Bộ ngành cùng với tỉnh Bắc Kạn, trong những năm qua đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức quản lý, triển khai thực hiện quyết liệt các hoạt động quản lý nhà nước QLNN về PCBL&GLT
Trang 1–––––––––––––––––––––––––––––––
LỤC MẠNH THIẾP
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ PHÒNG, CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2019
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!
Trang 2LỤC MẠNH THIẾP
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ PHÒNG, CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN
Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 8.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tiến Long
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố tại bất kỳ nơi nào, mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, tháng 01 năm 2019
Tác giả
Lục Mạnh Thiếp
Trang 4LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Tiến Long, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý - Luật Kinh tế, Phòng Đào tạo của Trường Đại học Kinh tế và QTKD - Đại học Thái Nguyên đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới ban lãnh đạo Cục QLTT tỉnh Bắc Kạn, các bạn bè đồng nghiệp, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Do bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng năm 2019
Tác giả
Lục Mạnh Thiếp
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 4
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 5
1.1 Cơ sở lý luận về PCBL&GLTM 5
1.1.1 Lý luận về PCBL&GLTM 5
1.1.2 QLNN về PCBL&GLTM 11
1.1.3 Nội dung của QLNN về PCBL&GLTM 19
1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về PCBL&GLTM 23
1.2 Cơ sở thực tiễn của QLNN về PCBL&GLTM 25
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 25
1.2.2 Kinh nghiệm trong nước 27
1.2.3 Bài học cho tỉnh Bắc Kạn 35
Chương 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 38
Trang 62.2.2 Phương pháp tổng hợp tài liệu 40
2.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu 40
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 41
2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu chung về buôn bán, kinh doanh hàng hóa 41
2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả thu thuế buôn bán, kinh doanh hàng hóa 41
2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh kết quả QLNN về PCBL&GLTM 41
Chương 3 : THỰC TRẠNG QLNN VỀ PCBL&GLTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN 44
3.1 Khái quát về tỉnh Bắc Kạn và cục QLTT tỉnh Bắc Kạn 44
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 44
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 47
3.1.3 Khái quát về cục quản lý thị trường tỉnh Bắc Kạn 48
3.2 Thực trạng QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 57
3.2.1 Thực trạng PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 57
3.2.2 Đánh giá thực trạng QLNN về PCBL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn 75 3.2.3 Phân tích tác động của các yếu tố đến QLNN về PCBL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn 84
3.3 Đánh giá chung thực trạng QLNN về PCBL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn 91 3.3.1 Những kết quả đạt được 91
3.3.2 Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong QLNN về PCBL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn 95
Chương 4 : GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QLNN VỀ PCBL&GLTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN 99
4.1 Quan điểm và định hướng tăng cường QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 99
4.1.1 Quan điểm 99
4.1.2 Định hướng 99
Trang 74.2 Giải pháp tăng cường QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn 101
4.2.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức Cục QLTT tỉnh Bắc Kạn về QLNN về PCBL&GLTM trong tình hình mới 101
4.2.2 Sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, công chức Cục QLTT tỉnh Bắc Kạn 103
4.2.3 Tăng cường nghiên cứu, triển khai áp dụng pháp luật QLTT và các chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước trong QLNN về PCBL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn 106
4.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia 107
4.2.5 Coi trọng và triển khai các biện pháp phòng ngừa, thường xuyên tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng chống 108
4.2.6 Tăng cường công tác phối hợp, kết hợp với chính quyền và các ngành chức năng khác trong QLNN về PCBL&GLTM 109
4.2.7 Làm tốt công tác thường trực Ban chỉ đạo; tham mưu UBND tỉnh Bắc Kạn trong QLNN về PCBL&GLTM 111
4.3 Một số kiến nghị nhằm tăng cường QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 113
4.3.1 Kiến nghị với Chính phủ, Bộ Công Thương 113
4.3.2 Kiến nghị với UBND tỉnh Bắc Kạn 115
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 121
Trang 8CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GLTM : Gian lận thương mại
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Thang đo Likert 39
Bảng 3.1: Cơ cấu cán bộ, công chức Cục QLTT tỉnh Bắc Kạn 52
Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra, xử lý về PCBL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn 65
Bảng 3.3: Số vụ BL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn đã được xử lý (2015-2018) 66 Bảng 3.4: Số tiền thu nộp NSNN từ PCBL&GLTM (2014-2018) 68
Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra, kiểm soát buôn lậu, vận chuyển và buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu (2014-2018) 69
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra, kiểm soát chống sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm sở hữu trí tuệ (2014-2018) 71
Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra, kiểm soát hoạt động GLTM (2015-2018) 73
Bảng 3.8: Số vụ xử phạt vi phạm hành chính về GLTM 74
Bảng 3.9: Số tiền xử phạt vi phạm hành chính về GLTM 74
Bảng 3.10: Phân tích việc đánh giá của người dân và doanh nghiệp đối với lực lượng PCBL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn 85
Bảng 3.11: Phân tích chi tiết từng yếu tố được người dân và doanh nghiệp đánh giá đối với lực lượng PCBL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn 85
Bảng 3.12: Mức độ đánh giá của người dân và doanh nghiệp đối thực hiện hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật 86
Bảng 3.13: Kết quả cho thấy giá trị trung bình của các yếu tố 88
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Kạn 44
Hình 3.2: Mô hình tổ chức lực lượng QLTT tỉnh Bắc Kạn 51
Hình 3.3: Kết quả PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn (2015 - 2018) 65
Hình 3.4: Kết quả kiểm tra, kiểm soát trong PCBL&GLTM (2014-2018) 70 Hình 3.5: Kết quả chống sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm sở hữu trí tuệ (2014-2018) 72
Hình 3.6: Kết quả kiểm tra, kiểm soát hoạt động GLTM (2014-2018) 73
Hình 3.7: Mức độ đánh giá của người dân và doanh nghiệp đối với lực lượng PCBL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn 86
Hình 3.8: Mức độ đánh giá của người dân và doanh nghiệp đối thực hiện hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật 87
Hình 3.9: Mức độ phối hợp trong QLNN về PCBL&GLTM 88
Hình 3.10: Đánh giá về môi trường làm việc của lực lượng QLTT 89
Hình 3.11: Đánh giá về đào tạo lực lượng QLTT 90
Hình 3.12: Đánh giá về năng lực lãnh đạo của lực lượng QLTT 90
Hình 3.13: Đánh giá về khả năng quản trị nội bộ của lực lượng QLTT 90
