1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường minh bạch thông tin tại các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

176 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Một vấn đề cơ bản trong quản trị doanh nghiệp là sự phát sinh hiện tượng bất cân xứng thông tin trong quan hệ đại diện giữa người chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp. Người chủ sở hữu - bên ủy thác - giao vốn đầu tư của mình cho người quản lý - bên đại diện - điều hành các công việc kinh doanh hàng ngày trong doanh nghiệp. Người quản lý sẽ được trả mức thù lao tương ứng với mức lợi nhuận mà doanh nghiệp mang lại cho chủ đầu tư. Tuy nhiên, bên đại diện thường có lợi thế thông tin hơn so với bên ủy thác và có xu hướng khai thác lợi thế thông tin này để thu lợi cho cá nhân mình thay vì cho chủ đầu tư. Với các công ty cổ phần đại chúng thì đây lại là vấn đề thường trực vì quyền sở hữu và quyền điều hành được tách ra khỏi nhau. Vì lẽ đó, các công ty đại chúng thường yêu cầu phải minh bạch thông tin để bảo vệ chủ đầu tư nói riêng và các bên có quyền lợi liên quan đến doanh nghiệp nói chung. Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xét theo nghĩa rộng nhất cũng là loại hình doanh nghiệp cổ phần đại chúng với sở hữu là toàn bộ người dân. Tuy nhiên, quyền sở hữu của nhân dân được ủy thác cho Chính phủ thực thi. Chính phủ sau đó lại ủy thác cho các cán bộ quản lý điều hành doanh nghiệp nhà nước. Trên thị trường vốn, các chủ đầu tư nếu không đồng ý với hướng phát triển của doanh nghiệp thì sẽ bán cổ phiếu đang nắm giữ để chuyển sang các kênh đầu tư khác. Với doanh nghiệp nhà nước, người dân không thể thực hiện được quyền này. Quyết định tiếp tục duy trì hay phát triển một doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn nằm trong tay các cơ quan chức năng của Nhà nước. Người dân chỉ có thể thực hiện quyền này thông qua việc tạo áp lực chính trị đối với các cơ quan chức năng liên quan của Nhà nước. Tại Việt Nam, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước là một trong ba trụ cột tái cấu trúc nền kinh tế, còn công khai, minh bạch thông tin lại là một trong những trụ cột của quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Việc tăng cường công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan quản lý nhà nước cũng như toàn xã hội giám sát hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, tránh các gian lận, sử dụng không hiệu quả, thất thoát, lãng phí các nguồn lực quốc gia; từ đó tạo sức ép để các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn đồng thời, tạo cơ sở dữ liệu ban đầu để các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các chính sách điều hành kịp thời, hiệu quả. Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn còn một khoảng cách khá xa từ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đến khâu thực hiện ở các bộ, ngành, địa phương, và do đó, nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa tuân thủ nghiêm túc các quy định về công khai hoá, minh bạch hoá thông tin đã được ban hành. Tình trạng DNNN không công bố thông tin, chậm công bố thông tin, công bố không đầy đủ khá phổ biến. Trong văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ báo cáo về tình hình công bố thông tin của DNNN năm 2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính đến hết năm 2017 mới chỉ có 265/622 DN gửi báo cáo đến Bộ này. Thậm chí, có đơn vị 2 năm nay từ khi có quyết định của Chính phủ vẫn chưa có báo cáo gửi về Bộ KH&ĐT (cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm tập hợp, báo cáo Chính phủ). Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các DNNN, đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu các DN này hướng tới hiệu quả hoạt động tốt hơn, phát triển bền vững hơn, xứng đáng là thành phần kinh tế trụ cột của nền kinh tế? Câu trả lời một phần nằm ở việc tăng cường minh bạch thông tin đối với DNNN. Trong khi đó, tại Việt Nam, các nghiên cứu về minh bạch thông tin tại DNNN lại khá hạn chế. Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả lựa chọn đề tài “Tăng cường minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam” để thực hiện luận án của mình.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

TĂNG CƯỜNG MINH BẠCH THÔNG TIN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Ngành: Kinh doanh Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 62.34.01.02 (Mã số mới: 9340101)

NGUYỄN THỊ HẢI VÂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Lê Thị Thu Thủy

Trang 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN TẠI

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 15

1.1 Lý luận chung về minh bạch thông tin doanh nghiệp 15

1.1.1 Khái niệm 15

1.1.1.1 Thông tin 15

1.1.1.2 Thông tin doanh nghiệp 16

1.1.1.3 Minh bạch thông tin 16

1.1.2 Phân loại thông tin doanh nghiệp 19

1.1.2.1 Theo nội dung của thông tin 19

1.2.2.2 Theo tính chất bắt buộc của thông tin 20

1.1.3 Vai trò của minh bạch thông tin trong nền kinh tế 21

1.1.3.1 Đối với doanh nghiệp 21

1.1.3.2 Đối với các bên liên quan của doanh nghiệp 22

1.1.3.3 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nền kinh tế quốc dân 23

1.2 Một số lý thuyết liên quan đến minh bạch thông tin 23

1.2.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 23

1.2.2 Lý thuyết đại diện 26

1.2.3 Lý thuyết thông tin hữu ích 30

1.3 Lý luận chung về doanh nghiệp nhà nước và minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước 31

1.3.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước 31

1.3.2 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước 35

1.3.3 Mô hình quản lý vốn tại DNNN 36

1.3.4 Đặc điểm của minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước 37

1.3.5 Nội dung của minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước 40

1.3.5.1 Minh bạch thông tin bắt buộc 40

Trang 4

1.3.6 Các tiêu chí đánh giá minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước 46

1.3.6.1 Tính thích hợp 46

1.3.6.2 Tính tin cậy 46

1.3.6.3 Tính kịp thời 47

1.3.6.4 Khả năng tiếp cận dễ dàng và rộng rãi 47

1.3.6.5 Trách nhiệm của bên công bố thông tin 48

1.3.7 Các nhân tố tác động đến minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước 48

1.3.7.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp nhà nước 48

1.3.7.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp nhà nước 52

1.4 Kinh nghiệm minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước ở một số quốc gia 58

1.4.1 Đặc điểm doanh nghiệp nhà nước ở Hàn Quốc và Malaysia 58

1.4.1.1 Đặc điểm doanh nghiệp nhà nước ở Hàn Quốc 58

1.4.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp nhà nước ở Malaysia 58

1.4.2 Kinh nghiệm về minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước của Hàn Quốc và Malaysia 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 67

CHƯƠNG 2 68

THỰC TRẠNG MINH BẠCH THÔNG TIN TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 68

2.1 Khái quát về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 68

2.1.1 Vị trí, vai trò của DNNN tại Việt Nam 68

2.1.2 Quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước 68

Trang 5

2.1.4 Số lượng người lao động làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước 72

2.1.5 Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn tại các DNNN 72

2.1.6 Mô hình tổ chức doanh nghiệp nhà nước 73

2.1.7 Mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước 75

2.1.8 Kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam 77

2.1.8.1 Kết quả hoạt động kinh doanh chung 77

2.1.8.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của DNNN do Nhà nước sở hữu 100% vốn 79

2.1.8.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của DNNN cổ phần hóa niêm yết 80

2.1.9 Đánh giá chung về doanh nghiệp nhà nước Việt Nam 81

2.2 Thực trạng quy định pháp luật về minh bạch thông tin tại DNNN 82

2.2.1 Quy định đối với DNNN do Nhà nước sở hữu 100% vốn 82

2.2.1.1 Nghị định số 81/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2015 về công bố thông tin doanh nghiệp nhà nước 82

2.2.1.2 Các quy định khác có liên quan 85

2.2.2 Quy định đối với doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước từ 50% trở lên và dưới 100% 86

2.2.2.1 Luật Doanh nghiệp 2014 86

2.2.2.2 Luật Chứng khoán năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010 86

2.2.2.3 Thông tư số 155/2015/TT-BTC (Thông tư 155) hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 86

2.2.2.4 Thông tư 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng 87

Trang 6

2.2.3 Đánh giá về quy định pháp luật liên quan đến minh bạch thông tin tại

doanh nghiệp nhà nước 91

2.3 Thực trạng minh bạch thông tin tại Doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam 91

2.3.1 Minh bạch thông tin bắt buộc 91

2.3.1.1 Đối với DNNN không niêm yết 92

2.3.1.2 Đối với DNNN niêm yết trên thị trường chứng khoán 101

2.3.2 Minh bạch thông tin tự nguyện 103

2.3.2.1 Đối với DNNN không niêm yết 103

2.3.2.2 Đối với DNNN niêm yết trên TTCK 104

2.4 Phân tích các nhân tố tài chính ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tại DNNN 105

2.4.1 Xây dựng mô hình 105

2.4.2 Mô tả thống kê và tương quan 108

2.4.3 Kết quả hồi quy 110

2.5 Đánh giá về tình hình minh bạch thông tin tại DNNN 112

2.5.1 Kết quả đạt được 112

2.5.2 Hạn chế 113

2.5.3 Một số nguyên nhân của hạn chế 115

2.5.3.1 Nguyên nhân từ DNNN 115

2.5.3.2 Nguyên nhân bên ngoài DNNN 117

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 119

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG MINH BẠCH THÔNG TIN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 120

Trang 7

gian tới 120

3.2 Các giải pháp tăng cường minh bạch thông tin đối với DNNN Việt Nam 125

3.2.1 Tăng cường hiệu quả kinh doanh của các DNNN 126

3.2.2 Hoàn thiện hệ thống quản trị công ty 127

3.2.3 Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của nhà quản lý DNNN đối với minh bạch thông tin 129

3.2.4 Xây dựng Bộ quy tắc ứng xử và đạo đức trong Doanh nghiệp Nhà nước 130

3.2.5 Phát triển hệ thống thông tin trong doanh nghiệp 131

3.2.6 Chú trọng đến minh bạch thông tin phát triển bền vững của DNNN 134

3.3 Kiến nghị đối với cơ quan đại diện sở hữu 135

3.3.1 Xây dựng và triển khai báo cáo tích hợp của DNNN theo thông lệ quốc tế 135

3.3.2 Xây dựng một bộ công cụ giám sát hoạt động DNNN theo thông lệ tốt trên thế giới 136

3.3.3 Xây dựng hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin để vận hành chức năng đại diện chủ sở hữu của cơ quan đại diện chủ sở hữu 137

3.3.4 Áp dụng bộ quy tắc về quản trị công ty dành cho DNNN 138

3.4 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước và các bên liên quan khác 139

3.4.1 Đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa, giảm sở hữu Nhà nước, xóa bỏ ưu đãi cho DNNN 139

3.4.2 Đổi mới mô hình quản lý DNNN 140

3.4.3 Cải thiện khung pháp luật đối với công bố thông tin DNNN 141

Trang 8

3.4.3.2 Cụ thể hóa các quy định về xử phạt vi phạm công bố thông tin 142

3.4.4 Các kiến nghị khác 143

3.4.4.1 Làm rõ cơ chế giám sát đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu 143

3.4.4.2 Tiến tới áp dụng các chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế cho DNNN 143

3.4.4.3 Nâng cao khả năng truy trách nhiệm giải trình của nhà nước từ phía người dân 144

3.4.4.4 Tăng cường vai trò của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập 145

3.4.4.5 Tăng cường vai trò của các cơ quan truyền thông, cơ quan nghiên cứu, người dân trong việc giám sát minh bạch thông tin tại DNNN 145

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 146

KẾT LUẬN 147

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

Trang 9

STT Chữ viết tắt Diễn giải bằng tiếng

vii ERP Enterprise Resource

Planning

Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp viii GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc

nội

x IAS International Accounting

Standard

Chuẩn mực kế toán quốc tế

xi IFC International Finace

Corporation

Công ty tài chính quốc

tế xii IFRS International Financial

xv MIS Management Information

System

Hệ thống thông tin quản

lý xvi OECD Organization for Tổ chức Hợp tác và

Trang 10

and Development xvii ROA Return on Asset Tỷ suất lợi nhuận trên

tổng tài sản xviii ROE Return on Equity Tỷ suất lợi nhuận trên

vốn chủ sở hữu xix RTI Right to Information

Rating

Phương pháp đánh giá quyền tiếp cận thông tin

xxi WB World Bank Ngân hàng thế giới

Trang 11

Bảng 1.1 Các tổ chức công tại Hàn Quốc 58

Bảng 1.2: Những thông tin được công khai bởi các DNNN ở Hàn Quốc 60

Bảng 1.3: Các tiêu chí vi phạm và điểm phạt liên quan 64

Bảng 1.4 Hệ quả tích lũy điểm phạt 65

Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng DNNN tại Việt Nam 70

Bảng 2.2 Số lượng DNNN niêm yết giai đoạn 2010-2018 71

Bảng 2.3: Số lượng lao động trung bình làm việc tại các doanh nghiệp 72

Bảng 2.4: Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các DN 73

Bảng 2.5: Doanh thu của DNNN từ 2010-2017 78

Bảng 2.6 Tỷ suất lợi nhuận của các DNNN và các loại hình DN khác (%) 79

Bảng 2.7 Kết quả hoạt động kinh doanh của DNNN sở hữu 100% vốn Nhà nước giai đoạn 2014-2016 79

Bảng 2.8 Kết quả hoạt động kinh doanh của DNNN cổ phần hóa niêm yết 81

Bảng 2.9 Một số quy định về mức phạt tiền liên quan đến vi phạm về minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo Nghị định 108/2013/NĐ-CP và Nghị định 145/2016/NĐ-CP 88

Bảng 2.10 Tình hình công bố thông tin của DNNN năm 2016-2017 93

Bảng 2.11 Danh sách các cơ quan chủ sở hữu thực hiện công bố thông tin năm 2017 97

Bảng 2.12 Bảng khảo sát minh bạch thông tin bắt buộc của DNNN 100

Bảng 2.13 Kết quả khảo sát minh bạch thông tin bắt buộc tại DNNN không niêm yết 101

Bảng 2.14 Tình hình đạt chuẩn công bố thông tin của DNNN năm 2016-2018 102

Bảng 2.15: Các nội dung minh bạch thông tin tự nguyện của DNNN không niêm yết 103

Bảng 2.16: Kết quả khảo sát minh bạch thông tin tự nguyện của DNNN niêm yết 104

Bảng 2.17: Các giả thiết của mô hình 107

Bảng 2.18 Mô tả thống kê đối với Nhóm 1 108

Trang 12

Bảng 2.20 Hệ số tương quan của các biến thuộc nhóm 1 109

Bảng 2.21 Hệ số tương quan của các biến thuộc nhóm 2 110

Bảng 2.22 Kết quả hồi quy đối với 2 nhóm DNNN 111

Bảng 3.1 Số lượng DNNN thoái vốn giai đoạn 2017-2020 123

Bảng 3.2: Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN Hàn Quốc 137

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1 Các bên quản lý NN đối với DNNN 38

Hình 1.2 Cơ chế báo cáo truyền thông của DNNN 40

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một vấn đề cơ bản trong quản trị doanh nghiệp là sự phát sinh hiện tượng bất cân xứng thông tin trong quan hệ đại diện giữa người chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp Người chủ sở hữu - bên ủy thác - giao vốn đầu tư của mình cho người quản lý - bên đại diện - điều hành các công việc kinh doanh hàng ngày trong doanh nghiệp Người quản lý sẽ được trả mức thù lao tương ứng với mức lợi nhuận

mà doanh nghiệp mang lại cho chủ đầu tư Tuy nhiên, bên đại diện thường có lợi thế thông tin hơn so với bên ủy thác và có xu hướng khai thác lợi thế thông tin này

để thu lợi cho cá nhân mình thay vì cho chủ đầu tư Với các công ty cổ phần đại chúng thì đây lại là vấn đề thường trực vì quyền sở hữu và quyền điều hành được tách ra khỏi nhau Vì lẽ đó, các công ty đại chúng thường yêu cầu phải minh bạch thông tin để bảo vệ chủ đầu tư nói riêng và các bên có quyền lợi liên quan đến doanh nghiệp nói chung

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xét theo nghĩa rộng nhất cũng là loại hình doanh nghiệp cổ phần đại chúng với sở hữu là toàn bộ người dân Tuy nhiên, quyền

sở hữu của nhân dân được ủy thác cho Chính phủ thực thi Chính phủ sau đó lại ủy thác cho các cán bộ quản lý điều hành doanh nghiệp nhà nước Trên thị trường vốn, các chủ đầu tư nếu không đồng ý với hướng phát triển của doanh nghiệp thì sẽ bán

cổ phiếu đang nắm giữ để chuyển sang các kênh đầu tư khác Với doanh nghiệp nhà nước, người dân không thể thực hiện được quyền này Quyết định tiếp tục duy trì hay phát triển một doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn nằm trong tay các cơ quan chức năng của Nhà nước Người dân chỉ có thể thực hiện quyền này thông qua việc tạo áp lực chính trị đối với các cơ quan chức năng liên quan của Nhà nước

Tại Việt Nam, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước là một trong ba trụ cột tái cấu trúc nền kinh tế, còn công khai, minh bạch thông tin lại là một trong những trụ cột của quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước Việc tăng cường công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan quản lý nhà nước cũng như toàn xã hội giám sát hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, tránh các gian lận,

Trang 14

ép để các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn đồng thời, tạo cơ sở dữ liệu ban đầu để các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các chính sách điều hành kịp thời, hiệu quả

Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn còn một khoảng cách khá xa từ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đến khâu thực hiện ở các bộ, ngành, địa phương, và

do đó, nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa tuân thủ nghiêm túc các quy định về công khai hoá, minh bạch hoá thông tin đã được ban hành Tình trạng DNNN không công bố thông tin, chậm công bố thông tin, công bố không đầy đủ khá phổ biến Trong văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ báo cáo về tình hình công bố thông tin của DNNN năm 2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính đến hết năm 2017 mới chỉ

có 265/622 DN gửi báo cáo đến Bộ này Thậm chí, có đơn vị 2 năm nay từ khi có quyết định của Chính phủ vẫn chưa có báo cáo gửi về Bộ KH&ĐT (cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm tập hợp, báo cáo Chính phủ)

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các DNNN, đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu các DN này hướng tới hiệu quả hoạt động tốt hơn, phát triển bền vững hơn, xứng đáng là thành phần kinh tế trụ cột của nền kinh tế? Câu trả lời một phần nằm ở việc tăng cường minh bạch thông tin đối với DNNN Trong khi đó, tại Việt Nam, các nghiên cứu về minh bạch thông tin tại DNNN lại khá hạn chế Xuất phát từ

thực trạng đó, tác giả lựa chọn đề tài “Tăng cường minh bạch thông tin tại doanh

nghiệp nhà nước ở Việt Nam” để thực hiện luận án của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

2.1.1 Các hướng dẫn về minh bạch thông tin tại DNNN của các tổ chức quốc tế

Năm 2010, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD ban hành tài liệu

“Accountability and Transparency: A guide for state ownership” Đây là một nghiên

cứu hướng dẫn chi tiết về trách nhiệm giải trình và tính minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước – một trong 5 nguyên tắc cơ bản để đánh giá quản trị doanh nghiệp của OECD Xuất phát từ những vấn đề, xu hướng mới nổi lên trong quyền

sở hữu nhà nước, bối cảnh đặc thù của từng nước trong quá trình thực hiện hướng

Trang 15

của minh bạch và công khai thông tin, OECD đã thực hiện những nghiên cứu cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện Hướng dẫn của OECD về quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp nhà nước, trong đó tập trung vào đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình cao – cơ sở cho quản trị doanh nghiệp lành mạnh Trên cơ sở nghiên cứu những nhân tố tác động, gây ảnh hưởng đến quá trình công bố

và minh bạch thông tin, tài liệu đưa những khuyến nghị để tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình với năm nhóm cụ thể là xác định các mục tiêu, đánh giá việc thực hiện, kiểm tra việc thực hiện, báo cáo việc thực hiện và đảm bảo sự minh bạch và công khai thông tin đầy đủ trong phạm vi công ty Theo đó, các doanh nghiệp nhà nước phải xây dựng các chính sách đầy đủ về công bố và minh bạch thông tin, tổ chức thực hiện chính sách này trong hoạt động và khuyến khích những thực tiễn tốt, đảm bảo sự đối xử bình đẳng giữa các cổ đông, phát triển khuôn khổ phù hợp để ứng phó với các giao dịch liên quan đến các bên, đảm bảo công khai thích hợp mối quan hệ cổ đông

Năm 2014, nghiên cứu “Transparency and Accountability Frameworks for Latin American State-Owned Enterprises”, được thực hiện bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Ngân hàng phát triển châu Mỹ Latinh (CAF), tập trung đánh giá việc thực hiện trách nhiệm giải trình và tính minh bạch thông tin của các doanh nghiệp nhà nước tại 9 quốc gia Mỹ Latinh, gồm: Argentina, Brazil, Chilê, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Mexico, Paraguay và Peru Nghiên cứu nêu bật một

số xu hướng và thực tiễn đang nổi lên ở các nước Mỹ Latinh được đề cập ở trên trong quá trình công khai và minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước so với các khuyến cáo và tiêu chuẩn do OECD đưa ra Trong đó có phân tích và so sánh các đặc điểm chính khuôn khổ của OECD cung cấp và minh bạch thông tin của các nước này nhằm đáp ứng trách nhiệm giải trình và minh bạch doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, nghiên cứu không chỉ cung cấp, đánh giá các cơ chế quản trị chung, khái quát về minh bạch và công khai thông tin doanh nghiệp nhà nước ở 9 nước Mỹ Latinh này mà còn đưa các nghiên cứu điển hình về trách nhiệm giải trình

và minh bạch thông tin của hai trong số các doanh nghiệp nhà nước quan trọng nhất của khu vực là Pemex của Mexico và Cơ quan Quản lý Kênh đào Panama

Nghiên cứu “Transparency in the Corporate Governance of State-owned

Trang 16

Guillermo Rodríguez Guzmán, công bố bởi Ngân hàng Phát triển châu Mỹ Latinh

(năm 2015) tiến hành khảo sát, phân tích hoạt động, các đặc điểm quản trị công ty

của 105 doanh nghiệp nhà nước tại 13 quốc gia châu Mỹ Latinh thông qua website chính thức của các công ty này; từ đó đề xuất xây dựng Chỉ số Minh bạch Thông tin Quản trị doanh nghiệp gồm 5 tiêu chí đánh giá: Khung pháp luật điều chỉnh; Vai trò của chủ sở hữu nhà nước; Đối xử công bằng với cổ đông thiểu số; Minh bạch thông tin công bố; Hội đồng quản trị Nghiên cứu xác định cụ thể những lĩnh vực cần tập trung cải cách, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp nhà nước Trên thực tế, nghiên cứu cũng chỉ rõ việc thiết lập một chỉ số minh bạch thông tin quản trị doanh nghiệp nhà nước này có thể không hoàn hảo vì nó không bao gồm toàn bộ các động lực quản lý trong các công ty có giá trị phân tích lớn vì tính minh bạch và công bố thông tin công cộng là những bằng chứng tốt về mức độ mà các công ty tuân thủ các quy tắc quản trị doanh nghiệp tốt; đồng thời, nó cũng được phân tích như là dấu hiệu thực sự của việc sẵn sàng thực hiện những cải cách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp Do những khó khăn trong tìm hiểu chi tiết các động lực nội

bộ liên quan đến hoạt động của Hội đồng quản trị và các cuộc họp cổ đông, Chỉ số minh bạch thông tin quản trị doanh nghiệp được xem như là một cơ chế hợp lý để xác định một số xu hướng trong quản trị doanh nghiệp của doanh nghiệp nhà nước

2.1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về minh bạch thông tin tại DNNN

2.1.2.1 Nghiên cứu về mức độ minh bạch thông tin tại DNNN

Nhóm tác giả Kochetygova và cộng sự thuộc Standard & Poor’s (2005) công

bố nghiên cứu “Transparency And Disclosure By Russian State-Owned Enterprises” đánh giá mức độ công bố và minh bạch thông tin của các doanh nghiệp nhà nước tại Nga Đối tượng nghiên cứu gồm: 11 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất hoạt động trong nhiều lĩnh vực, sở hữu nhà nước trên 50%, trong đó có 5 doanh nghiệp có cổ phiếu niêm yết trên sàn chứng khoán Nga hoặc quốc tế (11 doanh nghiệp chiếm 18% GDP năm 2003 của Nga); 10 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất niêm yết trên sàn chứng khoán Nga (chiếm 15% GDP năm 2003 của Nga); 10 doanh nghiệp nhà nước cùng quy mô và cùng ngành ở các nước phát triển khác Nhóm tác giả đã xây dựng bảng khảo sát gồm 105 câu, liên quan tới 3 nội dung lớn: cấu trúc sở hữu và quyền của cổ đông; thông tin tài chính và thông tin hoạt động;

Trang 17

hội đồng quản trị, cấu trúc và quy trình quản lý Kết quả nghiên cứu cho thấy mức

độ trung bình trong công bố và minh bạch thông tin của các doanh nghiệp nhà nước tại Nga (khoảng 47%) thấp hơn so với mức 52% mà các doanh nghiệp tư nhân niêm yết tại Nga đạt được và mức 63% mà các doanh nghiệp nhà nước cùng quy mô và cùng ngành tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ

Năm 2014, nghiên cứu “Hungarian state-owned enterprises: Their transparency, integrity and compliance with disclosure requirements” do Tổ chức Minh bạch quốc tế tại Hungary thực bao gồm: (i) Khảo sát hoạt động công bố và minh bạch thông tin trên trang tin điện tử của 66 doanh nghiệp nhà nước Hungary (bảng hỏi gồm 64 tiêu chí về cách công bố thông tin, mức độ minh bạch và tôn trọng pháp luật), trong đó lựa chọn 07 doanh nghiệp nhà nước để thực hiện phỏng vấn lãnh đạo cấp cao về việc phổ biến tính minh bạch, các giải pháp tổ chức và quản lý để thúc đẩy tính liêm chính cũng như thực trạng triển khai các hoạt động này tại doanh nghiệp của họ; (ii) Nghiên cứu so sánh với hoạt động công bố và minh bạch thông tin trên website của các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp niêm yết đại chúng, cũng như những quy định pháp luật về công bố và minh bạch thông tin tại các nước đi đầu trong lĩnh vực này ở phương Tây như Bỉ, Pháp, Anh, Đức, Canada và các nước trong khu vực như Ba Lan, Cộng hòa Séc, Slovakia; (iii) Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát các doanh nghiệp trong nước, quan điểm và thái độ của lãnh đạo cấp cao một số doanh nghiệp nhà nước hàng đầu và thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế về công bố, minh bạch thông tin, nghiên cứu dựa vào các chỉ

số tuân thủ luật (TTI), chỉ số thông tin cứng (KII), chỉ số biểu thị nền kinh tế (EII), chỉ số kết nối thông tin (AII) để xếp hạng và phân loại các doanh nghiệp nhà nước được khảo sát; từ đó đưa ra cho doanh nghiệp nhà nước những khuyến nghị về thúc đẩy minh bạch và liêm chính, mức độ và chi tiết của các thông tin công bố

2.1.2.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tại DNNN

Các nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tại DNNN được chia thành các nhóm nghiên cứu chính là các nhân tố vĩ mô và nhân tố vi mô

- Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tại DNNN

Trang 18

các yếu tố như hạ tầng kinh tế, pháp luật và chính trị Bushman và cộng sự (2004) cũng đã khảo sát mức độ minh bạch thông tin doanh nghiệp tại 45 quốc gia trên thế giới và kết luận, việc minh bạch thông tin doanh nghiệp phụ thuộc vào thể chế pháp luật và kinh tế chính trị của các quốc gia Khanna và cộng sự (2004) đã nghiên cứu tình hình minh bạch thông tin DN phụ thuộc vào sự tương tác với thị trường Mỹ của nhóm 794 doanh nghiệp từ 24 quốc gia Châu Á Thái bình dương và Châu Âu Kết quả nghiên cứu cho thấy, có mối liên hệ thuận chiều giữa kết quả minh bạch thông tin với các biệ pháp tương tác giữa các thị trường khác nhau ( bao gồm việc niêm yết trên thị trường Mỹ, dòng tiền đầu tư, xuất khẩu cũng như các DN có hoạt động tại thị trường Mỹ)

Đối với tình hình minh bạch thông tin của các thị trường mới nổi, Salter (1998) cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin tài chính và mức độ phát triển của thị trường vốn và mức mức độ phức tạp của nền kinh tế Nghiên cứu cho thấy, có mối quan hệ thuận chiều giữa việc minh bạch thông tin và mức độ phát triển của các quy định pháp luật và khả năng thu hút đầu tư nước ngoài Archambault và Archambault (2003) cũng xây dựng một mô hình dự báo mức độ ảnh hưởng của yếu tố văn hóa, hệ thống kinh tế, chính trị đến việc minh bạch thông tin doanh nghiệp Kết quả thực nghiệm cho thấy, các yếu tố văn hóa, hệ thống quốc gia, hệ thống của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến việc minh bạch thông tin của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, quyết định minh bạch các thông tin tài chính của doanh nghiệp là khá phức tạp và bị ảnh hưởng bởi cả yếu tố vi mô

và vĩ mô

Ferguson và Lam (2002) đã nghiên cứu ảnh hưởng của thị trường vốn quốc

tế tới mức độ công bố thông tin tự nguyện (chiến lược, thông tin tài chính, thông tin phi tài chính) trên báo cáo hàng năm của các doanh nghiệp trước đây do nhà nước

sở hữu 100% vốn và hiện đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Hong Kong Mẫu nghiên cứu gồm 142 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Hong Kong giai đoạn 1995 – 1996 Nhóm tác giả lựa chọn ngẫu nhiên các doanh nghiệp với tỷ

lệ 30% trong mỗi ngành, ngoại trừ ngân hàng và các định chế tài chính Mẫu nghiên cứu được chia làm 2 loại: doanh nghiệp H-share (doanh nghiệp nhà nước sau cải cách; hoạt động tại Trung Quốc trong các lĩnh vực như công nghiệp nặng, cơ sở hạ

Trang 19

khoán Hong Kong; có vai trò quan trọng về kinh tế, quản lý, công nghệ…); doanh nghiệp Red Chip (được thành lập và hoạt động tại Hong Kong, là các công ty con của các tập đoàn nhà nước tại Trung Quốc, chịu sự quản lý kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước Trung Quốc) Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) Nhóm H-share công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn nhóm Red Chip và các doanh nghiệp khác trên sàn chứng khoán Hong Kong; (ii) Nhóm Red Chip công bố thông tin tự nguyện ít hơn nhóm H-share nhưng vẫn nhiều hơn so với các doanh nghiệp khác trên sàn; (iii) Lý thuyết chi phí – lợi ích đóng vai trò quan trọng đối với quyết định công bố thông tin của doanh nghiệp Ở cấp độ vĩ mô, việc các cơ quan quản lý nhà nước lựa chọn các doanh nghiệp để niêm yết trên sàn chứng khoán và đưa ra các chính sách khuyến khích công bố thông tin nhằm xây dựng hình ảnh doanh nghiệp thực hành quản trị công ty tốt, thể hiện cam kết sâu sắc với cộng đồng quốc tế về tính trách nhiệm minh bạch thông tin; từ đó tăng sức hấp dẫn với các nhà đầu tư quốc tế, mở rộng cơ hội cho các doanh nghiệp khác; (iv) Nhân tố đòn bẩy có ảnh hưởng đáng kể và tích cực đến điểm công bố thông tin tự nguyện của doanh nghiệp; (v) Công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp trước đây thuộc sở hữu nhà nước 100% khá nhạy cảm với yêu cầu thực tiễn từ các nhà đầu tư và thị trường, không hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm sở hữu nhà nước

- Các nhân tố vi mô ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tại DNNN

Các nhân tố vi mô bao gồm đặc điểm tài chính của DN và đặc điểm quản trị công ty của DN Về đặc điểm tài chính của DN, các nghiên cứu của Bushman và cộng sự (2003), Khanna và cộng sự (2004), Archambault và Archambault (2003), Yan và cộng sự (2019) đều chỉ ra các nhân tố này đều có ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan đến đặc điểm tài chính bao gồm quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động, tài sản đảm bảo… đều có tác động tích cực đến việc minh bạch thông tin của doanh nghiệp

Về đặc điểm quản trị công ty, một số nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ giữa quản trị công ty và việc minh bạch thông tin Theo Beeke và cộng sự (2012), nghiên cứu sử dụng mẫu là các doanh nghiệp Canada trong giai đoạn 2002-2007 và

Trang 20

thông tin: mức độ thường xuyên, thời gian công bố và thái độ của thị trường (các nhà phân tích) trên thị trường Cũng theo Healy và Palepu (2011); Shleifer và Vishny (1997), quản trị công ty tốt khuyến khích các nhà quản lý công bố thông tin tối ưu thông qua 2 cơ chế: các ràng buộc tài chính và vai trò của Hội đồng quản trị Các ràng buộc tài chính như các khế ước, hợp đồng tín dụng yêu cầu DN phải công

bố thông tin cho chủ sợ trong khi HĐQT kiểm soát ban điều hành trong việc công

bố thông tin Việc minh bạch thông tin cũng phục thuộc vào việc sở hữu của DN, ví

dụ việc sở hữu bởi các nhà đầu tư bên ngoài thì việc minh bạch thông tin được thực hiện tốt hơn so với các công ty sở hữu gia đình (Ajinkya và cộng sự (2005); Karamanou và Vafeas (2005); Ali và cộng sự (2007)

2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Minh bạch thông tin doanh nghiệp nói chung tại Việt Nam cũng được khá nhiều học giả nghiên cứu Tuy nhiên, những nghiên cứu về minh bạch thông tin tạidoanh nghiệp nhà nước chưa có nhiều

Năm 2013, Ngân hàng Thế giới đã thực hiện nghiên cứu “Tính minh bạch của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam – Thực trạng và ý tưởng cải cách” do Gregory Smith và Lê Duy Bình chủ biên Nghiên cứu này là một nội dung về Phân tích và Tư vấn thuộc Chương trình tín dụng Quản lý Kinh tế và Năng lực Cạnh tranh EMCC nhằm hỗ trợ Chính phủ Việt Nam tăng cường công khai thông tin tài chính và phi tài chính của các doanh nghiệp nhà nước Nghiên cứu nhận định chính sách này đưa ra các thông tin tổng quan về các yêu cầu công khai thông tin của các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam và đã được thảo luận tại các cuộc hội thảo khác nhau tại Việt Nam với sự tham gia của các đại biểu từ Quốc hội, bộ ngành của Việt Nam, DNNN, các đối tác phát triển

Nghiên cứu đánh giá:

(1) Thực trạng công khai thông tin của các DNNN tại Việt Nam thông qua khảo sát tình trạng thông tin trên web của các doanh nghiệp nhà nước vào tháng 3/2013, gồm cả dữ liệu tài chính và phi tài chính;

(2) Những nghĩa vụ về công khai thông tin đối với doanh nghiệp nhà nước

Trang 21

(3) Tác động của quy định pháp luật hiện hành về công khai thông tin doanh nghiệp nhà nước;

(4) Những lợi ích của việc công khai thông tin về các doanh nghiệp nhà nước đem lại

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thực tế công khai thông tin có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam nhưng nhìn chung chưa đảm bảo về chất lượng, độ chính xác và kịp thời về dữ liệu, khiến cho khả năng giám sát hiệu quả hoạt động của Chính phủ thực sự bị hạn chế nghiêm trọng Những quy định hiện hành cũng chưa tạo được một khung pháp quy hiệu quả về công khai thông tin

và cần tiếp tục hoàn thiện Mặc dù hiện có một số lượng đáng kể các doanh nghiệp nhà nước đang tạo ra thông tin cho các mục đích nội bộ, nhưng chất lượng thông tin vẫn cần được cải thiện Chuẩn mực công khai thông tin cho công chúng hiện còn ở mức thấp so với các quốc gia tương đương

Đồng thời, qua tham khảo những thông lệ quốc tế về công khai thông tin của các doanh nghiệp nhà nước, nghiên cứu khẳng định cải cách về công khai thông tin tại Việt Nam không chỉ cần phải phù hợp với bối cảnh kinh tế, thể chế và pháp lý của quốc gia mà còn cần học hỏi từ các thông lệ quốc tế, kinh nghiệm của các quốc gia khác Trên những cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất những bước đi đáng tin cậy nhằm cải thiện việc công khai thông tin của doanh nghiệp nhà nước, góp phần cải thiện hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Cụ thể, gồm 6 bước sau: i) Thực hiện tiến trình tăng cường công khai bằng cách thí điểm tại một số DNNN, bắt đầu từ các Tập đoàn kinh tế, sau đó mở rộng ra các Tổng công ty, và cuối cùng thực hiện tại các DNNN còn lại do nhà nước sở hữu 100%; ii) Tập trung vào việc công khai ra công chúng chứ không chỉ công khai trong nội bộ; iii) Công khai thông tin có chất lượng về các doanh nghiệp nhà nước tại một nơi tập trung (cổng thông tin), trong đó

có một cơ quan trung ương phụ trách việc điều phối tiến trình này; iv) Đơn giản hóa các yêu cầu thông tin và xây dựng một khuôn khổ pháp lý rõ ràng hơn cũng như một

hệ thống công khai thông tin chuẩn hóa; v) Tạo động lực cho các doanh nghiệp nhà nước tuân thủ theo khuôn khổ pháp lý và pháp quy nêu trên bằng cách tương thưởng cho những doanh nghiệp tuân thủ và xử phạt những doanh nghiệp không tuân thủ

Trang 22

Đánh giá 30 Doanh nghiệp lớn nhất tại Việt Nam” (TRAC Việt Nam 2017) do Tổ chức Hướng tới Minh bạch (TT) – cơ quan đầu mối quốc gia của Tổ chức Minh Bạch quốc tế (TI) hoàn thiện trong khuôn khổ dự án “Đánh giá thực tiễn công bố thông tin của Doanh nghiệp” (TRAC) do Ban thư kí Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI-S) quản lý với nguồn tài trợ của Sáng kiến Liêm chính Siemens Báo cáo này đánh giá thực tiễn công bố thông tin của 30 doanh nghiệp lớn nhất tại Việt Nam được lựa chọn theo danh sách VNR50012 năm 2015, bao gồm 10 công ty niêm yết,

10 doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và 10 doanh nghiệp nhà nước Các hoạt động công bố thông tin của doanh nghiệp được đánh giá dựa trên ba khía cạnh: (i) công khai thông tin về các yếu tố chính trong chương trình phòng, chống tham nhũng của doanh nghiệp; (ii) công khai thông tin về cấu trúc và tỷ lệ sở hữu của doanh nghiệp; (iii) công bố các thông tin tài chính quan trọng theo cơ chế báo cáo quốc gia Trong đó, các doanh nghiệp có hoạt động ở nước ngoài được đánh giá trên

cả ba khía cạnh, còn các doanh nghiệp chỉ hoạt động tại Việt Nam sẽ không được đánh giá về khía cạnh cơ chế báo cáo theo từng quốc gia Điểm đánh giá từ 0% đến 100%, và điểm số tỷ lệ thuận với mức độ minh bạch của doanh nghiệp Báo cáo kết luận việc công khai thông tin của các doanh nghiệp còn hạn chế, trong đó khía cạnh minh bạch trong cấu trúc và tỷ lệ sở hữu của doanh nghiệp là 32%, cao hơn kết quả trung bình của hai khía cạnh còn lại với số doanh nghiệp đạt điểm tích cực trong khía cạnh này cũng cao nhất: 18 trong tổng số 30 doanh nghiệp được đánh giá, trong đó tất cả đều là công ty niêm yết và doanh nghiệp nhà nước Lý do cơ bản là các doanh nghiệp này có nghĩa vụ phải công khai thông tin cơ bản về các công ty con và công ty liên kết theo các quy định của pháp luật Vì vậy, quy định của pháp luật có vai trò tích cực với việc công khai thông tin của doanh nghiệp Đáng chú ý,

có một vài doanh nghiệp Việt Nam đạt điểm khá tốt trong đánh giá Điều đó cho thấy những doanh nghiệp này hoàn toàn có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế

về tính minh bạch Tuy vậy, nghiên cứu trên không có sự so sánh về mức độ minh bạch thông tin giữa các DNNN và DN thuộc loại hình khác

2.3 Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Các nghiên cứu về minh bạch thông tin của doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam là khá phổ biến Tuy vậy, các nghiên cứu về minh bạch thông tin của doanh

Trang 23

nghiệp nhà nước lại khá hạn chế Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như DNNN vẫn được coi là một chủ thể kinh tế đặc biệt trong nền kinh tế và được nhận nhiều đặc quyền từ Nhà nước so với các chủ thể kinh tế khác Tuy vậy, cùng với

sự phát triển của nền kinh tế thị trường, Nhà nước được coi là một chủ sở hữu của doanh nghiệp thì việc minh bạch và công bố thông tin của loại hình doanh nghiệp này càng nên được coi trọng Tại Việt Nam, các nghiên cứu về minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước mới chủ yếu nằm trong một số báo cáo của các tổ chức quốc tế, báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư chứ chưa có một nghiên cứu nào hoàn chỉnh và đầy

đủ đánh giá về mức độ minh bạch thông tin của các DNNN cũng như đề xuất các giải pháp có căn cứ để tăng cường mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp này

Do vậy, luận án là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu toàn

diện về vấn đề này

3 Mục tiêu, câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án trên cơ sở tổng hợp lý luận về minh bạch thông tin tại DNNN, đánh giá thực trạng minh bạch thông tin tại các DNNN ở Việt Nam nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Để đạt được các mục tiêu trên, có 3 câu hỏi nghiên cứu được đề ra như sau: 1) Thực trạng thực hiện minh bạch thông tin tại các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong thời gian qua như thế nào? Có sự khác biệt về minh bạch thông tin giữa DNNN chưa niêm yết và DNNN niêm yết trên thị trường chứng khoán hay không?

2) Các nhân tố nào tác động đến minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước

- Làm rõ những vấn đề lý luận về minh bạch thông tin tại DNNN

- Nghiên cứu các chuẩn mực quốc tế, các thông lệ tốt, các tiêu chí đánh giá

Trang 24

- Phân tích, đánh giá thực trạng minh bạch thông tin tại DNNN ở Việt Nam thông qua bộ chỉ số đánh giá mức độ minh bạch thông tin của DNNN

- Phân tích thực trạng các nhân tố tác động đến minh bạch thông tin tại DNNN ở Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị đối với DNNN, cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan đại diện sở hữu nhằm tăng cường minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về

minh bạch thông tin tại DNNN ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận án nghiên cứu và đánh giá thực trạng minh bạch thông tin tại các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam (doanh nghiệp trong đó Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở lên) Do hạn chế về khả năng tiếp cận hệ thống quản trị thông tin của DNNN, luận án chỉ đi sâu phân tích tình hình minh bạch thông tin trên

cơ sở tiếp cận các thông tin được công bố mà không đi sâu vào hệ thống quản trị của doanh nghiệp Khi đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc minh bạch thông tin tại DNNN ở Việt Nam, luận án tập trung phân tích các nhân tố tài chính của doanh nghiệp tác động đến việc minh bạch thông tin của các doanh nghiệp trên

Về không gian: Luận án không đi sâu vào việc minh bạch thông tin của 1 DNNN cụ thể mà chỉ đánh giá tổng thể tình hình minh bạch thông tin tại các DNNN trên cơ sở khảo sát các thông tin do DNNN công bố ra bên ngoài qua các kênh thông tin như website của doanh nghiệp, cổng thông tin DNNN của Bộ Kế hoạch và đầu tư, cổng thông tin của các cơ quan đại diện vốn chủ sở hữu Nhà nước và các phương tiện truyền thông khác

Đối với kinh nghiệm minh bạch thông tin tại DNNN ở một số quốc gia, luận

án lựa chọn 2 nước lân cận Việt Nam có những tiến bộ trong việc thực hiện minh bạch thông tin tại DNNN là Hàn Quốc và Malaysia và những bài học rút ra có khả năng áp dụng cho Việt Nam

Trang 25

Về thời gian:

- Về kết quả hoạt động của DNNN, luận án sử dụng số liệu từ năm 2010

- Đối với việc khảo sát minh bạch thông tin, tác giả chủ yếu khảo sát trong 3 năm gần đây là 2016, 2017 và 2018 để đưa ra những đánh giá cập nhật nhất về tình hình minh bạch thông tin tại DNNN ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu gồm hai bước chính: Nghiên cứu tổng thể bằng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu kiểm định bằng phương pháp nghiên cứu định lượng

5.1 Nghiên cứu tổng thể bằng phương pháp định tính

- Luận án lược khảo các văn bản pháp luật, các hướng dẫn thực hành về minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam

- Luận án thu thập các dữ liệu thứ cấp từ các tạp chí chuyên ngành, báo cáo, các kết quả nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước về minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước trên thế giới và ở Việt Nam

-Luận án thực hiện lấy ý kiến một số cán bộ quản lý trong DNNN, các cán

bộ quản lý Nhà nước về việc thực hiện công bố thông tin doanh nghiệp để phân tích các nguyên nhân của các hạn chế trong việc thực hiện minh bạch thông tin

5.2 Nghiên cứu kiểm định bằng phương pháp định lượng

- Tác giả sử dụng phương pháp chỉ số để chấm điểm việc minh bạch thông tin của DNNN, bao gồm cả thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện

- Luận án thu thập số liệu thứ cấp về thông tin tài chính của các doanh nghiệp nhà nước để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tài chính đến việc minh bạch thông tin tại DNNN thông qua việc chạy mô hình hồi quy đa biến với phần mềm Stata

6 Những đóng góp mới của luận án

Bên cạnh việc kế thừa các nghiên cứu trước đây, Luận án đã có những đóng

Trang 26

- Là một trong những công trình đầu tiên tổng hợp các vấn đề lý luận và thực tiễn về minh bạch thông tin tại DNNN, bao gồm khái niệm, đặc điểm, nội dung, các tiêu chí đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng minh bạch thông tin tại DNNN

- Luận án phân tích và đánh giá thực trạng minh bạch thông tin tại DNNN ở Việt Nam theo 2 nhóm: DNNN niêm yết và DNNN không niêm yết, từ đó, nêu rõ những bất cập và nguyên nhân

- Luận án xây dựng chỉ sô đo lường mức độ minh bạch thông tin (bao gồm cả thông tin bắt buộc và tự nguyện) của DNNN để từ đó đánh giá việc minh bạch thông tin tại DNNN Việt Nam

- Luận án tiến hành phân tích định lượng các nhân tố tài chính ảnh hưởng đến việc minh bạch thông tin tại các DNNN chưa niêm yết và có niêm yết trên thị trường và rút ra kết luận, ở cả 2 nhóm DN trên, các DNNN có quy mô lớn và kết quả hoạt động kinh doanh tốt có xu hướng thực hiện minh bạch thông tin tốt hơn

- Luận án đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường minh bạch thông tin tại DNNN ở Việt Nam bao gồm giải pháp cho các DNNN và các kiến nghị đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước, các cơ quan quản lý Nhà nước và các bên liên quan

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, doanh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương:

Chương 1 Lý luận chung về minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước Chương 2 Thực trạng minh bạch thông tin tại các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam

Chương 3 Giải pháp tăng cường minh bạch thông tin tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Trang 27

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN

TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 Lý luận chung về minh bạch thông tin doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Thông tin

Thông tin là một khái niệm trừu tượng và có nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, “thông tin khái quát về các điều hiểu biết, tri thức, thu được qua nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng với nhau” Theo cách hiểu về thông tin như trên, thông tin được hiểu như các tri thức thu nhận, trao đổi được trong quá trình nghiên cứu khoa học Tương tự, Lê Thị Duy Hoa (1999) cho rằng, “thông tin là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan, được biểu hiện bằng các hệ thống ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…Thông tin đồng nghĩa với các hình thái tri thức mới mẻ, có giá trị phát triển sự hiểu biết của con người.”

Mặt khác, thông tin là những dữ liệu có tính chính xác, kịp thời, cụ thể được sắp xếp có mục đích, được trình bày trong một bối cảnh có ý nghĩa, thích hợp và có thể tăng cường việc biểu biết và giảm tính bất định Thông tin có giá trị vì nó ảnh hưởng đến hành vi, quyết định hoặc kết quả đầu ra Ví dụ, một nhà quản lý thông báo lợi nhuận của công ty tháng vừa qua sụt giảm, điều này sẽ được sử dụng là căn

cứ để cắt giảm chi phí của tháng sau Thông tin được coi là không có giá trị khi sau khi nhận được thông tin này này, sự việc không thay đổi

Như vậy, ở cách hiểu trên, cần có sự phân biệt giữa thông tin (information)

và dữ liệu (data) Thông tin chứa đựng ý nghĩa, còn dữ liệu là các dữ kiện không có cấu trúc và không có ý nghĩa rõ ràng nếu nó không được tổ chức và xử lý Cùng một thông tin, có thể được biểu diễn bằng những dữ liệu khác nhau Dữ liệu là những sự kiện hay những gì quan sát được trong thực tế và chưa hề được biến đổi sửa chữa cho bất cứ một mục đích nào khác Thông tin là những dữ liệu đã được xử

Trang 28

Theo Luật tiếp cận thông tin số 104/2016/QH13 của Việt Nam, thông tin là tin, dữ liệu được chưa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh ảnh, bản vẽ, băng đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc

các dạng khác do cơ quan Nhà nước tạo ra

1.1.1.2 Thông tin doanh nghiệp

Với cách hiểu trên, thông tin doanh nghiệp được hiểu là tập hợp các số liệu, tin báo, các dữ liệu phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp, có liên quan đến doanh nghiệp giúp cho đối tượng tiếp nhận có thể sử dụng để ra quyết định nhằm đạt được mục đích mong muốn

1.1.1.3 Minh bạch thông tin

Theo nghĩa vật lí thông thường, sự minh bạch (tiếng Anh là Transparency) là

sự có thể nhìn rõ được, nhìn xuyên qua sự vật hiện tượng sang phía bên kia Bản thân từ Transparency là một từ ghép có nguồn gốc từ hai khái niệm độc lập là Trans

và Parent, trong đó Trans có nghĩa là sự di chuyển và parent có nghĩa là nhìn thấy được Theo từ điển Oxford English Dictionary, nghĩa tiếng Anh cổ của từ minh bạch là “sự truyền tải ánh sáng và như vậy làm cho những sự vật hiện tượng phía bên kia có thể được nhìn thấy một cách rõ ràng”

Như vậy, sự minh bạch ban đầu chỉ được hiểu là sự cởi mở và sự thẳng thắn trong việc cung cấp thông tin khi được hỏi, và sự minh bạch mang tính “công khai thụ động” theo kiểu “hỏi thì trả lời” Hầu hết các từ điển ngày nay thường mô tả sự minh bạch là không có sự “lừa gạt, lừa đảo, thủ đoạn và sự xảo trá” Nói cách khác,

sự minh bạch bao gồm “sự thật thà, sự ngay thẳng, sự không thiên vị”

Tuy vậy khi sử dụng khái niệm minh bạch thông tin sử dụng trong các tình huống cụ thể thì nội hàm rõ ràng hơn

Minh bạch thông tin trên thị trường được hiểu là việc các chủ thể kinh tế (người dân, doanh nghiệp hoặc chính phủ) có thể cập nhật các thông tin liên quan đến thị trường một cách đầy đủ, tin cậy, kịp thời và có thể tiếp cận một cách dễ dàng (Vishwanath và Kaufmann, 1999) Các tác giả này nhấn mạnh đến nội hàm của khái niệm sự minh bạch, theo đó sự minh bạch là sự đầy đủ, tin cậy và kịp thời

Trang 29

trong thông tin được công bố và sự dễ dàng tiếp cận từ phía công chúng Trong một báo cáo do WB công bố về sự minh bạch thông tin trong lĩnh vực tài chính, 2 tác giả

là Tara Vishwanath và Daniel Kaufman (1999) đã đưa ra khái niệm về sự minh bạch thông tin khi cho rằng: “Minh bạch thông tin mô tả luồng thông tin chính trị,

xã hội và kinh tế được công bố một cách tin cậy, kịp thời… Ngược lại, việc thiếu minh bạch thông tin là việc một người nào đó cố tình không cho tiếp cận thông tin hoặc làm sai lệch thông tin hoặc không đảm bảo rằng thông tin được cung cấp là thích hợp và chất lượng” Nghiên cứu về minh bạch thông tin trong lĩnh vực tài chính và quản trị của nhóm tác giả Tara Vishwanath và Kaufmann đưa ra định nghĩa: “minh bạch mô tả dòng thông tin kinh tế, xã hội và chính trị ngày càng tăng, kịp thời và tin cậy… Ngược lại, sự thiếu minh bạch là khi một người nào đó … cố ý hạn chế quyền truy cập thông tin, hoặc xuyên tạc thông tin hoặc không đảm bảo cung cấp thông tin phù hợp và chất lượng Do đó, minh bạch thông tin bao gồm các đặc tính sau: khả năng tiếp cận, toàn diện, phù hợp, chất lượng và tin cậy… Thông tin phải có chất lượng và đáng tin cậy, kịp thời, đầy đủ, không thiên vị, nhất quán và được trình bày với những thuật ngữ rõ ràng và đơn giản ” (Tara Vishwanath và Kaufmann, 2001, tr 42)

Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đưa ra khái niệm minh bạch thông tin trong lĩnh vực ngân hàng như sau: “minh bạch thông tin trong hoạt động ngân hàng

là việc công bố ra công chúng thông tin kịp thời, tin cậy nhằm đảm bảo người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và kết quả tài chính của ngân hàng, hoạt động kinh doanh và các rủi ro liên quan” (Basel, 1998, tr.15)

Theo tài liệu Trách nhiệm giải trình và Minh bạch – Hướng dẫn cho cơ quan

sở hữu nhà nước do OECD ban hành năm 2010, minh bạch là sự công khai đối với

công chúng Minh bạch đề cập tới số lượng, phạm vi, chất lượng, tính chính xác và tính kịp thời của thông tin và khả năng tiếp cận thông tin của các bên liên quan (OECD, 2010, tr.5)

Ở góc độ doanh nghiệp, Busman và cộng sự 2004 đưa ra khái niệm minh bạch thông tin tài chính là sự sẵn có của thông tin cụ thể về doanh nghiệp cho các nhà đầu tư và cổ đông bên ngoài

Trang 30

Trong các nghiên cứu về minh bạch thông tin doanh nghiệp của Standard & Poor’s, tính minh bạch được xác định dựa trên số lượng mục thông tin công ty cung cấp so với bộ thông tin yêu cầu của nhà đầu tư (Patel và Dallas, 2002; Patel và Balic, 2003) Năm 2001, tổ chức xếp hạng độc lập uy tín thế giới Standard & Poor’s

đã xây dựng Bộ chỉ số Minh bạch và Công bố thông tin gồm 98 tiêu chí nhằm đánh giá mức độ minh bạch thông tin doanh nghiệp ở các thị trường, quốc gia khác nhau

Từ những phân tích trên đây, tác giả cho rằng: “Minh bạch thông tin là việc công bố thông tin một cách thích hợp, tin cậy, kịp thời theo một cách thức mà công chúng có thể tiếp cận”

Trong các nghiên cứu về minh bạch thông tin, có một thuật ngữ có thể sử dụng tương đương là công bố thông tin (information disclosure) Theo Tổ chức Tài chính quốc tế, “việc công bố thông tin được định nghĩa là một cách thức để đảm bảo rằng tất cả các bên quan tâm đều có thể tiếp cận thông tin thông qua một quy trình minh bạch để đảm bảo cho việc tìm kiếm và thu thập thông tin được dễ dàng, bất kể mục đích tiếp cận thông tin là gì” (IFC, 2011, tr 488)

Theo Ngân hàng Thế giới, “công bố thông tin là việc phát hành các thông tin tài chính và phi tài chính liên quan tới tình trạng của các hoạt động trong doanh nghiệp nhà nước Công bố có thể hướng tới toàn bộ công chúng thông qua phát hành công khai báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, hoặc cho các nhóm riêng biệt như cơ quan sở hữu, các cổ đông hoặc chủ nợ Luật pháp, các quy định và chính sách của Chính phủ quy định việc phát hành lượng thông tin tối thiểu” (WB,

2014, tr.216)

Tuy vậy, hai khái niệm trên theo quan điểm của tác giả vẫn có sự khác biệt Thực tế cho thấy, doanh nghiệp có thể công bố một lượng lớn thông tin không có giá trị đối với người sử dụng trong khi những thông tin quan trọng có thể bị che đậy, hoặc thông tin được công bố có thể không thích hợp, thậm chí bị bóp méo để che đậy tình hình thực tế của doanh nghiệp Trong khi minh bạch thông tin chú trọng đến các nội dung về cả chất lượng và số lượng thông tin Tuy vậy, công bố và minh bạch thông tin là những khái niệm phải luôn gắn liền với nhau Hệ thống công bố thông tin tốt nâng cao tính minh bạch là đặc điểm then chốt của việc giám

Trang 31

sát công ty dựa vào thị trường và đóng vai trò chủ yếu giúp cổ đông có thể thực hiện quyền sở hữu của mình một cách có hiểu biết (OECD, 2004, tr 51)

Xuất phát từ cách hiểu minh bạch thông tin ở trên, theo tác giả, tăng cường minh bạch thông tin được hiểu là các biện pháp nhằm tăng tính thích hợp, tin cậy, kịp thời và khả năng tiếp cận của thông tin được công bố của doanh nghiệp Các biện pháp ở đây bao gồm các hoạt động liên quan đến quản trị công ty, xây dựng hệ thống thông tin trong doanh nghiệp hay bất kỳ hoạt động nào làm tăng tính thích hợp, tin cậy, kịp thời và khả năng tiếp cận của thông tin được công bố của doanh nghiệp

1.1.2 Phân loại thông tin doanh nghiệp

Có nhiều cách phân loại thông tin Tuy nhiên, trong phạm vi của luận án, tác giả tập trung phân tích 2 cách phân loại quan trọng sau:

1.1.2.1 Theo nội dung của thông tin

i Thông tin tài chính

Thông tin tài chính là những thông tin liên quan đến dòng tiền, kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp ở những thời kỳ xác định Thông tin tài chính có thể là thông tin trong quá khứ hoặc thông tin mang tính dự báo, thông thường được biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ (Nivra, 2008)

Thông tin tài chính thường được thể hiện trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp cũng như các báo cáo nội bộ của doanh nghiệp, bao gồm bảng cân đối

kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu và thuyết minh báo cáo tài chính…

ii Thông tin phi tài chính

Thông tin phi tài chính là những thông tin mang tính chất dự kiến về chương trình quản lý, những cơ hội, rủi ro, những nhân tố nhấn mạnh đến khả năng tạo ra giá trị trong dài hạn của doanh nghiệp Thông tin phi tài chính bao gồm giao dịch với các bên liên quan, các mục tiêu phi thương mại và các cam kết chính sách, cơ cấu sở hữu và cấu trúc quản trị, mức độ rủi ro (risk exposure), quản trị rủi ro (WB,

2014, tr.225)

Trang 32

Các thông tin này thường khó thiết lập các nguyên tắc, chuẩn mực để đánh giá mức độ tin cậy, chính xác của thông tin; có thể biểu hiện bằng giá trị hoặc phi giá trị; thường mang tính chất bổ sung, thuyết minh cho thông tin tài chính

Thông tin phi tài chính thường nằm ở các báo cáo độc lập như báo cáo về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, báo cáo về bảo vệ môi trường…

Các nhà đầu tư và nhà phân tích thường sử dụng nhiều thông tin phi tài chính trong phân tích và đánh giá doanh nghiệp, đặc biệt là thông tin về quản trị Các khía cạnh phi tài chính khác, ví dụ như nguồn lực tự nhiên sẽ được coi là quan trọng với các nhà phân tích và nhà đầu tư coi trọng trách nhiệm xã hội, nhưng ít được quan tâm hơn bởi các nhà đầu tư thiên về thông tin tài chính

1.2.2.2 Theo tính chất bắt buộc của thông tin

i Thông tin bắt buộc

Thông tin bắt buộc là những thông tin mà luật pháp yêu cầu phải công bố theo nội dung và tiến độ Nội dung thông tin công bố bắt buộc gồm thông tin tài chính, thông tin về Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc điều hành, giao dịch với các bên liên quan… được thể hiện trong báo cáo thường niên, báo cáo giữa niên độ, bản báo bạch Tiến độ công bố định kỳ hoặc bất thường Tính hiệu quả của minh bạch thông tin phụ thuộc vào ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp

ii Thông tin tự nguyện

Thông tin tự nguyện là những thông tin không bắt buộc công bố theo luật định

mà doanh nghiệp tự nguyện công bố vì lợi ích của uy tín, hình ảnh doanh nghiệp, quan

hệ với nhà đầu tư, nhằm bổ sung những thiếu hụt của thông tin bắt buộc để thỏa mãn nhu cầu người sử dụng Thời điểm công bố tùy thuộc vào sự lựa chọn của doanh nghiệp Nội dung thông tin tự nguyện rất đa dạng, có thể bao gồm: thông tin chung về doanh nghiệp; phân tích của nhà quản trị về kết quả kinh doanh và tình hình tài chính; thông tin về trách nhiệm xã hội và chính sách môi trường… qua nhiều phương tiện như thông cáo báo chí, trang thông tin điện tử (website) của doanh nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng… Tính hiệu quả của minh bạch thông tin tự nguyện phụ thuộc vào văn hóa, xã hội, hệ thống quản trị của doanh nghiệp

Trang 33

Khi nhà quản lý xem xét mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc công

bố, nếu việc tự nguyện công bố có lợi ích lớn hơn chi phí thì họ sẽ thực hiện, ngược lại sẽ không tự nguyện công bố Hoạt động này đặc biệt quan trọng đối với những doanh nghiệp hoạt động trong thị trường mới nổi thường gặp trở ngại bởi môi

trường pháp lý và cơ chế thực thi yếu kém

1.1.3 Vai trò của minh bạch thông tin trong nền kinh tế

Minh bạch thông tin có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các cổ đông, các nhà đầu tư tiềm năng; bản thân doanh nghiệp; các cơ quan pháp luật, nền kinh tế và các bên có quyền lợi liên quan khác

1.1.3.1 Đối với doanh nghiệp

i Minh bạch thông tin giúp tăng cơ hội tiếp cận các nguồn lực tài chính bên ngoài, từ đó giảm chi phí sử dụng vốn và tăng giá trị tài sản cho doanh nghiệp

Chi phí vốn phụ thuộc vào mức độ rủi ro của doanh nghiệp theo cảm nhận của các nhà đầu tư: rủi ro càng cao thì chi phí vốn càng cao Những rủi ro này bao gồm cả rủi ro liên quan đến việc quyền lợi của nhà đầu tư bị xâm phạm Nếu quyền lợi của nhà đầu tư được bảo vệ một cách thích hợp, họ sẽ sẵn sàng gia nhập thị trường vốn, từ đó doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận nhiều nguồn vốn nhằm phục vụ cho hoạt động của mình Kết quả là chi phí vốn chủ sở hữu và chi phí vay đều sẽ giảm (IFC, (2011), tr.19) Những doanh nghiệp được quản trị tốt, đặc biệt là có hệ thống công bố thông tin hiệu quả, minh bạch sẽ gây được cảm tình với các cổ đông

và các nhà đầu tư, tạo dựng được niềm tin lớn hơn của công chúng vào việc công ty

có khả năng sinh lời mà không xâm phạm tới quyền lợi của các cổ đông, nhà đầu tư (IFC, (2011, tr.19) Do vậy, minh bạch thông tin sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn, tăng giá trị tài sản, đặc biệt là tài sản vô hình như giá trị thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp

ii Minh bạch thông tin góp phần tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Minh bạch thông tin, hay một chế độ công bố thông tin hiệu quả là điều cần thiết nhằm đảm bảo trách nhiệm giải trình, giám sát hiệu quả hoạt động, và đảm bảo

Trang 34

thông tin giúp công chúng thực thi quyền tiếp cận và sử dụng thông tin tốt hơn; từ

đó tạo cơ chế đánh giá và giám sát bên ngoài một cách hiệu quả đối với các hoạt động của Ban Giám đốc điều hành Ban Giám đốc điều hành sẽ phải có trách nhiệm giải trình trước công ty và các cổ đông, hành động một cách minh bạch đối với các thị trường và duy trì niềm tin của công chúng Sự bất đồng về lợi ích giữa chủ sở hữu/ cổ đông với người đại diện sẽ được hạn chế, chi phí đại diện giảm đi Ban Giám đốc đại diện sẽ hành động vì lợi ích của các cổ đông và nhà đầu tư, giảm thiểu rủi ro liên quan đến các vụ gian lận hoặc giao dịch nhằm mục đích tư lợi của các cán bộ quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

iii Minh bạch thông tin sẽ giảm tác động từ các cuộc khủng hoảng tới doanh nghiệp

Với cơ chế minh bạch thông tin, doanh nghiệp xây dựng lòng tin, đảm bảo mối quan hệ hiệu quả với các bên có quyền lợi liên quan Thương hiệu, uy tín và niềm tin chính là những yếu tố duy trì “lòng trung thành” của các cổ đông, nhà đầu

tư, nhà cung cấp, khách hàng… tránh hiện tượng “tháo chạy” khỏi thị trường khi xảy ra khủng hoảng

1.1.3.2 Đối với các bên liên quan của doanh nghiệp

Một trong những bên liên quan quan trọng của doanh nghiệp chính là chủ sở

hữu/nhà đầu tư Các nhà đầu tư có xu hướng ngày càng coi Quản trị công ty nói

chung, minh bạch thông tin nói riêng là một tiêu chí quan trọng trong việc đưa ra các quyết định đầu tư Thực tế cho thấy, các nhà đầu tư thường rơi vào lựa chọn bất lợi khi không có đầy đủ thông tin so với nhà quản lý trong doanh nghiệp Minh bạch thông tin sẽ giúp các cổ đông và nhà đầu tư hiểu rõ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá trình độ quản lý của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc điều hành; từ đó cải thiện khả năng đưa ra những quyết định kinh tế hợp lý nhằm giảm thiểu rủi ro và bảo vệ quyền lợi của mình

Thậm chí dù những thông tin được công bố mang tính tiêu cực đi chăng nữa, các cổ đông và nhà đầu tư cũng sẽ được hưởng lợi do họ có cơ hội để giảm thiểu rủi

ro (IFC, (2011, tr.19)

Trang 35

Minh bạch thông tin đồng thời cũng giúp các chủ nợ, nhà cung cấp, khách hàng và người lao động đánh giá vị trí của mình, thích ứng với những thay đổi và định hình các mối quan hệ của họ với doanh nghiệp

1.1.3.3 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nền kinh tế quốc dân

Minh bạch thông tin giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý, giám sát thị trường một cách dễ dàng và hiệu quả hơn; kịp thời có giải pháp phù hợp để hạn chế và ngăn chặn các hành vi sai lệch

Minh bạch thông tin góp phần làm tăng giá trị tài sản và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo sử dụng hữu hiệu các nguồn lực quốc dân; từ

đó thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ, các nền kinh

tế nói chung, cũng như thị trường chứng khoán các nước nói riêng ngày càng gia tăng sự phụ thuộc và liên kết với nhau Do vậy, minh bạch thông tin sẽ là một tiêu chí quan trọng để tăng cường thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, tạo nguồn vốn dồi dào cho thị trường chứng khoán, góp phần xây dựng thị trường chứng khoán hiệu quả, duy trì lòng tin của thị trường; từ đó, quyết định năng lực cạnh tranh và trình

độ phát triển của quốc gia Với chế độ công bố thông tin hiệu quả và minh bạch, thị trường chứng khoán cũng như nền kinh tế quốc gia sẽ nâng cao uy tín trên trường quốc tế, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến quyết định của nhà đầu tư Khi các nhà đầu tư nước ngoài nhận thấy chi phí giao dịch giảm, tài sản và quyền lợi của họ được bảo vệ an toàn, chắc chắn lòng tin của họ sẽ được củng cố và sẵn sàng gia nhập thị trường

Minh bạch thông tin góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đối với nền kinh tế quốc gia

1.2 Một số lý thuyết liên quan đến minh bạch thông tin

1.2.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

1.2.1.1 Nội dung lý thuyết

Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất

Trang 36

này là George Akerlof, Michael Spence và Jose Stiglitz đã được nhận giải Nobel kinh tế cho những nỗ lực nghiên cứu của lý thuyết về thông tin bất cân xứng

i Nghiên cứu của G.A.Akerloft

Thông tin bất cân xứng là tình trạng các bên tham gia giao dịch có thông tin với mức độ khác nhau; một bên có nhiều thông tin hơn, thông tin chính xác hơn và được tiếp cận dễ dàng hoặc sớm hơn so với bên còn lại, từ đó sẽ trục lợi từ những thông tin có được Tình trạng thông tin không đầy đủ, không kịp thời, không chính xác, không tin cậy và không tạo điều kiện tiếp cận công bằng giữa các chủ thể tham gia thị trường chính là biểu hiện của sự không minh bạch thông tin Thông tin bất cân xứng là hiện tượng phổ biến xảy ra đối với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, gây ra những hệ quả tiêu cực ảnh hưởng tới nhiều thành viên tham gia thị trường và toàn bộ thị trường

Bất cân xứng thông tin xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu thông tin riêng hoặc có nhiều thông tin hơn về một doanh nghiệp; hoặc khi những người quản lý doanh nghiệp (bên cung cấp thông tin) có nhiều thông tin hơn so với cộng đồng nhà đầu tư (bên tiếp nhận thông tin) Vì vậy có thể dẫn tới hiện tượng che đậy các thông tin bất lợi, thổi phồng các thông tin có lợi hoặc cung cấp thông tin một cách không công bằng đối với các nhóm nhà đầu tư khác nhau

Theo Jing (2008), thông tin bất cân xứng biểu hiện dưới ba hình thức: (a) bất cân xứng về thời gian thông tin, (b) bất cân xứng khối lượng thông tin và (c) bất cân xứng về chất lượng thông tin

Bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến hai hệ quả phổ biến nhất, đó là sự lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Điều này sẽ làm bóp méo quyết định tham gia thị trường của các chủ thể kinh tế, thậm chí có thể dẫn đến thất bại thị trường

- Sự lựa chọn bất lợi

Đây là rủi ro do bất cân xứng thông tin xảy ra trước khi các bên tiến hành giao dịch Lựa chọn bất lợi được hiểu là những quyết định sai lầm của một bên tham gia giao dịch do tình trạng không tiếp cận được thông tin một cách đầy đủ, xác thực

và kịp thời Họ thường trả mức giá trung bình cho tất cả các loại hàng hóa bất kể

Trang 37

chất lượng cao hay thấp Kết quả là hàng hóa với chất lượng thấp sẽ được trả mức giá cao hơn giá trị thực, còn hàng hóa chất lượng cao sẽ bị trả mức giá thấp hơn giá trị thực Do đó, người bán sẽ không còn động lực để sản xuất hàng có giá trị và có

xu hướng cung cấp những sản phẩm có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình của thị trường, thậm chí rút lui khỏi thị trường; người mua có thể quyết định không tham gia giao dịch nữa Sự lựa chọn bất lợi đã cản trở các giao dịch phát triển theo chiều hướng hai bên cùng có lợi, thị trường hoạt động không hiệu quả

Các doanh nghiệp (người huy động vốn) biết rõ tình hình tài chính của mình cũng như khả năng thành công của các dự án đầu tư mà họ kêu gọi góp vốn Trong khi đó, nhà đầu tư bên ngoài (người cung cấp vốn) khi không được cung cấp thông tin hiệu quả sẽ hành động theo tín hiệu của thị trường Kết quả là hai bên đều rơi vào lựa chọn bất lợi

- Rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại

Khác với lựa chọn bất lợi, rủi ro đạo đức xuất hiện sau giao dịch khi một bên thực hiện những hành động ẩn giấu và có ảnh hưởng đến lợi ích của bên còn lại Một bên tham gia giao dịch không thể giám sát hoạt động của bên kia - bên có hành động ẩn giấu; bên có hành động ẩn giấu dù vô tình hay cố ý sẽ làm tăng xác suất xảy ra hậu quả xấu

Trong doanh nghiệp, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý có thể dẫn đến rủi ro đạo đức, khi người đại diện công ty đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của các cổ đông sở hữu công ty, họ sẽ sử dụng lượng vốn vào những kế hoạch kinh doanh đầy rủi ro

ii Nghiên cứu của Michael Spence (1973): Phát tín hiệu

Tiếp tục phát triển lý thuyết của G.A Akerlof, Michael Spence đã nghiên cứu trên thị trường lao động (Auronen, 2003) M Spence xem việc thuê lao động là một quyết định đầu tư không chắc chắn Tính không chắc chắn thể hiện ở việc người chủ không biết được khả năng đóng góp, khả năng tạo ra năng suất của người lao động là bao nhiêu Một trong những phương cách giúp người chủ thuê được lao động có năng lực đó là ông chủ có thể xem qua chất lượng bằng cấp, kinh nghiệm làm việc,… của người lao động hoặc có thời gian thử việc Đó được gọi là những

Trang 38

tín hiệu được phát ra của người lao động Như vậy, việc phát tín hiệu này đã làm giảm thông tin bất cân xứng giữa những người lao động và ông chủ

Trên cơ sở nghiên cứu của Akerlof, Micheal Spence chỉ ra giải pháp để khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng bằng cơ chế phát tín hiệu (signaling), thực chất là hành động một bên cung cấp nhiều thông tin hơn cho bên còn lại

iii Nghiên cứu của Joseph Stiglitz (1975): Cơ chế sàng lọc

Cơ chế sàng lọc của J Stiglitz cũng là lý thuyết phát triển lý thuyết của M Spence (Auronen, 2003) Theo M Spence, bất cứ hàng hóa nào cũng đều có những đặc tính khác nhau như: chất lượng, mẫu mã, thời gian sử dụng…, nên cần phải phân loại chúng Đối với lao động cũng có lao động có khả năng, tay nghề cao và lao động có khả năng, tay nghề thấp; do vậy, không thể trả lương theo một mức lương cân bằng Để khuyến khích người có khả năng cao, tạo ra năng suất lao động cao thì cần phải trả lương cao để khuyến khích họ Vì vậy việc phân nhóm lao động

để trả lương là việc làm cần thiết

1.2.1.2 Áp dụng lý thuyết

Lý thuyết này đã đưa ra các giải pháp để khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng Giải pháp thứ nhất liên quan đến việc phát tín hiệu, thực chất là hành động một bên cung cấp nhiều thông tin hữu ích hơn cho bên còn lại Trong doanh nghiệp, Ban Giám đốc điều hành cần chủ động minh bạch thông tin tự nguyện nhằm

bổ sung, luận giải thêm cho thông tin bắt buộc, đảm bảo tính hữu ích của thông tin cho cộng đồng Giải pháp thứ hai là các bên tham gia giao dịch đưa ra các cơ chế sàng lọc Cơ chế sàng lọc giúp phân loại đối tác, doanh nghiệp, chất lượng hàng hóa… trước khi đưa ra quyết định kinh tế nhằm hạn chế rủi ro trong giao dịch Giải pháp thứ ba là cơ chế giám sát, trong đó đề cao khung pháp luật, vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức đánh giá độc lập tham gia thị trường trong kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp

1.2.2 Lý thuyết đại diện

1.2.2.1 Nội dung lý thuyết

Theo nghiên cứu của Michael C Jensen và William H Meckling trong tác

phẩm “Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership

Trang 39

structure” (1976), lý thuyết người chủ - người đại diện (sau đây gọi là lý thuyết đại

diện) xác định mối quan hệ ủy nhiệm như là một hợp đồng mà theo đó giữa một hay nhiều cá nhân (bên ủy nhiệm – principal(s)) cam kết với cá nhân khác (bên đại diện – agents) thay mặt họ thực hiện một số công việc nào đó bao gồm cả việc ủy quyền

ra quyết định kinh tế cho bên đại diện Trong công ty cổ phần, bên ủy nhiệm hay người chủ sở hữu là các cổ đông thuê nhà quản lý – bên đại diện thực hiện việc kiểm soát và ra các quyết định nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho cổ đông

Nội dung của lý thuyết như sau:

(1) Chủ thể (Principal) hay chủ sở hữu vốn (Shareholders) và người đại diện (Agent) hay nhà quản trị (Manager) luôn có sự đối nghịch về lợi ích Người sở hữu vốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng chính là lợi ích của bản thân họ) Trong khi nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích của cổ đông

mà quan tâm đến lợi ích của mình (lương, thưởng, phụ cấp, nguồn thu khác dựa trên

vị trí công tác)

(2) Việc không đồng nhất lợi ích giữa cổ đông (chủ sở hữu) và Giám đốc (người đại diện) làm phát sinh một loại chi phí gọi là “chi phí đại diện” (agent costs) Đây là loại chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả (ví dụ một khoản tiền thưởng vì những gì đã thể hiện của nhà quản trị để khuyến khích họ làm việc vì lợi ích của các cổ đông) Chi phí này bằng không khi chủ sở hữu đồng thời

là Giám đốc công ty Cụ thể hơn, khi Giám đốc sở hữu toàn bộ vốn của công ty Chi phí đại diện càng lớn khi Giám đốc sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phiếu công ty

Các chi phí đại diện bao gồm: chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và chi phí

cơ hội

- Chi phí giám sát (Monitoring cost) là những chi phí do người chủ trả để đo lường, giám sát và kiểm tra hoạt động của người đại diện, như là chi phí kiểm toán Chi phí này có thể gồm các chi phí cho hoạt động kiểm tra giám sát, chi phí ký kết hợp đồng bồi hoàn và cuối cùng là chi phí sa thải đối với người đại diện Ban đầu những chi phí này do người chủ trả, nhưng Fama và Jensen (1983) cho rằng cuối cùng thì đây là chi phí do người đại diện gánh chịu vì các khoản tiền lương, tiền

Trang 40

- Chi phí ràng buộc (Bonding cost) là chi phí để thiết lập một bộ máy có thể tối thiểu những hành vi quản trị không mong muốn, như bổ nhiệm những thành viên bên ngoài vào ban điều hành hay tái thiết lập hệ thống tổ chức của doanh nghiệp Giả sử rằng người đại diện là người cuối cùng gánh chịu chi phí giám sát, rằng họ

có thể xây dựng hệ thống hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận tối đa cho cổ đông, hoặc

họ sẽ chịu bồi thường nếu họ vi phạm các điều khoản của hợp đồng đại diện, khi đó chi phí thiết lập và giữ vững hệ thống hoạt động này được gọi là chi phí ràng buộc

- Chi phí cơ hội (Residual loss) là chi phí phát sinh khi các cổ đông thuê người đại diện và buộc phải đưa ra các hạn chế, ví dụ những thiệt hại do người đại diện lạm dụng quyền được giao để tư lợi, những thiệt hại do việc đặt ra quy định đối với quyền bỏ phiếu của cổ đông về những vấn đề cụ thể, thiệt hại từ những biện pháp kiểm soát hoạt động của người đại diện Bất chấp việc giám sát và sự ràng buộc, lợi ích của người đại diện và cổ đông vẫn không chắc chắn hoàn toàn đồng nhất Vì vậy, vẫn có thiệt hại do vấn đề người đại diện phát sinh từ những mâu thuẫn lợi ích Những thiệt hại đó được gọi là chi phí cơ hội

Từ lý thuyết ủy nhiệm, cho thấy có hai giả thuyết: sự xung đột về mục tiêu

và lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lý, tình trạng thông tin bất cân xứng giữa chủ sở hữu (ít thông tin hơn) và nhà quản lý (nhiều thông tin hơn) Điều này đã ngăn cản sự hợp tác giữa người ủy quyền và người đại diện

Quyết định cuối cùng của nhà quản lý tùy thuộc vào tỷ lệ nắm giữ của họ trong vốn chủ sở hữu Tỷ lệ trong vốn chủ sở hữu có thể ảnh hưởng đến việc nhà quản lý có thể hành động không vì lợi ích của cổ đông Ví dụ, Jensen và Meckling (1976) cho rằng khi nhà quản lý sở hữu toàn bộ doanh nghiệp thì nhà quản lý sẽ đưa

ra những quyết định nhằm tối đa lợi ích của họ, đồng thời cũng là lợi ích chung của doanh nghiệp Tuy nhiên, khi phần vốn của họ chỉ chiếm một phần nhỏ thì quyền lợi của họ trong kết quả kinh doanh sẽ giảm và họ sẽ có khuynh hướng muốn nhận được khoản thù lao lớn hơn

Để giải quyết mâu thuẫn, cần thực hiện cơ chế thích hợp để hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa người ủy quyền và người đại diện như: thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho người đại diện; thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế

Ngày đăng: 05/09/2019, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo tình hình công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước năm 2016, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước năm 2016
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Dự thảo Báo cáo tình hình công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước năm 2017, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Báo cáo tình hình công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước năm 2017
3. Chính phủ, Báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2016, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2016
4. Chính phủ, Báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2017, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2017
5. Tạ Thanh Bình, Hoàn thiện hệ thống công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
6. Lê Duy Bình và Đoàn Hồng Quang, Ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhà nước, bằng chứng từ thực tế, World Bank, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhà nước, bằng chứng từ thực tế
7. Ngô Thu Giang, Tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm công ty niêm yết tới mức độ công bố thông tin và hệ quả của nó, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm công ty niêm yết tới mức độ công bố thông tin và hệ quả của nó
8. Lê An Khang, Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên TTCK TP.HCM, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên TTCK TP.HCM
9. Lê Thị Duy Hoa, Khái niệm thông tin từ cách tiếp cận bản thể luận và nhận thức luận, Tạp chí Triết học số 01, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm thông tin từ cách tiếp cận bản thể luận và nhận thức luận
10. Nguyễn Thị Liên Hoa, Minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Phát triển Kinh tế số 195, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
11. Gregory Smith và Lê Duy Bình, Tính minh bạch của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam – Thực trạng và ý tưởng cải cách, báo cáo Ngân hàng thế giới, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính minh bạch của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam – Thực trạng và ý tưởng cải cách
12. Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển/Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và đầu tư, Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035, Ngân hàng Thế giới, 2016. https://openknowledge.worldbank.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035
13. OECD, Các Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD, 2004 https://www.ifc.org/wps/wcm/connect/18201a004a8148dea92efdf998895a12/OECD%2BPrinciples%2Bof%2BCorporate%2BGovernance_Vietnamese%26English.pdf?MOD=AJPERES Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD
17. Tổ chức hướng tới minh bạch, Tính minh bạch của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam – Thực trạng và ý tưởng cải cách, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính minh bạch của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam – Thực trạng và ý tưởng cải cách
19. Ủy ban kinh tế của Quốc hội, Báo cáo tổng hợp Đề tài Nghiên cứu: Các chỉ tiêu giám sát tài chính, 2011. http://www.ecna.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp Đề tài Nghiên cứu: Các chỉ tiêu giám sát tài chính
20. Lê Trường Vinh, Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư
21. Vietstock, Báo cáo khảo sát Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2017, (2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2017
22. Vietstock, Báo cáo khảo sát Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2016, (2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2016
23. Abdelsalem, O.H, and Street, D.L., Corporate Governance and the timeliness of corporate internet reporting by UK listed companies, Journal of International Accounting, Auditing and Taxation Vol. 16, No. 2., 2007, p.111-130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Governance and the timeliness of corporate internet reporting by UK listed companies
28. Basel Committee on Banking Supervision, Transparency Sub-group of the Basel Committee on Banking Supervision, 1998.http://www.bis.org/publ/bcbs41.pdf Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm