Đóng góp chính của đề tài nghiên cứu Thông qua nghiên cứu của đề tài, trên cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục đào tạo,
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Trương Tuấn Linh
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn được tập hợp từ nhiều nguồn tài liệu và liên hệ thực tế, các thông tin trong luận văn là trung thực và đều có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn này
Phú Thọ, 20 tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Tạ Thị Phương Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn
và giúp đỡ tận tình của TS Trương Tuấn Linh, các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên cùng các đồng nghiệp tại Trường Đại học Công Nghiệp Việt Trì
Với tình cảm chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
- Ban Giám hiệu, Phòng quản lý Đào tạo Sau đại học, các giảng viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong khóa học và trong quá trình thực hiện Luận văn này
- Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trương Tuấn Linh,
là người Thầy hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo và cho tôi những lời khuyên sâu sắc giúp tôi hoàn thành Luận văn
- Ban giám hiệu, Cán bộ, giáo viên trường Đại học Công nghiệp Việt Trì đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình làm Luận văn
- Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp - những người luôn sát cánh động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, 20 tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Tạ Thị Phương Mai
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu 4
5 Đóng góp chính của đề tài nghiên cứu 7
6 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSN) 9
1.1.2 Công tác tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục 18
1.1.3 Nội dung công tác tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục 20
1.1.4 Nguyên tắc quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu 26
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực giáo dục 28
1.2 Cơ sở thực tiễn 31
1.2.1 Một số mô hình về tự chủ tài chính tại các trường ĐH trên thế giới 31
1.2.2 Kinh nghiệm về tự chủ tài chính của một số trường ĐH ở Việt Nam 33
Trang 61.2.3 Bài học đối với Đại học công nghiệp Việt Trì 35
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 37
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 39
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 39
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT TRÌ 43
3.1 Giới thiệu chung về Đại học Công nghiệp Việt Trì 43
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 43
3.1.2 Tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu phát triển 43
3.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, viên chức 44
3.2 Thực trạng công tác tự chủ tài chính của trường Đại học Công nghiệp Việt Trì 47
3.2.1 Sự hình thành cơ chế tự chủ tài chính tại trường ĐH Công nghiệp Việt Trì 47
3.2.2 Quy trình quản lý tài chính tại trường ĐH Công nghiệp Việt Trì 48
3.2.3 Thực trạng quản lý và khai thác nguồn thu 51
3.2.4 Thực trạng quản lý và sử dụng nguồn tài chính 59
3.2.5 Thực trạng phân phối kết quả tài chính trong năm 82
3.2.6 Thực trạng công tác kiểm tra kiểm soát hoạt động tài chính 83
3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tự chủ tài chính của trường Đại học Công nghiệp Việt Trì 84
3.3.1 Cơ chế chính sách của Nhà nước 84
3.3.2 Các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội 86
3.3.3 Tổ chức thực hiện công tác tài chính 86
3.3.4 Hệ thống kiểm tra, kiểm soát tài chính 91
3.3.5 Trình độ cán bộ quản lý 92
Trang 73.3.6 Cơ sở vật chất 93
3.3.7 Nhận thức của các bộ, viên chức và người lao động 94
3.4 Đánh giá chung công tác tự chủ tài chính của trường Đại học Công nghiệp Việt Trì 95
3.4.1 Những kết quả đạt được 95
3.4.2 Hạn chế, nguyên nhân 97
3.4.3 Phân tích SWOT công tác tự chủ tài chính của Nhà trường 100
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT TRÌ 106
4.1 Định hướng phát triển Đại học Công nghiệp Việt Trì và quan điểm tăng cường cơ chế tự chủ về tài chính của Đại học Công nghiệp Việt Trì 106
4.1.1 Định hướng phát triển của Đại học Công nghiệp Việt Trì 106
4.1.2 Quan điểm tăng cường cơ chế tự chủ về tài chính của Đại học Công nghiệp Việt Trì 106
4.2 Một số giải pháp xây dựng cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Việt Trì 107
4.2.1 Nâng cao nhận thức về vấn đề tự chủ tài chính 107
4.2.2 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tài chính và cán bộ quản lý tại các đơn vị 108
4.2.3 Tăng cường công tác khai thác và quản lý các nguồn thu 109
4.2.4 Tăng cường quản lý các khoản chi đạt hiệu quả 111
4.2.5 Tăng cường công tác quản lý tài sản 113
4.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ 114
4.3 Kiến nghị 115
KẾT LUẬN 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 124
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thống kê cán bộ, giảng viên đi làm NCS, học cao học 46
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp nguồn thu của ĐH Công nghiệp Việt Trìgiai đoạn 2015 - 2017 52
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp nguồn kinh phí, cơ cấunguồn kinh phí NSNN cấp giai đoạn 2015 - 2017 54
Bảng 3.4 Tổng hợp nguồn thu, cơ cấu thu từ hoạt động sự nghiệpgiai đoạn 2015 - 2017 57
Bảng 3.5 Quy mô đào tạo HSSV giai đoạn 2015 - 2017 59
Bảng 3.6 Bảng tổng hợp nội dung chi cơ cấu chi giai đoạn 2015 - 2017 62
Bảng 3.7 Cơ cấu chi từ nguồn NSNN cấp năm 2015- 2017 64
Bảng 3.8 Tình hình các mục chi GD-ĐT của Nhà trường giai đoạn 2015 - 2017 65
Bảng 3.9 Cơ cấu các khoản chi sự nghiệp và chi khác của Nhà trường 69
Bảng 3.10 Khảo sát về cơ chế chính sách của Nhà nước 85
Bảng 3.11 Đánh giá về tổ chức bộ máy quản lý tài chính 87
Bảng 3.12 Khảo sát về năng lực quản lý tài chính 88
Bảng 3.13 Đánh giá về quản lý và sử dụng nguồn thu 88
Bảng 3.14 Đánh giá về quản lý và sử dụng các khoản chi 90
Bảng 3.15 Đánh giá về công tác kiểm tra tài chính 91
Bảng 3.16 Khảo sát về trình độ cán bộ 93
Bảng 3.17 Khảo sát về cơ sở vật chất 94
Bảng 3.18 Phân tích ma trận SWOT 104
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của trường ĐH Công nghiệp Việt Trì 45
Sơ đồ 3.2 Quy trình quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu 49
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế nước ta đang tiếp tục quá trình chuyển sang nền “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”, các cải cách kinh tế đang diễn ra một cách sâu rộng và triệt để hơn nhằm tháo gỡ những cản trở về hành chính còn lại Điều này cũng tạo ra môi trường thuận lợi, tác động và tăng sức ép đối với cải cách quản lý giáo dục đại học trên các mặt chủ yếu: khoa học, tài chính, tổ chức và nhân sự Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, đào tạo của các trường đại học cũng chịu sự tác động của các quy luật trong cơ chế thị trường, đặc biệt là quy luật cung cầu, quy luật giá trị, Trường đại học đào tạo không chỉ đáp ứng nhu cầu nhân lực cho khu vực nhà nước mà phải đáp ứng nhu cầu mọi thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân và đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Để thực hiện mục tiêu đó trường đại học phải thực sự có quyền tự chủ trong mọi lĩnh vực
