1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm vime bitech trong nuôi tôm thẻ chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) giai đoạn từ pl 10 đến pl 40

77 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Sử Dụng Chế Phẩm Vime-Bitech Trong Nuôi Tôm Thẻ Chân Trắng (Penaeus Vannamei Boone, 1931) Giai Đoạn Từ PL 10 Đến PL 40
Tác giả Chu Thị Tú Oanh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Thanh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của khoa Nông Lâm Ngư, trung tâm thực hành NTTS Đại Học Vinh,… tôi muốn tiến hành thực hiện đề tài “ Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm Vim

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA: NÔNG LÂM NGƯ

=====  =====

CHU THỊ TÚ OANH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM VIME-BITECH TRONG

NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG ( penaeus vanamei Boone, 1931)

GIAI ĐOẠN TỪ PL 10 ĐẾN PL 40

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƢ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Vinh - 05/2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA: NÔNG LÂM NGƯ

=====  =====

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM VIME-BITECH TRONG

NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG ( penaeus vanamei Boone, 1931)

Vinh - 05/2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản đề tài này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được

sự giúp đỡ hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo từ các thầy cô trong khoa Nông Lâm Ngư, trường Đại học Vinh, những người đã dìu dắt tôi trong suốt khoảng thời gian ngồi trên ghế nhà trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Th.s Nguyễn Thị Thanh - người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn tới lãnh đạo công ty TNHH sản xuất và ứng dụng

công nghệ thủy sản Vina, các cán bộ, công nhân viên công ty đã tạo điều kiện về cơ

sở vật chất, trang thiết bị, hóa chất thí nghiệm và đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập vừa qua

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình và những người bạn thân đã động viên khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 4 năm 2016

Sinh viên Chu Thị Tú Oanh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) 2

1.1.1 Hệ thống phân loại của tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) 2

1.1.2 Phân bố, tập tính sinh sống 2

1.1.3 Hình thái và cấu tạo 3

1.1.4 Chu kỳ sống 4

1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 4

1.1.6 Đặc điểm sinh sản 5

1.1.7 Đặc điểm sinh trưởng 6

1.1.8 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tôm nuôi 6

1.2.1 Tình hình nuôi tôm thẻ Chân trắng trên thế giới 7

1.2.2 Tình hình nuôi tôm thẻ Chân trắng ở Việt Nam 10

1.3 Các nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng 11

1.3.1 Trên thế giới 11

1.3.2 Tại Việt Nam 13

1.4 Vài nét về chế phẩm sử dụng trong nuôi tôm thẻ chân trắng 14

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu 16

2.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 16

2.4 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 16

2.5 Phương pháp nghiên cứu 17

2.6 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 19

2.6.1 Phương pháp xác định một số yếu tố môi trường trong ao nuôi thí nghiệm 19

2.6.2 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng của tôm 20

2.6.3 Phương pháp xác định tỷ lệ sống 21

2.6.4 Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) 21

Trang 6

2.6.5 So sánh hiệu quả kinh tế 21

2.7 Phương pháp xử lý số liệu 21

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

3.1 Kết quả theo dõi biến động của một số yếu tố môi trường ao nuôi 22

3.1.1 Sự biến động của nhiệt độ trong ao nuôi 22

3.1.2 Sự biến động của hàm lượng Oxy hoà tan (DO) trong ao nuôi 23

3.1.3 Sự biến động của pH trong ao nuôi 24

3.1.4 Sự biến động của độ kiềm trong ao nuôi 26

3.1.5 Sự biến động của độ mặn trong ao nuôi 27

3.1.6 Sự biến động của NH3 trong ao nuôi 29

3.2 Ảnh hưởng của Vime–Bitech đến tốc độ tăng trưởng của tôm nuôi 30

3.2.1 Ảnh hưởng của Vime-Bitech đến tăng trưởng về khối lượng của tôm 30

3.2.2 Ảnh hưởng của Vime-Bitech đến tăng trưởng về chiều dài của tôm 34

3.3 Ảnh hưởng của chế phẩm Vime-Bitech đến tỷ lệ sống của tôm 38

3.4 Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) 40

3.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế 40

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43

Kết luận 43

Kiến nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC 50

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Điều kiện môi trường thích hợp đối với nuôi tôm thẻ chân trắng 3

Bảng 1.2 Sản lượng tôm nuôi tại châu Á và châu Mỹ Latinh từ 2007-2011 9

Bảng 1.3 Sản lượng và diện tích nuôi tôm Chân trắng tại Việt Nam 11

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng thức ăn VIET HOA 18

Bảng 2.2 Phương pháp kiểm tra các yếu tố môi trường 19

Bảng 3.1 Biến động của nhiệt độ theo ngày nuôi 22

Bảng 3.2 Diễn biến hàm lượng Oxy theo ngày nuôi 23

Bảng 3.3 Diễn biến pH theo ngày nuôi 24

Bảng 3.4 Biến động độ kiềm theo ngày nuôi 26

Bảng 3.5 Biến động độ mặn theo ngày nuôi 28

Bảng 3.6 Biến động hàm lượng NH3 theo ngày nuôi (mg/l) 29

Bảng 3.7 Khối lượng trung bình của tôm trong quá trình thí nghiệm 30

Bảng 3.8 Tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của tôm nuôi 32

Bảng 3.9 Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của tôm nuôi 33

Bảng 3.10 Bảng chiều dài trung bình của tôm qua các kì theo dõi 34

Bảng 3.11 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối ADG (cm/con/ngày) về chiều dài tôm 36

Bảng 3.12 Tăng trưởng tương đối SGR (%/con/ngày) về chiều dài 37

Bảng 3.13 Tỷ lệ sống của tôm nuôi ở các công thức khác nhau 39

Bảng 3.14 Bảng tính hệ số FCR 40

Bảng 3.15 Bảng hạch toán kinh tế (đồng) 41

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Hình thái, cấu tạo tôm thẻ chân trắng (P vannamei) 3

Hình 1.2 Vòng đời của tôm 4

Hình 1.3 Bản đồ các khu vực nuôi tôm thẻ Chân trắng trên thế giới 8

Hình 1.3.Chế phẩm VIME-BITECH 14

Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu thí nghiệm 17

Hình 3.1.Biến động hàm lượng Oxy vào buổi sáng trong các ao nuôi 23

Hình 3.2 Biến động hàm lượng Oxy vào buổi chiều trong các ao nuôi 24

Hình 3.3.Biến động của pH vào buổi sáng trong các ao nuôi 25

Hình 3.4 Biến động của pH vào buổi chiều trong các ao nuôi 25

Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn sự biến động của độ kiềm trong các ao nuôi 27

Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn sự biến động của độ mặn trong các ao nuôi 28

Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn sự biến động của hàm lượng NH3 trong các ao nuôi 29

Hình 3.8 Diễn biến sự tăng trưởng về khối lượng của tôm (g/con) 30

ở các công thức thí nghiệm 30

Hình 3.9 Tăng trưởng tuyệt đối ADG(g/con/ngày) về khối lượng của tôm nuôi 32

Hình 3.10 Tốc độ tăng trưởng tương đối SGR (%/con/ngày) về khối lượng của tôm nuôi 34

Hình 3.11 Sự tăng trưởng trung bình về chiều dài của tôm nuôi 35

Hình 3.12 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối ADG (cm/con/ngày) về chiều dài thân tôm 37

Hình 3.13 Tốc độ tăng trưởng tương đố(SGR %/con/ngày) về chiều dài thân của tôm 38

Hình 3.14 Tỷ lệ sống của tôm nuôi ở các công thức khác nhau 39

Trang 9

MỞ ĐẦU

Việt Nam có 3260 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông rạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển cùng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ chứa thủy lợi, thủy điện đã tạo cho nước ta một tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản nước ngọt, lợ, mặn đặc biệt là nuôi tôm

Trong những năm vừa qua nghề nuôi trồng thủy sản ở nước ta đã có những bước tiến vượt bậc, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế sôi động của nước nhà, trong đó nuôi trồng thủy sản nước lợ mặn, đặc biệt là nuôi tôm sú đã đóng góp trên 50% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành Tuy nhiên, trong những năm gần đây do môi trường ao nuôi có chiều hướng suy thoái, ô nhiễm, dịch bệnh ngày càng nhiều nên nuôi tôm sú không còn mang lại hiệu quả kinh tế cao

Bên cạnh đó tôm thẻ Chân trắng (Penaeus vannamei) là loài tôm rộng

muối, rộng nhiệt, có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng chống chịu tốt hơn tôm

sú, thời gian nuôi ngắn có thể tránh được những rủi ro bất lợi về thời tiết, khí hậu, người nuôi có khả năng thu lợi nhuận dễ hơn nuôi tôm sú Đây được xem là đối tượng mới đang được ưu tiên phát triển

Tôm thẻ chân trắng nuôi với mật độ cao theo quy mô công nghiệp luôn tiềm ẩn những rủi ro về tài chính cho người nuôi, nhằm tăng sức đề kháng, tốc độ phát triển rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm, tăng hiệu quả sản xuất là vấn đề đang được người nuôi đặc biệt quan tâm Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của khoa Nông Lâm Ngư, trung tâm thực hành NTTS Đại Học Vinh,…

tôi muốn tiến hành thực hiện đề tài “ Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm Vime-Bitech trong nuôi tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931) giai đoạn từ PL 10 đến PL 40”

*Mục tiêu của đề tài:

Đánh giá đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm Vime-Bitech trong nuôi

tôm thẻ Chân Trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931) nhằm nâng cao tỷ lệ sống,

tốc độ tăng trưởng và tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)

1.1.1 Hệ thống phân loại của tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)

Ngành chân khớp: Athropoda

Lớp giáp xác: Crustacea

Bộ mười chân: Decapoda Phân bộ chân bơi: Nantatia Liên họ tôm he: Penaeoidea

Họ tôm he: Penacidae

Giống tôm he: Penaeus

Loài: Penaeus vannamei (Boone, 1931)

Tên khoa học: Penaeus vannamei

Tên tiếng Việt: Tôm thẻ chân trắng

1.1.2 Phân bố, tập tính sinh sống

Tôm thẻ chân trắng (TTCT) là loài tôm biển, có nguồn gốc vùng biển xích đạo Đông Thái Bình Dương, từ Mexico đến Peru Là loại tôm quý, có nhu cầu tiêu thụ cao trên thị trường, được nuôi phổ biến ở khu vực châu Mỹ La Tinh Phân bố trong các thủy vực từ 40 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam

Ấu trùng và tôm con của loài tôm thẻ chân trắng phân bố tập trung ở cửa sông, ven bờ, nơi giàu sinh vật thức ăn, do tác động cơ học của thủy triều Tôm trưởng thành phân bố ngoài khơi và có tập tính di cư sinh sản theo đàn Ban ngày tôm sống vùi trong bùn, ban đêm mới bò đi kiếm ăn

Tôm thẻ chân trắng có sự thích nghi rất tốt đối với sự thay đổi đột ngột của môi trường sống Lên khỏi mặt nước khá lâu vẫn không chết Các thử nghiệm cho thấy:

Tôm thẻ chân trắng thích nghi tốt với ngưỡng oxy thấp Gói tôm con cỡ 2÷7cm trong một khăn ướt (độ ẩm trên 80%, nhiệt độ 270C), để sau 24 giờ vẫn sống 100%, sức chịu đựng hàm lượng oxy thấp nhất là 1,2 mg/l Tôm càng lớn sức chịu đựng oxy thấp càng kém: Với cỡ 2÷4cm là 2,0 mg/l, cỡ dưới 2cm là 1,05 mg/l

Trang 11

Bảng 1.1 Điều kiện môi trường thích hợp đối với nuôi tôm thẻ chân trắng

Yếu tố môi trường Chỉ số thích hợp

Thích nghi với nhiệt độ nước: Tôm sống tự nhiên ở biển có nhiệt độ nước

ổn định từ 25÷320C, vẫn thích nghi được khi nhiệt độ thay đổi lớn Đang sống ở

bể ương, nhiệt độ nước là 150C, thả vào ao, bể có nhiệt độ 12÷ 280C chúng vẫn sống 100%, dưới 90C thì tôm chết dần Tăng dần lên 410C, cỡ tôm dưới 4cm và trên 4cm đều chỉ chịu được tối đa là 12 giờ rồi chết hết Nuôi trong phòng thí nghiệm rất ít thấy chúng ăn thịt lẫn nhau Có thể nuôi với mật độ rất dày nhưng

tỷ lệ ăn thịt lẫn nhau rất thấp

1.1.3 Hình thái và cấu tạo

Cũng giống như một số loài tôm he khác, cấu tạo của tôm thẻ chân trắng gồm các bộ phận sau:

Hình 1.1: Hình thái, cấu tạo tôm thẻ chân trắng (P vannamei)

Chủy có 2÷4 (đôi khi có 5÷6) răng cưa ở phía bụng Vỏ giáp có gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi, không có rãnh sau mắt, không có rãnh tim mang Có 6 đốt bụng, 3 đôi mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có, gai đuôi không phân nhánh Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều

Trang 12

so với vỏ giáp Con đực khi thành thục có bộ phận giao phối đực cân đối, nửa mở, không có màng che Không có hiện tượng phóng tinh, có gân bụng ngắn Túi chứa tinh hoàn chỉnh, bao gồm ống chứa đầy tinh dịch và có cấu trúc gắn kết riêng biệt với sự sinh sản cũng như với các chất kết dính

Hình 1.2 Vòng đời của tôm

1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Tôm thẻ chân trắng là loài tôm ăn tạp giống như các loại tôm he khác, thức ăn của nó cũng cần các thành phần: protein, lipid, glucid, vitamin và muối khoáng, Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm thẻ chân trắng rất cao, trong điều kiện nuôi lớn bình thường, lượng thức ăn chỉ cần bằng 5% thể trọng tôm (thức ăn ướt) Thức ăn cho tôm thẻ chân trắng cần hàm lượng đạm 35÷38% trong khi đó tôm sú cần 40% protein

Giai đoạn ấu trùng: Do tập tính sống trôi nổi, bắt mồi thụ động bằng các đôi phụ bộ nên thức ăn phải phù hợp với cỡ miệng Thức ăn mà ấu trùng sử dụng trong thuỷ vực tự nhiên là các loài tảo khuê (Skeletonema, Cheatoceros ), luân trùng (Brachionus plicatilis), vật chất hữu cơ có nguồn gốc động và thực vật (Microplankton và Microdetritus) Ngoài ra trong sản xuất giống nhân tạo còn sử

Trưởngthành

Biển khơi Cửa sông

Trang 13

dụng các loại thức ăn khác như ấu trùng Artemia, thịt tôm, thịt cá, mực, lòng đỏ trứng gà, thức ăn công nghiệp,

