kiểm tra, uốn nắn, chỉ đạo kịp thời Vai trò của Hội LHPN các cấp đã được phát huy, tuy nhiên, khả năng, nguồn lực hỗ trợ phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm vẫn còn hạn chế

5 Kiến nghị các giải pháp nhằm đảm bảo quyền của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm

5.1 Các nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực quyền con người, quyền phụ nữ, quyền kinh tế, lao động, việc làm của phụ nữ; tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động nữ

- Tăng cường công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động; đồng thời, tăng cường đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, kỹ năng sản xuất kinh doanh, cung cấp kiến thức để phụ

nữ tìm việc làm có thu nhập ổn định

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động phù hợp với khả năng, nhu cầu của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ sinh sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xã, vùng đặc biệt khó khăn; nâng cao chất lượng dự báo thị trường lao động trong ngắn hạn và dài hạn nhằm cung cấp các thông tin về cơ hội việc làm, chỗ việc làm trống, các khoá đào tạo giúp người lao động, nhất là phụ nữ lựa chọn

và quyết định học nghề, tiếp cận việc làm phù hợp

- Nâng cao năng lực hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm trong tư vấn, giới thiệu việc làm và định hướng nghề nghiệp cho phụ nữ; phối hợp

Trang 9

hoạt động của Trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm với các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào khu vực việc làm chính thức, thu nhập ổn định; nâng tần suất phiên giao dịch việc làm, đa dạng hóa các hoạt động giao dịch việc làm, hướng tới tổ chức các hoạt động giao dịch việc làm phù hợp tại cơ sở; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dịch vụ việc làm

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và tuyên truyền, phổ biến việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về việc làm nhằm nâng cao nhận thức về quyền và trách nhiệm đối với người lao động và người sử dụng lao động Cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý Nhà nước về việc làm; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về chính sách, chế độ đối với người dân

- Tăng cường nguồn lực, khuyến khích đầu tư, tạo việc làm cho người dân nói chung, phụ nữ nói riêng

- Có các giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho phụ nữ đảm bảo cho phụ nữ được hưởng đầy đủ các quyền lợi theo quy định của pháp luật

- Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ phụ nữ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho phụ nữ vùng sâu, vùng xa,vùng dân tộc thiểu số Chính sách hỗ trợ phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật có hoàn cảnh khó khăn Chính sách về nhà ở, chăm

lo đời sống văn hoá, tinh thần cho lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp tập trung Hỗ trợ việc nâng cao năng lực cho nữ lãnh đạo trẻ thông qua việc thực hiện các chương trình, dự án nâng cao năng lực

5.2 Nhóm giải pháp về công tác tuyên truyền, vận động, phát huy vai trò của tổ chức Hội LHPN các cấp.

Thứ nhất, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của xã hội về bình đẳng

giới, xóa bỏ định kiến giới trên các lĩnh vực trong đó có bình đẳng trong hoạt động kinh tế, lao động, việc làm

Tổ chức các hoạt động tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, sinh hoạt của các hội đoàn thể về các chủ trương, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, giới thiệu gương điển hình phụ nữ tham gia trên lĩnh vực kinh tế nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của xã hội đối với vai trò của người phụ nữ góp phần giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế

Xóa bỏ định kiến về vai trò của người phụ nữ trong gia đình như: Chỉ làm các công việc chăm sóc gia đình - những công việc không thể định lượng,

Trang 10

không tạo ra thu nhập Chính nhận thức đó đã tạo ra vị thế của người phụ

nữ không tương xứng, dẫn đến người phụ nữ không có khả năng tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực và cơ hội tạo ra thu nhập

Thứ hai, phát huy vai trò chủ thể của người phụ nữ trong việc xóa bỏ tư

tưởng tự ti, an phận

Yếu tố này mang tính quyết định đến hiệu quả của công tác bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế nói riêng và mọi mặt của đời sống xã hội nói chung Trong Di chúc viết tháng 5/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”[3] Trên cơ sở đó, Hội Phụ nữ trong hoạt động của mình cần xác định rõ vai trò chủ thể của phụ nữ trong hoạt động kinh tế Ngoài ra Hội cần tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục, vận động phụ nữ xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại, nỗ lực, phấn đấu vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng, khơi dậy sức sáng tạo của phụ nữ

Bên cạnh đó, việc khuyến khích phụ nữ chủ động tham gia ngày càng nhiều vào sản xuất kinh doanh thì cần có sự tham gia của nam giới vào công việc nội trợ gia đình tăng lên một cách tương xứng Qua đó phụ nữ sẽ dành thời gian để học tập nâng cao trình độ, học hỏi, giao tiếp và tích lũy kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh, góp phần tạo điều kiện cho phụ

nữ phát huy hơn nữa khả năng làm kinh tế, tạo ra thu nhập cho mình

Thứ ba, tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận và sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi

hiệu quả

Tạo điều kiện, hỗ trợ cho phụ nữ, nhất là hộ gia đình phụ nữ nghèo có cơ hội tiếp cận trực tiếp với nguồn vốn vay một cách thuận lợi Thông qua hoạt động ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội, các chương trình, dự

án trong và ngoài tỉnh, dự án của nước ngoài tài trợ để lồng ghép hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh cho hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ Qua đó, giúp phụ nữ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống Đồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay giúp phụ nữ sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, phát huy được hiệu quả

Thứ tư, hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế của Hội Phụ nữ cần chú

trọng đào tạo kỹ năng nghề, mở các lớp tập huấn chuyển giao kiến thức khoa học kỹ thuật cho lao động nữ ở nông thôn một cách hiệu quả

Ngày đăng: 12/10/2023, 14:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w