Trong bối cảnh Việt Nam, tự chủ Đại học được triển khai trên mọi bình diện, giao tự chủ cho các trường Đại học là cần thiết tạo điền kiện cho các trường chủ động trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản trị nhà trường Tự chủ đại học là điều kiện cần thiết để thực hiện các phương thức quản trị đại học tiên tiến, nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng đào tạo
“Tự chủ đại học” là khái niệm đã không còn xa lạ và là xu hướng tất yếu cho sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam hiện nay Trong đổi mới giáo dục đại học, xu thế chung là trao quyền tự chủ cho các trường đại học, mục đích là để các trường sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực, phản ứng tốt trước các tác động của thị trường luôn thay đổi và những yêu cầu mới của xã hội
Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ: "Thực hiện hợp
lý cơ chế tự chủ đối với cơ sở giáo dục, đào tạo gắn với đổi mới cơ chế tài
Trang 12chính" cho thấy vần đề đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ sở giáo dục, đào tạo là vấn đề bức thiết không kém gì vấn đề tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cơ sở giáo dục, đào tạo
Cơ chế tự chủ về tài chính là "nguồn năng lượng" để đổi mới diện mạo
và chất lượng của cơ sở giáo dục, đào tạo Thực tế là nhu cầu tài chính để hoạt động và phát triển của các cơ sở giáo dục, đào tạo luôn lớn hơn khả năng bao cấp tài chính của Nhà nước, do đó mới tạo ra cơ chế xin-cho trong giáo dục
và cơ chế này đã tạo ra không ít tiêu cực trong quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính cho giáo dục đào tạo Giao quyền tự chủ về tài chính cho cơ sở giáo dục, đào tạo sẽ làm cho cơ sở giáo dục đào tạo sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và
có trách nhiệm hơn nguồn lực tài chính của mình Nó cũng tạo ra sự năng động, sáng tạo trong việc tạo ra và sử dụng các nguồn tài chính Nhà trường
sẽ chủ động hơn trong cơ chế thu hút và đãi ngộ những giáo viên có chất lượng cao trong khi cơ chế tiền lương của Nhà nước hiện nay chưa thể đảm bảo sự phân phối cá biệt đến từng nhóm lao động nhỏ Với cơ chế tự chủ về tài chính, cơ sở giáo dục cũng sẽ có được sự chủ động cần thiết trong việc tái đầu tư cho phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
Trong bối cảnh đó, trường Đại học Công nghiệp Việt Trì trực thuộc Bộ Công Thương là một đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo Với sứ mệnh và mục tiêu của nhà trường, là một trường đại học
đa ngành, định hướng ứng dụng, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng, các dịch vụ giáo dục và sản phẩm khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Nhà trường đã thực hiện công tác tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ngày
25 tháng 4 năm 2016, đây là điều cần thiết cho sự phát triển của nhà trường và cũng là chủ trương định hướng của nhà nước trong giai đoạn hiện nay, tạo điền kiện cho các trường chủ động trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản trị nhà trường Hiện nay nhà trường tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý tài chính nhằm tăng cường tự chủ tài chính cho phù hợp với chủ
Trang 13chương định hướng của Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm
2015, đáp ứng yêu cầu của đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, tài trợ cho việc phát triển ý tưởng nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa mọi hoạt động của một trường Đại học làm cơ sở vững chắc cho cạnh tranh và hội nhập
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và những phân tích ở trên, tôi đã chọn đề
tài nghiên cứu: “Tăng cường tự chủ tài chính tại trường Đại học Công
và theo xu thế chung nhằm nâng cao vị thế của nhà trường, thúc đẩy sự phát triển của trường trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác tự chủ về tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Việt Trì để nâng cao công tác tự chủ tài chính
- Phân tích thái độ, hành vi của cán bộ viên chức nhà trường với định hướng tự chủ về tài chính
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Việt Trì
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về công tác tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Việt Trì
Trang 143.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng công tác tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Việt Trì, từ đó phân tích và tìm ra những giải pháp tăng cường tự chủ tài chính
- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi tại trường Đại học Công nghiệp Việt Trì
- Về thời gian: Nội dung các vấn đề nghiên cứu trong đề tài sử dụng số liệu được thu thập từ năm 2015 đến năm 2017
4 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu
4.1 Những nghiên cứu trong nước về tự chủ tài chính
4.1.1 Những nghiên cứu về tự chủ và tự chủ đại học
Có khá nhiều công trình nghiên cứu trong nước về tự chủ và tự chủ đại học như của tác giả: Nguyễn Anh Thái (2008), Nguyễn Ngọc Vũ (2012), Phùng Xuân Nhạ và các cộng sự (2012), Vũ Thị Thu Phương (2014)
Điểm giống nhau giữa các công trình này là đã khái quát được những lý luận và hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến quản lý tài chính và cơ chế chính sách liên quan đến tự chủ và tự chủ đại học Đồng thời cũng đã phân tích và tìm ra cách thức, các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ ở các trường đại học công lập trong đó có các vấn đề nổi cộm như quyền tự chủ trong tuyển sinh, mở ngành, xây dựng chương trình đào tạo, liên kết quốc tế quyết định mức lương và mức thu học phí
Điểm khác biệt giữa các công trình nằm ở đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, cách thức tiếp cận và xử lý các vấn đề nghiên cứu, chẳng hạn như:
Nghiên cứu của tiến sỹ Nguyễn Anh Thái [20] đã tập trung phân tích thực trạng quản lý tài chính của một số trường Đại học, với mục tiêu là đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dành cho các trường Đại học
Trang 15Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Vũ [21] thì xem xét một số vấn
đề đặt ra đối với việc thí điểm tự chủ tài chính ở các cơ sở giáo dục đại học
và từ đó tìm cách đề xuất điểu chỉnh việc tự chủ đại học cho phù hợp
Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Thu Phương [28] thì thiên về xem xét các lý luận, thuật ngữ về tự chủ đại học và tiến hành so sánh đánh giá nó với quy định của pháp luật Việt Nam Qua đó tác giả Vũ Thị Thu Phương đã chỉ
ra ba nội dung cơ bản của tự chủ đại học là: Tự chủ về thể chế; Tự chủ tài chính và Tự chủ hành chính
Nghiên cứu của tác giả Phùng Xuân Nhạ và các cộng sự [23,24], tập trung vào xem xét cứu chính sách học phí trong bối cảnh đổi mới cơ chế tài chính, hướng tới nền giáo dục tự chủ đại học Theo các tác giả, việc áp mức trần học phí theo quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ tại các trường được giao cơ chế tự chủ về tài chính là chưa hợp lý
4.1.2 Những nghiên cứu về tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Điểm giống nhau ở các nghiên cứu về tự chủ tài chính trong các đơn vị
sự nghiệp công lập là: Đều đã xem xét chủ thể nghiên cứu là các đơn vị sự nghiệp công lập, mang tính đặc thù; các công trình đều có giá trị lý luận và hệ thống lại những vấn đề trong quản lý tài chính và tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau từ đó có những đóng góp để giải quyết những vướng mắc nảy sinh trong hoạt động tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công
Điểm khác biệt giữa các công trình nghiên cứu về tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập là việc khai thác các nội dung cụ thể, tương đối hẹp của việc tự chủ tại các đơn vị Chẳng hạn như :
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Toàn [22], hướng vào việc tìm kiếm phương án đổi mới công tác quản lý tài chính, tài sản và đầu tư xây dựng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 16Tác giả Đỗ Văn Nhân [15], xem xét mảng quản lý tài chính ở trường Đại học Đà Nẵng
Tóm lại, kể từ khi nhà nước có chủ trương tiến hành tự chủ đại học và các đơn vị sự nghiệp công lập, thì đã có khá nhiều công trinh nghiên cứu trong nước xem xét về vấn đề này trên nhiều khía cạnh Tuy nhiên phần lớn các công trình mới dừng ở mức độ giải thích về mặt khái niệm học thuật của thuật ngữ tự chủ, đánh giá các bất cập trong triển khai một cách định tính và đưa ra các hướng dẫn thực hiện trong thời gian tới Theo thời gian các nghiên cứu sau có kế thừa các nghiên cứu trước và cập nhật các tình hình mới trên thực tiễn tại các trường đại học và các đơn vị sự nghiệp công lập; tuy nhiên vẫn không có nhiều điểm mới và các đột phá trong việc lượng hóa các kết quả, các yếu tố, điều kiện ảnh hưởng; trong việc xem xét các đơn vị có tính đặc thù (vừa giáo dục, vừa sự nghiệp.)
4.2 Những nghiên cứu ngoài nước về điều kiện thực hiện tự chủ tài chính
Điểm giống nhau từ các công trình nghiên cứu ngoài nước là hầu hết các nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính, tự chủ tài chính chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu chúng như một cách thức hay phương pháp quản lý tài chính tiến bộ phù hợp với xu thế tự chủ và cải cách giáo dục chứ chưa đi sâu vào nội hàm bản chất, đặc biệt là các điều kiện tự chủ tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công Cụ thể một số nghiên cứu như sau:
Frank Ziegle [16], Nghiên cứu đã chỉ ra những ưu điểm khi chính phủ Đức thực hiện giao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học theo đó ngân sách được chuyển toàn bộ một lần duy nhất trong năm giúp cho các trường đại học có thể chủ động về phân bổ các hoạt động tài chính khi biết chính xác ngân quỹ mình đang có Tác giả cũng chỉ ra rằng muốn việc tự chủ tài chính được thực hiện hiệu quả thì chính phủ phải bãi bỏ những quy định gây hạn chế quyền tự chủ của các trường đại học
Trang 17Nghiên cứu của Michael Mitsopoulos and Theodore Pelagidis [17]: So sánh tự chủ hành chính và tài chính của các tổ chức giáo dục đại học trong 7 nước EU (Bao gồm: Anh, Hy Lạp, Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ, Đức) Nghiên cứu chỉ ra bối cảnh thực hiện tự chủ tài chính của các nước EU cũng như mục đích tiến hành tự chủ tài chính và thực trạng tự chủ hành chính, tự chủ tài chính
Nghiên cứu của Selin Arslanhan và Yaprak Kurtsal [25] xem xét việc thiếu tự chủ tài chính ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả đổi mới của các trường Đại học tại Thổ Nhĩ Kỳ Hai ông đã xem xét mối quan hệ giữa tự chủ của các trường đại học và năng lực cạnh tranh của họ, qua đó lý giải hiệu quả đổi mới dựa trên các điều kiện như sau: (1) Sở hữu về cơ sở vật chất và các trang thiết bị; (2) Khả năng vay vốn; (3) Quyết định việc chi tiêu ngân sách theo các mục tiêu; (4) Quyết định khung chương trình học, cấu trúc và nội dung môn học; (5) Khả năng tuyển dụng và sa thải giảng viên; (6) Chủ động
về mức lương; (7) Tự quyết định về quy mô tuyển sinh ; (8) Tự quyết định mức học phí
5 Đóng góp chính của đề tài nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu của đề tài, trên cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục đào tạo,
từ đó đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Việt Trì, để có những định hướng cụ thể và các giải pháp tăng cường tự chủ tài chính cho trường Đại học Công nghiệp Việt Trì, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao uy tín, chất lượng đào tạo của trường
Kết quả của đề tài có thể làm cơ sở tài liệu tham khảo và được vận dụng tại các đơn vị có sự tương đồng Nghiên cứu của đề tài có sẽ làm cơ sở cho các nhà quản lý của trường trường Đại học Công nghiệp Việt Trì trong quá trình xây dựng cơ chế tự chủ
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kết cấu của luận văn gồm 4 chương:
Trang 18Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tự chủ tài chính đối với đơn vị
sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hoạt động tự chủ tài chính tại trường Đại học
Công nghiệp Việt Trì
Chương 4: Một số giải pháp tăng cường tự chủ tài chính tại trường
trường Đại học Công nghiệp Việt Trì
Trang 191.1.1 Khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSN)
1.1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập, và đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
ĐVSN là một loại hình đơn vị được nhà nước ra quyết định thành lập, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu kinh
tế xã hội do nhà nước giao trên lĩnh vực quản lý, thực hiện các hoạt động sự nghiệp Đó là đơn vị thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong các lĩnh vực, giáo dục đào tạo, văn hóa, thông tin, y tế, nghiên cứu khoa học,… không theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh
Đơn vị sự nghiệp là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động cung cấp dịch
vụ công cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng nó tác động trực tiếp tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội Những hoạt động sự nghiệp mang tính chất phục
vụ là chủ yếu và không nhằm mục tiêu lợi nhuận
Theo Luật Viên chức năm 2010, Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức quy định:
“Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật,
có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”
Đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Ngoài nguồn ngân sách từ Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp được Nhà nước
Trang 20cho phép thu một số loại phí, lệ phí, được tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ công chức, viên chức trong đơn vị mình
Đơn vị sự nghiệp trong giáo dục là các đơn vị, cơ quan hoạt động bằng nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước hoặc cấp trên cấp phát hoặc bằng nguồn kinh phí khác như hội phí, học phí, kinh phí được tài trợ, thu từ hoạt động dịch vụ để phục vụ các nhiệm vụ của Nhà nước, chủ yếu là các hoạt động giáo dục đào tạo cho nước nhà
1.1.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại ĐVSN Nghiên cứu sẽ tiến hành phân loại dựa vào các tiêu thức sau:
* Căn cứ vào cấp quản lý, ĐVSN được phân loại thành:
- ĐVSN ở Trung ương là những ĐVSN trực thuộc Chính phủ như TTXVN, Đài Phát thanh Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trường học, các nhà xuất bản quốc gia,…
- ĐVSN ở địa phương như đài phát thanh truyền hình ở địa phương, các bệnh viện, trường học, do địa phương quản lý,
* Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, ĐVSN bao gồm:
- ĐVSN giáo dục, đào tạo
- ĐVSN y tế (Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân)
- ĐVSN văn hóa, thông tin
- ĐVSN phát thanh, truyền hình
- ĐVSN dân số-trẻ em, kế hoạch hóa gia đình
- ĐVSN thể dục, thể thao
- ĐVSN khoa học công nghệ, môi trường
- ĐVSN kinh tế (Duy tu, sửa chữa đê điều, trạm trại, )
- Đơn vị sự nghiệp khác
* Căn cứ vào nguồn thu thì ĐVSN được chia thành hai loại:
Trang 21- Đơn vị sự nghiệp không có thu: Là đơn vị được Nhà nước cấp toàn bộ kinh phí để đảm bảo hoạt động của đơn vị và kinh phí được cấp theo nguyên tắc không hoàn lại trực tiếp
- ĐVSN có thu gồm hai loại:
+ ĐVSN có thu từ đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên:
Là đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp ổn định, bảo đảm được toàn
bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên cho đơn vị
+ ĐVSN có thu từ đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên:
Là đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải toàn
bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước phải cấp một phần chi phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị
1.1.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập
Hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập có những đặc trưng cơ bản sau:
- Hoạt động sự nghiệp có xu hướng cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ
có tính chất hàng hóa công cộng
- Hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp
- Hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội và ngân sách của nhà nước
- Sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp có tính ích lợi chung và lâu dài cho cộng đồng và toàn xã hội
1.1.1.4 Tính tất yếu khách quan thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị
Trang 22dân có thêm cơ hội lựa chọn, tiếp cận các dịch vụ công với chất lượng ngày càng cao, góp phần cải thiện từng bước thu nhập của người lao động tại các đơn vị sự nghiệp
Các đơn vị khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính đã chủ động sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN) giao hiệu quả hơn để thực hiện nhiệm vụ; đồng thời, chủ động sử dụng tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo điều kiện tăng nguồn thu
Các đơn vị đã xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ để tăng cường công tác quản lý trong nội bộ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy phát triển hoạt động sự nghiệp, khai thác nguồn thu, tăng thu, tiết kiệm chi, do vậy nhiều đơn vị đã tiết kiệm chi thường xuyên, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sự nghiệp Nhìn chung, kết quả thu sự nghiệp đều tăng, tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên đạt từ 70-80%
Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, nhiều đơn vị đã đổi mới phương thức hoạt động, tiết kiệm chi, thu nhập đã từng bước được nâng lên Nguồn thu sự nghiệp, cùng với nguồn kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên, đã góp phần bảo đảm bù đắp nhu cầu tiền lương tăng thêm cho cán bộ, nhân viên
Đơn vị sự nghiệp từng bước đã được tự chủ huy động vốn để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, tạo điều kiện mở rộng các hoạt động sự nghiệp và các hoạt động dịch vụ trong đơn vị
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thực thi Nghị định 43/2006/NĐ-CP, đến nay hoạt động của các ĐVSNCL trên thực tế đã phát sinh nhiều vấn đề chưa phù hợp với tinh thần của Nghị định Cụ thể như: Việc quản lý tài chính chưa được hiệu quả (việc lập và giao dự toán chưa sát với thực tế) Tại một số đơn
vị còn chưa xác định rõ cơ cấu nguồn thu và khả năng tự bảo đảm chi thường xuyên, để làm cơ sở xác định chính xác mức hỗ trợ của NSNN; cơ quan chủ quản chưa thẩm tra, đánh giá đầy đủ, nên đã xác định sai loại hình ĐVSN để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
Trang 23Một số đơn vị lập dự toán thu, chi NSNN vẫn mang tâm lý khi lập dự toán thu chưa phản ánh hết các nguồn thu, hoặc lập dự toán với số thu thấp hơn số thực thu năm trước, nội dung chi cao hơn để được tăng hỗ trợ từ NSNN, lập dự toán chi cao hơn số quyết toán các năm trước liền kề nhưng không có thuyết minh và lý giải về nguyên nhân tăng
Như vậy, thực chất đã đưa cả thu nhập tăng thêm, thậm chí là các khoản chi phúc lợi, lễ tết vào trong chi phí trước thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), điều này dẫn tới giảm số thuế TNDN phải nộp NSNN và không thể hạch toán được chênh lệch thu-chi, không có nguồn để trích quỹ theo đúng quy định Nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ những hạn chế sau:
- Các ĐVSN chưa được giao quyền tự chủ một cách đầy đủ; chưa thực
sự khuyến khích các đơn vị có điều kiện vươn lên tự chủ ở mức cao hơn, về các khoản thu và mức thu Chẳng hạn như đối với các ĐVSN giáo dục đào tạo nguồn thu chủ yếu là học phí, mức thu học phí vẫn theo khung học phí của Nhà nước nhưng còn thấp, chưa có khả năng bù đắp chi phí cho các hoạt động
sự nghiệp của đơn vị Bên cạnh đó, nguồn ngân sách cấp hỗ trợ lại không đủ
bù đắp chi phí
- Hệ thống các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật làm cơ sở để các ĐVSNCL thực hiện chưa đồng bộ, chậm sửa đổi Ví dụ như: Đối với các ĐVSN giáo dục định mức giờ giảng, định mức biên chế theo lĩnh vực, theo ngành, nghề, các định mức kinh tế-kỹ thuật của một số lĩnh vực đã làm hạn chế tính tự chủ tài chính đối với các ĐVSNCL; Chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu còn thiếu tính thực tiễn, còn nhiều bất cập nhưng chưa được kịp thời bổ sung, sửa đổi cho phù hợp
- Theo lộ trình cải cách tiền lương, các đơn vị phải sử dụng 40% nguồn thu để thực hiện cải cách tiền lương nên gặp khó khăn khi thực hiện cơ chế tự chủ Bởi nguồn kinh phí yêu cầu tiết kiệm lớn, trong khi ngân sách cấp chỉ vừa đủ đảm bảo chi, dẫn đến việc mở rộng các hoạt động dịch vụ hoặc điều
Trang 24chỉnh mức lương cơ sở, chi trả các khoản phụ cấp phát sinh với những đơn vị
tự đảm bảo 100% kinh phí hoạt động là không thể thực hiện
Nhằm hạn chế những bất cập trên, ngày 14/2/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL, kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển hoạt động ĐVSN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.1.1.5 Mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập
- Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính nhằm khuyến khích các đơn vị chủ động thu hút, khai thác, tạo lập nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách, thông qua đa dạng hóa các hoạt động sự nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, nhân lực, tài sản, để việc thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn, mở rộng phát triển nguồn thu
- Tác động tích cực tạo điều kiện cho các trường công lập chủ động hơn trong công tác quản lý tài chính, quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng kinh phí
và thực hành tiết kiệm, thúc đẩy các đơn vị năng động hơn trong các hoạt động theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo để tăng nguồn thu, khắc phục được tình trạng sử dụng lãng phí các nguồn lực, đồng thời khuyến khích
sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm vụ hoạt động nghiệp vụ có chuyên môn của các đơn vị
- Xác lập đảm bảo quyền chủ động sử dụng các nguồn lực tài chính như được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, được xây dựng quỹ tiền lương, tiền công, được lập dự toán thu-chi kinh phí hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp cuối năm chưa chi hết được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng, được trích lập và sử dụng các quỹ
- Góp phần tăng cường trách nhiệm của đơn vị đối với nguồn kinh phí, công tác lập dự toán được chú trọng hơn và khả thi hơn, các đơn vị được giao quyền tự chủ phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và thực hiện công khai tài chính
Trang 25- Đảm bảo đầu tư của nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp được đúng mục đích hơn, có trọng tâm trọng điểm, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cho các đơn vị hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, thể chế hóa việc trả lương tăng thêm một cách thích đáng, hợp pháp
từ kết quả hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ và tiết kiệm chi tiêu, tăng cường công tác quản lý tài chính của các đơn vị từng bước đi vào nề nếp và
có hiệu quả
1.1.1.6 Điều kiện của việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập
a Điều kiện về giao quyền tự chủ
Nghị định xây dựng các quy định về tự chủ tài chính đối với các đơn vị
sự nghiệp trên nguyên tắc đơn vị tự chủ cao về nguồn tài chính thì được tự chủ cao về quản lý, sử dụng các kết quả tài chính và ngược lại Quy định này nhằm khuyến khích các đơn vị tự chủ thấp phấn đấu tăng nguồn thu để được mức tự chủ cao hơn
Tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp được quy định theo 3 mức độ cụ thể đó là: Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá chưa tính đủ chi phí)
và Tự chủ tài chính đối với đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp)
Theo đó, việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công sẽ căn cứ trên tổng thể các nguồn thu của đơn vị, bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước (đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ,…)
Trang 26b Điều kiện về tự chủ trong xác định mức thu
Đơn vị được tự xác định giá dịch vụ theo nguyên tắc thị trường đối với loại dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước (NSNN) Đối với loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN, đơn vị được quyết định mức thu theo lộ trình tính giá do Nhà nước công bố
Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho các đơn vị có điều kiện vươn lên nhanh hơn, Nghị định mới quy định, căn cứ vào tình hình thực tế, các đơn vị sự nghiệp công được thực hiện trước lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công
c Điều kiện về tự chủ trong chi đầu tư và chi thường xuyên
Các đơn vị sự nghiệp được chủ động sử dụng các nguồn tài chính được giao tự chủ, bao gồm nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công (kể cả nguồn ngân sách nhà nước đấu thầu, đặt hàng), nguồn thu phí theo quy định được để lại chi và nguồn thu hợp pháp khác, để chi thường xuyên
Đối với các nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ vào khả năng tài chính, đơn vị được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Tuy nhiên, đối với một số định mức, tiêu chuẩn quy định mang tính chất chung cho khối cơ quan nhà nước, thì các đơn vị sự nghiệp công cũng phải tuân thủ, như tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô; nhà làm việc; trang bị điện thoại; chế độ công tác phí nước ngoài; tiếp khách nước ngoài, hội thảo quốc tế
Đối với các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ
Để tạo điều kiện khuyến khích các đơn vị tự chủ toàn diện về chi thường xuyên và chi đầu tư, Nghị định mới bổ sung quy định các đơn vị này được chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; sau khi danh mục dự án đầu tư được phê duyệt, đơn vị được
Trang 27quyết định dự án đầu tư; được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định Căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét
bố trí vốn cho các dự án đầu tư đang thực hiện, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền
d Điều kiện về chi tiền lương và thu nhập tăng thêm
Về chi tiền lương, Nghị định quy định các đơn vị sự nghiệp chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương cơ
sở, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên phải tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; NSNN không cấp bổ sung; đối với đơn vị chưa tự bảo đảm chi thường xuyên và đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, chi tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định, bao gồm cả nguồn NSNN cấp bổ sung (nếu thiếu)
Đối với phần thu nhập tăng thêm, các đơn vị được chủ động sử dụng Quỹ bổ sung thu nhập để thực hiện hiện phân chia cho người lao động trên cơ
sở quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác của người lao động
e Điều kiện về trích lập các quỹ
Nghị định quy định hàng năm sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp NSNN khác (nếu có) theo quy định; phần chênh lệch thu lớn hơn chi, đơn vị được sử dụng để trích lập các quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; quỹ bổ sung thu nhập; quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi Ngoài ra, Nghị định mới cũng cho phép các đơn vị được trích lập các quỹ khác theo quy định của pháp luật cho phù hợp với thực tế
Trang 281.1.2 Công tác tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục tiêu của công tác tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
* Khái niệm:
Xét trên góc độ quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính là việc cơ quan quản lý cấp trên (chủ thể quản lý) cho phép đơn vị cấp dưới (chủ thể bị quản lý) được phép chủ động điều hành, tự quyết các hoạt động tài chính trong khuôn khố pháp luật về quản lý tài chính với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
* Đặc điểm của công tác tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục:
- Đơn vị sự nghiệp có thu được tự chủ tài chính, được chủ động sử dụng kinh phí để thực hiện nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên ngân sách nhà nước cấp đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và đơn vị ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động
- Được vay tín dụng ngân hàng, được huy động vốn của cán bộ viên chức trong đơn vị, để mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật
- Được đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo qui định Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước được để lại đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị của đơn vị
Trang 29- Được mở tài khoản tiền gửi ngân hàng để phản ánh các khoản thu chi của hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ; mở tài khoản tại kho bạc nhà nước
để để phản ánh các khoản kinh phí thuộc ngân sách nhà nước
- Được chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội
bộ, để đảm bảo hoạt động thường xuyên phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị; Tăng cường công tác quản lý sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của nhà nước
* Vai trò của công tác tự chủ tài chính:
Thứ nhất, xác lập và bảo đảm quyền sở hữu của đơn vị sự nghiệp có thu
đối với toàn bộ các nguồn lực tài chính do ngân sách nhà nước cấp, nguồn thu
sự nghiệp của đơn vị và nguồn thu khác theo quy định của pháp luật như viện trợ, vay nợ, quà biếu, tặng
Thứ hai, xác lập và đảm bảo quyền chủ động sử dụng các nguồn lực tài
chính như được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, được xây dựng quỹ tiền lương, tiền công; được lập dự toán thu, chi nội bộ
* Mục tiêu công tác tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục:
- Trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị khuyến khích các đơn vị chủ động trong công tác quản lý tài chính, thu hút, khai thác tạo lập nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách thông qua đa dạng hóa các hoạt động sự nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, nhân lực, tài sản để việc thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn, mở rộng phát triển nguồn thu Đồng thời thực hiện tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm vụ hoạt động chuyên môn của các đơn vị
- Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị góp phần tăng cường trách nhiệm của đơn vị đối với nguồn kinh phí, công tác lập dự toán được chú trọng hơn và khả thi hơn Chủ động xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và thực hiện công khai tài chính
Trang 30- Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị bảo đảm đầu tư của nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp được đúng mục đích hơn, có trọng tâm trọng điểm, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cho các đơn vị hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, thể chế hóa việc trả lương tăng thêm một cách thích đáng, hợp phát từ kết quả hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ và tiết kiệm chi tiêu, tăng cường công tác quản lý tài chính của đơn vị từng bước đi vào nề nếp
- Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động
sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước
1.1.2.2 Nội dung công tác tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
* Nội dung cơ chế tự chủ đã được ban hành và triển khai theo nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006, quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Hiện nay Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, làm cơ sở để xây dựng nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp trong từng lĩnh vực
* Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 77/NQ-CP (NQ77) ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các
cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017 Tính đến tháng 9/2017, Thủ tướng Chính phủ (TTCP) đã ký quyết định phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động giai đoạn 2015-2017 theo NQ77 cho 23 cơ sở GDĐH công lập trực thuộc các Bộ, ngành trung ương, gồm 12 trường có thời gian tự chủ trên 2 năm, 11 trường có thời gian tự chủ dưới 2 năm (trong đó có
4 trường mới được giao quyết định tự chủ từ tháng 7/2017)
Trang 31Theo nội dung NQ77 các cơ sở GDĐH thí điểm thực hiện tự chủ trong các lĩnh vực: Tự chủ về đào tạo và NCKH (còn gọi là tự chủ về học thuật); Tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân sự; Tự chủ về tài chính
Cụ thể Cơ sở giáo dục đại học công lập khi cam kết tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện, cụ thể như sau:
- Về thực hiện nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học
- Về tổ chức bộ máy, nhân sự
- Về tài chính: Tự chủ về học phí, thu sự nghiệp, tiền lương, thu nhập, sử dụng nguồn thu đảm bảo chi thường xuyên và trích lập các quỹ
- Chính sách học bỏng học phí với đối tượng chính sách
- Đầu tư mua sắm từ nguồn NSNN và nguồn thu hợp pháp
Mô hình thí điểm tự chủ bước đầu được đánh giá tích cực, các cơ sở giáo dục đại học được lựa chọn thí điểm đã có những thành tựu nhất định trong việc thu hút người học và đảm bảo nguồn thu, được xã hội công nhận
Bên cạnh những kết quả đạt được, tự chủ đại học ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Trong đó, chính sách, pháp luật về tự chủ chưa đồng bộ, bất cập; cơ chế quản lý theo chế độ Bộ chủ quản không còn phù hợp Các cơ sở giáo dục đại học được giao thí điểm tự chủ vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tự chủ đại học, chưa chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện tự chủ Năng lực quản trị đại học của nhiều trường chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, đặc biệt là cơ chế đảm bảo tính công khai, minh bạch cũng như nâng cao trách nhiệm giải trình với các bên liên quan chưa hiệu quả
Với những kết quả đạt được và những hạn chế, khó khăn của các trường trong quá trình thực hiện theo Nghị quyết 77, sẽ là bài học kinh nghiệm cho các trường sau này khi thực hiện từng bước cơ chế tự chủ, đặc biệt là tự chủ tài chính
* Nội dung công tác tự chủ tài chính được xây dựng cho từng loại đơn vị
sự nghiệp công như sau:
Trang 32- Tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư
- Tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo chi thường xuyên
- Tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí)
- Tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp)
Theo đó, hầu hết các đơn vị sự nghiệp giáo dục mang đặc điểm của đơn
vị sự nghiệp công tự đảm bảo một phần chi thường xuyên, các nội dung cụ thể trong tự chủ tài chính như sau:
a Tự chủ về các khoản thu, mức thu
- Đơn vị sự nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí,
lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Trường hợp nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu, đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối tượng, nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quy định
Đơn vị thực hiện chế độ miễn, giảm cho các đối tượng chính sách - xã hội theo quy định của nhà nước
- Đối với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được cơ quan nhà nước đặt hàng thì mức thu theo đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Trang 33giá, thì mức thu được xác định trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận
- Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ
* Nguồn thu tài chính
- Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công;
- Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí);
- Nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công;
- Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có);
- Ngân sách nhà nước cấp kinh phí thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao;
- Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật
b Tự chủ về các khoản chi (sử dụng) tài chính
- Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên (Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; Chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí; Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả chi thực hiện nghĩa vụ
Trang 34với ngân sách nhà nước, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định của pháp luật), thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
- Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc
- Quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật
* Sử dụng nguồn tài chính
- Chi thường xuyên: Đơn vị được chủ động sử dụng các nguồn tài chính giao tự chủ, từ phần được để lại chi theo quy định, các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật và nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công Một số nội dung chi được quy định như sau:
+ Chi tiền lương: Đơn vị chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức
vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định; trường hợp còn thiếu, ngân sách nhà nước cấp bổ sung;
+ Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
- Chi nhiệm vụ không thường xuyên: Đơn vị chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành đối với từng nguồn kinh phí: Nguồn thu phí, lệ phí được để lại một phần chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí;
Chi từ nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức
Trang 35khoa học công nghệ); các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án,
đề án khác; các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao;
Để có thể thực hiện việc chi, sử dụng tài chính chính xác và hiệu quả Trước hết các đơn vị cần phải xây dựng kế hoạch và định mức thu chi đầy đủ,
rõ ràng, bám sát thực tế hoạt động Trên cơ sở đó cần xây dựng các biện pháp chế tài, kiểm soát để đảm bảo công tác chi được thực hiện đúng kế hoạch
c Phân phối kết quả tài chính trong năm
* Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi hoạt động thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:
- Trích tối thiểu 15% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;
- Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
- Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
- Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định
sử dụng theo trình tự sau: Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập; Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ khác (nếu có)
* Việc sử dụng các quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải công khai trong đơn vị
* Nội dung chi từ các quỹ thực hiện theo quy định như sau:
Trang 36- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động trong đơn vị; góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn
vị được giao vốn theo quy định) để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác (nếu có)
- Quỹ bổ sung thu nhập: Để chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong năm và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau trong trường hợp nguồn thu nhập bị giảm
Việc chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị
- Quỹ khen thưởng: Để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
- Quỹ phúc lợi: Để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động thực hiện tinh giản biên chế
1.1.3 Nguyên tắc quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đào tạo
Để các đơn vị sự nghiệp có thu quản lý nguồn tài chính của mình một cách có hiệu quả phải tuân thủ đầy đủ 4 nguyên tắc sau:
Trang 37- Nguyên tắc hiệu quả: đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong quản lý tài chính công Vấn đề hiệu quả được xem xét trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội
Khi thực hiện quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu thông qua các khoản chi từ ngân sách Nhà nước và từ nguồn mà đơn vị sự nghiệp thu được thì các đơn vị sự nghiệp đều hướng tới việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của mình và dựa trên cơ sở lợi ích của cộng đồng trong xã hội Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế là hai nội dung quan trọng khi đưa ra các quyết định của đơn vị và của các cơ quan có thẩm quyền nhằm dung hòa các mục tiêu khác nhau Đồng thời cũng là căn cứ khi hình thành một quyết định hay một chính sách chi tiêu ngân sách
- Nguyên tắc thống nhất: nguyên tắc này được đảm bảo thông qua việc thống nhất các văn bản của Nhà nước khi quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu Từ đó việc quản lý tài chính được thống nhất theo một quy trình chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh kiểm tra, thanh quyết toán và việc xử lý những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Đồng thời, khi thực hiện nguyên tắc này sẽ đảm bảo tính công bằng, bình đẳng, đảm bảo hiệu quả, hạn chế tiêu cực và những vấn đề rủi ro
- Nguyên tắc tập trung, dân chủ: mục tiêu của nguyên tắc này là tập trung trong việc đảm bảo lợi ích của Nhà nước và gắn với chức năng, nhiệm
vụ mà cơ quan quản lý cấp trực tiếp giao cho Theo đó, thực hiện dân chủ trong việc thực hiện nội dung quản lý tài chính thu, chi hướng đến mục tiêu vì lợi ích cộng đồng Mặt khác, thực hiện nguyên tắc tập trung, dân chủ trong quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu nhằm đẳm bảo cho các nguồn lực của xã hội được tập trung và phân phối một cách hợp lý và hiệu quả
- Nguyên tắc công khai, minh bạch: thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý tài chính giúp cho các đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện việc phân phối các nguồn lực của xã hội một cách có hiệu quả Đồng thời tạo điều kiện cho công đồng có thể kiểm soát các quyết định về thu, chi tài chính,
Trang 38tránh được các quyết định sai lầm chủ quan của chủ đơn vị nhằm hạn chế sự thất thoát và đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình thực hiện
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
1.1.4.1 Cơ chế chính sách của Nhà nước
Nhà nước đã ban hành, triển khai và hướng dẫn thực hiện các nghị định
NĐ 43/2006 , NĐ 16/2015 về cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập Với việc ban hành một số chính sách tạo điều kiện thuận lợi, tăng quyền
tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học bước đầu đã mang lại nhiều kết quả thiết thực Trong gần một thập kỷ qua, vấn đề tự chủ trong giáo dục đại học Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực Từ chỗ toàn thể hệ thống giáo dục đại học Việt Nam như một trường đại học lớn, chịu sự quản lý nhà nước chặt chẽ về mọi mặt thông qua Bộ GD& ĐT, các trường đại học đã dần được trao quyền tự chủ về mọi mặt, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính
Các đơn vị khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính đã chủ động sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN) giao hiệu quả hơn để thực hiện nhiệm vụ; đồng thời, chủ động sử dụng tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo điều kiện tăng nguồn thu
Các đơn vị đã xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ để tăng cường công tác quản lý trong nội bộ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy phát triển hoạt động sự nghiệp, khai thác nguồn thu, tăng thu, tiết kiệm chi, do vậy nhiều đơn vị đã tiết kiệm chi thường xuyên, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sự nghiệp Nhìn chung, kết quả thu sự nghiệp đều tăng, tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên đạt từ 70-80%
Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, nhiều đơn vị đã đổi mới phương thức hoạt động, tiết kiệm chi, thu nhập đã từng bước được nâng lên Nguồn thu sự nghiệp, cùng với nguồn kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên, đã góp phần bảo đảm bù đắp nhu cầu tiền lương tăng thêm cho cán bộ, nhân viên
Trang 39Đơn vị sự nghiệp từng bước đã được tự chủ huy động vốn để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, tạo điều kiện mở rộng các hoạt động sự nghiệp và các hoạt động dịch vụ trong đơn vị
1.1.4.2 Các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội
Những thay đổi về điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội và chính sách chi tiêu cho giáo dục Đại học, Cao đẳng công lập là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đổi mới hệ thống tài chính giáo dục Đại học, Cao đẳng Chính sách của giáo dục Đại học, Cao đẳng đã từng bước thay đổi, những nhân tố trước đây được xem là phù hợp với yêu cầu quản lý trường Đại học, Cao đẳng thì nay không còn thích hợp và đòi hỏi phải có những cải cách, đổi mới Yếu tố lao động và việc làm cũng đang có những thay đổi quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức Để đáp ứng yêu cầu học tập ngày càng cao của xã hội, hệ thống giáo dục ở trình độ đại học, cao đẳng ở các trường bắt buộc phải không ngừng mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo, có như vậy mới đảm bảo sự phát triển ổn định lâu dài trong lĩnh vực giáo dục đào tạo Do vậy, nhiều giải pháp đổi mới đã được triển khai
áp dụng, nhằm tăng cường cho công tác tài chính ở các trường công lập
1.1.4.3 Tổ chức thực hiện công tác tài chính
Đối với mỗi loại hình đơn vị sự nghiệp có cơ chế quản lý tài chính khác nhau Đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động có mức độ tự chủ lớn hơn đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động, đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động có mức độ tự chủ thấp nhất so với 2 loại hình đơn vị trên Tính tự chủ càng cao thì mức độ phụ thuộc vào ngân sách càng thấp Việc quy định như vậy hoàn toàn phù hợp với quy định về quản lý NSNN, đảm bảo tính linh hoạt hiệu quả trong quản lý tài chính, khuyến khích sự phát triển của đơn vị, tạo điều kiện để đơn vị thực hiện tự chủ tài chính tốt hơn
Mỗi đơn vị sự nghiệp đều phải có cơ chế để tổ chức thực hiện công tác quản lý tài chính, quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi và các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh, đúng với mục tiêu phát triển của đơn vị
Trang 40Tổ chức bộ máy kế toán của đơn vị phải có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, có kinh nghiệm, đảm bảo thực hiện đúng các quy định của nhà nước và đơn vị Xử lý và thực hiện quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi một cách hợp lý Giúp cho đơn vị chủ động tạo thêm nguồn thu, tăng thêm doanh thu trong các nguồn thu đã có, tiết kiệm hiệu quả trong quản lý các khoản chi Xây dựng định mức thu chi và kiểm tra kiểm soát quá trình đó nhằm phát huy vai trò của tự chủ tài chính
1.1.4.4 Hệ thống kiểm tra, kiểm soát tài chính
Kiểm tra, kiểm soát tài chính tại các đơn vị sự nghiệp nhằm tăng cường công tác tự chủ tài chính, tăng cường công tác quản lý thu - chi, đảm bảo nguồn thu được sử dụng đúng mục đích, đúng quy định, mang lại hiệu quả cao Đồng thời tăng cường hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho hoạt động sự nghiệp, góp phần thực hiện tiết kiệm chống lãng phí, và tuân thủ các chính sách pháp luật của nhà nước Hệ thống kiểm tra, kiểm soát gồm có; kiểm tra kiểm soát của cơ quan chức năng (thanh tra tài chính, kiểm toán, ), kiểm tra kiểm soát nội bộ đơn vị
Trong quá trình thực thi các chức năng nhiệm vụ được giao và việc sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, đơn vị sự nghiệp sẽ không tránh khỏi những sai sót Việc kiểm tra, kiểm soát tài chính rất quan trọng, để chỉ ra những thiếu sót trong quản lý tài chính, ngăn chặn kịp thời những hậu quả xấu, kịp thời đưa ra những biện pháp khắc phục Việc kiểm tra, kiểm soát tài chính sẽ giúp cho đơn vị sự nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn trong công tác
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
1.1.4.5 Trình độ cán bộ quản lý
Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra các quyết định quản lý Trình độ cán bộ quản lý là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời chính xác của các quyết định quản lý, do đó nó có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của bộ