Giai đoạn tiền trưởng thành: Trong thủy vực tự nhiên tôm tiền trưởng thành sử dụng các loại thức ăn như giáp xác nhỏ (ấu trùng Ostracoda, Copepoda, Mysidacca), các loài nhuyễn thể (mollues) và giun nhiều tơ (Polychaeta) Khi ương tôm bột lên tôm giống, thức ăn có thể phối hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau Nhu cầu dinh dưỡng về đạm, đường, mỡ thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của tôm Lượng đạm thô cần cho tôm giống từ 30÷35% và tôm thịt từ 25÷30%

Giai đoạn tôm trưởng thành: Giai đoạn này tôm sử dụng các loại thức ăn như giáp xác sống đáy (Benthic crustacean), hai mảnh vỏ (Bivalvia), giun nhiều

tơ và các loại ấu trùng của động vật đáy,

1.1.6 Đặc điểm sinh sản

Quá trình sinh sản của tôm he chân trắng cũng giống như các loài tôm biển khác, gồm các giai đoạn: Giao vĩ, thành thục và đẻ trứng

Đến giai đoạn trưởng thành, tôm thành thục sinh dục và tiến hành giao vĩ

Ở con cái buồng trứng đầu tiên có màu trắng đục sau đó chuyển thành màu vàng nâu hoặc xanh nâu Trong những ngày đẻ trứng tôm đực có nhiệm vụ đưa các túi tinh vào túi chứa tinh của con cái, con cái sẽ đẻ sau vài giờ

Sự quấn quýt nhau giữa con đực và con cái bắt đầu vào buổi chiều và có liên quan chặt chẽ đến cường độ ánh sáng Sự phân cắt của trứng diễn ra chủ yếu

ở thời gian đẻ Quá trình đẻ được bắt đầu bằng sự nhảy lên đột ngột và bơi nhanh của con cái Quá trình này chỉ diễn ra trong vòng một phút

Tôm mẹ thành thục lần đầu từ năm thứ hai trở đi Trọng lượng 30÷40g/con

Số lượng trứng tuỳ thuộc kích cỡ tôm mẹ Nếu tôm có khối lượng 30÷35g/con lượng trứng sẽ là 100.000÷250.000 hạt, trứng có đường kính khoảng 0,22 mm Mùa

đẻ rộ vào tháng 4÷5 ở Ecuador và tháng 12 đến tháng 4 ở Peru Tôm đẻ nhiều nhất tới trên 10 lần/năm Thường sau khi đẻ 3÷4 lần liền thì có một lần lột vỏ Tinh con đực cũng được tái sinh nhiều lần

Trang 14

1.1.7 Đặc điểm sinh trưởng

Tôm thẻ chân trắng nhỏ hơn tôm sú, nhưng nó phát triển nhanh hơn ở 60 ngày đầu, 90-100 ngày đạt 15÷20 g/con trong khi đó tôm sú trong 120 ngày đạt tới 35÷40 g/con

Khác với sinh trưởng mang tính liên tục ở cá, sinh trưởng của tôm mang tính giai đoạn, đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột về kích thước và khối lượng Tôm muốn tăng kích thước phải tiến hành lột xác và quá trình này thường tùy thuộc vào dinh dưỡng, môi trường nước và cả giai đoạn phát triển của cá thể Tôm còn nhỏ khi thay vỏ cần vài giờ, tôm lớn cần 1÷2 ngày, lớn hơn cần 6÷7 ngày, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực Nuôi 60 ngày có thể đạt đến thương phẩm, nhưng người ta thường thu hoạch 100÷120 ngày đạt cỡ tôm trung bình 17g

1.1.8 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tôm nuôi

a, Hàm lượng oxy hòa tan (DO)

Oxy là yếu tố giới hạn đối với sự phát triển của tôm nhưng nó cũng là yếu

tố thường xuyên thay đổi Các nghiên cứu cho thấy tôm có thể sinh sống bình thường ở nồng độ oxy hòa tan lớn hơn 4 mg/l Khi hàm lượng DO dao động 2÷3 mg/l tôm lớn chậm và nhỏ hơn 2 mg/l bắt đầu tôm có hiện tượng ngạt hoặc chết

Tổng kiềm biểu hiện khả năng đệm của nước, hạn chế sự biến đổi quá lớn của pH Đối với nước nuôi tôm giá trị tổng kiềm được xác định lớn 100 mg CaCO3/l sẽ đảm bảo cho môi trường nước ít biến đổi lớn trong ngày Độ kiềm thích hợp cho tôm phát triển là từ 90÷150 mg CaCO3/l

c, Hàm lượng amonia

Trang 15

NH3 là dạng khí độc cho tôm cá, nó được hình thành từ quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ như thức ăn dư thừa, phân bón, xác phiêu sinh động thực vật, chất bài tiết của tôm, … tăng lên trong ao nuôi ngày càng cao vào cuối

vụ, tạo điều kiện cho khí độc hành thành và phát sinh

Trong các ao nuôi tôm có tới 85% lượng Nitrogen trong phân tôm chuyển sang dạng Amoni Đối với tôm sú ngưỡng thích hợp là nhỏ hơn 0,03mg/l và hàm lượng lớn hơn 0,1mg/l có thể gây chết

d, Độ mặn

Các loài tôm sú và tôm chân trắng là loài rộng muối có thể thích nghi với

độ muối từ 5÷45‰ Giới hạn cực thuận độ mặn của tôm trong khoảng 20÷25‰ Trong môi trường nuôi có độ muối thấp tôm thường phát triển nhanh, sức đề kháng giảm Ngược lại trong môi trường nuôi có độ muối cao tôm chậm lớn nhưng cơ thể chắc và sức đề kháng tăng

e, Nitrite và nitrate

Nitrite: là chất rất độc đối với cá nhưng ít độc hơn đối với tôm Nitrite gây độc chính yếu là tạo thành chất methemoglobin và giảm sự chuyển oxygen tới tế bào Những hiểu biết về ảnh hưởng của NO2- đến sự phát triển của tôm không được biết nhiều, theo khuyến cáo của các nhà khoa học ngưỡng an toàn được áp dụng là 0,1 mg/l Các kết quả thử nghiệm của Chen 1988 thấy rằng, LC50 (96 giờ) đối với ấu trùng tôm sú là 13,6 mg/l và tôm sú khối lượng 5 g là 171 mg/l Ngưỡng được ghi nhận an toàn đối với tôm sú là nhỏ hơn 1 mg/l

Như vậy, mặc dù con tôm có môi trường sinh thái khá rộng tuy nhiên

nó cũng đòi hỏi có môi trường nuôi khá sạch, các biến động môi trường nuôi đều

có thể tác động tiêu cực đến hoạt động sinh trưởng và phát triển của con tôm đặc biệt tôm nuôi với mật độ dầy trong các ao nuôi tôm công nghiệp

1.2 Tình hình nuôi tôm thẻ Chân trắng trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình nuôi tôm thẻ Chân trắng trên thế giới

Tôm thẻ Chân trắng được nuôi phổ biến nhất ở Châu Mỹ, chiếm hơn 70% sản lượng của các loài tôm he Châu Mỹ Các quốc gia có sản lượng đứng đầu về nuôi tôm thẻ như Ecuado, Mehico, Panama Họ đã phát triển nghề nuôi tôm thẻ

từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX Trong đó, Ecuado là Quốc gia đứng đầu về

Trang 16

sản lượng, riêng năm 1998 đạt 191.000 tấn Hiện nay, giá trị xuất khẩu tôm Chân trắng trên 1 kg bằng 81% so với tôm sú [7]