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Buôn lậu và gian lận thương mại là một mặt trái cơ bản, phát sinh từ nền kinh tế thị trường, phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Nó tạo ra sự bất bình đẳng phi lý, gây nhiều tác động tiêu cực
và hậu quả xấu đối với sự phát triển của nền kinh tế cũng như đời sống nhân dân, nhất là buôn lậu, gian lận thương mại (BL&GLTM) ở các địa phương gần đường biên giới và gần các tỉnh có cửa khẩu đang diễn ra sôi động ở Việt Nam hiện nay Do đó, phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại (PCBL&GLTM) sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và người dân trong nước phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần đảm bảo an sinh xã hội; đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của đất nước hiện nay
Bắc Kạn là tỉnh miền núi, nội địa, nằm ở vùng Đông bắc Việt Nam, được thiên nhiên ưu đãi với nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội; nguồn tài nguyên rừng, đất rừng, khoáng sản phong phú Bắc Kạn là tỉnh nằm sâu trong lục địa, có Quốc lộ 3 chạy qua nối từ Hà Nội đến cửa khẩu Tà Lùng tỉnh Cao Bằng (cửa khẩu với Trung Quốc) hiện đã được cải tạo nâng cấp và khá thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá và phát triển hoạt động thương mại; khoảng cách từ tỉnh Bắc Kạn đến cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị và cửa khẩu Tân Thanh tỉnh Lạng Sơn khoảng 200 km, đường bộ từ thành phố Bắc Kạn đến sân bay Nội Bài 150 km và cảng Hải Phòng chỉ trên 200 km Như vậy, lưu thông và thương mại hàng hoá từ Bắc Kạn đến các cửa khẩu của các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội là khá thuận tiện
Tuy nhiên, với vị trí địa lý và sự thông thương qua lại thuận lợi như trên, tạo điều kiện tốt cho BL&GLTM phát triển sâu rộng, gây nhiều tổn thất và hậu quả nặng nề cho nền kinh tế cũng như an sinh, an toàn xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Bắc Kạn nói riêng Thực tế trong thời gian qua, Nhà nước, và các
Trang 12Bộ ngành cùng với tỉnh Bắc Kạn, trong những năm qua đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức quản lý, triển khai thực hiện quyết liệt các hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Nhờ đó, tình hình BL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn hiện nay đã giảm rất nhiều Tuy vậy, BL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn vẫn đang diễn biến rất phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi hơn, khó kiểm soát; gây tác động xấu đến phát triển kinh
tế - xã hội; bức xúc trong nhân dân Do đó, các giải pháp tăng cường QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên, là một công chức quản lý thị trường (QLTT) đang thực thi công vụ trong lĩnh vực chấp pháp, mong muốn góp phần đẩy lùi tình
trạng BL&GLTM ở địa phương mình, tôi chọn đề tài "Tăng cường QLNN về
PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn" để nghiên cứu và làm luận văn thạc
sĩ, ngành Quản lý kinh tế tại Trường Đại học Kinh tế và QTKD - Đại học Thái Nguyên
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng QLNN về PCBL&GLTM, luận văn đề xuất những giải pháp tăng cường QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động này
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2015 - 2018, số liệu sơ
cấp thu thập từ điều tra năm 2018; định hướng và giải pháp đến năm 2025
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về QLNN nhằm
PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn chủ yếu đối với các hàng hóa, sản phẩm hữu hình
4 Những đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận: Bổ sung và làm rõ hơn những vấn đề lý luận và kinh
nghiệm thực tiễn của QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn một tỉnh
Về mặt thực tiễn: Phân tích và đánh giá được thực trạng QLNN về
PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, bất cập trong QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, xác định nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó; đề xuất được các giải pháp tăng cường QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới
Về mặt ứng dụng: Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có thể làm
tài liệu tham khảo tốt cho các cấp, chính quyền của tỉnh Bắc Kạn trong QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Luận văn là tài liệu tham khảo quan trọng cho các địa phương khác và cho các nghiên cứu
có liên quan
Trang 145 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN về PCBL&GLTM Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Chương 4 Giải pháp tăng cường QLNN về PCBL&GLTM trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về PCBL&GLTM
1.1.1 Lý luận về PCBL&GLTM
1.1.1.1 Khái niệm về buôn lậu và gian lận thương mại
Buôn lậu là một hiện tượng xảy ra khá phổ biến trên thế giới với những mức độ khác nhau; bắt đầu xuất hiện từ khi có sản xuất và trao đổi hàng hóa Đặc biệt, khi thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập, thông thương giữa các quốc gia, buôn lậu qua biên giới đã xuất hiện và luôn là vấn đề nhức nhối đối với các quốc gia nói chung và các quốc gia có nhiều cửa khẩu và đường biên giới với các nước láng giềng như Việt Nam Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, hoạt động thương mại quốc tế tăng trưởng nhanh với tốc độ cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới; buôn lậu qua biên giới cũng gia tăng nhanh chóng Sở dĩ như vậy là do, cùng với quá trình tự do hóa thương mại dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, bên cạnh những hoạt động thương mại quốc tế hợp pháp cũng luôn tồn tại những hoạt động thương mại quốc tế phi pháp như trốn lậu thuế, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng kém chất lượng, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ,
Như vây, khi nói đến buôn lậu trong bối cảnh hiện nay, thường sử dụng thuật ngữ “buôn lậu qua biên giới”; được quan niệm phổ biến như sau:
- Một là, buôn lậu qua biên giới là hành vi mang hàng hóa một cách bí mật
và không hợp pháp vào hoặc ra khỏi một nước mà không chịu nộp thuế quan (Chỉ thị số 30/CT-TTg, tr 19)
- Hai là, buôn lậu qua biên giới là gian lận thương mại nhằm che giấu sự
kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng mọi thủ đoạn, mọi phương tiện, trong việc đưa hàng hóa lén lút qua biên giới (Chỉ thị số 30/CT-TTg, tr 19)
Trang 16Cùng với buôn lậu thì gian lận thương mại cũng là một hoạt động phát triển nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập hiện nay đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ “Gian lận thương mại”, song có thể khái niệm về gian lận thương mại như sau:
- Một là, gian lận thương mại (GLTM) là hành vi dối trá, mánh khóe, lừa
lọc trong lĩnh vực thương mại thông qua hoạt động mua, bán, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi bất chính Mục đích của hành
vi gian lận thương mại là nhằm thu lợi bất chính do thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối trá Chủ thể tham gia hành vi gian lận thương mại bao gồm: Người mua, người bán, hoặc cả người mua và người bán thông qua đối tượng là hàng hóa (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) (Hoàng Xuân Chiến, 2000)
- Hai là, gian lận thương mại là một hiện tượng mang tính lịch sử, chỉ
khi có sản xuất hàng hóa, các sản phẩm được mang ra trao đổi trên thị trường,
có người mua, người bán nhằm thực hiện phần giá trị được kết tinh trong hàng hóa thì gian lận thương mại cũng mới xuất hiện Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, thị trường ngày càng mở rộng, các sản phẩm đưa ra trao đổi, buôn bán trên thị trường ngày càng nhiều, tiêu chuẩn và chủng loại hàng hóa ngày càng đa dạng, phong phú thì gian lận thương mại cũng ngày càng phức tạp và tinh vi hơn Ngày nay, mặc dù người ta khó có thể tiến hành xã hội hóa toàn cầu nhưng toàn cầu hóa về kinh tế lại là một quá trình tất yếu khách quan dẫn đến gian lận thương mại mang tính toàn cầu trên cơ sở sự khác biệt giữa các nước, gian lận thương mại gắn với hoạt động thương mại quốc tế (Lê Thanh Bình, 1998)
Buôn lậu và gian lận thương mại ở Việt nam không phải là vấn đề mới,
từ xa xưa, đã đúc kết hành vi buôn lậu và gian lận thương mại với những câu
thành ngữ: “Buôn gian, bán lận" để chỉ những mặt trái của việc buôn bán, để
mọi người cảnh giác với thủ đoạn, mánh khóe, lừa dối khách hàng của các gian
Trang 17thương Hiện nay, Việt Nam đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường hiện đại có sự quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước Chấp nhận cơ chế thị trường tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh Cạnh tranh là động lực để phát triển Nguyên nhân và động cơ cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận Trong cạnh tranh chắc chắn sẽ xuất hiện hình thức và thủ đoạn buôn lậu và gian lận thương mại phức tạp và tinh vi thể hiện ở các hành
vi trốn thuế, lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ, lấy cắp bí mật sản xuất, cạnh tranh tiêu cực phi kinh tế Như vậy, có thể thấy mục đích hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại nhằm thu được lợi nhuận không chính đáng
Buôn lậu và gian lận thương mại luôn đi liền với nhau, bổ trợ cho nhau
và cùng thực hiện những hành vi phi pháp; cả hai hành vi này còn biểu hiện trong hoạt động logistics và thương mại phi truyền thống Đó là việc thông qua một nước thứ 3 để che dấu nguồn gốc thực sự của hàng hóa nhằm che mắt Hải quan nước nhập khẩu Trong trường hợp này, nước thứ 3 là nước cung cấp tài liệu giả hoặc dùng các thủ đoạn thay đổi nguồn gốc hàng từ nước xuất khẩu sang nước quá cảnh Đến khi hàng được nhập vào nước nhập khẩu sẽ tránh được các hàng rào thuế quan và phi thuế quan (TBs và NTBs) hoặc các quy định hạn chế mặt hàng của nước nhập khẩu như: Hạn ngạch, chế độ tối huệ quốc, bản quyền phát minh sáng chế, thương hiệu, hệ thống quản lý chất lượng (ISO), quy định xuất xứ hàng hóa, hàng rào kỹ thuật
Những nội dung ở trên cho thấy, buôn lậu và gian lận thương mại cần được nhìn nhận và đánh giá khoa học và khi hoạt động thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, thì buôn lậu và gian lận thương mại cần được nhiều nước trên thế giới quan tâm Đối với Việt Nam hiện nay, các thủ đoạn buôn lậu và gian lận thương mại trong hoạt động thương mại quốc tế cũng chính là các hình thức
mà tổ chức Hải quan thế giới đã xác định như trên
Trang 181.1.1.2 Tác hại của buôn lậu và gian lận thương mại
- Buôn lậu và gian lận thương mại là mặt trái, mặt tiêu cực của kinh tế thị trường Một số đối tượng do mong muốn tìm kiếm lợi nhuận siêu ngạch mong muốn làm giàu nhanh đã đi vào con đường làm ăn phi pháp
- Buôn lậu và gian lận thương mại tác hại rất lớn đối với nền sản xuất trong nước: Hàng lậu trốn thuế giá rẻ sẽ bóp nghẹt sản xuất trong nước, làm cho hàng hoá sản xuất không tiêu thụ được, công nhân mất việc làm
- Buôn lậu và gian lận thương mại còn làm nản lòng các nhà đầu tư, tác hại đối với môi trường kinh doanh và đầu tư do hàng hoá sản xuất ra không tiêu thụ được
- Buôn lậu và gian lận thương mại gây thất thu cho ngân sách Nhà nước
- Buôn lậu và gian lận thương mại đã có lúc trở thành “Quốc nạn” làm rối ren, mất an ninh, phá hoại hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, làm giảm lòng tin của nhân dân và Đảng và Nhà nước
Tóm lại: Nạn buôn lậu và gian lận thương mại tạo ra rất nhiều mỗi nguy
hại cho nền kinh tế Việt Nam muốn hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập KTQT, muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững thì phải kiên quyết đấu tranh mạnh mẽ với tệ nạn này
1.1.1.3 Khái niệm về PCBL&GLTM
Có nhiều khái niệm, quan niệm khác nhau về PCBL&GLTM, dựa trên quan điểm đây là một nội dung của QLNN về PCBL&GLTM
Do vậy, có thể thấy “PCBL&GLTM là các cơ quan chức năng áp dụng
các biện pháp ngăn chặn và xử lý theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân buôn lậu và gian lận thương mại trái phép, các cơ quan chức năng có trách nhiệm phối hợp hoặc chủ động phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới ngày càng được các đối tượng thực hiện bằng nhiều biện pháp, thủ đoạn tinh vi, phức tạp” (Nghị quyết số 41/NQ-CP)
Trang 19Việc đấu tranh nhằm ngăn chặn có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật hải quan cần phải được thực hiện kịp thời, đồng thời cần sự phối hợp đồng
bộ của các lực lượng
Vì vậy, đối với một quốc gia hoặc trên địa bàn một Tỉnh để nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển hàng hóa qua biên giới, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động này cần phối hợp cùng các cơ quan chức năng (công an, QLTT, thanh tra,
sở ban ngành…) trên địa bàn biết để phối hợp ngăn chặn, xử lý kịp thời
1.1.1.4 Vai trò của PCBL&GLTM
Buôn lậu và gian lận thương mại chủ yếu xuất hiện và diễn biến phức tạp khi có tự do hóa thương mại và sản xuất hàng hóa; cùng với xu thế toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế; hoạt động xuất nhập khẩu và thương mại nội địa diễn
ra sôi động; phát triển nhanh, với nhiều phương thức khác nhau; nội dung của hoạt động nội thương và ngoại thương phi truyền thống xuất hiện Đối với các quốc gia, trong đó có Việt Nam là một nước có nhiều đường biên giới với các nước láng giềng, các địa phương có đường biên giới với các quốc gia khác hoặc các địa phương nằm trong khu vực các tỉnh biên giới, đang phải đối mặt với hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại diễn ra hết sức phức tạp do hàng hóa nhập khẩu được đưa qua đường tiểu ngạch và phi hải quan ở các tỉnh biên giới Việt Nam để chuyển sâu vào nội địa tiêu thụ, gây tác hại nghiêm trọng về nhiều mặt cho sản xuất, đời sống và sức khỏe của người tiêu dùng Do đó, PCBL&GLTM trên địa bàn các tỉnh biên giới, trong đó có các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam có vai trò rất quan trọng đối với bảo vệ nền kinh tế, an sinh, an toàn xã hội, Vai trò của PCBL&GLTM như sau:
- Một là, PCBL&GLTM một cách hiệu quả, có tác dụng góp phần tích cực
bảo vệ sự phát triển của nền kinh tế quốc dân theo những mục tiêu đã hoạch định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và quá trình tái cấu trúc nền kinh tế gắn
Trang 20với đổi mới mô hình tăng trưởng; phát triển và bảo vệ các ngành, lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế như ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ đây
là những lĩnh vực phát huy tốt, có tiềm năng, lợi thế thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo được nhiều việc làm ổn định cho người lao động; góp phần bảo đảm
sự cân đối hợp lý giữa sản xuất và tiêu dùng trong điều kiện kinh tế của một nước đang phát triển PCBL&GLTM sẽ tăng cường hiệu quả, hiệu lực của thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước; đảm bảo các cam kết khu vực và quốc tế khi Việt Nam đã trở thành thành viên của các tổ chức thương mại và kinh tế quốc tế, các hiệp định thương mại song phương và đa phương thế hệ mới (WTO, ASEAN-AFTA, AEC, CPTPP, EVFTA )
- Hai là, PCBL&GLTM có hiệu quả sẽ giải quyết được nhiều vấn đề về
mặt xã hội như: Giảm chênh lệch giàu nghèo phi lý do hoạt động làm ăn phi pháp tạo ra; thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động sản xuất kinh doanh lành mạnh; bảo vệ và giữ gìn được thuần phong, mỹ tục và bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc trong phát triển sản xuất kinh doanh
- Ba là, PCBL&GLTM có hiệu quả, có tác dụng góp phần quan trọng trong
việc nâng cao hiệu lực của pháp luật; nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả hành pháp của bộ máy QLNN cùng cơ quan chức năng các cấp; góp phần tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, khuyến khích thu hút và mở rộng đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh ở nước ta Tăng cường liên kết, hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao uy tín và thương hiệu của Việt Nam trên thị trường quốc tế
1.1.1.5 Nội dung của PCBL&GLTM
PCBL&GLTM là hoạt động của cơ quan QLNN; gồm có hai nội dung,
đó là: Phòng và chống tức là ngăn ngừa và xử lý Mặt khác, hoạt động này thường diễn ra đối với những hàng hóa xuất nhập khẩu tại các đường biên giới của các tỉnh khu vực biên giới của Việt Nam Theo đó, nội dung của PCBL&GLTM như sau:
Trang 21- Thứ nhất, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ tất cả những nơi có thể xảy ra
việc vận chuyển, kinh doanh hàng hóa nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ
từ nước ngoài vào Việt Nam
- Thứ hai, kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống các hành vi tàng trữ, kinh
doanh, vận chuyển trái phép hàng hóa nhập lậu, không rõ nguồn gốc trên địa bàn các tỉnh biên giới Việt Nam để chuyển sâu vào nội địa tiêu thụ
- Ba là, kiểm tra, phát hiện các hành vi lợi dụng kẽ hở trong cơ chế, chính
sách để gian lận trong nhập khẩu quá cảnh hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam; kiểm tra hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu, lưu thông trên thị trường các tỉnh biên giới Việt Nam để chuyển sâu vào nội địa tiêu thụ
- Bốn là, tập trung ngăn chặn các thủ đoạn khai báo không đúng số lượng,
chủng loại, giá cả, nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu để trốn lậu thuế, gian lận thương mại
- Năm là, tuyên truyền, vận động các tổ chức và cá nhân thực hiện sản xuất,
kinh doanh, vận chuyển hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đúng pháp luật; chủ động phối hợp với các cơ quan QLNN về PCBL&GLTM để kiên quyết đấu tranh và phát hiện, trình báo những tổ chức, cá nhân có dấu hiệu buôn lậu và gian lận thương mại
- Sáu là, xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật của
tổ chức, cá nhân về buôn lậu và gian lận thương mại theo đúng thủ tục và trình tự
đã được quy định Phối hợp với các cơ quan liên quan và các quốc gia có láng giềng để thực hiện hoạt động PCBL&GLTM theo đúng luật pháp của các nước
và luật pháp quốc tế
1.1.2 QLNN về PCBL&GLTM
1.1.2.1 Khái niệm QLNN về PCBL&GLTM
Trang 22Quản lý nhà nước (QLNN) về PCBL&GLTM nhằm bảo vệ và góp phần thúc đẩy sản xuất, phát triển bảo vệ người tiêu dùng, tác động tích cực đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại là những mặt trái của nền kinh tế thị trường, có thể để lại những hậu quả nguy hại về kinh tế - xã hội, kìm hãm sản xuất, kinh doanh trong nước, gây thất thu cho ngân sách, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư…hoạt động PCBL&GLTM có quan hệ biện chứng với hoạt động sản xuất, kinh doanh Thông qua QLNN về PCBL&GLTM góp phần tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và đến lượt nó, hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển
sẽ góp phần tích cực vào PCBL&GLTM (Phan Văn Minh, 1997)
Ngay từ khi xác định hội nhập kinh tế quốc tế, quan điểm và chính sách của Việt Nam đã thực hiện qua việc tham gia các công ước và hiệp ước quốc tế
và thực hiện các cam kết về thương mại đối với các đối tác, tổ chức hợp tác quốc tế như (Nguyễn Mạnh Thắng, 1999), (Thủ tướng Chính phủ, 2010)
- Công ước Stockholm về việc thành lập tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, tiếng Anh viết tắt là WIPO, được thành lập trên
cơ sở Công ước ký tại Stockhlm ngày 14 tháng 7 năm 1967 gọi là công ước về thành lập “Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới” WIPO có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định, hiệp ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh pháp luật và quản lý sở hữu trí tuệ Việt Nam là thành viên của WIPO từ ngày 02/7/1976
- Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp: Công ước Paris được
ký kết ngày 20/3/1883 với mục đích chủ yếu là nhằm xây dựng các điều kiện
có lợi cho việc đăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá của công dân các nước thành viên công ước Đồng thời xây dựng một
số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại các nước thành viên trên nguyên tắc tôn trọng luật sở hữu công nghiệp của các nước
Trang 23thành viên Việt Nam là thành viên của công ước từ năm 1949
- Công ước Bern 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật Công ước Bern được ký kết năm 1886 là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên
và là điều ước quốc tế quan trọng nhất về bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật Mục đích của công ước là nhằm bảo hộ một cách có hiệu quả và thống nhất trên phạm vi quốc tế quyền của tác giả Việt Nam là thành viên của công ước từ ngày 26/10/2004
- Công ước Geneva về bảo hộ người sản xuất bản ghi âm chống sự sao
chép trái phép; Công ước Geneva được ký kết vào năm 1971 Việt Nam là thành viên của công ước ngày 26/7/2005
- Thoả ước Madrit về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá 1891 Đây là
điều ước đặc biệt được ký kết ngày 14/4/1891 trong khuôn khổ công ước Paris Mục đích của thoả ước Madrit là tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký bảo
hộ nhãn hiệu hàng hoá tại các nước thành viên Việt Nam là thành viên chính thức vào năm 1949
- Nghi định thư liên quan đến thoả ước Madrit: Nghi định thư liên quan
đến thoả ước Madrit về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá được ký kết vào năm 1989 Thoả ước Madrit về nghị định thư liên quan đến thoả ước Madrit đã tạo nên hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá Hệ thống này thực sự mang lại lợi ích cho cả người nộp đơn và quốc gia thành viên Việt Nam tham gia nghị định này từ ngày 11/7/2006
- Hiệp ước hợp tác sáng chế Patent (Hiệp ước PCT): Hiệp ước PCT được
ký kết ngày 19/6/1970 và có hiệu lực vào năm 1978 nhằm mục đích đơn giản hoá, tiết kiệm thời gian và nhân lực đối với việc đăng ký bảo hộ các sáng chế
có nhu cầu bảo hộ tại nhiều nước Việt Nam là thành viên chính thức vào ngày 10/3/1993
- Ngoài ra, Việt Nam cũng đã ký kết hiệp định song phương về bảo hộ
sở hữu trí tuệ với Hoa Kỳ và Thụy Sỹ Việt Nam là thành viên chính thức của
Trang 24tổ chức thương mại thế giới (WTO) và tham gia hiệp định về những vẫn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs) từ năm
2007
Đối với thị trường trong nước, ngay những năm sau khi xoá bỏ nền kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp, tại nghị quyết số 12/NQ-TW ngày 03/01/1996
của Bộ Chính trị nêu rõ “Đặt sự lưu thông hàng hoá và hoạt động của doanh
nghiệp dưới sự quản lý của nhà nước; khuyến khích phát huy mặt tích cực, đồng thời có biện pháp hạn chế các mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường”
Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ IX cũng khẳng định “Hình thành đồng thời các loại thị
trường đi đôi với xây dựng khuôn khổ pháp lý cần thiết để thị trường hoạt động
có hiệu quả, có kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, hạn chế và kiểm soát được độc quyền kinh doanh Có giải pháp hữu hiệu chống buôn lậu”
Công điện khẩn của Thủ tướng Chính phủ số 1254 ngày 14/2/2002 yêu
cầu các Bộ, Ngành và địa phương trong cả nước: “Phải coi đấy là nhiệm vụ
trọng tâm cấp bách và phải chỉ đạo thực hiện thường xuyên không chỉ làm kiểu chiến dịch từng đợt” Nơi nào, địa phương nào tình hình buôn lậu không giảm thì chủ tịch UBND, thủ trưởng đơn vị lực lượng phụ trách địa bàn đó phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ Đối với các Bộ, Ngành được giao làm nhiệm vụ PCBL&GLTM: Phải đặc biệt chú trọng tăng cường thanh tra, kiểm tra làm trong sạch đội ngũ làm nhiệm vụ
Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước ta cũng xác định QLNN về PCBL&GLTM
là cuộc chiến lâu dài, khó khăn phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết, kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước Xuất phát từ mục đích và động cơ chiếm đoạt lợi nhuận, các đối tượng vi phạm không
từ bất cứ một thủ đoạn nào nhằm che dấu hành vi vi phạm, thậm chí sử dụng các thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ lôi kéo hoặc đe doạ, sử dụng vũ lực để thực hiện Để tăng cường QLNN về PCBL&GLTM, yêu cầu đặt ra là phải kiên trì,
Trang 25kiên quyết, sử dụng đồng bộ các biện pháp trên cơ sở phát huy sức mạnh của
hệ thống chính trị, của nước ta Tại Nghị quyết số 12/TW của Bộ Chính trị đã
vạch rõ “Sử dụng các biện pháp đồng bộ, kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi tệ
nạn này” Chỉ thị số 853/CT-TTg ngày 11/10/1997 của Thủ tướng Chính phủ
cũng khẳng định rõ quan điểm của Nhà nước ta: “Xử lý nghiêm minh các vụ
buôn lậu và gian lận thương mại Điều tra, kết luận và xử lý ngay một số vụ buôn lậu điển hình để răn đe và giáo dục quần chúng” Lực lượng QLTT là
nòng cốt trong PCBL&GLTM, có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng khác để tham mưu tích cực cho các cấp uỷ Đảng, cơ quan trong cuộc đấu tranh đầy cam go này
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) đã xác định một trong những
chính sách lớn về kinh tế - xã hội “Thiết lập trật tự mới, xã hội chủ nghĩa, trên
mặt trận phân phối, lưu thông, để góp phần ổn định đời sống, đẩy mạnh sản xuất, chuyển tốt tình hình kinh tế và xã hội…” Và một trong những mục tiêu quan trọng của QLTT trong thời gian này là: “loại trừ bọn đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép Kiểm soát chặt chẽ hàng xuất khẩu qua biên giới” (Trích trong Nghị quyết số 198-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về tăng cường thương nghiệp xã hội chủ nghĩa và QLTT, ngày 23/11/1982)
Để thực hiện nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ V đã đề ra
và để ngăn chặn các hành vi vị phạm chính sách QLTT, góp phần đẩy mạnh sản xuất, ổn định vật giá và đảm bảo đời sống nhân dân, Hội đồng Nhà nước
đã đưa ra Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả sẽ bị phát tù từ 6 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân và bị phạt tiền từ năm nghìn đồng đến một triệu đồng, bị tịch thu tài sản
Điều đó giúp cho ta có thể khẳng định rằng, ngay từ những năm 80 của thế kỷ
20, khi Việt Nam đang trong giai đoạn phục hồi và xây dựng đất nước sau một thời gian dài chiến tranh đầy khó khăn và gian khổ, thì công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng lậu và gian lận thương mại đã được Đảng
Trang 26và Nhà nước quan tâm Vì nó ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế Muốn ổn định đời sống nhân dân và phát triển kinh tế xã hội thì phải đấu tranh mạnh mẽ đối với những hành vi tiêu cực này
Kể từ đó đến nay, trong đường lối chỉ đạo về phát triển kinh tế của Đảng
ta vẫn luôn rất quan tâm đến công tác này, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng VI (1986), khi Đảng và Nhà nước đề ra đường lối đổi mới toàn diện về kinh tế -
xã hội: Xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế là một đặc trưng của thời kỳ quá độ Đường lối đổi mới kinh tế ấy của Đảng đã đưa Việt Nam bước sang một giai đoạn hoàn toàn mới Toàn Đảng, toàn dân cùng nhau thực hiện công cuộc đổi mới Đất nước Việt Nam đã từng bước thoát khỏi đói nghèo, nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn định, thương mại nước ta ngày càng phát triển, thị trường sôi động, hàng hóa dồi dào, phong phú và đa dạng, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng trong nước và mở rộng xuất khẩu Tuy nhiên, cùng song hành với sự phát triển của nền kinh tế mở cửa là các mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, trong đó có hoạt động BL&GLTM diễn
mà là vấn đề mang tính toàn cầu
Đứng trước tình hình đó, để đảm bảo cho thị trường Việt Nam phát triển
ổn định, lành mạnh, để tăng cường sự quản lý của Nhà nước về các hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại, Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện rõ quan điểm,
Trang 27sự quan tâm và chỉ đạo sát sao, được thể chế hoá qua việc thường xuyên ban hành, thay thế, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục đối với các đối tượng vi phạm Cụ thể như sau:
- Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế tại Chương XVI liên quan đến chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại Cụ thể tại điều 131, 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 171…
- Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005
- Bộ luật Thương mại 2005: Cụ thể tại các điều 8, 9, 14, 24, 32, 33, 34,
39, 46, 109, 134, 181, 287, 289, 320, 321, 322
- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009
- Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010
- Luật an toàn thực phẩm năm 2010
- Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006
- Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 2007
- Luật giá năm 2012
- Luật doanh nghiệp năm 2005
- Luật thương mại năm 2005
- Luật cạnh tranh năm 2004
- Luật đo lường năm 2011
- Các nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các luật nói trên
- Các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các
lĩnh vực QLNN có liên quan đến chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại
Trang 28- Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2012 về những giải
pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012
- Quy định số 389/2014/QĐ-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2014 của Thủ
tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại
- Pháp lệnh: (i) Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng
giả, kinh doanh trái phép ngày 30 tháng 6 năm 1982; (ii) Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28 tháng 1 năm 1989 (iii) Pháp lệnh xử phạt
vi phạm hành chính ngày 30 tháng 11 năm 1989; (iv) Pháp lệnh chất lượng hàng hoá ngày 27 tháng 12 năm 1990; (v) Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả ngày
10 tháng 12 năm 1994; (vi) Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 6 tháng
7 năm 1996; (vii) Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 27 tháng 4 năm 1999; (viii) Pháp lệnh chất lượng hàng hoá ngày 24 tháng 12 năm 1999; (ix) Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 2 tháng 7 năm 2002
Từ những quan điểm, căn cứ pháp lý ở trong nước và trên thế giới, có
thể khái niệm QLNN về PCBL&GLTM là: “QLNN về PCBL&GLTM là hoạt
động của cơ quan QLNN các cấp và các cơ quan chức năng thực thi pháp luật như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, lực lượng Công an, lực lượng QLTT, cơ quan thuế, phòng, chống lại tình trạng các tổ chức hay cá nhân buôn lậu, vận chuyển trái phép sản phẩm, hàng hóa không rõ nguồn gốc, từ nước ngoài vào các tỉnh biên giới Việt Nam để chuyển sâu vào nội địa tiêu thụ hoặc gian lận thương mại nội địa”
Trang 291.1.2.2 Những công cụ pháp lý trong QLNN về PCBL&GLTM
Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, trực tiếp nhất là các văn bản sau:
- Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ sửa đổi
bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2014 của Chính phủ;
- Căn cứ Luật Thú y ngày 19 tháng 6 năm 2015;
- Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y (viết tắt là Nghị định số 90/2017/NĐ-CP);
- Luật An toàn thực phẩm ngày 17/6/2010 và các văn bản hướng dẫn của Luật An toàn thực phẩm;
- Quyết định số 2088/QĐ-TTg ngày 27/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phòng ngừa, ngăn chặn buôn lậu, vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập khẩu trái phép;
- Quyết định số 550 ngày 4/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án truyền thông về phòng ngừa, ngăn chặn vận chuyển, kinh doanh gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập khẩu trái phép và vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 19/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Ban chỉ đạo Quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại
và hàng giả
1.1.3 Nội dung của QLNN về PCBL&GLTM
Trang 30QLNN về PCBL&GLTM là nhiệm vụ quan trọng được sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, các Bộ, Ngành trung ương, cấp uỷ và chính quyền địa phương Cho đến nay, cơ cấu tổ chức, phân công các lực lượng đã được từng bước hợp lý hoá, có sự phân công, phối hợp giữa các lực lượng, tạo nên thế trận liên hoàn và sâu rộng
Một là, ban hành các quy định của nhà nước về PCBL&GLTM từ Trung
ương đến địa phương
QLNN về PCBL&GLTM ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong công tác QLTT, chống buôn lậu và các hành vi kinh doanh trái phép kèm theo Quyết định số 96/TTg ngày 18 tháng 02 năm 1995 và được thay thế bởi Quyết định số 65/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 2010 Chị thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 1999 về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả Đặc biệt, ngày 27 tháng 8 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 127/2001/QĐ-TTg về việc thành lập Ban chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại được sửa đổi thay thế bằng Quyết định 389/2014/QĐ-TTg ngày 19 tháng
3 năm 2014 (Ban chỉ đạo 389) Trong đó Phó thủ tướng chính phủ làm trưởng ban, phó trưởng ban thường trực là Bộ trưởng Bộ tài chính; các phó trưởng ban gồm Bộ trưởng Bộ công thương, Thứ trưởng Bộ công an, Thứ trưởng Bộ quốc phòng
Hai là, phân cấp, phân quyền cho các cơ quan QLNN từ Trung ương đến
địa phương để thực hiện hoạt động QLNN về PCBL&GLTM
Theo đó, Thủ tướng chính phủ đã quy định và giao trách nhiệm cho các
Bộ, các ngành có chức năng đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại như sau:
- Bộ Công thương: Chủ trì, phối hợp cùng các Bộ Công an, Bộ Khoa học
và Công nghệ, Uỷ ban nhân dân địa phương tổ chức kiểm tra, xử lý nghiêm các
tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng lậu, có các hành vi gian lận
Trang 31thương mại, có hại đến sức khoẻ và an toàn tính mạng của người tiêu dùng, ảnh hưởng xấy đến môi sinh, môi trường, sản xuất và buôn bán hàng giả vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
- Bộ Công an: Chỉ đạo lực lượng công an các cấp tập trung điều tra, khám phá các đường dây, các ổ nhóm, đặc biệt là các loại hàng có tác hại lớn đến an ninh và trật tự xã hội như: Giấy tờ, hoá đơn, tem, tiền và các ấn phẩm giả có giá trị như tiền
- Bộ Khoa học và Công nghệ: Chủ trì cùng các Bộ, ngành liên quan kịp thời công bố danh mục hàng hoá Nhà nước quản lý chất lượng, gắn công tác bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp với việc quản lý chất lượng hàng hoá Đồng thời chịu trách nhiệm chính trong việc kiểm nghiệm, xác định hàng giả và ban hành quy trình tiêu huỷ hàng giả, độc hại có liên quan đến môi sinh, môi trường
- Bộ Y tế: Chủ trì cùng với Bộ công an, Bộ Công thương và các Bộ ngành liên quan trong công tác kiểm tra, kiểm soát chống sản xuất và buôn bán, gian lận trong lĩnh vực y tế, dược phẩm, dược liệu, vệ sinh an toàn thực phẩm
- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: Chủ trì cùng Tổng cục thuỷ sản, Bộ công an, Bộ công thương và các Bộ, ngành liên quan tổ chức kiểm tra, kiểm soát chống sản xuất, buôn bán, gian lận trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp: phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, cây giống, con giống, thức ăn gia súc Đồng thời làm đầu mối thu gom các loại thuốc thú y, thuốc bảo
vệ thực vật giả và ngoài danh mục được phép sử dụng để tiêu huỷ theo quy định
- Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch và Bộ Thông tin truyền thông: Chủ trì với sự tham gia của Bộ công an, Bộ công thương và các bộ, ngành liên quan tổ chức kiểm tra chống sản xuất, buôn bán các loại ấn phẩm giả và sản phẩm văn hoá giả khác Đồng thời chỉ đạo cac cơ quan truyền thông tăng thời lượng thông
Trang 32tin cho việc giáo dục pháp luật, phổ biến kiến thức liên quan đến việc phòng, chống hàng giả, hàng lậu
- Tổng cục hải quan và bộ đội biên phòng: Tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc vận chuyển, buôn bán qua biên giới các loại hàng giả, hàng lậu
- Chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp: Có kế hoạch cụ thể chỉ đạo các cơ quan chức năng (QLTT, hải quan, công an…) ở địa phương trong việc phát hiện, điều tra,xử lý các hành vi sản xuất, buôn bán, gian lận trong thương mại Đồng thời tổ chức phối hợp các lực lượng trong các chiến dịch kiểm tra, truy quét trên địa bàn
Ba là, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện PCBL&GLTM từ các cập
các ngành, kế hoạch hàng năm và cả giai đoạn Tiếp nhận, quản lý, xử lý hiệu quả thông tin đường dây nóng của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, các Bộ, ngành, địa phương; duy trì làm tốt các hoạt động thông tin, tuyên truyền, tham mưu, hướng dẫn thực hiện công tác thi đua, khen thưởng
Bốn là, thanh tra, kiểm tra hoạt động PCBL&GLTM Tổ chức tổng kết
đánh giá và đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN về PCBL&GLTM Thực hiện các hình thức xử lý vi phạm trong BL&GLTM Hiện nay trong các quy phạm pháp luật của Việt Nam có quy định rõ ràng về các biện pháp xử lý đối với những đối tượng BL&GLTM gồm:
- Cảnh cáo;
- Xử phạt hành chính: Các biện pháp xử phạt hành chính đối với các đối
tượng vi phạm được quy định rất rõ tại Nghị định của Chính phủ;
- Xử lý hành chính: Các đối tượng thực hiện sản xuất, buôn bán có yếu
tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp Luật hình sự Việt Nam
Như vây, QLNN về PCBL&GLTM được Đảng và Nhà nước rất coi
trọng Hoạt động này được xem là nhiệm vụ của tất cả các bộ, các ngành và uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước Ngoài các cơ quan Nhà nước
Trang 33trên còn có sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội như: Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Các hiệp hội Doanh nghiệp, Hiệp hội chống hàng giả và bảo vệ thương hiệu Việt Nam…Từ đó, khẳng định rằng hoạt động PCBL&GLTM ở Việt Nam được toàn Đảng, toàn dân quan tâm Nhà nước và nhân dân Việt Nam rất kiên quyết trong PCBL&GLTM để xây dựng một thị trường Việt Nam lành mạnh, phát triển ổn định
1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về PCBL&GLTM
1.1.4.1 Những yếu tố khách quan
Một là, vị trí địa lý: Việt Nam có biên giới đường bộ và đường biển khá
dài (với trên 4.600 km đường bộ và trên 3.400 km đường biển) Biên giới đường
bộ núi liền núi, sông liền sông, có nhiều cửa khẩu quốc tế, quốc gia, chưa kể đường mòn, lối mở, nhất là biên giới phía Tây Nam, vào mùa nước nổi đồng nước mênh mông, rất thuận tiện cho việc qua lại Nước ta lại sát với Trung Quốc, quốc gia có nền sản xuất hàng hóa khá phát triển, được mệnh danh là
“công xưởng của thế giới”, lại gần khu vực ngã ba biên giới Lào - Thái Lan - My-an-ma (được gọi là “tam giác vàng”) Những đặc điểm địa lý đó rất thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán, nhưng cũng thuận lợi cho việc vận chuyển hàng lậu, gây khó khăn cho PCBL&GLTM
Hai là, yếu tố nguồn gốc, có tính truyền thống, thói quen: BL&GLTM ở
nước ta đã xuất hiện từ nhiều năm nay và đặc biệt phát triển sau khi nước ta mở cửa thị trường, tăng cường hội nhập với diễn biến ngày càng phức tạp trên tất
cả các tuyến, bằng nhiều hình thức khác nhau
Trên tuyến đường bộ, các đối tượng buôn lậu gọi là “đầu nậu” thường giấu mặt lợi dụng cư dân biên giới và “cửu vạn” (là những người dân từ các tỉnh khác lên biên giới làm ăn) để vận chuyển hàng lậu, theo nhiều kiểu khác nhau
Ba là, việc mở cửa thị trường: Trong khi luật pháp của Việt Nam chưa
hoàn chỉnh, chưa thiết lập được đầy đủ hệ thống rào cản kỹ thuật trong thương mại, một số doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam, doanh nghiệp liên
Trang 34doanh với nước ngoài, khai thác các kẽ hở của hệ thống pháp luật, tìm cách
“tuồn” những hàng thừa ế, không còn được phép lưu hành tại nước đó vào thị trường nước ta để tiêu thụ Ngoài ra, những loại vi phạm khác, như đưa hàng giả, hàng nhái, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ, giả mạo nguồn gốc xuất xứ được sản xuất
từ nước ngoài; gia súc, gia cầm và các sản phẩm từ gia súc, gia cầm không rõ nguồn gốc mà các đối tượng buôn lậu đã tìm mọi cách thẩm lậu từ nước ngoài vào nước ta bằng nhiều hình thức khác nhau cũng có xu hướng ngày càng nhiều hơn
Bốn là, yếu tố điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý của các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam: Có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài, nhiều rừng rậm
và đường mòn, lối mòn gây khó khăn trở ngại lớn cho các hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại hàng hóa từ Trung Quốc vào Việt Nam Đây là yếu tố gây tác động tiêu cực không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả của các hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại đang diễn ra mạnh mẽ trên địa bàn các tỉnh này
xã hội của các tỉnh biên giới phía Bắc, đảm bảo cho người dân nơi đây có đủ việc làm, thu nhập và an sinh xã hội, có đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh, trình
độ dân trí ngày càng được cải thiện Đồng thời Đảng và Nhà nước có quyết tâm chính trị cao trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại hàng hóa từ Trung Quốc vào Việt Nam thì tạo được ảnh hưởng tích cực to lớn đối với hiệu lực, hiệu quả của các hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại diễn ra trên địa
Trang 35bàn các tỉnh này Chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước đối với các tỉnh biên giới có những bất cập, không sát với yêu cầu thực tiễn, thiếu đồng bộ và tính khả thi thấp, lại không kịp thời bổ sung, chỉnh sửa, hoàn thiện Đồng thời Đảng và Nhà nước thiếu quyết tâm chính trị cao trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại đang diễn ra trên địa bàn các tỉnh này thì gây tác động tiêu cực không nhỏ đối với hiệu lực, hiệu quả của các hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại nên không thể đạt tới mục tiêu đã hoạch định
Ba là, sự quyết tâm vào cuộc chống buôn lậu, gian lận thương mại của cả
hệ thống chính trị, sự phối hợp đồng bộ trong triển khai hiện chống buôn lậu của các cơ quan chức năng và sự ủng hộ của nhân dân trên địa bàn
Bốn là, xu thế phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, ngoài những thành
tựu đáng ghi nhận về sự tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, cản trở phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế đất nước Một trong những nguyên nhân tác động tiêu cực đến nền sản xuất trong nước và ảnh hưởng đến thương mại quốc tế của Việt Nam là sự tồn tại và gia tăng tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại
Năm là, yếu tố về đặc thù của các mặt hàng: Buôn lậu và gian lận thương
mại được coi là một trong những nguyên nhân chính gây hại nghiêm trọng đến nền kinh tế của một quốc gia Nó làm suy yếu các ngành công nghiệp, nền sản xuất địa phương, không khuyến khích hàng hóa nhập khẩu hợp pháp và giảm nguồn thu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, một thực tế đang xảy ra ở phần lớn các nước đang phát triển là tồn tại một nền kinh tế ngầm song hành với các hoạt động kinh tế chính thức Và thực sự điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự quản
lý vĩ mô của Nhà nước, gây cản trở và làm lệch hướng đối với chiến lược phát triển các ngành sản xuất trong nước
1.2 Cơ sở thực tiễn của QLNN về PCBL&GLTM
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Trang 361.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Để chống buôn lậu có hiệu quả, trong đợt cải tổ do Thủ tướng Chu Dung
Cơ khởi xướng, Trung Quốc đã sắp xếp lại cơ cấu tổ chức bộ máy Trước hết, QLTT là cơ quan trực thuộc Quốc Vụ viện này được nâng lên thành cơ quan cấp Bộ để phù hợp với nhiệm vụ công tác trong tình hình mới
Tại cửa khẩu Chính phủ đã hợp nhất ba lực lượng: Kiểm dịch hàng hoá, kiểm dịch động thực vật, kiểm tra vệ sinh dịch tễ thành một lực lượng trực thuộc ngành QLTT
Tổ chức chống buôn lậu trước đây do văn phòng hỗn hợp chống buôn lậu ở biên giới đảm nhiệm nay giao toàn bộ cho ngành QLTT phụ trách
Thành lập lực lượng cảnh sát chống buôn lậu thuộc lực lượng QLTT chuyên trách làm nhiệm vụ chống buôn lậu Lực lượng này có toàn quyền điều tra, bắt giữ, xử lý, lập hồ sơ…Tất cả hàng hoá và người phạm tội buôn lậu bất
cứ ngành nào kể cả vụ việc do Công an bắt giữ đều phải bàn giao cho đội chống buôn lậu của cơ quan lý thị trường Khi đối tượng có đủ yếu tố cấu thành tội buôn lậu, đội chống buôn lậu của cơ quan QLTT chuyển cho viện kiểm sát khởi tố Chính phủ nghiêm cấm các ngành, các cấp và mọi cá nhân can thiệp vào công tác của các cơ quan xử lý buôn lậu Đặc biệt, Trung Quốc
đã thành lập “đường dây nóng” để tiếp nhận mọi thông tin liên quan đến buôn lậu
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Pháp
Mô hình tổ chức thị trường Pháp trực thuộc Bộ Kinh tế và tài chính, được phân bổ từ cơ quan Trung ương (Cục QLTT) đến tất cả các vùng lãnh thổ
QLTT Pháp được huấn luyện tốt nhất ở tất cả các lĩnh vực như sử dụng chó nghiệp vụ, chạy xe máy, lái tàu thuỷ, lái máy bay…Trong quá trình phát triển QLTT Pháp đã cải tiến nhiều thủ tục như kiểm soát tại kho doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp thoả thuận trước với cơ quan QLTT, các doanh nghiệp được khai tờ khai và được cung cấp thông tin qua hệ thống cơ sở dữ liệu nhất định của cơ quan QLTT Pháp
Trang 37QLTT Pháp được ưu tiên trang bị các thiết bị chuyên dùng hiện đại như
ô tô, tàu tuần tiễu, trực thăng chuyên dùng: Đặc biệt là kỹ thuật kiểm tra tàu biển của QLTT Pháp được đánh giá tốt nhất
Việc kiểm tra thực tế hàng hoá chỉ chiếm khoảng 5% những việc thông tin tình hình cho nhau giữa QLTT các nước trong khối EU được chú trọng và được quy định thống nhất Thông qua các cơ sở dữ liệu QLTT phát hiện ra những trường hợp làm hàng giả, buôn lậu Khi phát hiện QLTT sẽ kiểm tra lại toàn bộ quá trình của doanh nghiệp Tại doanh nghiệp QLTT yêu cầu xuất trình hoá đơn, chứng từ vận tải và các chứng từ có liên quan Khi phát hiện và bắt quả tang đối tượng vi phạm thì QLTT cùng với cảnh sát sẽ kiểm tra trực tiếp tại cơ sở sản xuất mà không cần xin phép Bộ Tư pháp Khi không phát hiện vi phạm nhưng
có nghi vấn thì phải xin phép thẩm phán mới được kiểm tra
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan
Do nằm trong khu vực “Tam giác vàng”, vấn đề chống buôn lậu mà chủ yếu là ma tuý được Nhà nước Thái Lan đặc biệt chú trọng Thái Lan đã thành lập Văn phòng Uỷ ban kiểm soát ma tuý quốc gia (ONCB) với nhiều ngành tham gia như Bộ Nội vụ, Hải quan, Biên phòng và Cảnh sát Hoàng gia do Thủ tướng làm chủ tịch Trong Văn phòng ONCB có một số Cục thực hiện chức năng thi hành Pháp luật hoặc cao hơn chức năng của cảnh sát ở một số lĩnh vực như bắt, khám xét, thu giữ và tịch biên tài sản có từ nguồn buôn lậu ma tuý Đặc biệt, Thái Lan có trung tâm xử lý thông tin tội phạm ma tuý QLTT và lực lượng kiểm soát ma tuý luôn thông báo kịp thời và nhận thông tin, cập nhật thông tin để xử lý Thái Lan coi trọng công tác phối hợp giữa ONCB với cảnh sát, hải quan và biên phòng để truy bắt và xử lý các hành vi buôn lậu Tại cửa khẩu QLTT Thái Lan đã sử dụng lực lượng trinh sát hoá trang theo dõi tâm lý hành khách xuất nhập cảnh, sử dụng máy Xquang, cho nghiệp vụ… đặc biệt là
sử dụng trang thiết bị kỹ thuật hiện đại và vấn đề phối hợp giữa các lực lượng được coi trọng để theo dõi hoạt động buôn lậu
1.2.2 Kinh nghiệm trong nước
Trang 381.2.2.1 Kinh nghiệm của Việt Nam
Lịch sử hành thành Nhà nước phong kiến Việt Nam gắn liền với yêu cầu trị thuỷ và chống ngoại xâm, tuy nhiên các chế độ phong kiến đương thời đã nhìn thấy và luôn chú trọng đề ra chính sách, điều chỉnh các vấn đề xã hội, trong đó có quan hệ giao lưu, trao đổi hàng hoá thông thương với các quốc gia trên thế giới lúc bấy giờ Và có lúc phát triển rực rỡ như thời Lý – Trần, sau một thời gian bị đình đốn cho đến thế kỷ XVII – XVIII bắt đầu phát triển trở lại, quan hệ buôn bán được mở mang, hàng hoá lưu thông khắp nơi đã hình thành những trung tâm buôn bán nổi tiếng thời đó như Phố Hiến, Kẻ Chợ ở Đàng Ngoài, Hội An ở Đàng Trong
Đáng lưu ý là từ đầu thế kỷ 17 cả Đàng Ngoài và Đàng Trong, Nhà nước phong kiến thi hành chính sách “mở cửa” về ngoại thương mới mục đích để phát triển về quân sự và kinh tế Cùng với chính sách “mở cửa” này là buôn lậu hàng hoá, buôn hàng quốc cấm, hàng giả bắt đầu xuất hiện Và để ngăn chặn
có hiệu quả, bảo vệ vương quyền, Nhà nước phong kiến đã đề ra những chính sách quy định chặt chẽ với các hình thức như:
- Các triều đại phong kiến luôn quan tâm xây dựng tổ chức bộ máy thu thuế, chống buôn lậu
- Nhà nước phong kiến căn cứ vào tình hình kinh tế, xã hội của đất nước
để điều chỉnh, đề ra chính sách phù hợp, quản lý những mặt hàng là tài sản quốc gia, trọng yếu, phục vụ quốc tế dân sinh, nghiêm cấm buôn bán và xử lý nặng (chém) đối với những người vi phạm
- Chống các hành vi buôn lậu, hàng giả luôn gắn với việc phát triển kinh
tế, đồng thời bảo vệ sản phẩm hàng hoá trong nước
- Một trong những chính sách quan trọng của các triều đại phong kiến Việt Nam là song song với việc mở mang, bàn giao kinh tế nhưng vẫn đảm bảo tuyệt đối nên độc lập và toàn vẹn lãnh thổ
Trang 39Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế làm cho hoạt động buôn lậu càng tinh vi và diễn biến phức tạp hơn so với xã hội phong kiến trước kia Tìm hiểu, vận dụng những kinh nghiệm PCBL&GLTM của cha ông ta xưa kia thật sự là một bài học lịch sử bổ ích và đáng trân trọng Những kinh nghiệm đó ngày nay vẫn còn giá trị trong việc nghiên cứu để đề ra các giải pháp tăng cường QLNN về PCBL&GLTM trong tình hình mới
1.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Lạng Sơn
Theo báo cáo của các lực lượng chức năng như Hải quan, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn, nhờ sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và nỗ lực của chính quyền địa phương, lực lượng liên ngành nên đến nay tình trạng buôn lậu hàng hóa trên địa bàn đã bước đầu được ngăn chặn, kiểm soát; nhiều vụ nhập lậu thực phẩm, hàng hóa kém chất lượng, đặc biệt là các mặt hàng cấm như pháo,
ma túy… đã được ngăn chặn, bắt giữ kịp thời
Nhiều mô hình về chống buôn lậu đã được thực hiện và có hiệu quả như mô hình lập chốt, lán trại dã chiến, xây dựng hàng rào thép gai, làm tường bê tông cốt thép… ở các đường mòn, lối mở dọc khu vực biên giới do các đối tượng buôn lậu và những người khai mở để vận chuyển hàng lậu Tuy nhiên, tình hình buôn lậu vẫn có chiều hướng gia tăng trở lại, nhất là vào dịp cuối năm, giáp Tết Nguyên đán khi nhu cầu hàng hóa, dịch vụ gia tăng
Với sự nỗ lực của chính quyền và các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đạt được về công tác ngăn chặn, đẩy lùi hàng lậu, hàng cấm
và gian lận thương mại Đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra, tuần tra bắt giữ và
xử lý các vụ vận chuyển, tàng trữ hàng lậu, hàng cấm ở tuyến nội địa, các cơ quan chức năng tại khu vực biên giới như Lạng Sơn cũng cần nỗ lực ngăn chặn, phòng ngừa từ xa Bên cạnh đẩy mạnh cải cách hành chính để giải quyết nhanh thủ tục về xuất nhập khẩu hàng hóa và tạo thuận lợi về xuất nhập cảnh, cần tăng
Trang 40cường công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại qua biên giới và cửa khẩu
Các lực lượng, cơ quan chức năng ở địa phương cần xử lý nghiêm minh các vụ việc, đối tượng buôn lậu, có hành vi gian lận thương mại, kể cả cán bộ, chiến sĩ vi phạm, tiếp tay cho gian lận thương mại và buôn lậu Thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ, giám sát cán bộ để đảm bảo cán bộ vững mạnh về nghiệp vụ và nâng cao chất lượng hoạt động Các lực lượng cũng cần giám sát lẫn nhau trong công tác chống buôn lậu Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh phối hợp thông tin và trao đổi với các cơ quan chức năng của nước bạn để góp phần ngăn chặn từ xa các hoạt động buôn lậu
Đi vào những mục tiêu cụ thể, tăng cường tập trung vào hoạt động chống nhập lậu các mặt hàng nóng trong dịp cuối năm nay như gia cầm lậu, thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh, pháo nổ và ma túy… cùng các loại hàng hóa như đồ gia dụng, đồ chơi trẻ em, quần áo, vải vóc…
1.2.2.3 Kinh nghiệm của tỉnh Cao Bằng
Ban Chỉ đạo 389 tỉnh Cao Bằng cho biết, do thị trường nội địa có nhiều biến động về giá đối với các mặt hàng sản xuất, tiêu dùng, tình hình BL-GLTM trên địa bàn tỉnh biên giới này tuy không còn "nóng" như những năm trước, song vẫn có chiều hướng gia tăng cả về quy mô và số lượng Ngoài các mặt hàng điện tử-tiêu dùng, thuốc lá nguyên liệu - vốn là những chủng loại mang tính "truyền thống" mà các đối tượng buôn lậu thường nhắm đến nổi lên hoạt động vận chuyển trái phép các mặt hàng gia dụng, thực phẩm, gia cầm và các sản phẩm từ gia cầm, đặc biệt là ma túy, pháo nổ…
So với các năm trước, thời gian gần đây, phương thức, thủ đoạn hoạt động BL-GLTM trên địa bàn không có nhiều thay đổi Tuy nhiên, do các mặt hàng tạp hóa, đồ gia dụng, đồ điện tử, quần áo, nguyên liệu nhập khẩu… luôn
có sức hấp dẫn với người mua vì giá rẻ, chênh lệch khá cao so với thị trường trong nước nên tình trạng một số doanh nghiệp lợi dụng hệ thống thông quan