1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh

138 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Tác giả Nguyễn Văn Hưởng
Người hướng dẫn TS. Bùi Nữ Hoàng Anh
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những thành công đã đạt được, công tác QLNN đối với các KCN còn những tồn tại, hạn chế, yếu kém: Mới chỉ quan tâm tập trung thu hút đầu tư lấp đầy KCN, chưa thực sự chú trọng tớ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN VĂN HƯỞNG

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN VĂN HƯỞNG

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH BẮC NINH

Ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI NỮ HOÀNG ANH

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc

lập của riêng cá nhân tôi Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, kết quả trong

luận văn là trung thực và kết luận khoa học của luận văn chưa từng công

bố bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Văn Hưởng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, các giảng viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình tác giả theo học tại Trường Cảm ơn toàn thể cán bộ, nhân viên Trường đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình Cao học

Tác giả Luận văn xin bày tỏ tình cảm trân trọng, sự cảm ơn chân thành,

sâu sắc tới TS Bùi Nữ Hoàng Anh vì sự tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả

trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban Quản lý các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã tạo điều kiện để tác giả theo học chương trình đào tạo thạc sĩ và hoàn thành bản luận văn được thuận lợi

Cảm ơn gia đình, những người bạn đã cùng đồng hành, hỗ trợ, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện bản luận văn này

Sau cùng, xin được cảm ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ và kính mong nhận được sự quan tâm, nhận xét của các Thầy, Cô để tác giả có điều kiện hoàn thiện tốt hơn những nội dung của luận văn nhằm đạt được tính hiệu quả, hữu ích khi áp dụng vào trong thực tiễn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Văn Hưởng

Trang 5

MỤC LỤC

LYPERLINK \l i

LYPERLINK ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1

4 Đóng góp của luận văn 4

5 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Khái quát về các khu công nghiệp 6

1.1.2 Quản lý Nhà nước đối với các KCN 12

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với các KCN 16

1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp của một số địa phương ở Việt Nam 19

1.2.1 Kinh nghiệm từ tỉnh Bình Dương 19

1.2.2 Kinh nghiệm từ thành phố Hải Phòng 22

1.2.3 Kinh nghiệm từ tỉnh Đồng Nai 25

1.2.4 Bài học rút ra cho tỉnh Bắc Ninh 28

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU 31

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 32

2.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 32

Trang 6

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 34

2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 34

2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36

Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 38

3.1 Khái quát chung về các KCN tại tỉnh Bắc Ninh 38

3.1.1 Sự hình thành và phát triển các KCN 38

3.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015-2017 42

3.2 Thực trạng quản lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 44

3.2.1 Thực trạng công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách QLNN các KCN 44

3.2.2 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách QLNN các KCN 50

3.2.3 Thực trạng công tác thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động các KCN 67

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 76

3.3.1 Các yếu tố khách quan 76

3.3.2 Các yếu tố chủ quan 79

3.4 Đánh giá chung công tác quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 90

3.4.1 Những kết quả đạt được 90

3.4.2 Những khó khăn, hạn chế 91

3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 93

Trang 7

Chương 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

BẮC NINH 95

4.1 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 95

4.1.1 Quan điểm, phương hướng 95

4.1.2 Mục tiêu 96

4.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 97

4.2.1 Tăng cường quy hoạch KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 97

4.2.2 Tăng cường công tác thực hiện QLNN về KCN 98

4.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động của các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 103

4.2.4 Nâng cao vai trò quản lý nhà nước của Ban quản lý các KCN Bắc Ninh 104

4.2.5 Tiếp tục hoàn thiện, đổi mới cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về phát triển các khu công nghiệp, nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng tính hấp dẫn cho các khu công nghiệp 106

4.2.6 Các giải pháp khác 108

4.3 Kiến nghị 110

4.3.1 Đối với Nhà nước, chính phủ 110

4.3.2 Đối với UBND tỉnh Bắc Ninh 111

4.3.3 Đối với Ban quản lý các KCN Bắc Ninh 112

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 1 117

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á

ASEM Diễn đàn hợp tác kinh tế Á-Âu

BHXH Bảo hiểm xã hội

BQL Ban quản lý

BVMT Bảo vệ môi trường

CCN Cụm công nghiệp

CLKCN Cụm liên kết công nghiệp

CNH Công nghiệp hóa

GTGT Giá trị gia tăng

HĐH Hiện đại hóa

Trang 9

Chữ viết tắt Viết đầy đủ

QH va XD Quy hoạch và Xây dựng

SXKD Sản xuất kinh doanh

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TN&MT Tài nguyên và môi trường

UBND Ủy ban nhân dân

UDKHCN Ứng dụng khoa học công nghệ

VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

WTO Tổ chức thương mại thế giới

XDCB Xây dựng cơ bản

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Quy mô mẫu khảo sát 34 Bảng 2.2: Thang đo Likert 35 Bảng 3.1: Bảng tổng hợp thực trạng các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

40 Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh

của các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn

2015-2017 42 Bảng 3.3: Quy hoạch tại các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh giai

đoạn 2015-2017 46 Bảng 3.4: Kế hoạch sử dụng lao động tại các KCN Bắc Ninh giai

đoạn 2015-2017 48 Bảng 3.5: Kết quả khảo sát ý kiến đánh giá về công tác xây dựng

chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách QLNN các KCN Bắc Ninh 49 Bảng 3.6: Kết quả đánh giá ý kiến về bộ máy QLNN đối với các

KCN Bắc Ninh 54 Bảng 3.7: Kết quả thu hút đầu tư các dự án trong các KCN tỉnh Bắc

Ninh giai đoạn 2015-2017 56 Bảng 3.8: Tình hình phát triển các doanh nghiệp tại các KCN tỉnh

Bắc Ninh giai đoạn 2015-2017 59 Bảng 3.9: Hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp tại KCN Bắc

Ninh giai đoạn 2015-2017 60 Bảng 3.10: Tình hình lao động trong các KCN Bắc Ninh giai đoạn

2015-2017 63 Bảng 3.11: Đánh giá ý kiến về công tác tổ chức thực hiện QLNN các

KCN Bắc Ninh 66

Trang 11

Bảng 3.12: Thống kê kết quả kiểm tra về tình hình cháy nổ tại KCN

Bắc Ninh giai đoạn 2015-2017 68 Bảng 3.13: Thống kê kết quả kiểm tra về tình hình vi phạm lao động

tại KCN Bắc Ninh giai đoạn 2015-2017 70 Bảng 3.14: Đánh giá ý kiến về công tác thực hiện thanh tra, kiểm tra,

giám sát các hoạt động các KCN tại Bắc Ninh 75 Bảng 3.15: Vốn đầu tư phát triển cho cơ sở hạ tầng tỉnh Bắc Ninh giai

đoạn 2015-2017 82 Bảng 3.16: Trình độ nhân sự thuộc Ban quản lý các KCN tỉnh Bắc

Ninh giai đoạn 2015-2017 84

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Hình 3.1: Mô hình tổ chức quản lý nhà nước về khu công

nghiệp 51 Hình 3.2: Tổ chức bộ máy tại Ban quản lý các KCN Bắc Ninh 53 Hình 3.2: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo ngành, 2015-2017

77 Hình 3.3: Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh năm 2017 87 Hình 3.4: Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tỉnh Bắc Ninh giai đoạn

2015-2017 89

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (gọi chung là KCN) được xem là một trong những phương thức hữu hiệu đối với nước ta hiện nay trong tiến trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Sau gần 30 năm xây dựng, phát triển, cả nước hiện có 328 khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập, thu hút được hơn 120 tỷ USD vốn FDI, 800.000 tỷ đồng vốn đầu tư trong nước, và giải quyết việc làm cho hơn 3 triệu lao động Riêng trong năm 2017, các khu công nghiệp, khu chế xuất đóng góp hơn 2 tỷ USD vào ngân sách nhà nước, 110 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu Bên cạnh đó, cả nước có thêm 625 cụm công nghiệp, tổng diện tích đất công nghiệp theo quy hoạch của các cụm công nghiệp đang hoạt động là 19.000ha, thu hút hơn 10.000 dự án đầu tư, với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 137.000 tỷ đồng, giải

quyết việc làm cho 538.000 lao động (www.bacninh.gov.vn ).