Hình 1.3 Bản đồ các khu vực nuôi tôm thẻ Chân trắng trên thế giới

(Nguồn: Main producer countries of Penaeus vannamei

FAO Fishery Statistics, 2006)

Trước đây, thông tin về các đợt dịch bệnh (đặc biệt là hội chứng Taura) gây giảm sản lượng nuôi tôm thẻ Chân trắng nghiêm trọng ở các quốc gia Châu

Mỹ đã gây tâm lý e ngại cho các nhà quản lý ở các quốc gia có ý định nhập nội thử nghiệm và phát triển nghề nuôi tôm thẻ Chân trắng [5]

Tuy nhiên, do thành công của các công trình nghiên cứu tạo đàn tôm sạch bệnh và cải thiện di truyền ở các nước Châu Mỹ đã mở ra triển vọng cho việc duy trì

và phát triển nghề nuôi tôm he nói riêng và tôm biển nói chung trên thế giới [7]

Trung Quốc, Đài Loan, Indonexia, Philippin, Malaixia đã tiến hành nhập

và thuần hóa loài tôm thẻ Chân trắng Đi đầu là Trung Quốc, họ đã nhập về nuôi

ở tỉnh Sơn Đông Năm 1998 sản xuất được 150 triệu giống thuần chủng, sạch bệnh Năng suất nuôi bình quân 2 tấn/ha/vụ và sẵn sàng chuyển giao công nghệ cho bất cứ quốc gia nào muốn nhập nuôi đối tượng này

Khu vực nuôi tôm thẻ chân trắng

Trang 17

Bảng 1.2 Sản lượng tôm nuôi tại châu Á và châu Mỹ Latinh từ 2007-2011

Theo số liệu của FAO (2002), năm 2003 sản lượng nuôi tôm của Châu Á

ước đạt 1,35 triệu tấn, tăng 11% so với sản lượng ước tính năm 2002 và 15% sản

lượng ước tính năm 2001 Riêng Trung Quốc ước đạt 390.000 tấn, tăng 15% sản

lượng ước đạt năm 2002 Tiếp đến là Thái Lan 280.000 tấn, giảm 9% sản lượng

năm 2000 Sản lượng của Indonexia tăng ước đạt 160.000 tấn Sản lượng Ấn Độ

năm 2003 có thể đạt 150.000 tấn Thực tế trong năm 2003 các nước Châu Á dẫn

đầu về sản lượng nuôi tôm thế giới, chiếm khoảng 86% sản lượng toàn cầu

Riêng tôm Chân trắng chiếm 42% sản lượng, tương đương với tôm Sú Trong đó

Trung Quốc là nước dẫn đầu về sản lượng, tiếp đến là Thái Lan, Indonexia, Ấn

Độ.[15]

Trang 18

1.2.2 Tình hình nuôi tôm thẻ Chân trắng ở Việt Nam

Từ năm 2002 các nhà Khoa học nghiên cứu Thủy sản Việt Nam đã bắt đầu đặt vấn đề nghiên cứu quy trình sản xuất giông tôm thẻ Chân trắng như: Viện Hải Dương Học Nha Trang (nguồn tôm bố mẹ do Công ty Việt Linh cung cấp từ Hawaii), Trung tâm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III Nha Trang (nguồn tôm

bố mẹ từ Công ty Asia Hawaii Ventures Phú Yên)…

Kể từ khi đưa vào nuôi sản lượng tôm thẻ Chân trắng không ngừng tăng Trong năm 2003 Việt Nam đã sản xuất được 15.000 tấn, năm 2004 đề ra mục tiêu 40.000 tấn tôm Chân trắng với 200.000 tấn tôm Sú, năm 2005 Việt Nam sản xuất được hơn 100.000 tấn tôm Chân trắng, số liệu năm 2006 sản lượng tôm Chân trắng đạt 150.000 tấn, tính đến hết tháng 6/2008 sản lượng tôm thu hoạch

24 tỉnh đạt 90.688 tấn, trong đó sản lượng tôm Chân trắng là 12.324 tấn [16]

Theo Cục Nuôi trồng Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), đến hết tháng 6 năm 2008 tổng diện tích nuôi tôm nước lợ của 24 tỉnh ven biển là 369.094 ha, trong đó diện tích nuôi tôm Chân trắng là 12.411 ha Vì tôm thẻ Chân trắng ít bệnh hơn tôm Sú rất nhiều (37% so với 21%) trong khi lợi nhuận trên 1 kg tôm hai loại là tương đương nhau nên người nuôi có xu hướng chuyển từ tôm Sú sang tôm thẻ Chân trắng, trong đó có một phần lớn diện tích nuôi tôm Sú kém hiệu quả

Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có chủ trương phát triển nuôi tôm Chân trắng theo quy hoạch ở các tỉnh Nam bộ Tuy nhiên vùng nuôi chủ yếu vẫn là các tỉnh miền Trung và miền Bắc, các tỉnh phía Nam còn đang ở dạng nuôi thăm dò Đặc điểm của tôm thẻ Chân trắng là sống ở tầng nước giữa không vùi mình trong bùn như tôm sú nên thích hợp với chất đáy cát Nhiều

ý kiến cho rằng nuôi tôm thẻ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ kém hơn miền Trung vì chất đáy bùn sét ảnh hưởng tới việc lấy thức ăn và hoạt động sống, hạn chế tới sinh trưởng của chúng, nuôi dầy sẽ dẫn đến nhiều rủi ro Năm 2008 diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước trên 60.000 ha đạt sản lượng 380.000 tấn, chủ yếu

là tôm sú theo các phương thức thâm canh, bán thâm canh và quảng canh cải tiến, trong đó phần lớn là nuôi quảng canh cải tiến Ngoài đối tượng tôm sú ra, ở các tỉnh ven biển từ miền Trung trở ra phía Bắc đã nuôi tôm thẻ Chân trắng khá

Trang 19

thành công trên những diện tích nuôi tôm sú trước đây luôn bị dịch bệnh Diện tích nuôi tôm thẻ Chân trắng là hơn 14.000 ha đạt sản lượng 41.000 tấn [17]

Bảng 1.3 Sản lượng và diện tích nuôi tôm Chân trắng tại Việt Nam

Yasuda và Taga (1980), cho rằng vi khuẩn có lợi tìm thấy không chỉ là thức ăn đơn thuần mà còn có tác dụng kiểm soát sinh học trong việc ngăn ngừa bệnh ở cá và giúp tăng cường việc tái tạo vật chất dinh dưỡng Vào những năm cuối của thập kỷ 80, những công bố đầu tiên về kiểm soát sinh học trong nuôi trồng thủy sản đã được công nhận và từ đó nhiều nghiên cứu về vấn đề này không ngừng phát triển Nhìn chung bổ sung chế phẩm vào thức ăn cho tôm để hạn chế sự nhiễm bệnh đối với các vi khuẩn gây bệnh, mặc dù ảnh hưởng về dinh dưỡng cũng đóng vai trò trong men vi sinh, đặc biệt là việc sử dụng làm dinh dưỡng và làm sạch môi trường Hầu hết vi sinh vật sử dụng làm tác nhân kiểm

soát sinh học trong nuôi trồng thủy sản là vi khuẩn lactic axít (Lactobacillus, Carnobacterium ), giống Vibrio (Vibrio alginolyticus ), giống Bacillus hoặc giống Pseudomonas (Verschuere et al., 2000)

Balcázar (2003) chứng minh Bacillus làm tăng tỉ lệ sống và tăng trưởng

của tôm thẻ do khống chế V.harveyi và virus đốm trắng Một nghiên cứu khác

Trang 20

của Hadi Zokaei et al.,(2009) trộn Bacillus subtilis vào thức ăn tôm thẻ chân

trắng làm tăng trưởng nhanh và tỉ lệ sống cao hơn so với đối chứng, mặt khác

mật độ Bacillus subtilis cũng tăng nhanh trong hệ tiêu hóa của tôm và mật độ

Vibrio giảm

Bùn đáy ao là chất vô định hình, màu tối, có chứa: Carbohydrate (1,3%); Hemicellulose (3,0%); Cellulose (0,4%); Lignin (4,2%); Axit humic (29,6%); Axit funvic (22,0%); Humin (36,5%) Theo Lin và Nash (1996) có khoảng 26% nitơ

và 24% phốt-pho từ nguồn thức tích lũy trong bùn đáy ao nuôi tôm thâm canh Trong khi đó Funge-Smith và Briggs (1998) tìm thấy trong bùn đáy tích lũy 24%

nitơ và 84% phốt-pho từ nguồn thức ăn Munsiri et al (1996) cho rằng các ao nuôi

lâu ngày tích lũy nhiều chất hữu cơ hơn ao mới Lượng thức ăn thừa cùng với phế thải hữu cơ là những yếu tố làm cho ao nuôi bị ô nhiễm nghiêm trọng và phá hủy các vùng sinh thái nuôi thủy sản làm cho các vi sinh vật gây bệnh phát triển và lan rộng một cách nhanh chóng Trong đa số trường hợp, dịch bệnh xảy ra là kết quả của sự thoái hóa môi trường và tôm bị sốc, bao gồm cả bệnh do vi khuẩn và bệnh do

virus Để giải quyết vấn đề ô nhiễm đáy ao các vi khuẩn Bacillus sp.nay đã trở thành

hàng hóa ở một số nước và đang hình thành ngành công nghiệp sản xuất vi sinh

giống như các ngành công nghiệp khác phục vụ cho NTTS (Zhou etal.,2009)

(http://uvvietnam.com.vn/NewsDetail.aspx?newsId=1951)

Nghiên cứu của Jiravanichpaisal et al., (1997)) cho thấy tiềm năng sản

sinh chất kháng sinh của Bacillus subtilis đã được ghi nhận hơn 50 năm qua Tác

giả đã tổng kết có vài trăm dòng vi khuẩn Bacillus subtilis có khả năng tiết ra hơn 20 chất kháng sinh với cấu trúc khác nhau Bao gồm: subtilin, ericin, mersacidin, sublancin, subtilosin, surfactin, iturin, bacillibactin, bacillmycin,… Hầu hết các chất tiết ra trong ruột , trên bề mặt cơ thể vật chủ hoặc ra ngoài môi trường nước làm rào cản sự nhân lên của vi khuẩn cơ hội gây ức chế các vi sinh vật gây bệnh

Verschuere (2000) đã nghiên cứu và công bố vi khuẩn Bacillus sp đóng

vai trò quan trọng trong việc cải tiến chất lượng nước, do vi khuẩn này đạt hiệu quả cao trong việc chuyển đổi vật chất hữu cơ thành CO2 Vì vậy, Bacillus sp

giúp giảm tích lủy chất hữu cơ và các chất hòa tan (Phạm Thị Tuyết Ngân, 2007)

Trang 21

Nghiên cứu về vi sinh vật hữu ích trong nuôi trồng thủy sản vẫn còn đang ở trong giai đoạn mới mẻ và có nhiều vấn đề cần phải đầu tư

Sử dụng Bacillus trong nuôi tôm thịt ở Indonesia sẽ an toàn trong 160 ngày, các trại không sử dụng Bacillus hầu như gặp thất bại, bệnh vi khuẩn phát

sáng do Vibrio thường làm tôm chết trước 80 ngày (Moriarty, 1998)

Ở Thái Lan Jiravanichpaisal et al., (1997) đã sử dụng Lactobacillus sp trong nuôi tôm sú (Penaeus monodon) Ở Trung Quốc, nghiên cứu men vi sinh

trong nuôi thủy sản được tập trung vào vi khuẩn quang hợp Qiao Zhenguo et al., (1992) nghiên cứu 3 chủng vi khuẩn quang hợp sử dụng cho nuôi tôm thẻ Trung

Quốc (Penaeus chinensis) dùng cải thiện chất lượng môi trường nước.[20]

1.3.2 Tại Việt Nam

Những nghiên cứu về chế phẩm bổ sung vào thức ăn nuôi tôm thẻ chân trắng ở nước ta vẫn đang còn nhiều hạn chế Tuy nhiên những nghiên cứu đầu tiên cho thấy tiềm năng ứng dụng của các loại chế phẩm bổ sung vào thức ăn nuôi tôm thẻ chân trắng là rất khả quan

Theo nghiên cứu của Lê Đình Duẩn và ctv (2007) tập hợp các enzyme có nguồn gốc vi sinh vật như amylase, protease, lipase, cellulase, chitinase, một số vitamin thiết yếu và chất khoáng giúp xử lý nước và nền đáy ao thường bổ sung

thêm các chủng nấm sợi và xạ khuẩn (thuộc nhóm Aspergillus, Streptomyses )

Nguyễn Văn Minh, Dương Nhật Linh và ctv (2012) đã tuyển chọn những

chủng Bacillus spp có tiềm năng phân lập từ giun quế ứng dụng như là tác nhân kiểm soát sinh học Vibrio spp., là tác nhân vi khuẩn gây bệnh chính trong nuôi

tôm Qua thử nghiệm đối kháng bằng phương pháp vạch vuông góc và đổ thạch

lớp kép kết quả cho thấy có 5 chủng Bacillus spp (F10, F17, F11, F33, F36) đối kháng cả 3 chủng Vibrio gây bệnh (V Parahaemolyticus, V Alginolyticus, V Harveyi) Ba chủng Bacillus spp (F10, F11, F33) đối kháng mạnh nhất với cả 3 chủng Vibrio gây bệnh tiếp tục được tiến hành thử nghiệm đồng nuôi cấy với 3 chủng Vibrio gây bệnh trong môi trường LB; kết quả thu được 3 chủng Bacillus

sp Này đều có khả năng ức chế sự phát triển của Vibrio gây bệnh Đồng thời qua thử nghiệm tính an toàn cả 3 chủng Bacillus sp Này đều an toàn đối với ấu trùng tôm sú Ba chủng Bacillus spp (F10, F11, F33) tiếp tục được thử khả năng bảo vệ đối với ấu trùng tôm sú thì 2 chủng Bacillus spp (F10, F11) có khả năng bảo vệ ấu trùng tôm sú chống lại cả 3 chủng Vibrio gây bệnh Những kết quả này

Trang 22

cho thấy rằng hai chủng vi khuẩn Bacillus sp F10 và Bacillus sp F11 phân lập từ

trùn quế có tiềm năng làm vi khuẩn có lợi trong nuôi tôm sú hay nuôi trồng thủy sản

1.4 Vài nét về chế phẩm sử dụng trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Chế phẩm Vime-Bitech và cách sử dụng: Vime-Bitech là loại chế phẩm bổ sung các dưỡng chất thiết yếu, cung cấp vi sinh vật có lợi trong đường ruột hỗ trợ tiêu hóa và hấp thu thức ăn cho tôm Đây là một sản phẩm của công ty cổ phần sản xuất kinh doanh vật tư và thuốc thú y Vimedim Thành phần gồm có:

Vime-Bitech có tác dụng tăng cường tiêu hóa và hấp thu tốt, tốc độ tăng

trưởng nhanh.Với thành phần là Lactobacillus spp, Bacillus spp, Saccharomycess cerevisiae, Enzyme Protease, Enzyme Amylase, Enzyme Cellulase, Enzyme

Lipase, Enzyme Pectinase Vime-Bitech bổ sung các dưỡng chất thiết yếu, cung cấp vi sinh vật có lợi trong đường ruột giúp hỗ trợ tiêu hóa, tăng cường miễn

Trang 23

dịch Không những vậy Vime-Bitech còn giúp cải thiện môi trường ức chế các tác nhân gây bệnh giúp tôm tăng trưởng phát triển tốt

Lactobacillus spp, Bacillus spp, Saccharomycess cerevisiae cung cấp

nguồn dinh dưỡng trực tiếp cho vật nuôi đặc biệt là axit béo và vitamin Nghiên

cứu tương tự trên tôm thẻ trưởng thành (Penaeus chinensis) cho thấy hệ vi sinh

vật đã cung cấp nguồn dinh dưỡng và là nguồn thức ăn trực tiếp cho tôm Vì vậy

ứng dụng các dòng vi khuẩn Lactobacillus spp, Bacillus spp, Saccharomycess cerevisiae trong nuôi trồng thủy sản thường cho kết quả cao về tỉ lệ sống, tốc độ

tăng trưởng và hiệu quả kinh tế Vime-Bitech chứa một hỗn hợp enzyme: Enzyme Amylase, Enzyme Cellulase, Enzyme Lipase, Enzyme Pectinase giúp cho quá trình tiêu hóa thức ăn của tôm được tốt hơn

Lactobacillus spp, Bacillus spp, Saccharomycess cerevisiae tiết ra enzyme

phân hủy các chất như cacbonhydrate, chất béo đạm thành những đơn vị nhỏ hơn Chúng có thể phân hủy các chất hữu cơ tích lũy trong nền đáy ao tôm Làm giảm COD, H2S trong ao tôm làm tăng năng suất tôm Chúng là vi khuẩn gram (+) thường phân hủy vật chất hữu cơ thành CO2 tốt hơn nhóm grm (-) Ure và axit uric có trong thành phần chất thải của động vật thủy sảnF Qúa trình amoon hóa ure trải qua 2 giai đoạn., ure sẽ phân hủy tạo thành muối cacbonate amôn Ở giai đoạn 2, cacbonate amôn chuyển hóa thành NH3, CO2 và H2O Axit uric bị các vi sinh vật phân giải thành ure và axit tactronic Sau đó ure tiếp tục phân giải thành

NH3 Vi sinh vật tham gia trong quá trình amôn hóa protein là quá trình phân giải hợp chất hữu cơ chứa nitơ giải phóng NH3 Ban đầu protein bị phân cắt thành pepton, polypeptit, oligopeptit, dipeptit và axit amin Một phần axit amin sẽ đươc

vi sinh vật hấp thụ làm dinh dưỡng, phần khác sẽ thông qua quá trình khử amin tạo thành NH3 và nhiều sản phẩm trung gian khác tùy điều kiện Chúng làm tăng quá trình phân hủy ở đáy ao làm giảm tích tụ đáy ao, giảm phát sinh khí độc, mùi hôi đáy ao

Các dòng vi khuẩn này còn tiết ra các chất kháng sinh làm ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh

Chế phẩm Vime-Bitech đã được nhiều nơi sử dụng trong nuôi tôm Tuy nhiên tại trung tâm thực hành hải sản mới chỉ bước đầu sử dụng chế phẩm Vime-Bitech trong nuôi tôm nên chưa có các kết quả đánh giá hiệu quả của chế phẩm

Trang 24

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei, Boone, 1931) giai đoạn từ

Postlarvae 10 đến Postlarvae 40

+ Chế phẩm Vime-Bitech

2.2 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu

+ Các thiết bị chuyên dùng trong sản xuất

 Cân đĩa: Cân thức ăn, hóa chất

 Cân tiểu ly: Cân khối lượng tôm, mẫu thức ăn và các hóa chất có trọng lượng bé

 Chài: Dùng để chài tôm để kiểm tra sức khoẻ, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và chài mẫu khi thu hoạch

 Sàng ăn: Kích thước 0.8 x 0.8 x 0.1 dùng để kiểm tra lượng thức ăn tôm

sử dụng và sức khoẻ tôm

+ Thuốc và các loại hoá chất

 Các chất xử lý môi trường nước, xử lý đáy ao

 Men tiêu hoá, men vi sinh, thuốc phòng và trị bệnh

2.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm thực hành hải sản- Đại Học Vinh đóng tại

Xã Xuân Trường, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 18/01/2016 – 25/04/2016

2.4 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

- Theo dõi sự biến động một số yếu tố môi trường ao nuôi

- Đánh giá ảnh hưởng của Vime-Bitech đến tỷ lệ sống của Tôm thẻ chân

trắng giai đoạn từ Postlavae 10 đến Postlarvae 40

- Đánh giá ảnh hưởng của Vime-Bitech đến tốc độ tăng trưởng của Tôm

thẻ chân trắng giai đoạn từ Postlavae 10 đến Postlarvae 40

- Hệ số chuyển đổi thức ăn

- Hiệu quả kinh tế

Trang 25

2.5 Phương pháp nghiên cứu

* Sơ đồ bố trí thí nghiệm:

* Sơ đồ khối nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu thí nghiệm

- Công thức 1 (CT1): Thức ăn công nghiệp + 4g Vime-Bitech /1kg thức ăn

- Công thức 2 (CT2): Thức ăn công nghiệp + 2g Vime-Bitech /1kg thức ăn

- Công thức 3 (CT3): Thức ăn công nghiệp + không sử dụng Vime-Bitech (đối chứng)

Công thức 3 Công thức 2

- Đánh giá hiệu quả kinh tế

- Hiệu quả kinh tế

Kết luận và kiến nghị

Đánh giá hiệu quả sử dụng Vime-Bitech trong nuôi tôm thẻ

chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931) giai đoạn từ PL

10 đến PL 40

Trang 26

Mỗi công thức thí nghiệm được lặp lại 3 lần, thí nghiệm được bố trí trong 9

ao nằm ở vị trí gần nhau, diện tích mỗi ao là 300 m², có cùng nguồn giống chất lượng như nhau, sử dụng cùng một nguồn thức ăn, chế độ chăm sóc giống nhau + Giống: Tôm giống được lấy từ các trại sản xuất giống của Công ty TNHH sản xuất và ứng dụng công nghệ thủy Vina nên đảm bảo được tôm giống khỏe mạnh, sạch bệnh Trước khi thả thì tiến hành đếm mẫu và gièo giống 2÷3 tiếng để tôm đạt được tỷ lệ sống cao

Kích thước giống: Tôm giống thả nuôi Postlarvae 10

Mật độ : 300 con/m²

+ Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm

Loại thức ăn được sử dụng trong quá trình nuôi là thức ăn công nghiệp VIET HOA với các kích cỡ khác nhau để cho tôm ăn tùy thuộc vào từng giai đoạn

Thành phần dinh dưỡng như bảng sau:

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng thức ăn VIET HOA

Trang 27

Cho tôm ăn liên tục từ khi thả đến khi thu hoạch Để tăng hiệu quả sử dụng, ta tiến hành trộn 1kg chế phẩm với 1kg đường sau đó hòa với 10 lít nước, sục khí 2-3h rồi trộn vào thức ăn và cho tôm ăn trong ngày

+ Chăm sóc quản lý

Ngày cho tôm ăn 3 lần, tùy giai đoạn phát triển, tình trạng sức khỏe của tôm mà điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp Mỗi kích cỡ tôm sử dụng mỗi loại thức ăn có kích thước khác nhau

Thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe của tôm, dùng nhá để quan sát hoạt động bơi lội, khả năng ăn và quá trình lột xác của tôm trong khi quan sát thì chú ý:

 Định kỳ xác định số lượng tôm và khối lượng tôm trong ao

 Theo dõi cường độ bắt mồi của tôm hàng ngày và từng cử cho ăn để điều chỉnh kịp thời

 Theo dõi sự lột xác của tôm để điều chỉnh giảm thức ăn trong giai đoạn tôm lột xác và tăng lượng thức ăn sau khi tôm lột xác xong

 Theo dõi sự biến động của thời tiết và môi trường để điều chỉnh tăng giảm thức ăn

2.6 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu

2.6.1 Phương pháp xác định một số yếu tố môi trường trong ao nuôi thí nghiệm

Bảng 2.2 Phương pháp kiểm tra các yếu tố môi trường

1 Nhiệt độ (oC) Nhiệt kế thủy ngân (±1oC) 7h và 14h

Trang 28

2.6.2 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng của tôm

- Phương pháp xác định chiều dài thân tôm

Chiều dài toàn thân là khoảng cách từ đầu chủy đến cuối đốt đuôi khi thân tôm duỗi thẳng đo bằng thước vân vạch đến mm

+ Cách đo: Mẫu tôm đem đo 20 con Đối với tôm giống, trước khi đo tôm phải làm chết bằng cách hạ nhiệt độ ( ngâm nước đá) Đặt tôm trên đĩa peptri và đặt đĩa peptri trên thước đo Dùng kim tiêm loại nhỏ để điều chỉnh tôm khi đo, sao cho tôm thẳng trên thước đo, sau đó đọc kết quả đo được.Tôm 6 ngày trở lên dùng thước chia vạch mm, đặt tôm lên thước chia vạch mm để đo

- Phương pháp xác định khối lượng tôm

+ Cách đo: Mẫu được thu ngẫu nhiên 20 con tiến hành dùng cân điện tử cân khối lượng

+ Khối lượng trung bình tôm ở mỗi bể là khối lượng trung bình của số mẫu thu được ở mỗi bể

+ Khối lượng tôm ở mỗi công thức bằng trung bình trọng lượng 3 bể cùng một công thức thí nghiệm

- Tăng trưởng tuyệt đối ngày về chiều dài ADG L ( Average daily growth)

- Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng SGR W ( Specific growth rate)

Trong đó: W1, W2: Khối lượng trước và sau ở các lần đo

L1, L2: Chiều dài trước và sau ở các lần đo

T: Thời gian giữa 2 lần đo

SGRW = Ln(W2) – Ln(W1) x 100 (% / ngày)

T

Trang 29

2.6.3 Phương pháp xác định tỷ lệ sống

Tôm kể từ ngày nuôi thứ 6 trở đi thì kiểm tra bằng chài và dựa vào thức ăn

để kiểm tra tỷ lệ sống Tiến hành chài 3 điểm khác nhau trong ao để đánh giá tỷ

lệ sống Định kì 6 ngày kiểm tra tỷ lệ sống một lần

 Tính tổng số tôm trong ao

A = φA × S

Số lượng tôm trong một lần chài

φA =

 Diện tích một lần quăng chài

Trong đó: - A: Tổng số tôm trong ao nuôi

- φA: Số lượng tôm TB trên 1m²

Tổng khối lượng tôm thu hoạch (kg)

2.6.5 So sánh hiệu quả kinh tế

Chỉ tiêu theo dõi:

- Tổng thu = số lượng tôm thu hoạch * đơn giá tại thời điểm thu hoạch

- Tổng chi = Tiền con giống + thức ăn + thuốc, hóa chất + nhân công + khấu hao tài sản + chi phí khác

- Lợi nhuận = tổng thu – tổng chi

- Tỷ suất lợi nhuận (%) = Lợi nhuận

*100 Tổng chi

- So sánh hiệu quả kinh tế giữa 3 công thức thí nghiệm

2.7 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học được thực hiện trên phần Microsoft Excel 2007 và SPSS 16.0

Trang 30

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả theo dõi biến động của một số yếu tố môi trường ao nuôi

Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, độ kiềm, độ mặn là những yếu tố

có tác động trực tiếp đến đời sống, sự sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của tôm Chính vì thế, những yếu tố này cần được kiểm tra và theo dõi hàng ngày để

có biện pháp xử lý kịp thời Mỗi giai đoạn sống trong vòng đời của tôm đều có ngưỡng nhiệt độ, pH, độ kiềm, độ mặn thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển

và tỷ lệ sống của ấu trùng

3.1.1 Sự biến động của nhiệt độ trong ao nuôi

Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật vì nó ảnh hưởng đến các phản ứng hóa sinh trong cơ thể.Trong quá trình ương nuôi nhiệt độ nước luôn có sự biến động Sự biến động của nhiệt độ ở các công thức thí nghiệm được thể hiện ở bảng 3.1:

Bảng 3.1 Biến động của nhiệt độ theo ngày nuôi

Các kết quả thu được về sự biến động của nhiệt độ nước trong ao nuôi tôm

khác nhau trong bảng 3.1 cho thấy, nhiệt độ nước trong các ao thực nghiệm có ít

sự biến động theo thời gian Nhiệt độ trong cùng một ao có sự chênh lệch lớn giữa buổi sáng và chiều Nguyên nhân là do trong suốt quá trình nuôi chịu ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài

Trang 31

Ở các CT thì nhiệt độ nước trong các ao đều thấp hơn vào buổi sáng và cao hơn vào buổi chiều, CT1 thì nhiệt độ nước dao động trong khoảng 27,1÷28,80C; CT2 là 27,3÷29,10C; còn ở CT3 là 27,1÷28,80C

Theo Vũ Thế Trụ (2003) thì nhiệt độ nước thích hợp cho tôm thẻ chân trắng ở vùng nhiệt đới là 25÷32oC Như vậy nhiệt độ nước của các ao nuôi tôm thẻ trong thời gian nghiên cứu ở các công thức thí nghiệm nằm trong khoảng thích hợp

3.1.2 Sự biến động của hàm lượng Oxy hoà tan (DO) trong ao nuôi

Kết quả theo dõi diễn biến hàm lượng Oxy hoà tan được thể hiện qua bảng 3.1 và hình 3.1 và 3.2:

Bảng 3.2 Diễn biến hàm lượng Oxy theo ngày nuôi

Hình 3.1.Biến động hàm lượng Oxy vào buổi sáng trong các ao nuôi

Ngày nuôi

Trang 32

Hình 3.2 Biến động hàm lượng Oxy vào buổi chiều trong các ao nuôi

Qua hình 3.1 và 3.2 cho thấy hàm lượng oxy hoà tan trong quá trình nuôi

ở các CT thí nghiệm nằm trong khoảng 4,7-6,6 (mg/l) thích hợp cho tôm phát triển.Mức độ dao động DO trong ngày cũng không đáng kể, do đó không làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm trong các nghiệm thức

3.1.3 Sự biến động của pH trong ao nuôi

Là yếu tố thủy hóa quan trọng, có tác động đến sức khỏe, đời sống của ấu trùng tôm thẻ chân trắng cũng như hệ sinh vật trong môi trường nuôi Ảnh hưởng của pH đến tôm thường đi kèm theo các yếu tố khác trong đó có mỗi quan hệ giữa

pH với NH3, lượng C vô cơ trong nước Khi pH thấp sẽ làm tăng tính độc của H2S, làm giảm sự phát triển của tảo Khi pH cao sẽ làm tăng tính độc của NH3

Bảng 3.3 Diễn biến pH theo ngày nuôi

Ngày nuôi

Trang 33

Hình 3.3.Biến động của pH vào buổi sáng trong các ao nuôi

Hình 3.4 Biến động của pH vào buổi chiều trong các ao nuôi

Giá trị pH của nước trong các ao nuôi tôm trong thời gian nghiên cứu dao động trong khoảng 7,8÷8,4 Theo các nghiên cứu và khảo sát của Brock & Main (1994), Wickins & Lee (2002) thì ngưỡng tối ưu của pH cho nước ao nuôi tôm chân trắng là 7,0÷9,0 Như vậy giá trị pH của nước trong các ao thí nghiệm trong thời gian nghiên cứu nằm trong khoảng thích hợp cho tôm nuôi sinh trưởng và phát triển

Ngày nuôi

Ngày nuôi

Trang 34

Tôm có thể thích nghi được với độ pH biến đổi từ 6,5÷8,5 (Nguyễn Đình Trung, Quản lý chất lượng nước, 2004 ) Khi pH thấp giải phóng kim loại nặng và tăng cường ảnh hưởng của khí độc H2S, ngược lại khi pH cao làm tăng độc tính của NH3, thì khi pH = 4 và pH = 10 sẽ gây chết tôm, pH thích hợp cho tôm từ 7,5÷8,5

3.1.4 Sự biến động của độ kiềm trong ao nuôi

Độ kiềm của nước là tổng số những ion kết tinh, chủ yếu là Cacbonat và Bicacbonat Chúng có vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ đệm trong bể ương

và là một trong những chỉ tiêu quan trọng duy trì tính ổn định của môi trường nước, đảm bảo sự biến động thấp nhất của pH nước, hạn chế tác hại của độc tố có trong môi trường nước.[8]

Theo Nguyễn Đình Trung (2002) độ kiềm đóng vai trò quan trọng trong việc tạo vỏ cho tôm trong quá trình lột xác, nếu độ kiềm quá cao tôm sẽ không lột xác được, nếu độ kiềm thấp sẽ làm biến động các yếu tố môi trường nước, ảnh hưởng không tốt đến tôm nuôi

Sự biến động của độ kiềm và độ mặn được thể hiện qua bảng 3.4 và hình 3.5:

Bảng 3.4 Biến động độ kiềm theo ngày nuôi

Trang 35

Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn sự biến động của độ kiềm trong các ao nuôi

Nhìn chung độ kiềm của nước trong các ao thí nghiệm là tương tự nhau, đều

có sự biến động theo thời gian nuôi, nhưng vẫn nằm trong khoảng thích hợp cho tôm phát triển Khả năng thích nghi của tôm thẻ chân trắng từ 100 - 250mg/l (Ilies.racotta, 2003) Nói chung là tương đối ổn định, có được sự ổn định tương đối như vậy là do các ao nuôi được phủ bạt bờ, đáy cùng với việc nuôi ít thay nước nên độ kiềm luôn ở mức cao, ít biến động

Mặt khác, chúng tôi đã căn cứ vào chu kỳ lột xác của tôm để bón vôi, tăng hàm lượng các ion H+, OH- và cation Ca2+, Mg2+, … nhằm ổn định pH nước và tăng sức khỏe cho tôm

Tuy nhiên, khi so sánh giữa ba CT thì sự khác nhau của độ kiềm của nước trong các ao nuôi tôm không đáng kể

3.1.5 Sự biến động của độ mặn trong ao nuôi

Là yếu tố sinh thái có liên quan mật thiết đến đời sống thủy sinh vật, mỗi sinh vật nói chung chỉ sống ở giới hạn độ mặn thích hợp Đối với tôm, mỗi loài

có khoảng độ mặn thích hợp khác nhau và khoảng độ mặn thích ứng còn thay đổi theo các giai đoạn phát triển Độ mặn tốt nhất cho sự phát triển của tôm Chân trắng từ 10 – 25 ‰ Nếu độ mặn thấp (< 10 ‰) cũng không tốt, dễ phát sinh bệnh, vì trong nước ngọt thiếu các khoáng (Na, Ca, Cl, Fe, Cu, P, Mn…) Đây là những khoáng chất cần thiết cho sự tạo vỏ của tôm, nếu thiếu chúng tôm sẽ

Ngày nuôi

Trang 36

không tạo được vỏ Sự thay đổi của độ mặn nước ương nuôi không được quá 5‰ hàng ngày, sự thay đổi nhanh của độ mặn có thể gây “sốc” tôm.[9]

Sự biến động của độ mặn được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3.5 Biến động độ mặn theo ngày nuôi

Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn sự biến động của độ mặn trong các ao nuôi

Kết quả thu được ở bảng 3.5 cho thấy độ mặn trung bình của các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm từ 21,9 – 22,9, khoảng độ mặn này nằm trong khoảng thích ứng cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm Chân trắng Trong quá trình ương nuôi có thể chủ động điều chỉnh độ mặn nhờ có sẵn nguồn nước ngọt

và việc giảm độ mặn trong tiến trình ương nuôi là phù hợp với quy luật phát triển của tôm thẻ trong tự nhiên, chính điều này sẽ kích thích tôm sinh trưởng và lột xác nhanh hơn.[4]

Ngày nuôi

Trang 37

3.1.6 Sự biến động của NH3 trong ao nuôi

NH3 có nhiều ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của tôm , tính độc của

nó phụ thuộc và pH của nước Trong các hệ thống nuôi công nghiệp lượng NH3

chủ yếu được tạo ra do phân thải, thức ăn dư thừa của tôm

Diễn biến NH3 của nước ở các bể ương nuôi tôm Chân trắng trong quá trình thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.6 và hình 3.7:

Bảng 3.6 Biến động hàm lượng NH 3 theo ngày nuôi (mg/l)

Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn sự biến động của hàm lượng NH 3 trong các ao nuôi

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng khí NH3 có xu hướng tăng dần theo thời gian Nguyên nhân là do sự tích lũy NH3 từ sự phân hủy các chất hữu cơ, thức ăn dư thừa làm cho nồng độ NH3 tăng lên, để duy trì được chất lượng nước , 10-30% lượng nước được thay để làm giảm nồng độ NH3 Tuy

Ngày nuôi

Trang 38

nhiên hàm lượng NH3 trung bình giữa các nghiệm thưc nằm trong khoảng 0,003 – 0,07 mg /l , khoảng giao động này vẫn nằm trong giới hạn cho phép để tôm sinh trưởng và phát triển NH3 < 0,1mg/l.[19]

3.2 Ảnh hưởng của Vime–Bitech đến tốc độ tăng trưởng của tôm nuôi

3.2.1 Ảnh hưởng của Vime-Bitech đến tăng trưởng về khối lượng của tôm

3.2.1.1 Tăng trưởng trung bình về khối lượng

Bảng 3.7 Khối lượng trung bình của tôm trong quá trình thí nghiệm

Các giá trị trên cùng một hàng có chữ cái mũ khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Hình 3.8 Diễn biến sự tăng trưởng về khối lượng của tôm (g/con)

ở các công thức thí nghiệm

Ngày đăng: 01/08/2021, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w