Trong bối cảnh hiện nay, Bắc Ninh đã và đang đón nhận làn sóng đầu tư mới từ nhiều quốc gia, việc phát triển các KCN xanh, CCN sạch và không gây

ô nhiễm môi trường là hết sức cần thiết nhằm cải thiện môi trường đầu tư và phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của các NĐT Đó là hướng đi đúng đắn để mang lại sự cân đối giữa một bên phát triển kinh tế và một bên là tầm nhìn quy hoạch chiến lược không gian đô thị trong đó có kiến trúc cảnh quan các KCN Thiết nghĩ, việc nghiên cứu công tác QLNN về KCN tốt sẽ khiến nền kinh tế công nghiệp của địa phương phát triển mở ra một xã hội phát triển, một đất nước phồn vinh và bền vững

Tỉnh Bắc Ninh đã tận dụng tốt những lợi thế so sánh sẵn có về vị trí địa

lý, nguồn lao động, tài nguyên du lịch Bên cạnh đó, tỉnh cũng luôn có sự đổi mới, tư duy nhằm tạo ra những lợi thế so sánh động, tăng tính cạnh tranh trong thu hút FDI trong tình hình mới Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh có 16 KCN tập trung được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung theo Văn bản số

Trang 14

1511/TTg-KTN ngày 20/8/2014 và Văn bản số 2007/TTg-KTN ngày 06/11/2015, với tổng diện tích 6.397,68 ha Có 11 KCN được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và Quyết định thành lập (gồm 14 dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN) với tổng diện tích quy hoạch 4.523,60 ha; diện tích đất công nghiệp cho thuê 3.156,17 ha

Bên cạnh những thành công đã đạt được, công tác QLNN đối với các KCN còn những tồn tại, hạn chế, yếu kém: Mới chỉ quan tâm tập trung thu hút đầu tư lấp đầy KCN, chưa thực sự chú trọng tới cơ cấu ngành nghề, công nghệ, yếu tố môi trường… do đó, cơ cấu đầu tư trong KCN chưa thực sự hợp lý, tính liên kết ngành của các KCN chưa chặt chẽ; Công tác đền bù, GPMB, xây dựng kết cấu hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; Những vướng mắc về giá đất và các quy định của pháp luật liên quan đến đền bù, GPMB đã ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ đền bù, làm giảm sức hấp dẫn đầu tư vào KCN; Các dự án đầu tư vào KCN có nhiều dự án quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp, rất khó khăn phát triển khi hội nhập kinh tế quốc tế; Công tác bảo vệ môi trường còn chưa được thực hiện tốt; Vấn đề lao động việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn; Thu nhập thực

tế của người lao động trong KCN nhìn chung còn chưa đáp ứng được nhu cầu

cơ bản của cuộc sống; Hệ thống hạ tầng xã hội ngoài hàng rào KCN chưa theo kịp và phục vụ kịp thời sự phát triển đồng bộ của KCN; nhất là nhà ở công nhân

và các dịch vụ phục vụ cho công nhân lao động; Nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp còn thiếu và yếu, số người có độ tuổi lao động cao nhưng trình độ tay nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của DN; Hệ thống trường đào tạo trong tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, trong khi đó nhu cầu về lao động có tay nghề cơ bản hoặc có trình độ cao ngày càng đòi hỏi bức xúc

Mục tiêu tổng quát đến năm 2030, phấn đấu xây dựng Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, hài hòa giữa khu vực đô thị và nông thôn,

có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đô thị lõi Bắc Ninh đạt tiêu chuẩn đô thị loại

Trang 15

I; Tạo các bước chuyển biến về kinh tế dịch vụ, xây dựng Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố khoa học, văn minh

Từ thực tế và mục tiêu đó, nhằm tìm kiếm giải pháp trong công tác QLNN để các KCN có thể phát triển tốt hơn trong bối cảnh cạnh tranh, hội

nhập quốc tế và sự lan tỏa của cách mạng công nghiệp 4.0, vấn đề “Tăng cường

quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” đã được lựa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu, thời gian nghiên cứu

Các nội dung của QLNN đối với các KCN tập trung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được chọn làm đối tượng nghiên cứu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu này được thực hiện trên địa bàn tỉnh

Bắc Ninh Những nghiên cứu thực địa, khảo sát được tiến hành ngay tại các

Trang 16

KCN và tại một số cơ quan QLNN cấp tỉnh đối với các KCN này

- Phạm vi thời gian: Để phục vụ cho việc nghiên cứu, phân tích, các

thông tin được thu thập gồm cả thông tin của cả một thời kỳ và cả thông tin tại một thời điểm Các thông tin thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2015 - 2017; thông tin sơ cấp được khảo sát năm 2018

- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tập trung vào các nội dung trong QLNN

đối với các KCN, cụ thể là: Các chủ thể QLNN đối với các KCN; Các nội dung QLNN đối với các KCN: Quy hoạch và quản lý theo quy hoạch các KCN; Thẩm tra, thẩm định Dự án đầu tư; Quản lý đầu tư, quản lý hoạt động SXKD; Kiểm tra và giám sát hoạt động đầu tư…; Các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến QLNN đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

4 Đóng góp của luận văn

* Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hệ thống hóa, bổ

sung và làm phong phú thêm cơ sở khoa học về QLNN đối với các KCN Vận dụng và cụ thể hóa vào đánh giá hoạt động QLNN đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

* Về thực tiễn

Luận văn chỉ ra được những thành tựu và hạn chế trong hoạt động QLNN các KCN Bắc Ninh, từ đó đã đề xuất được nhóm các giải pháp để tăng cường QLNN các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo tốt cho các cơ quan QLNN, đặc biệt là tỉnh Bắc Ninh trong việc tăng cường quản lý, thúc đẩy và khuyến khích thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trang 17

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 4 chương sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước đối với các

KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng quản lý Nhà nước đối với các KCN tại tỉnh Bắc Ninh Chương 4 Giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước nhằm phát triển tốt

hơn các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái quát về các khu công nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm khu công nghiệp

Trên thế giới, KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối thế kỷ XIX KCN đầu tiên được thành lập năm 1896 ở Machester (Anh) và vùng công nghiệp Clearing Chicago (Mỹ), năm 1940, Ý thành lập KCN tại Napoli Đến thập kỷ 1950-1960 ở Mỹ có 452 vùng công nghiệp và gần 1000 KCN sau đó tăng lên 2400 KCN vào năm 1970 Pháp có

230 vùng công nghiệp (năm 1930) và Canada có 21 vùng công nghiệp (1965) Với Châu Á, KCN đầu tiên được thành lập ở Singapore vào năm 1951, Malaisia năm 1954, Ấn Độ năm 1955 Hiện nay ở khu vực Châu Á có trên 1.000 KCN đang hoạt động Ở Việt Nam, KCN đầu tiên được thành lập vào năm 199 tại

Thành phồ Hồ Chí Minh đó là KCX Tân Thuận (Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2011)

Quá trình phát triển KCN, KCX xuất hiện ngày càng nhiều dưới các hình thức khác nhau Các tổ chức quốc tế, các quốc giá trên thế giới đưa ra nhiều

khái niệm như “Khu mậu dịch tự do”, “Đặc khu kinh tế”… Ở Liên Xô cũ,

nhiều xí nghiệp liên hợp, cụm công nghiệp lớn, trung tâm công nghiệp đã được xây dựng tập trung, nhiều sắc thái của KCN Trong khi các khái niệm về xí nghiệp liên hợp, CCN, trung tâm công nghiệp được định nghĩa khá rõ ràng và thống nhất thì khái niệm về KCN có nhiều ý kiến khác nhau

Như vậy, trên thế giới, khái niệm KCN, KCX có một số cách hiểu sau:

Tổ chức phát triển công nghiệp liên hiệp quốc (UNIDO): KCX là khu vực được giới hạn về hành chính, có khi về địa lý, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập trang bị và sản phẩm nhằm mục đích sản xuất sản

Trang 19

phẩm xuất khẩu, chế độ thuế quan được ban hành cùng với những quy định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài Với khái niệm này, hoạt động chính trong KCX là sản xuất công nghiệp

Hiệp hội KCX thế giới (WEPZA) đã định nghĩa KCX, khu tự do: “Khu tự

do là khu do Chính phủ xây dựng để xúc tiến các mục tiêu chính sách được áp dụng thí điểm, đột phá Khác với chính sách áp dụng cho khu nội địa và phần lớn các chính sách áp dụng cho khu là cởi mở hơn (Ấn bản của Wepza 1997)

Thái Lan: KCN tương tự như một thành phố công nghiệp, một cộng đồng hoàn chỉnh Mỗi KCN được quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng, hệ thống

lý nước thải, hệ thống kết cấu hạ tầng hoàn hảo, hệ thống thương mại, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học và khu trung cư dành cho công nhân

Như vậy, Khu tự do có nghĩa một cách tổng quát là khu vực được vây

kín bằng hàng rào, với các “cổng” ra vào được kiểm soát và tại địa phận đó

một số ưu đãi về kinh tế được áp dụng Khái niệm này về cơ bản đồng nhất

KCX với Khu vực miễn thuế (Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2011)

Hiện nay có nhiều khái niệm định nghĩa về KCN, khái quát lại có thể hiểu KCN theo 2 cách:

Thứ nhất: KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công

nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở… Về thực chất mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt như KCN Batam (Indonesia), công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số

nước Tây Âu, Khu kinh tế mở Chu Lai, Dung Quất ở Việt Nam (Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2011)

Thứ hai: KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, tập trung các DN

công nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống Mô hình này được xây dựng ở một số nước như Malaisia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan,

Trung Quốc, Việt Nam (Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2011)

Trang 20

Như vậy, KCN đều là một khu vực có ranh giới địa lý xác định, có những thuận lợi về tự nhiên, xây dựng kết cấu hạ tầng, về xã hội và nhân văn để thu hút, tập trung các DN sản xuất công nghiệp, các dịch vụ có liên quan hoạt động theo một cơ chế, chính sách và cơ cấu nhất định nhằm đạt hiệu quả cho từng

DN và cả cơ cấu DN trong KCN

Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào KCN, KCX, khu CNC - gọi chung là KCN Theo Khoản 20

Điều 3 Luật đầu tư: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp

và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2011)

1.1.1.2 Đặc điểm của các KCN

KCN ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ có những đặc điểm riêng Các KCN ở Việt Nam có những đặc điểm như sau:

(*) Về không gian: là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với

các vùng lãnh thổ khác và thường không có cư dân sinh sống Các khu công nghiệp đều được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hàng rào khu công nghiệp, phân biệt với các vùng còn lại thuộc lãnh thổ quốc gia Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh bên trong hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng

và được hưởng rất nhiều ưu đãi Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp này được xây dựng phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch

vụ phục vụ công nghiệp, không phục vụ mục đích sống dân cư, kể cả người Việt Nam, người nước ngoài làm việc trong khu công nghiệp

(*) Về chức năng hoạt động: Khu công nghiệp là khu vực chuyên sản

xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp này là sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp Trong khu công nghiệp, không có các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các dịch vụ

Trang 21

phục vụ cho loại hình sản xuất này

(*) Về quá trình hình thành: Khu công nghiệp không phải là khu vực

được thành lập tự phát mà được thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ

sở quy hoạch đã được phê duyệt Để phát triển các khu công nghiệp, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách toàn diện, đồng bộ Chính vì vậy, Nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng chúng

(*) Về đầu tư cho sản xuất: Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong

khu công nghiệp, có khu vực hoặc doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu (được gọi là khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất) Phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp đã được phê duyệt và dự án đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, trong phạm vi khu công nghiệp

có thể thành lập khu vực riêng bao gồm: các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và các dịch vụ thu ngoại tệ hoặc cũng có thể chỉ thành lập doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (doanh

nghiệp chế xuất) (Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2011) 1.1.1.3 Vai trò kinh tế xã hội của các khu công nghiệp

Các KCN có vai trò kinh tế - xã hội như sau:

- Thu hút vốn đầu tư công nghiệp: KCN với đặc điểm là nơi được đầu tư

cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại và thu hút các nhà đầu tư cùng đầu

tư trên một vùng không gian lãnh thổ do vậy đó là nơi tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài nước Với quy chê quản lý thống nhất và các chính sách ưu đãi, các KCN đã tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài; hơn nữa việc phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lược kinh doanh của các tập đoàn, công ty đa quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tranh thủ ưu đãi thuê quan từ phía nước chủ nhà, tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận và khai thác thị trường mới ở các nước đang phát triển Do vậy, KCN giúp cho việc tăng cường

Trang 22

huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội

và là đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và là giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiêp từ nước ngoài Vốn đầu

tư trực tiêp từ nước ngoài là một trong những nhân tố quan trọng giúp quốc gia thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mặt khác sự hoạt động của đồng vốn có nguồn gốc từ đầu tư trực tiếp

từ nước ngoài đã tác động tích cực thúc đẩy sự lưu thông và hoạt động của đồng vốn trong nước

- Sử dụng có hiệu quả tài nguyên: Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ môi trường Do vậy để một doanh nghiệp đơn lẻ xây dựng các công trình xử

lý chất thải rất tốn kém, khó có thể đảm bảo được chất lượng nhất là trong điều kiện hiện nay ở nước ta phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ KCN là nơi tập trung số lượng lớn nhà máy công nghiệp, do vậy có điều kiện đầu tư tập trung trong việc quản lý, kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường Chính vì vậy việc xây dựng các KCN là tạo thuận lợi để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ nội thành, khu dân cư đông đúc, hạn chê một phần mức độ gia tăng ô nhiễm, cải thiện môi trường theo hướng thân thiện với môi trường phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Ngoài ra, KCN còn là động lực thúc đẩy việc đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính, góp phần cơ cấu lại lĩnh vực phân phối, lưu thông và dịch vụ xã hội; tạo điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh đặc thù của mình, đồng thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong từng vùng, miền và cả nước; từ đó tạo ra những năng lực sản xuất, ngành nghề và công nghệ mới, làm cho cơ cấu kinh

tế của nhiều tỉnh, thành phố và khu vực toàn tuyến hành lang kinh tế nói chung từng bước chuyển biến theo hướng một nền kinh tế CNH, thị trường hiện đại, hội nhập sâu rộng vào thị trường thế giới

- Hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu

Trang 23

và giảm chi ngoại tệ và góp phần tăng nguồn thu ngân sách Sự phát triển các KCN có tác động rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Hàng hóa sản xuất ra từ các KCN chiếm

tỷ trọng đáng kể trong tổng số lượng hàng hóa xuất khẩu của địa phương và của cả nước Khi các KCN mới bắt đầu đi vào hoạt động, lúc này nguồn thu ngoại tệ của các KCN chưa đảm bảo vì các doanh nghiệp phải dùng số ngoại tệ thu được để nhập khẩu công nghệ, dây chuyền, máy móc thiết bị nhưng cái lợi thu được là nhập khẩu nhưng không mất ngoại tệ Khi các doanh nghiệp đi vào sản xuất ổn định, có hiệu quả thì lúc đó nguồn thu ngoại tệ bắt đầu tăng lên nhờ hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN Ngoài ra, hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua việc cung ứng nguyên vật liệu của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp chế xuất hoạt động trong KCN và việc một số doanh nghiệp chế xuất tổ chức gia công một số chi tiết, phụ tùng, một số công đoạn tại các doanh nghiệp trong nước góp phần vào quá trình nội địa hóa trong

cơ cấu giá trị sản phẩm của các doanh nghiệp Ngoài ra, các KCN cũng đóng góp đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương và đóng góp chung cho nguồn thu của quốc gia

- Tạo việc làm cho lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Xây dựng và phát triển KCN đã thu hút một lượng lớn lao động vào làm việc tại các KCN

và đã có tác động tích cực tới việc xóa đói giảm nghèo và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng dân cư đồng thời góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên Phát triển KCN góp phần quan trọng trong việc phân công lại lực lượng lao động trong xã hội, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường lao động có trình độ và hàm lượng chất xám cao Quan hệ cung cầu lao động diễn ra ở thị trường này diễn ra gay gắt chính là động lực thúc đẩy người sử dụng lao động, người lao động phải rèn luyện và không ngừng học tập, nâng cao trình độ tay nghề Như vậy, KCN đóng góp rất lớn vào việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế và hình thành đội ngũ

Trang 24

lao động của nền công nghiệp hiện đại thông qua việc xây dựng các cơ sở đào tạo nghề, liên kết gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm giữa các doanh

nghiệp KCN với nhà trường (Nguyễn Chơn Trung, Trương Giang Long, 2004)

1.1.2 Quản lý Nhà nước đối với các KCN

1.1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước đối với các KCN

QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt do các cơ quan (hay cá nhân

có thẩm quyền) trong bộ máy Nhà nước thực hiện thông qua hệ thống công cụ pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi và mối quan hệ của các cá nhân,

tổ chức nhằm duy trì sự ổn đinh và phát triển bền vững toàn xã hội

QLNN đối với các KCN là một bộ phận trong QLNN về nền kinh tế, về tất cả các mặt như: Đầu tư, quy hoạch xây dựng, môi trường, lao động, hoạt động SXKD…thể hiện sự tác động hướng đích của hệ thống các cơ quan QLNN

về nền kinh tế đến hệ thống công nghiệp bằng các biện pháp, phương pháp và công cụ nhằm làm hệ thống công nghiệp vận hành phù hợp với các quy luật

khách quan và định hướng mục tiêu hệ thống kinh tế quốc dân (Nguyễn Chơn Trung, Trương Giang Long, 2004)

1.1.2.2 Đặc điểm của quản lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp

QLNN đối với các KCN bao gồm những đặc điểm sau:

- Thứ nhất, chủ thể QLNN về KCN chính là chủ thể nghiên cứu của luận văn, đó là hệ thống chính quyền tỉnh bao gồm: HDND, UBND tỉnh, Ban quản

lý các KCN, các Sở, ngành, đơn vị…

- Thứ hai, đối tượng QLNN về KCN trên địa bàn tỉnh là CSHT các KCN,

là hoạt động của các KCN…

- Thứ ba, cơ chế QLNN về KCN hiện nay được hầu hết các địa phương

ủy quyền thực hiện quản lý các lĩnh vực cho Ban quản lý các KCN các địa phương tạo sự thống nhất xuyên suốt; quản lý theo pháp luật, nguyên tắc, quy tắc, theo chức năng…

- Thứ tư, mục tiêu QLNN về các KCN là nhằm thúc đẩy sự phát triển

Trang 25

công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập quốc tế

1.1.2.3 Yêu cầu của quản lý nhà nước đối với KCN

- Chính sách, biện pháp quản lý đưa ra phải phù hợp với luật pháp và các yêu cầu của xã hội Một mặt phải bảo đảm kỷ cương, tuân thủ những giá trị đạo đức của dân tộc; mặt khác phải không gây ra những khó khăn trở ngại đến tính chủ động sáng tạo của các doanh nghiệp trong KCN

- Nhà nước phải tạo ra môi trường ổn định và bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động trong KCN và phải kết hợp hài hòa các mục tiêu của doanh nghiệp với các mục tiêu chung của đất nước

- Quản lý nhà nước đối với các KCN tức là tạo điều kiện để tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp trong nước trong thị trường nội địa cũng như khi xuất khẩu Điều đó có nghĩa nhà nước phải có những chính sách thích hợp để thúc đẩy các doanh nghiệp tập trung tìm kiếm thế mạnh và phát huy hết khả năng sản xuất kinh doanh của mình

- Nhà nước phải cung cấp đầy đủ các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực cũng như các thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác để giúp cho

việc xây dựng, phát triển các KCN đạt hiệu quả cao (Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2011)

1.1.2.4 Nội dung quản lý Nhà nước đối với các KCN

a Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách quản lý nhà nước các KCN

Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chiến lược phát triển vùng, lãnh thổ, chiến lược phát triển công nghiệp, chiến lược mậu dịch quốc tế, địa phương xây dựng chiến lược phát triển KCN Bởi vậy, khi xây dựng chiến lược, kế hoạch quản lý nhà nước các KCN phải nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên và xã hội trong chiến phát triển kinh tế chung

Trang 26

Xây dựng chiến lược, kế hoạch quản lý nhà nước các KCN phải tạo được bước

đi phù hợp với khả năng của vùng về tài chính, thu hút đầu tư của từng thời kỳ

Quản lý nhà nước các KCN cũng phải tính đến sự phân bố lực lượng sản xuất, trên lãnh thổ nhằm đảm bảo sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và bảo vệ môi trường, môi sinh Đồng thời phát triển KCN cũng cần xem xét đến tính cân đối trong phát triển khu vực, lãnh thổ và tính phát triển bền vững Phát triển KCN cũng cần phải tính đến sự phát triển hài hòa giữa các vùng, lãnh thổ, tận dụng được lợi thế so sánh giữa các vùng, lãnh thổ để đảm bảo sự phát triển cân đối hợp lý chung của cả nước

Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ đầu tư, tổ chức xúc tiến, vận động các nhà đầu tư phát triển KCN, quy chế hoạt động của các KCN, các văn bản hướng dẫn thực hiện cũng như các văn bản pháp quy có liên quan

và hoàn thiện chúng qua từng thời kỳ nhằm tạo cơ sở pháp lý đồng bộ và điều chỉnh có hiệu quả hoạt động của KCN cũng như của từng doanh nghiệp trong KCN Quy định và hướng dẫn việc hình thành, xây dựng, phát triển và quản lý

hoạt động của KCN (Nguyễn Chơn Trung, Trương Giang Long, 2004)

b Tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đối với các KCN

- Tổ chức bộ máy QLNN các KCN: Cơ quan QLNN tại địa phương xây dựng bộ máy xuyên suốt từ trung ương đến địa bàn từng tỉnh, mỗi tỉnh sẽ thành lập BQL khu công nghiệp, thực hiện chức năng QLNN về KCN Tổ chức bộ máy QLNN các KCN gồm vận hành quy trình QLNN và sắp xếp, bố trí nhân

sự thực hiện công tác QLNN các KCN trên địa bàn từng tỉnh

- Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội trong các khu công nghiệp

Khi chọn địa điểm thực hiện dự án, nhà đầu tư cũng thường quan tâm đến cơ

sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của khu vực vì nó đảm bảo cho các hoạt động kinh tế sau này Công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm công trình trong hàng rào

và ngoài hàng rào KCN

Công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài ràng rào là công trình phụ thuộc vào

Trang 27

quy hoạch phát triển vùng, lãnh thổ và đòi hỏi vốn lớn Vì vậy, nhà nước thường phải sử dụng ngân sách để đầu tư hoặc phải có cơ chế để huy động vốn các thành phần kinh tế khác tham gia như phương thức BOT, BO, BT…

Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào KCN, thông thường huy động các nguồn vốn của các doanh nghiệp và tư nhân Đây thực chất là doanh nghiệp đất đai và bất động sản dễ thu lợi nhuận cao nhưng lại phụ thuộc vào khả năng thu hút đầu tư nên rủi ro cũng lớn Việc cho doanh nghiệp tiến hành kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN là biện pháp huy động các nguồn vốn trong

xã hội để san sẻ gánh nặng cho ngân sách và tận dụng vốn và khả năng kêu gọi đầu tư của các nhà đầu tư phát triển hạ tầng

Phát triển KCN có tác dụng lan tỏa về kinh tế và xã hội của vùng, lãnh thổ như áp lực lên hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tạo nên hiện tượng tập trung lao động, làm hạt nhân tình hình đô thị công nghiệp… Cũng như các công trình

hạ tầng ngoài hàng rào, công trình hạ tầng kỹ thuật phải được nhà nước thực hiện trước một bước và đảm bảo cho sự phát triển lâu dài KCN và của vùng,

lãnh thổ (Nguyễn Chơn Trung, Trương Giang Long, 2004)

c Thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các KCN

Nhằm định hướng hoạt động của các KCN theo quy định của pháp luật

và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN, kiểm soát và xử lý các vi phạm của doanh nghiệp trong việc thực hiện quy định của pháp luật của nhà nước và quy chế KCN Nhà nước thực hiện kiểm tra các KCN dưới hai giác độ: Kiểm tra DN, dự án đầu tư hoạt động trong KCN và kiểm tra việc thực hiện quy chế quản lý nhà nước của các Ban quản lý các KCN

Nội dung và phương thức kiểm tra của Nhà nước đối với các DN, dự án hoạt động trong KCN không khác với nội dung kiểm tra DN và đầu tư nói chung Tuy nhiên, do các hoạt động CN và dịch vụ trong KCN tập trung với mật độ cao nên các hoạt động kiểm tra liên ngành có điều kiện và cần thiết phải

Trang 28

phối hợp với nhau tránh gây cản trở không cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong KCN Nhà nước đặc biệt chú trọng kiểm tra về các mặt ô nhiễm môi trường, thuế, chế độ sử dụng lao động ở các DN trong KCN, bởi vì các hoạt động này tiềm ẩn khả năng lây lan và gây mất ổn định cao trong KCN Ngoài ra, các hoạt động kiểm tra sử dụng đất đai trong KCN cũng được tăng cường hơn các nơi khác để tránh nguy cơ lãng phí đất, sử dụng đất không đúng mục đích từ phía các nhà đầu tư

Nội dung kiểm tra hoạt động của Ban quản lý các KCN bao gồm kiểm tra của cấp trên đối với Ban quản lý và kiểm tra nội bộ Một mặt, trong Ban quản lý phải có bộ phận thanh tra, kiểm tra nội bộ để bảo đảm hoạt động của Ban đúng quy định của Nhà nước Mặt khác, UBND tỉnh/TP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có chế độ kiểm tra việc thực hiện các chức năng được uỷ quyền của Ban quản lý các KCN nhằm đảm bảo kỷ cương, trật tự, hiệu lực, hiệu quả chung

trong quản lý nhà nước đối với KCN (Nguyễn Chơn Trung, Trương Giang Long, 2004)

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với các KCN

Trang 29

có lợi Đây chính là một phương hướng mới của các quan hệ kinh tế quốc tế, tạo ra cơ hội để các quốc gia có điều kiện có thể mở rộng các quan hệ phụ thuộc vào nhau Không thể phát triển kinh tế bằng cách xây dựng một nền kinh tế khép kín, tự cô lập trong một nước, thậm chí một nhóm nước Nền kinh tế trí tuệ đang được hình thành và phát triển Đó là những người máy công nghiệp sẽ thay thế bằng những người lao động Các quá trình lao động trí óc cũng được người máy thay thế, nhất là sự ra đời của cuộc cách mạng 4.0 Khi đó nền sản xuất thế giới sẽ đảm bảo cung cấp hàng hoá dồi dào với chi phí rất thấp, các khu vực sản xuất vật chất sẽ thu hẹp lại nhỏ bé so với các khu vực kinh tế trí tuệ

- Chính sách phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, vùng, ngành, địa phương, vùng, lãnh thổ, loại hình DN đều tác động đến mục tiêu, nội dung và phương thức quản lý của Nhà nước đối với KCN Chế độ, chính sách chung của Nhà nước

rõ ràng, minh bạch có độ nhất quán và ổn định cao thì tạo cơ sở pháp lý cho quản

lý hiệu quả của Nhà nước đối với KCN Ngược lại, chế độ, chính sách chung của Nhà nước thiếu minh bạch, không rõ ràng, thiếu tính nhất quán có thể cản trở các

cơ quan nhà nước thực hiện quản lý có kết quả các KCN Thậm chí, nếu chính sách phát triển kinh tế của nhà nước có sai lầm thì quản lý nhà nước dễ trở thành lực cản sự phát triển của các KCN

- Thể chế hoá của Nhà nước về các mặt tài chính, tiền tệ, giá cả, đầu tư, thương mại, ngân sách, tiết kiệm, phù hợp hay không phù hợp với kinh tế thị trường cũng ảnh hưởng lớn đến quản lý nhà nước đối với KCN Bởi vì, nếu thể chế, chính sách của Nhà nước phù hợp với kinh tế thị trường thì sẽ hỗ trợ quản lý nhà nước, làm cho quản lý nhà nước đối với KCN đơn giản hơn, chi phí thấp hơn, hiệu quả cao hơn, khuyến khích các KCN phát triển hiệu quả Nếu việc thể hoá không phù hợp với kinh tế thị trường thì sẽ làm cho quản lý nhà nước đối với KCN vừa nặng nề, áp đặt mệnh lệnh hành chính quan liêu, do đó chi phí quản lý cao, hiệu quả quản lý thấp, các cơ quan quản lý nhà nước các KCN quá tải, bản thân

Trang 30

KCN bị kìm hãm, không phát triển được (Nguyễn Chơn Trung, Trương Giang Long, 2004) , (Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2011)

1.1.3.2 Nhân tố chủ quan

- Trình độ ban hành chính sách đối với khu công nghiệp của cấp tỉnh/thành Phố Khía cạnh ảnh hưởng ở đây là năng lực chủ trì xây dựng và điều chỉnh quy hoạch phát triển các KCN trên địa bàn phù hợp với quy hoạch tổng thể của cả nước Mặc dù quy hoạch KCN ở địa phương phải phù hợp với quy hoạch chung của vùng và cả nước, nhưng nội dung và chất lượng quy hoạch KCN của từng địa phương phụ thuộc rất lớn vào sự quan tâm, tầm nhìn và quyết tâm chỉ đạo của chính quyền cấp tỉnh Thực tế cho thấy, chính quyền địa phương nào sáng suốt và có tầm nhìn đúng đắn, có năng lực chỉ đạo hiệu quả thì QLNN ở địa phương đó cùng chiều với phát triển KCN Ngược lại, chính quyền địa phương thiếu năng lực, không có tầm nhìn đúng, thiếu năng động thì QLNN trở thành yếu tố cản trở sự phát triển của KCN

- Năng lực tổ chức thực hiện chính sách đối với khu công nghiệp của cấp tỉnh Đó là ảnh hưởng của năng lực tài chính và sự chỉ đạo của cấp tỉnh đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh/thành Phố trong tổ chức xây dựng hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào KCN đồng bộ với hoạt động trong KCN Địa phương nào có tiềm lực tài chính mạnh

và có quyết tâm phát triển KCN thì thường ưu tiên đầu tư cho cơ sở hạ tầng ngoài KCN nhằm tạo điều kiện cho KCN phát triển, do đó QLNN đối với KCN của các ban ngành cũng thông thoáng hơn Ngược lại, các địa phương nghèo, thiếu quan tâm đến KCN thì quản lý của các ban ngành thường chặt chẽ và ít nhiều gây khó khăn cho KCN Ngoài ra, các địa phương giầu còn có thể hỗ trợ đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng trong hàng rào KCN, tạo điều kiện hợp tác giữa

cơ quan QLNN và nhà đầu tư trong KCN

- Trình độ kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với khu công nghiệp của cấp tỉnh Đó là năng lực của cấp tỉnh/thành Phố trong việc ban hành và giám

Trang 31

sát thực hiện quy chế phối hợp giữa Ban quản lý các KCN với các sở, ban, ngành quyết định chất lượng QLNN đối với KCN Nếu việc phối hợp không tốt thì dù quyết tâm đến đâu QLNN cũng trục trặc Ngược lại quy chế phối hợp

rõ ràng, hiệu lực phối hợp cao, tiến độ phối hợp nhịp nhàng sẽ làm cho quản lý nhà nước thích ứng nhanh với KCN và hiệu quả cao hơn

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương

Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển KCN hỗ

trợ QLNN đối với KCN trên các phương diện phát hiện nhu cầu, giảm nhẹ hỗ trợ tài chính, dễ thực thi các chính sách thu hút đầu tư vào KCN, các KCN có điều kiện hoạt động hiệu quả nên hỗ trợ thu ngân sách nhà nước, các vướng mắc cần tháo gỡ ít hơn Ngược lại, ở các địa phương có điều kiện không thuận lợi cho phát triển KCN thì QLNN vừa gặp nhiều vấn đề khó khăn cần tháo gỡ, vừa phải trợ cấp lớn cho KCN, trong khi đó KCN có thể vẫn vận hành không hiệu quả

Điều kiện kinh tế - xã hội: Bản thân Nhà nước phải hỗ trợ nhiều mặt và

giúp đỡ KCN nếu như xây dựng KCN ở các vùng kém phát triển, lao động vừa thiếu, vừa chưa được đào tạo, cơ sở hạ tầng nghèo nàn Do đó, tuỳ theo các điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương khác nhau mà nội dung QLNN

cũng khác nhau (Nguyễn Chơn Trung, Trương Giang Long, 2004), (Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2011)

1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp của một

số địa phương ở Việt Nam

1.2.1 Kinh nghiệm từ tỉnh Bình Dương

Sau khi tái lập tỉnh, Bình Dương đã khởi lập KCN đầu tiên vào tháng 9 năm 1995, đó là KCN Sóng Thần với diện tích quy hoạch 180 ha Đến cuối năm 2004 ngoài KCN Việt Nam - Singapo (thành lập năm 1996, với diện tích

292 ha) thuộc Trung ương quản lý, Bình Dương đã có 12 KCN được thành lập với diện tích quy hoạch 1934,73 ha Tiếp đó, trong 6 tháng đầu năm 2005,

Trang 32

Chính phủ đã cho phép Bình Dương lập mới 3 KCN với diện tích 810,5 ha, đang trong quy hoạch KCN Mỹ Phước III, diện tích 890 ha Đồng thời, dự án Khu liên hợp “công nghiệp-dịch vụ-đô thị Bình Dương” với qui mô 4.196 ha

đã được Chính phủ phê duyệt Trong Khu liên hợp này có 5 KCN với diện tích 1.298 ha Trải qua gần 20 năm kiên trì xây dựng các KCN, đến năm 2015 toàn tỉnh Bình Dương đã có 28 KCN với tổng diện tích trên 9.500 ha, chiếm 9,5%

về số lượng và 11,3% về diện tích KCN của cả nước

(www.skhdt.binhduong.gov.vn )

Hiện nay, BQL các KCN tỉnh được giao quản lý 25 KCN với tổng diện tích quy hoạch lên đến hơn 7.500 ha Dưới sự quản lý minh bạch, khoa học của BQL các KCN tỉnh, các KCN đã hoàn thành việc xây dựng, kết cấu hạ tầng trong

và ngoài KCN được đầu tư đồng bộ và hiện đại góp phần thay đổi diện mạo tỉnh nhà, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư phát triển KT-XH địa phương Các KCN hình thành và phát triển phù hợp với quy hoạch xây dựng và phát triển KCN của cả nước cũng như quy hoạch sử dụng đất và phát triển của tỉnh Đến nay tổng diện tích đất đã cho thuê của các KCN thuộc phạm vi quản lý của ban là 2.572 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 50,5%, cao hơn nhiều so với bình quân

chung của cả nước (www.skhdt.binhduong.gov.vn )

Qua hơn 20 năm phát triển các KCN, Bình Dương đã rút ra bài học có ý nghĩa quan trọng là: thường xuyên nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện quy hoạch; tổ chức xây dựng hợp lý và có hiệu quả hệ thống các CSHT KCN; tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi; xúc tiến, quảng bá và thu hút các dự án đầu tư hoạt động trong KCN., trong đó tỉnh đặc biệt chú trọng: Thường xuyên nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển KCN theo hướng đa dạng hoá các loại hình KCN để đáp ứng nhu cầu khác nhau

của NĐT (www.skhdt.binhduong.gov.vn )

Công tác QLNN đối với hoạt động của các DN trong các KCN đã có bước phát triển toàn diện, từ công tác quản lý xây dựng, quản lý lao động DN

Trang 33

đến các lĩnh vực quản lý hoạt động, bảo vệ môi trường… Trong đó, Bình Dương chú trọng công tác hướng dẫn, hỗ trợ DN triển khai thực hiện những quy định của Nhà nước… đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra DN trong việc chấp hành những quy định của pháp luật; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa liên thông” tạo thuận lợi cho DN trong quá trình thực hiện dự án

(www.skhdt.binhduong.gov.vn )

Về công tác tổ chức quản lý xây dựng: Hiện trong các KCN có 172 công trình đang xây dựng (2015), BQL đã hoàn thành nhiều phần việc: Cấp giấy phép xây dựng; tổ chức kiểm tra; cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình; tiến hành xác nhận hợp đồng thuê lại đất; xác nhận hợp đồng thế chấp đất và tài sản trên đất; xác định hợp đồng chuyển nhượng Nhờ hoàn tất khối lượng công việc quản lý trên đây, BQL góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hỗ trợ các DN có cơ sở pháp lý tiếp tục thực hiện các dự án đi vào hoạt động hiệu quả

Để hỗ trợ các DN triển khai thực hiện dự án, BQL thường phải chủ động hướng dẫn các thủ tục khi DN chuẩn bị bước vào hoạt động chính thức, hay khi DN gặp khó khăn, hoặc làm thủ tục giải thể, có tranh chấp hợp đồng kinh tế… Đối với các DN đang hoạt động, thông qua việc thường xuyên kiểm tra mà BQL hướng dẫn DN bổ sung hồ sơ đăng ký xin cấp giấy phép kinh doanh, hướng dẫn trình tự, thủ tục đăng ký thành lập văn phòng đại diện… Trong sản xuất, kinh doanh thường phát sinh không ít vướng mắc, khó khăn, các DN luôn yêu cầu BQL trợ giúp, nhất là về các thủ tục cần thiết để DN sớm chính thức đi vào hoạt động… Qua những buổi làm việc với DN, đoàn công tác của BQL đã hướng dẫn DN thủ tục được hỗ trợ vay vốn để trả nợ lương người lao động, nợ bảo hiểm xã hội và hướng dẫn giải quyết các chế độ cho người lao động thôi việc; hướng dẫn các thủ tục giải thể trước thời hạn như trong việc giải thể của công ty trách nhiệm hữu hạn EZ Sport Vina, Golden Fish; hướng dẫn thủ tục

Trang 34

xin tạm ngừng hoạt động của Công ty TNHH Damool Vina,…

(www.skhdt.binhduong.gov.vn )

Đối với công tác quản lý lao động, vấn đề chủ yếu cần được giải quyết trong thực tiễn hoạt động của các DN là việc kiểm tra, thanh tra và hướng dẫn thực hiện một số điều của Bộ Luật lao động Trong đó, bộ phận quản lý lao động thuộc BQL thường xuyên theo dõi, đôn đốc các DN thực hiện những quy định về sử dụng lao động, như cấp sổ lao động, cấp mới và gia hạn Giấy phép lao động cho người nước ngoài; hướng dẫn và đôn đốc DN xây dựng nội quy lao động, ký kết thỏa ước lao động…

Về công tác kiểm tra giám sát, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật Lao động trong các DN, nắm tình hình và có biện pháp giải quyết các tranh chấp lao động Triển khai những mặt công tác chủ yếu trên đây, BQL các KCN tỉnh Bình Dương còn coi trọng phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra công tác bảo vệ môi trường đối với những DN có nhiều sai phạm (giấy, hóa chất, chế biến thực phẩm…), tham gia hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án quan trọng… Tỉnh Bình Dương còn đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tạo thuận lợi cho DN, ban hành quy trình xử lý công việc và công khai thủ tục hành chính, các loại phí và lệ phí theo quy định; hoàn thành việc xây dựng tổ chức công việc theo hệ thống quản

lý chất lượng ISO 9001-2008 (www.skhdt.binhduong.gov.vn )

1.2.2 Kinh nghiệm từ thành phố Hải Phòng

Được thành lập sớm, từ 1994, trên địa bàn thành phố Hải Phòng có 3 KCN được thành lập (Nomura - Hải Phòng, Đình Vũ, Đồ Sơn) với tổng diện tích đất tự nhiên 467 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 292.000 USD Đến năm 2007, Hải Phòng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thêm 4 KCN Tuy nhiên, đến hết năm 2006, các KCN trên địa bàn mới chỉ thu hút được trên 70 dự án với tổng vốn FDI hơn 800 triệu USD, vốn DDI khoảng 1.280 tỷ đồng; quy mô dự

Trang 35

án nhỏ, thiết bị, công nghệ trung bình; lao động làm việc trong các DN trong

KCN 8.000 người (www.skhdt.haiphong.gov.vn)

Nhận thức và đánh giá được vai trò, vị trí quan trọng của các KCN đối với sự phát triển KT-XH trong thời kỳ mới, từ năm 2007, Hải Phòng đã có những biện pháp, giải pháp quản lý tích cực, đẩy mạnh và nâng cao công tác QLNN trong các KCN Tính lũy kế đến ngày 31 tháng 12 năm 2015, trong các KCN và KKT tại Hải Phòng, 203 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng số vốn đăng ký là 7,916 tỷ USD; 99 dự án có vốn đầu tư trong nước còn hiệu lực, với tổng số vốn đăng ký là 46.822 tỷ VNĐ Đạt được các thành tựu trên là do Hải Phòng đã thực hiện các biện pháp quản lý sau:

Về hoạch định, quy hoạch các KCN: Quy hoạch KCN đổi mới và thay

đổi lớn: Đề án điều chỉnh, xây dựng mới các KCN của thành phố Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (tại văn bản 180/TTg-CN ngày 01/2/2008), theo đó điều chỉnh mở rộng

2 KCN, bổ sung 11 KCN mới, tổng diện tích đất 8.157 ha Ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận bổ sung KCN Cầu Cựu của thành phố Hải Phòng, diện tích 106 ha vào Quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam Như vậy, đến nay trên địa bàn thành phố Hải Phòng có 17 KCN được quy hoạch với tổng diện tích đất khoảng 10.000 ha Đặc biệt, ngày 10/1/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 06/2008/QĐ-TTg thành lập KKT Đình

Vũ - Cát Hải với quy mô 21.640 ha (nay được điều chỉnh bổ sung thành 22.140 ha) Đây là KKT có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng một KKT tổng hợp được vận hành theo quy chế riêng biệt; là một trung tâm kinh tế biển, đa ngành,

đa lĩnh vực, bao gồm: kinh tế hàng hải (trọng tâm là phát triển dịch vụ cảng, phát huy lợi thế thương hiệu cảng Hải Phòng có lịch sử hơn 100 năm, kết hợp với cảng quốc tế Lạch Huyện sắp tới), trung tâm công nghiệp, dịch vụ, tài chính, ngân hàng, du lịch, thương mại; là “cửa sổ hướng ngoại và hội nhập”, là hạt

Trang 36

nhân, động lực phát triển kinh tế của Hải Phòng, Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ và cả nước (www.skhdt.haiphong.gov.vn)

Về tổ chức thực hiện triển khai quy hoạch: Tập trung tăng cường quan

hệ phối hợp công tác hài hoà, đồng bộ giữa các cơ quan quản lý của thành phố, chính quyền, quận, huyện với BQL các KCX & CN Hải Phòng (nay là BQL KKT Hải Phòng), cải cách thủ tục hành chính, giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến KCN như GPMB, giao đất cho các chủ đầu tư triển khai dự án, kết nối CSHT trong và ngoài KCN, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, tạo nguồn lao động cung ứng cho các DN, chăm sóc, hỗ trợ, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình sản xuất, kinh doanh của các DN; tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, môi trường sản xuất, kinh doanh ổn định, thuận lợi… Bằng các hoạt động tích cực đó, trong vòng gần 5 năm (từ năm 2011 đến 2015), KCN của Hải Phòng đã khởi sắc với những kết quả rõ nét ở nhiều mặt Kết quả xây dựng KCN và thu hút đầu tư tăng nhanh: Trong 4 năm 2007-2011, có 7 Công

ty xây dựng CSHT KCN được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (gấp hơn 2 lần của

13 năm trước đó), nâng tổng số các KCN được thành lập và đi vào hoạt động

là 10 khu với tổng diện tích gần 4.000 ha, tổng vốn đầu tư CSHT quy đổi 1,26

tỷ USD, loại hình công ty xây dựng và kinh doanh CSHT KCN đa dạng hơn (có 4 công ty liên doanh với nước ngoài, 1 công ty 100% vốn nước ngoài, 5 công ty 100% vốn trong nước) Trong số này có 2 KCN đã lấp đầy diện tích giai đoạn I và đang triển khai giai đoạn II (Nomura - Hải Phòng, Đình Vũ) Năm 2015, có 93 dự án có vốn đầu tư nước ngoài được BQL KKT Hải Phòng điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trong đó có 16 dự án điều chỉnh tăng tổng vốn đầu tư 192,776 triệu USD; 08 dự án có vốn đầu tư trong nước được BQL KKT Hải Phòng điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trong

đó có 03 dự án điều chỉnh tăng tổng vốn đầu tư 6.551 tỷ VNĐ

(www.skhdt.haiphong.gov.vn)

Trang 37

KCN đã đóng góp tích cực đối với sự phát triển KT - XH: Các KCN, KKT Hải Phòng đã góp phần tạo ra kết cấu HTKT mới, huy động được nguồn lực đáng

kể của các thành phần kinh tế để mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng 58 CNH, HĐH,

đa dạng hoá ngành nghề, nâng cao trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng cường xuất khẩu, mở rộng hợp tác quốc tế; tham gia giải quyết việc làm, nâng cao dân trí, thực hiện chính sách xã hội, bảo vệ môi trường, đóng

góp cho ngân sách địa phương ngày một gia tăng (www.skhdt.haiphong.gov.vn)

1.2.3 Kinh nghiệm từ tỉnh Đồng Nai

Ngay từ cuối thập niên 80 thế kỷ XX, cùng với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, UBND tỉnh Đồng Nai đã thành lập nhóm nghiên cứu xây dựng KCX (sau này là KCN) tiến hành thu thập và nghiên cứu tài liệu về KCX của các quốc gia và vùng lãnh thổ Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Malayxia, Inđônêxia; tiếp xúc các NĐT Thái Lan và Đài Loan để kêu gọi đầu tư, làm nền móng cho sự phát triển các KCN cũng như

chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Đồng Nai sau này : (www.bacninh.gov.vn

)

Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có nhiều thuận lợi để phát triển KCN Trước giải phóng, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã có KCN Biên Hoà khá phát triển Từ khi đất nước tiến hành đổi mới, tỉnh đã coi phát triển KCN là phương thức trọng tâm nhằm hỗ trợ phát triển CN của địa phương Ngay từ khi luật khuyến khích đầu tư nước ngoài có hiệu lực, Đồng Nai đã tích cực tạo điều kiện để các KCN phát triển Ngày 24/11/1988 KCX Long Bình đã được thành lập Sau này tỉnh chuyển hướng sang ưu tiên phát triển KCN tổng hợp

Về công tác quy hoạch các KCN

Đồng Nai là một trong những địa phương quy hoạch phát triển các KCN sớm nhất cả nước Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Đồng Nai,

Trang 38

ngay từ đầu những năm 1990, Đồng Nai đã quy hoạch 17 KCN, nhưng qua quy hoạch chi tiết thực tế đã chuẩn bị cho việc hình thành 23 KCN (do KCN Nhơn Trạch 2.700 ha chia thành nhiều KCN nhỏ) Trong quá trình phát triển, Đồng Nai đã quy hoạch bổ sung KCN và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đến năm 2017 phát triển 36 KCN với tổng diện tích khoảng 12.057,77 ha Đi cùng chủ trương sớm phát triển KCN và quy hoạch tương đối dài hơi, chính quyền Đồng Nai còn tích cực vận động xúc tiến đầu tư, sử dụng nhiều biện pháp thu hút NĐT nước ngoài vào KCN như hàng năm Tỉnh uỷ và UBND có

kế hoạch đi xúc tiến đầu tư ở một số nước trọng điểm, có chính sách đối ngoại mềm dẻo để tạo thiện cảm với các NĐT, tổ chức trọng thể việc trao giấy phép đầu tư cho NĐT nước ngoài, tích cực hỗ trợ NĐT tháo gỡ khó khăn trong hoạt

động SXKD (www.bacninh.gov.vn )

Về tổ chức, chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN

Tỉnh Đồng Nai đã có 31 KCN được thành lập với tổng diện tích 9.559,35

ha UBND tỉnh đã chỉ đạo đầu tư hệ thống hạ tầng các KCN tương đối hoàn chỉnh với giá trị đạt 380 triệu USD và 6.637 tỷ đồng, đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, hiện đại, có giá trị lâu dài và tác động mạnh đến quá trình đô thị hóa Hiện có 28 trong tổng số 31 KCN đã tăng cường hệ thống hạ tầng với chất lượng tốt, đảm bảo theo đúng quy hoạch và đáp ứng nhu cầu của NĐT, 03 KCN đang trong quá trình tăng cường hạ tầng Các KCN của tỉnh đều đảm bảo

ưu tiên đầu tư hệ thống hạ tầng xử lý môi trường của KCN, hiện nay các KCN khi đi vào hoạt động đều đã hoàn thành hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi tiếp nhận dự án đầu tư Đặc biệt, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành bộ tiêu chí đánh giá xếp hạng các KCN theo Quyết định số 2047/QĐ-UBND ngày 06/7/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai Đề tài xếp hạng KCN được hội đồng thẩm định là các chuyên gia kinh tế đánh giá cao, xếp loại xuất sắc vì tính cần thiết và là vấn đề mới trong quá trình phát triển ngày càng nhiều KCN, nhất là khi yếu tố cạnh tranh được tính đến như là một lợi thế để thu hút đầu tư Việc

Trang 39

sử dụng đất vào phát triển KCN Đồng Nai đạt hiệu quả cao, tỷ lệ sử dụng đất

tự nhiên của 31 KCN chiếm 1,6% diện tích đất của tỉnh, đóng góp trên 40% GDP của tỉnh Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng đất của KCN cao hơn nhiều

so với các ngành khác Mặt khác, các KCN trên địa bàn tỉnh chủ yếu được sử dụng từ đất đồi bạc màu; các khu đất không phải là đất chuyên trồng lúa nước

và không phải là khu vực có các điểm khoáng sản; khu vực có dân cư thưa thớt, tọa lạc trên các khu đất canh tác và phần lớn là nhà tạm, không có công trình kiên cố… Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp của các KCN hiện nay đạt 67,49%, trong đó có nhiều KCN đạt tỉ lệ lấp đầy cao như Biên Hòa II, Amata, Loteco, Tam Phước, Hố Nai, Sông Mây, Nhơn Trạch I, Nhơn Trạch

II…(www.bacninh.gov.vn )

Về nghiệp vụ quản lý cụ thể

Ngoài hoạt động của BQL các KCN với cơ chế một cửa khá tốt, Đồng Nai còn tạo điều kiện khuyến khích các Sở, ban ngành rút ngắn thời gian hoàn tất thủ tục đầu tư trong quá trình cấp phép, phối hợp với các cơ quan thuế, hải quan tạo điều kiện cho các DN hoạt động trong KCN Đồng Nai đã thành lập một số trung tâm và công ty tư vấn hỗ trợ thông tin và thủ tục hành chính cho các NĐT trong KCN Tuy nhiên, việc quản lý và phát triển các KCN của Đồng Nai thời kỳ đầu còn vấp phải một số hạn chế như chưa chú trọng đúng mức tiêu chuẩn môi trường, chưa tạo điều kiện phát triển nông nghiệp và dịch vụ tương xứng với công nghiệp

Về công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các KCN

Công tác quản lý môi trường trong các KCN trong việc kiểm soát nước thải: thời gian đầu do chú trọng ưu đãi thu hút đầu tư nên chưa quan tâm đến yếu tố môi trường, do đó đòi hỏi cần có sự lựa chọn dự án đầu tư ít ô nhiễm môi trường, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường Bên cạnh

đó, một số quy định còn chưa thống nhất trong việc giao cơ quan quản lý về lĩnh vực môi trường trong KCN và cũng chưa phát huy tinh thần “một cửa” tại

Trang 40

KCN Quan kiểm tra cho thấy, tình hình đình công đã và đang xảy ra trong các

DN tại các KCN Đồng Nai Tính chất của đình công thường là tự phát và không đúng với trình tự thủ tục quy định của pháp luật Bên cạnh đó, một số chính sách xây dựng nhà ở, ưu tiên trợ giá điện, nước, nhà trọ; xây dựng khu vui chơi học tập; nhà trẻ… cho người lao động trong KCN còn chưa phát huy được hiệu

quả trong xã hội (www.bacninh.gov.vn )

1.2.4 Bài học rút ra cho tỉnh Bắc Ninh

- Về công tác tổ chức thực hiện triển khai quy hoạch:

Quy hoạch đồng bộ từ vùng công nghiệp, quy hoạch tổng thể KCN, quy hoạch không gian KCN, tập trung quy hoạch ngành theo vùng ưu đãi đầu tư,

có chính sách điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất hợp lý Giải quyết vấn đề về HTKT hiện đại đồng bộ, tổ chức không gian, kiến trúc đáp ứng cho phát triển công nghiệp, quy hoạch đô thị đảm bảo môi trường sinh thái…

- Về việc tăng cường cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút đầu tư: Có bộ máy xúc tiến chương trình phát triển đồng bộ giữa

các cơ quan nhà nước Trung ương và địa phương Ưu tiên đầu tư xây dựng cơ

sở kỹ thuật để hình thành các trung tâm công nghiệp Tập trung tăng cường quan hệ phối hợp công tác hài hoà, đồng bộ giữa các cơ quan quản lý của thành phố, chính quyền, quận, huyện với BQL các KCN Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến KCN như GPMB, giao đất cho các chủ đầu tư triển khai dự án, kết nối CSHT trong và ngoài KCN, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, tạo nguồn lao động cung ứng cho các DN, chăm sóc, hỗ trợ, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình sản xuất, kinh doanh của các DN, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, môi trường sản xuất, kinh doanh ổn định, thuận lợi…

Ngày đăng: 05/10/2023, 14:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. UBND tỉnh Bắc Ninh (2015), Quy hoạch tổng thê phát triển hệ thống đô thị tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thê phát triển hệ thống đô thị tỉnh "Bắc Ninh
Tác giả: UBND tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2015
16. UBND tỉnh Bắc Ninh (2015), Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp cụm công nghiệp tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp cụm công nghiệp tỉnh "Bắc Ninh
Tác giả: UBND tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2015
17. UBND tỉnh Bắc Ninh (2015), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các huyện, thành phố Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các huyện, thành phố
Tác giả: UBND tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2015
18. Trường Đại học kinh tế quốc dân (2011), Những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các khu công nghiệp ở Việt Nam, NXB Đại học kinh tế quốc dân.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các khu công nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học kinh tế quốc dân
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2011
19. Ban quản lý các KCN Bắc ninh: www.iza.bacninh.gov.vn 20. Chính phủ Việt Nam : www.chinhphu.gov.vn Link
23. Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Dương : www.skhdt.binhduong.gov.vn 24. Sở Kế hoạch và Đầu tư Đồng Nai : www.skhdt.dongnaig.gov.vn 25. Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng : www.skhdt.haiphong.gov.vn 26. Sở Xây dựng Bắc Ninh : www.soxaydung.bacninh.gov.vn Link
14. UBND tỉnh Bắc Ninh (2015), Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm, 2015-2020) tỉnh Bắc Ninh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp thực trạng các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp thực trạng các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh (Trang 52)
Bảng 3.3: Quy hoạch tại các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Bảng 3.3 Quy hoạch tại các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh (Trang 58)
Bảng 3.4: Kế hoạch sử dụng lao động tại các KCN Bắc Ninh - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Bảng 3.4 Kế hoạch sử dụng lao động tại các KCN Bắc Ninh (Trang 60)
Hình 3.1: Mô hình tổ chức quản lý nhà nước về khu công nghiệp - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Hình 3.1 Mô hình tổ chức quản lý nhà nước về khu công nghiệp (Trang 63)
Hình 3.2: Tổ chức bộ máy tại Ban quản lý các KCN Bắc Ninh - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Hình 3.2 Tổ chức bộ máy tại Ban quản lý các KCN Bắc Ninh (Trang 65)
Bảng 3.6: Kết quả đánh giá ý kiến về bộ máy QLNN đối với - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Bảng 3.6 Kết quả đánh giá ý kiến về bộ máy QLNN đối với (Trang 66)
Bảng 3.7: Kết quả thu hút đầu tư các dự án trong các KCN - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Bảng 3.7 Kết quả thu hút đầu tư các dự án trong các KCN (Trang 68)
Bảng 3.9: Hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Bảng 3.9 Hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp (Trang 72)
Bảng 3.10: Tình hình lao động trong các KCN Bắc Ninh - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Bảng 3.10 Tình hình lao động trong các KCN Bắc Ninh (Trang 75)
Bảng 3.14: Thống kê kết quả kiểm tra về tình hình môi trường - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Bảng 3.14 Thống kê kết quả kiểm tra về tình hình môi trường (Trang 86)
Hình 3.2: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo ngành, 2015-2017 - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Hình 3.2 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo ngành, 2015-2017 (Trang 89)
Bảng 3.15: Vốn đầu tư phát triển cho cơ sở hạ tầng tỉnh Bắc Ninh - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Bảng 3.15 Vốn đầu tư phát triển cho cơ sở hạ tầng tỉnh Bắc Ninh (Trang 94)
Bảng 3.16: Trình độ nhân sự thuộc Ban quản lý các KCN - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Bảng 3.16 Trình độ nhân sự thuộc Ban quản lý các KCN (Trang 96)
Hình 3.3: Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh năm 2017 - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Hình 3.3 Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh năm 2017 (Trang 99)
Hình 3.4: Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tỉnh Bắc Ninh - Tăng cường quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Hình 3.4 Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tỉnh Bắc Ninh (Trang 101)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN