Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.Ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-
LÊ TRANG NHUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ TRI THỨC
TỚI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH (Khoa QTKD)
Mã số: 9340101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2023
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ ANH ĐỨC
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Trường Đại học kinh tế quốc dân
Vào hồi: ngày tháng năm 2023
Có thế tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Đại học kinh tế quốc dân
Trang 2GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nhiều tài liệu và quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, đổi mới sáng
tạo đã được nhắc đến như yếu tố then chốt trong phát triển doanh nghiệp và tăng trưởng
kinh tế quốc gia Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 nhấn mạnh đổi mới sáng tạo là một động lực quan
trọng để phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, là vũ khí nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Thuật ngữ “Đổi mới sáng tạo” (trong tiếng anh là innovation, viết tắt là ĐMST)
được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau và ở nhiều cấp bậc khác
nhau Khái niệm ĐMST của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế OECD có thể coi là
định nghĩa được chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất trong các nghiên cứu về ĐMST
cấp độ tổ chức, theo đó Đổi mới sáng tạo là một sản phẩm và/hoặc quy trình mới hoặc
được cải tiến đáng kể so với các sản phẩm hoặc quy trình trước đây của đơn vị và đã
được cung cấp cho người dùng tiềm năng (sản phẩm) hoặc được đơn vị sử dụng (quy
trình) (OECD, 2018) Khi ĐMST được công nhận là một trong những nhân tố cốt lõi
làm nên sự thành công cho tổ chức thì đã có nhiều học giả trên thế giới và ở Việt Nam
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến phạm vi và đặc tính của ĐMST
Các nghiên cứu gần đây cho thấy “Quản trị tri thức” (trong tiếng anh là Knowledge
management, viết tắt là QTTT) có ảnh hưởng đến ĐMST QTTT được hiểu là quá trình
lựa chọn, khoanh vùng, lưu trữ, phân loại, chia sẻ và truyền đạt thông tin cần thiết cho
hoạt động kinh doanh của một tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh
của tổ chức Doanh nghiệp có thể áp dụng QTTT để bù đắp những lỗ hổng, thiếu hụt về tri
thức, kết hợp kiến thức trong nội bộ và kiến thức bên ngoài tổ chức, bên cạnh đó làm cho
khối lượng kiến thức của tổ chức trở nên dễ sử dụng hơn cho quá trình đổi mới sáng tạo
Khi xem xét ảnh hưởng của QTTT đến ĐMST, các nhà nghiên cứu đã sử dụng
nhiều cơ sở lý thuyết khác nhau để làm nền tảng Một số lý thuyết được nhắc đến trong
nghiên cứu là lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực (Alegre & cộng sự, 2011); lý thuyết
doanh nghiệp từ góc nhìn tri thức (Zheng & cộng sự, 2011; Andreeva & cộng sự, 2011)
và lý thuyết năng lực động (Zheng & cộng sự, 2011) Mỗi lý thuyết cho một đóng góp
nhất định, giúp làm rõ bản chất hơn bản chất ảnh hưởng của QTTT đến ĐMST Lý
thuyết quản trị dựa trên nguồn lực cho rằng môi trường bên trong tổ chức chính là yếu
tố giải thích kết quả hoạt động vượt trội của tổ chức Vì vậy, tổ chức nên tập trung vào
các nguồn lực có giá trị, hiếm và khó bắt chước như danh tiếng, năng lực đổi mới sáng
tạo, tri thức, khả năng ứng biến linh hoạt Lý thuyết doanh nghiệp từ góc nhìn tri thức
được xem là phát triển từ lý thuyết dựa vào nguồn lực Theo lý thuyết này, tri thức là
yếu tố trọng tâm xác định biên giới doanh nghiệp và đều nhận mạnh tầm quan trọng của việc tiếp nhận, lưu trữ, nhân rộng, chuyển giao và sáng tạo tri thức trong tổ chức
Lý thuyết năng lực động chỉ ra doanh nghiệp liên tục tích hợp, tái cấu trúc, làm mới và tái tạo các nguồn lực tri thức nhằm đáp ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh, duy trì lợi thế cạnh tranh Nếu không có năng lực động, nguồn lực ban đầu của các doanh nghiệp có thể nhanh chóng bị cạn kiệt, bị loại bỏ và sẽ không hiệu quả khi chuyển đổi các nguồn lực thành lợi thế cạnh tranh (Zollo & Winter, 2002)
Tổng quan nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của quá trình QTTT tới ĐMST trong doanh nghiệp Tuy vậy, các nghiên cứu thực nghiệm về QTTT thường lấy bối cảnh là các doanh nghiệp có quy mô lớn; các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao; doanh nghiệp thực hiện quy trình quản trị và chiến lược quản trị tri thức chuyên nghiệp và xem việc
áp dụng quản trị tri thức để đổi mới sáng tạo là một lợi thế cạnh tranh của mình (Liao, 2007; Donate & Guadamillas, 2011; Nguyen Ngoc Thang & Pham Anh Tuan, 2020;
Lê Ba Phong, 2021) và ít tập trung vào đối tượng nghiên cứu là các DNNVV Một vài nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng DNNVV thiếu hệ thống QTTT (McAdam & Reid, 2001; Wong & Aspinwall, 2005; Desouza & Awazu, 2006), và nếu có thực hiện thì quy trình QTTT thường đơn giản hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn (Hutchinson & Quintas, 2008) Tuy vậy, không có nghĩa việc áp dụng QTTT ít ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới sáng tạo của những tổ chức này (Soon & Zainol, 2011; Durst & Edvardsson, 2012; Bhanumathi, 2014)
Tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm 98% tổng
số doanh nghiệp ở Việt Nam, đóng góp tới gần 41,24% tổng số vốn và 42,11% cơ hội việc làm (Bộ Kế hoạch đầu tư, 2020) Bên cạnh đó, khối DNNVV đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng bền vững, đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo Chính vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm giúp những tổ chức này phát triển theo hướng tích cực và bền vững là rất cần thiết Tuy các tổ chức đều bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo nhưng thực tế cho thấy khả năng này của các DNNVV tại Việt Nam chưa đạt được như kỳ vọng Theo khảo sát của CIEM năm 2015, tỷ lệ DNNVV tiến hành đổi mới quy trình giảm từ 15% vào năm 2005 xuống còn 5% vào năm 2015 (trích dẫn trong Lê Quốc Hội & cộng sự, 2022, 23) Đặc điểm thường thấy
ở DNNVV đó là có nhiều hạn chế về vốn và nguồn lực, việc thực hiện hoạt động ĐMST dựa vào các khoản tài chính lớn, ví dụ như đầu tư để thay đổi công nghệ có thể không phù hợp Vì vậy, việc nghiên cứu và phát hiện các yếu tố tiền đề, sẵn có như quản trị tri thức để tăng cường hoạt động đổi mới sáng tạo cho DNNVV là thật sự cần thiết Tại Việt Nam gần đây đã có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị tri thức đến đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp, nhưng phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu
Trang 3tác động riêng rẽ của một hoặc một vài quá trình của quản trị tri thức (Nguyen Ngoc
Thang & Pham Anh Tuan, 2020; Lê Ba Phong, 2021) đến đổi mới sáng tạo của tổ chức
Trong khi đó, một số nghiên cứu trên thế giới chứng minh rằng nhiều quá trình quản
trị tri thức có ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp (Obeidat & cộng sự,
2016; Teixeira & cộng sự, 2019) Bên cạnh đó, việc xác định các quá trình quản trị tri
thức trong nghiên cứu chủ yếu là kế thừa từ các nghiên cứu trước mà chưa có sự đánh
giá tính phù hợp của các quá trình nghiên cứu này trong bối cảnh nghiên cứu là
DNNVV tại Việt Nam Chính vì vậy, việc xác định các quá trình quản trị tri thức tồn
tại trong DNNVV ở Việt Nam và đánh giá ảnh hưởng của những quá trình này đến
hoạt động đổi mới sáng tạo sẽ đưa ra một bức tranh toàn diện về quản trị tri thức và đổi
mới sáng tạo tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Từ những yêu cầu về lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài “Ảnh hưởng của quản
trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam” kỳ vọng
sẽ đóng góp nhiều về mặt học thuật cũng như đóng góp về mặt thực tiễn Về mặt lý
luận, luận án sẽ tổng kết, hệ thống hóa các nội dung liên quan đến quản trị tri thức và đổi
mới sáng tạo, đặc biệt tập trung vào nghiên cứu sự ảnh hưởng của quản trị tri thức tới
ĐMST trong doanh nghiệp nhỏ và vừa Luận án sẽ trình bày tổng quan các công trình
nghiên cứu trong và ngoài nước để từng bước hoàn thiện nguồn tài liệu tham khảo cho các
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Bên cạnh đó, thông qua các phương pháp nghiên
cứu định tính và định lượng, luận án mong muốn nghiên cứu và làm rõ các vấn đề: (1)
Thực trạng quản trị tri thức và đổi mới sáng tạo trong DNNVV tại Việt Nam; (2) Xây
dựng mô hình đánh giá ảnh hưởng của quản trị tri thức tới ĐMST trong DNNVV của Việt
Nam; (3) Đánh giá ảnh hưởng của QTTT đến ĐMST trong DNNVV Từ đó đưa ra các
hàm ý quản trị về mặt thực tiễn phù hợp trong bối cảnh DNNVV tại Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa lý luận về quản trị tri thức và đổi mới sáng tạo trong
doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ hai, xây dựng thang đo phù hợp cho các nhân tố: (1) tiếp thu tri thức, (2)
sáng tạo tri thức, (3) lưu trữ tri thức, (4) chia sẻ tri thức, (5) sử dụng tri thức, (6) đổi
mới sáng tạo;
Thứ ba, xây dựng mô hình và lượng hóa ảnh hưởng của các quá trình quản trị tri
thức tới đổi mới sáng tạo trong DNNVV
Thứ tư, phân tích sự khác nhau về quản trị tri thức và đổi mới sáng tạo theo các
nhóm đối tượng DNNVV được khảo sát (phân loại theo lĩnh vực kinh doanh, hình thức
sở hữu, và quy mô doanh nghiệp)
Thứ năm, đề xuất các hàm ý quản trị để giúp các nhà quản lý trong quá trình xây dựng và triển khai quản trị tri thức nhằm nâng cao đổi mới sáng tạo trong DNNVV
Để đạt được các mục tiêu trên, luận án đi trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu sau: Câu hỏi 1: Quản trị tri thức trong DNNVV tại Việt Nam là gì và bao gồm những quá trình nào?
Câu hỏi 2: Quản trị tri thức ảnh hưởng như thế nào tới đổi mới sáng tạo trong DNNVV tại Việt Nam?
Câu hỏi 3: Có sự khác nhau về quy mô doanh nghiệp, hình thức sở hữu, và lĩnh vực hoạt động của DNNVV tại Việt Nam khi đánh giá về quản trị tri thức và đổi mới sáng tạo trong tổ chức của mình hay không?
Câu hỏi 4: Các hàm ý quản trị, khuyến nghị nào cần thiết nhằm đẩy mạnh quá trình quản trị tri thức từ đó gia tăng đổi mới sáng tạo trong DNNVV tại Việt Nam?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là ảnh hưởng của quản trị tri thức đến đổi
mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Trong đó, quản trị tri thức
là tích hợp của các quá trình khác nhau liên quan đến tri thức của tổ chức nhằm tăng năng suất, lợi nhuận và khả năng phát triển của tổ chức; đổi mới sáng tạo là các hoạt
động của doanh nghiệp trong việc cải tiến các sản phẩm hiện có hoặc phát triển sản
phẩm mới; cải tiến quy trình vận hành hiện có hoặc phát triển quy trình vận hành mới nhằm cải thiện hiệu suất hoạt động so với đối thủ cạnh tranh chính và so với chính bản
thân doanh nghiệp trong các năm trước Luận án xem xét quản trị tri thức và đổi mới
sáng tạo ở cấp độ tổ chức và không tập trung nghiên cứu ở cấp độ cá nhân
Khách thể nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị tri
thức tới đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Những
doanh nghiệp này phải thỏa mãn 2 tiêu chuẩn, bao gồm là những doanh nghiệp có quy
mô vốn và lao động thỏa mãn tiêu chuẩn được quy định trong “Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018 về Quy định chi tiết một số điều của Luật
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa” và hoạt động liên tục 3 năm tại thời điểm phỏng vấn Không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu DNNVV tại Việt Nam Khảo sát thực hiện ở DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh
và một số khu vực khác của Việt Nam
Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu dữ liệu thứ cấp thu thập từ năm
2012-2022, dữ liệu sơ cấp thu thập năm 2021-2022
4 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp:
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các công trình nghiên cứu trong nước và nước
ngoài được phân tích, so sánh và tổng hợp để hình thành khung lý thuyết, mô hình và
các giả thuyết nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính – phỏng vấn sâu
Nghiên cứu định tính với phương pháp phỏng vấn sâu với mẫu lựa chọn là 5
chuyên gia là giảng viên, nghiên cứu viên trong lĩnh vực quản trị tri thức và đổi mới
sáng tạo và 12 DNNVV tại ba thành phố lớn: Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh Mục
đích phỏng vấn sâu là kiểm tra mức độ phù hợp của các nhân tố và các quan sát dự
định sử dụng để nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng – điều tra khảo sát
Phương pháp định lượng và điều tra khảo sát được thực hiện sau bước phỏng
vấn sâu Phương pháp này đòi hỏi phải xây dựng bảng hỏi để thực hiện điều tra khảo
sát Phương pháp này gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nghiên cứu định lượng sơ bộ qua phương pháp khảo sát bảng hỏi
với 102 DNNVV tại Hà Nội Mục đích của nghiên cứu sơ bộ là giảm thiểu các sai sót
có thể xảy ra trong quá trình thu thập dữ liệu như: từ ngữ gây hiểu sai nội dung câu
hỏi; trình tự câu hỏi chưa hợp lý
Giai đoạn 2: Nghiên cứu định lượng chính thức với mẫu nghiên cứu là 332
DNNVV tại Việt Nam Kết quả khảo sát sau khi thu thập được tác giả sử dụng để đánh
giá lại độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích khẳng định nhân tố (CFA) với
mô hình đo lường và mô hình với dữ liệu khảo sát thực tế Sau đó nghiên cứu sử dụng
phân tích tương quan và phân tích hồi quy bội kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
4.2 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu gồm có 5 bước chính: (1) Tổng quan nghiên cứu; (2)
Nghiên cứu định tính; (3) Nghiên cứu định lượng sơ bộ; (4) Nghiên cứu chính thức; và
(5) Hoàn thiện báo cáo
5 Những đóng góp mới của luận án
Đóng góp về phương diện lý luận
Thứ nhất, luận án đã vận dụng kết hợp lý thuyết quản trị dựa vào nguồn lực, lý
thuyết doanh nghiệp từ góc nhìn tri thức, lý thuyết năng lực động để xây dựng mô hình
nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các quá trình quản trị tri thức tới hoạt động đổi
mới sáng tạo ở cấp độ tổ chức Luận án thực hiện phỏng vấn sâu xác định mức độ phù
hợp của mô hình và tiến hành các điều chỉnh cần thiết, bổ sung biến quan sát “Doanh
nghiệp khuyến khích nhân viên tiếp thu kiến thức từ các nguồn khác nhau” cho thang
đo Tiếp thu tri thức, đây là một chỉ bảo quan trọng phù hợp với đặc điểm khan hiếm
nguồn lực của DNNVV tại Việt Nam Bên cạnh đó, luận án bổ sung biến quan sát
“Doanh nghiệp chúng tôi ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình lưu trữ tài
liệu” cho thang đo Lưu trữ tri thức
Thứ hai, bằng chứng thực nghiệm của luận án này chỉ ra các quá trình quản trị
tri thức đều có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo trong DNNVV, thứ tự mức độ
ảnh hưởng từ cao đến thấp là (1) chia sẻ tri thức; (2) sử dụng tri thức; (3) lưu trữ tri
thức, (4) sáng tạo tri thức, (5) tiếp thu tri thức Việc đánh giá và thử nghiệm các giả
thuyết được phát triển trong luận án này góp phần luận giải một số kết luận và tranh luận trong các nghiên cứu trước đây về chiều ảnh hưởng của các quá trình chia sẻ tri thức và quá trình lưu trữ tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
Đóng góp về phương diện thực tiễn
Thứ nhất, luận án đã giúp cung cấp một bức tranh tổng thể, phản ánh thực trạng
về quá trình quản trị tri thức và hoạt động đổi mới sáng tạo tồn tại trong DNNVV được khảo sát
Thứ hai, dựa trên các đặc điểm của DNNVV tại Việt Nam, luận án đưa ra một
số khuyến nghị để những tổ chức này áp dụng quản trị tri thức hiệu quả, hướng tới thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo tốt hơn nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trong dài hạn
6 Bố cục của luận án
Luận án bao gồm 3 phần chính với kết cấu như sau: Phần mở đầu; Phần nội
dung gồm có 5 chương; Phần kết luận
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC
VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan nghiên cứu về quản trị tri thức trong doanh nghiệp
Dựa trên tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả đưa ra một số hướng
nghiên cứu chính về QTTT trong tổ chức nói chung và QTTT trong DNNVV nói riêng
Thứ nhất, nghiên cứu về quy trình quản trị tri thức trong tổ chức Tập hợp các
quá trình được khái quát hóa thành khái niệm quy trình quản trị tri thức (Knowledge management process) hoặc chu trình quản trị tri thức (Knowledge management cycle)
Thứ hai, nghiên cứu về cách tiếp cận quản trị tri thức trong tổ chức Trong hệ
thống lý thuyết hiện đại về quản trị công ty, quản trị tri thức thường được tiếp cận
theo phương thức “mã hóa” và “cá nhân hóa” (Hansen, 1999; Powell & Ambrosini,
2012; Obeidat & cộng sự, 2016)
Trang 5Thứ ba, nghiên cứu về vai trò của quản trị tri thức trong tổ chức Tổng kết lý
thuyết cho thấy quản trị tri thức có ba vai trò cốt yếu: (1) QTTT giúp nâng cao sự hợp
tác thực hành tri thức trong doanh nghiệp, hay nói cách khác QTTT tạo ra môi trường
để khám phá tri thức; (2) với khối lượng tri thức phong phú và biến động liên tục, việc
quản trị tri thức giúp doanh nghiệp tạo ra, làm mới, xây dựng và tổ chức các tài sản tri
thức, từ đó có thể sử dụng tri thức nhanh chóng và hiệu quả hơn; (3) QTTT giúp tích
hợp tri thức bên trong và bên ngoài doanh nghiệp làm cho những tri thức này trở nên
sẵn có và dễ tiếp cận hơn (Plessis, 2007)
1.2 Tổng quan nghiên cứu về đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
Dựa trên tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả rút ra một số
hướng nghiên cứu chính về ĐMST trong doanh nghiệp
Thứ nhất, hướng nghiên cứu về khái niệm, bản chất và các cách phân loại ĐMST
Bản chất ĐMST có nhiều thuộc tính nên cũng có nhiều cách phân loại khác nhau
Baregheh & cộng sự (2009) đã tổng hợp 6 thuộc tính của ĐMST gồm: (1) bản chất
ĐMST; (2) các loại hình ĐMST; (3) các giai đoạn ĐMST; (4) bối cảnh xã hội của
ĐMST; (5) phương tiện ĐMST; và (6) mục tiêu của ĐMST
Thứ hai, hướng nghiên cứu vai trò của đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
ĐMST chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, tăng trưởng, lợi nhuận và tạo ra
các giá trị bền vững cho doanh nghiệp (Palacios & cộng sự, 2009)
Thứ ba, hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo trong
doanh nghiệp Tổng quan tài liệu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng được phân làm hai
nhóm chính: nhóm nhân tố bên trong gồm những nhân tố thuộc sự kiểm soát của doanh
nghiệp và nhóm nhân tố bên ngoài gồm những nhân tố vượt ra khỏi phạm vi kiểm soát
của doanh nghiệp (Edison & cộng sự, 2013)
1.3 Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới
sáng tạo trong doanh nghiệp
Tổng quan nghiên cứu cho thấy, ảnh hưởng của QTTT tới ĐMST thường thiết
kế dọc theo các quá trình QTTT Các quá trình QTTT chính được nhắc đến trong các
nghiên cứu về QTTT ở doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng gồm có: tiếp thu
tri thức; lưu trữ tri thức; chia sẻ tri thức; sáng tạo tri thức; sử dụng tri thức
Tiếp thu tri thức được hiểu là các hoạt động làm gia tăng khối lượng tri thức của
tổ chức (Obeidat & cộng sự, 2016) Egbu & cộng sự (2005) định nghĩa quá trình này
xác định kiến thức cần thiết cho công ty cũng như các nguồn có thể thu nhận kiến thức
này, từ đó tạo ra các ý tưởng và giải pháp mới và hữu ích
Sáng tạo tri thức đề cập đến hoạt động phát triển ý tưởng, giải pháp mới và hữu
ích liên quan đến các khía cạnh khác nhau của tổ chức, như việc nâng cao chất lượng
sản phẩm, thay đổi quy trình công nghệ, thay đổi quy trình quản lý Sáng tạo tri thức
ảnh hưởng tích cực đến kết quả đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp cũng đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu (Soon & Zainol, 2011; Shu & cộng sự, 2012; Zelaya-Zamora & Senoo, 2013)
Lưu trữ tri thức là hoạt động lưu trữ và truy xuất thông tin để người sử dụng/áp
dụng sau này có thể dễ dàng tiếp cận và sử dụng (Andreeva & Kianto, 2011), được thiết kế để cung cấp phương tiện lưu trữ và truy xuất thông tin (Alavi & Leidner, 2001; Garcia-Muina & cộng sự, 2009; Donate & Guadamillas, 2010) Việc lưu trữ tri thức giúp cho các thế hệ sau có thể tiếp cận tri thức và giảm thiểu rủi ro tổ chức bị mất đi tri thức khi nhân sự nghỉ hưu hoặc thôi việc (Swan & cộng sự, 2000) Một số khác lại đưa
ra kết quả minh chứng lưu trữ tri thức không có ảnh hưởng đáng kể đến ĐMST (Swan
& Newell, 2000; Nguyen Ngoc Thang & Pham Anh Tuan, 2020) Những nghiên cứu
này giải thích về rằng việc lưu trữ tri thức tập trung vào việc tạo ra các tài liệu để mọi người dễ dàng tiếp cận hơn là việc tạo ra tri thức mới
Chia sẻ tri thức là hoạt động trao đổi kiến thức và kinh nghiệm trong nội bộ
doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với các tổ chức bên ngoài Nhiều nghiên cứu chứng
minh chia sẻ tri thức ảnh hưởng tích cực đến kết quả đổi mới sáng tạo trong doanh
nghiệp (Darroch & McNaughton, 2002; Obeidat & cộng sự, 2016) Tuy nhiên không
phải tất cả các nghiên cứu đều khẳng định rằng chia sẻ tri thức có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp Bouncken & Kraus (2013) đã chỉ ra rằng sự
hợp tác giữa doanh nghiệp với các nhà cung cấp, khách hàng, đối tác và đối thủ cạnh
tranh là con dao hai lưỡi đối với hoạt động đổi mới của họ
Sử dụng tri thức là hoạt động ứng dụng kiến thức để tạo ra giá trị của doanh
nghiệp Vai trò của việc sử dụng tri thức trong các tổ chức đã được thừa nhận từ rất lâu Quá trình này liên quan đến việc áp dụng kiến thức, thông tin vào quy trình hoạt động và quy trình kinh doanh của tổ chức để tạo ra các kết quả đổi mới rõ ràng, chẳng hạn như đổi mới sản phẩm, dịch vụ, thủ tục và quy định
1.4 Khoảng trống và đề xuất nghiên cứu
Thứ nhất, về bối cảnh nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu cho thấy hiện nay đã
có nhiều nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa QTTT và ĐMST, tuy vậy các nghiên cứu thực nghiệm về quản trị tri thức thường lấy bối cảnh là các doanh nghiệp
có đặc điểm như doanh nghiệp có quy mô lớn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao, doanh nghiệp thực hiện quy trình quản trị và chiến lược quản trị tri thức chuyên nghiệp và xem việc áp dụng quản trị tri thức để đổi mới sáng tạo là một lợi thế cạnh tranh của mình (Donate & Guadamillas, 2011; Liao, 2007) và ít tập trung nghiên cứu đối tượng là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa
Thứ hai, về mô hình nghiên cứu, ở Việt Nam gần đây đã có một số nghiên cứu
về ảnh hưởng của quản trị tri thức đến kết quả đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp, nhưng phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu tác động riêng rẽ của một hoặc một vài
Trang 6quá trình của quản trị tri thức (Nguyen Ngoc Thang & Pham Anh Tuan, 2020; Lê Ba
Phong, 2021) đến đổi mới sáng tạo của tổ chức Trong khi đó, một số nghiên cứu trên
thế giới chứng minh rằng nhiều quá trình quản trị tri thức có ảnh hưởng đến đổi mới
sáng tạo trong doanh nghiệp (Obeidat & cộng sự, 2016; Teixeira & cộng sự, 2019)
Bên cạnh đó, việc xác định các quá trình quản trị tri thức trong nghiên cứu chủ yếu là
kế thừa từ các nghiên cứu trước mà chưa có sự đánh giá tính phù hợp của các quá trình
nghiên cứu này trong bối cảnh nghiên cứu là DNNVV tại Việt Nam Chính vì vậy, việc
xác định các quá trình quản trị tri thức tồn tại trong DNNVV ở Việt Nam và đánh giá
ảnh hưởng của những quá trình này đến hoạt động đổi mới sáng tạo sẽ đưa ra một bức
tranh toàn diện về quản trị tri thức và đổi mới sáng tạo tại các tổ chức này
Thứ ba, trong các nghiên cứu trước đây có ý kiến khác nhau về mức độ và chiều
hướng ảnh hưởng của quá trình chia sẻ tri thức và quá trình lưu trữ tri thức tới đổi mới sáng
tạo trong doanh nghiệp Chính vì vậy, luận án kỳ vọng thông qua việc đánh giá và thử
nghiệm các giả thuyết được phát triển trong nghiên cứu này góp phần luận giải một số kết
luận và tranh luận trong các nghiên cứu trước đây về chiều ảnh hưởng của các quá trình
chia sẻ tri thức và quá trình lưu trữ tri thức tới đổi mới sáng tạo trong DNNVV tại Việt Nam
Những hạn chế trên cũng là khoảng trống nghiên cứu mà luận án hướng đến để
bổ sung, hoàn thiện Nội dung nghiên cứu của luận án kỳ vọng sẽ bổ sung lý thuyết
còn thiếu về quản trị tri thức và đổi mới sáng tạo tại DNNVV Bên cạnh đó, kết quả
nghiên cứu kỳ vọng sẽ đưa ra một số hàm ý chính sách cho các nhà quản lý nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động đổi mới sáng tạo trong DNNVV tại Việt Nam
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ
TRI THỨC TỚI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG DOANH NGHIỆP
2.1 Khái niệm
2.1.1 Tri thức trong doanh nghiệp
Nghiên cứu này tiếp cận quan điểm về tri thức dưới góc nhìn tổ chức và định nghĩa
‘Tri thức’ là kiến thức và kỹ năng, có thể tồn tại ở dưới hình thức thông tin, dữ kiện và
được hình thành từ hoạt động giáo dục đào tạo hoặc đút rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn
2.1.2 Quản trị tri thức trong doanh nghiệp
Trong luận án này, quản trị tri thức được nghiên cứu dưới góc độ là các quá trình
hoạt động liên quan đến tài sản tri thức của doanh nghiệp, theo đó “Quản trị tri thức
trong doanh nghiệp là tích hợp của các quá trình khác nhau liên quan đến tri thức của
tổ chức nhằm tăng năng suất, lợi nhuận và khả năng phát triển của tổ chức”
2.1.3 Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
2.1.3.1 Khái niệm đổi mới sáng tạo
Khái niệm của OECD (2018) “Đổi mới sáng tạo là sự thực thi áp dụng một sản
phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) hoặc quy trình mới hay cải tiến đáng kể, một phương
pháp marketing mới hay là phương thức tổ chức mới trong thực tiễn hoạt động, trong
tổ chức công việc hay trong quan hệ với bên ngoài”
2.1.3.2 Phân loại đổi mới sáng tạo Phân loại theo cấp độ đổi mới sáng tạo: ĐMST có thể xem xét ở nhiều cấp độ: (1)
Cấp độ cá nhân; (2) Cấp độ nhóm; (3) Cấp độ tổ chức; (4) Cấp độ xã hội Luận án này tập trung nghiên cứu về ĐMST trong tổ chức nói chung và đổi mới ở DNNVV nói riêng Vì vậy khái niệm ĐMST được trong trong luận án này được hiểu là ĐMST ở cấp độ tổ chức
2.1.3.3 Đo lường đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
Nghiên cứu này sử dụng đo lường ĐMST thông qua khảo sát doanh nghiệp trong công trình nghiên cứu của Donate & Guadamillas (2011) Thang đo ĐMST của Donate
& Guadamillas (2011) được trích dẫn lại trong nhiều nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quản trị tri thức đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp (Donate & Pablo, 2015; Nguyen Ngoc Thang & Pham Anh Tuan, 2020)
2.1.4 Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa khác nhau tùy theo tiêu chuẩn của từng quốc gia DNNVV ở các quốc gia có một vài đặc điểm chung: (1) DNNVV thường điều hành theo phong cách gia đình và hay xung đột trong vấn đề sở hữu; (2) DNNVV có quy mô nhỏ, năng lực sản xuất kinh doanh còn nhiều hạn chế, không có lợi thế kinh tế theo qui mô; (3) DNNVV với tổ chức bộ máy gọn nhẹ, có tính linh hoạt trong kinh doanh; (4) DNNVV có chu kỳ kinh doanh ngắn, tốc độ thu hồi vốn cao, đảm bảo cho doanh nghiệp linh hoạt trong việc điều tiết và huy động vốn
2.2 Lý thuyết nền tảng về ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
2.2.1 Lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực
Dựa vào lý thuyết này, môi trường bên trong tổ chức chính là yếu tố giải thích kết quả hoạt động vượt trội của tổ chức Luận án dựa trên lý thuyết dựa vào nguồn lực
để có được một bức tranh tổng quát về vai trò quản trị nguồn lực tri thức trong quá trình tạo ra giá trị cho doanh nghiệp
2.2.2 Lý thuyết doanh nghiệp từ góc nhìn tri thức
Lý thuyết quản trị dựa vào tri thức (KBV – Knowledge based view) được xem là phát triển từ lý thuyết dựa vào nguồn lực Theo lý thuyết này, các nguồn lực liên quan đến tri thức được coi là tài sản chiến lược quan trọng và góp phần lớn vào nâng cao hiệu quả tổ chức và làm tăng lợi thế cạnh tranh bền vững trong bối cảnh kinh doanh biến động và nhiều thử thách
2.2.3 Lý thuyết năng lực động
Teece & cộng sự (1997) đã giới thiệu khung năng lực động (Dynamic Capability) nhằm nghiên cứu hành vi của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh
Trang 7nhiều biến động và các doanh nghiệp cạnh tranh dựa trên đổi mới Theo những tác giả
này, năng lực động thể hiện khả năng tích hợp, xây dựng và cấu hình lại các năng lực
bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp để giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp
trong điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng
Lý thuyết năng lực động đã khắc phục hạn chế của các lý thuyết RBV và KBV
Lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực bị phê phán là bỏ qua biến động của môi trường,
bỏ qua sự thay đổi các nguồn lực khi có cú sốc từ bên ngoài (Nguyễn Văn Thắng & cộng
sự, 2015) mà chỉ xác định tiêu chuẩn VRIN để xem xét nguồn lực tạo nên kết quả kinh
doanh vượt trội và bền vững của doanh nghiệp Đối với lý thuyết quản trị dựa vào tri thức
(KBV), các học giả đại diện cho lý thuyết này đều cho rằng tri thức là nguồn gốc của lợi thế
cạnh tranh, nhưng không làm rõ nguồn gốc của cạnh tranh là tri thức (knowledge) hay là
các quá trình tri thức (knowledge processes) (Nguyễn Văn Thắng & cộng sự, 2015) Do
vậy, quan điểm tri thức dựa trên lý thuyết năng lực động đã giải thích chính xác hơn khả
năng tái tạo nguồn lực để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp
2.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
2.3.1 Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu này phát triển mô hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết quản trị dựa
trên nguồn lực, lý thuyết doanh nghiệp từ góc nhìn tri thức và lý thuyết năng lực động
QTTT trong các doanh nghiệp được hiểu là tập hợp các quá trình như liên quan đến tri
thức của tổ chức Từng quá trình độc lập trong quản trị tri thức đều có mối liên kết với
nhau và đều có ảnh hưởng tích cực đến ĐMST trong doanh nghiệp (Andreeva &
Kianto, 2011; Turulja & Bajgoric 2018; Teixeira & cộng sự, 2019)
Hình 2.1 Mô hình dự kiến
Nguồn: Tác giả xây dựng
Biến độc lập: 5 quá trình quản trị tri thức bao gồm (1) Tiếp thu tri thức; (2) Sáng
tạo tri thức; (3) Lưu trữ tri thức; (4) Chia sẻ tri thức; (5) Sử dụng tri thức
Biến phụ thuộc: Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
2.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1 (H1): Tiếp thu tri thức ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa
Giả thuyết 2 (H2): Sáng tạo tri thức có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa
Giả thuyết 3 (H3): Lưu trữ tri thức ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa
Giả thuyết 4 (H4): Chia sẻ tri thức ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa
Giả thuyết 5 (H5): Sử dụng tri thức ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngoài việc kiểm định các mối quan hệ giữa các biến độc lập và các biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu, luận án đánh giá tác động của các đặc điểm của doanh nghiệp DNNVV tới các quá trình QTTT và ĐMST trong doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong các nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị tri thức tới đổi mới sáng tạo, các đặc điểm của doanh nghiệp được sử dụng là quy mô doanh nghiệp, loại hình sở hữu, lĩnh vực hoạt động thường được sử dụng
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình và phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu của luận án
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu
3.1.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Khi xây dựng mô hình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu SLR (systematic literature review) để lựa chọn các biến cụ thể để đưa vào mô hình nghiên cứu
Trang 8Sau khi đã xác định được câu hỏi nghiên cứu “Có những quy trình quản trị tri thức
nào ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp?”, tác giả tiến hành thu thập dữ
liệu với các tiêu chí bao gồm và loại trừ được áp dụng trong bài Các tiêu chí bao gồm:
các ấn phẩm trong giai đoạn 2005-2022, các bài nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu lý
thuyết, sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh, tập trung vào quá trình quản trị tri thức; ảnh hưởng
của quản trị tri thức đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa
Sau khi chọn lựa, tác giả chọn lọc được 33 bài báo đáp ứng các tiêu chí đặt ra để
làm cơ sở phân tích, trong đó số bài báo xuất bản trong 5 năm gần đây chiếm gần 60%
Luận án đề xuất 14 quá trình QTTT trong doanh nghiệp Dữ liệu được phân tích từ bảng
Ma trận giữa các bài báo và các quá trình QTTT được phân tích và nhóm thành 2 nhóm
Nhóm 1 gồm có các quá trình QTTT có tần suất xuất hiện cao gồm có: Tiếp thu tri thức
(21 lần); Chia sẻ tri thức (18 lần); Sử dụng tri thức (15 lần); Dự trữ tri thức (11 lần); Sáng
tạo tri thức (9 lần) Nhóm thứ hai gồm 9 quá trình còn lại với tần suất xuất hiện ít hơn Từ
thống kê này cho thấy vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến các quy trình Nhận diện
tri thức; Phổ biến tri thức; Phản ứng với tri thức; Kết hợp tri thức; Chuyển giao tri thức…
Có thể coi 5 quá trình nhóm 1 là nhóm những quá trình QTTT truyền thống có ảnh
hưởng đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
3.1.2.2 Phương pháp định tính – phỏng vấn sâu
3.1.2.3 Phương pháp định lượng – điều tra khảo sát
3.2 Nghiên cứu định tính
3.2.1 Mục tiêu nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính phỏng vấn sâu nhằm kiểm tra độ phù hợp của thang đo sử
dụng trong nghiên cứu Các thang đo được sử dụng trong luận án này là những thang đo
đã được kiểm định về tính khoa học và thực tiễn, được tác giả thừa kế từ những nghiên
cứu được đăng trên các tạp chí uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu và có lượng trích dẫn cao
Mặc dù vậy, trong bối cảnh nghiên cứu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam,
những thang đo này cũng cần được điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp
3.2.2 Phương pháp thực hiện
3.2.2.1 Đối tượng phỏng vấn sâu
Mẫu nghiên cứu định tính lần 1 là năm chuyên gia gồm các giảng viên, nghiên
cứu viên là những người có nhiều năm kinh nghiệm đào tạo, giảng dạy và nghiên cứu
trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo Mẫu nghiên cứu định tính lần 2 là các cán bộ quản lý
của 12 DNNVV đến từ ba trung tâm kinh tế lớn của cả nước như Hà Nội, Đà Nẵng, và
TP Hồ Chí Minh
3.2.2.2 Thu thập và xử lý thông tin
Để thực hiện nghiên cứu định tính, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu gồm nghiên cứu tại bàn, quan sát và phỏng vấn sâu, trong đó phỏng vấn sâu là phương pháp được sử dụng chính trong nghiên cứu
3.2.3 Kết quả nghiên cứu định tính
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của luận án, nghiên cứu định tính đã đạt được một số kết quả như sau:
+ Quản trị tri thức của các DNNVV tại Việt Nam bao gồm 5 quá trình: tiếp thu tri thức; sáng tạo tri thức; lưu trữ tri thức; chia sẻ tri thức; và sử dụng tri thức Đây là căn cứ để xác định sự phù hợp của nghiên cứu khi lựa chọn các quá trình này trong mô hình nghiên cứu đề xuất
+ Hoạt động ĐMST luôn tồn tại trong DNNVV tại Việt Nam Thang đo hoạt động ĐMST này ngoài các mục đánh giá chủ quan tuyệt đối (so sánh kết quả của công ty qua các năm) còn có các mục đánh giá tương đối (so sánh với đối thủ cạnh tranh chính) + Các quá trình QTTT trong DNNVV được xác định có ảnh hưởng đến hoạt động ĐMST trong DNNVV
3.3 Nghiên cứu định lượng
3.3.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ
3.3.1.1 Mục tiêu nghiên cứu định lượng sợ bộ
Mục tiêu chính của điều tra thử là phát hiện các điểm yếu trong thiết kế và cấu trúc câu hỏi, đồng thời hạn chế tối thiểu những vấn đề trong quá trình trả lời câu hỏi và nhập dữ liệu
3.3.1.2 Thông tin mẫu
Mẫu nghiên cứu của bước này là DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội Đối tượng thích hợp để trả lời các câu hỏi là giám đốc/phó giám đốc doanh nghiệp, trưởng phòng ban trong doanh nghiệp là những người tham gia trực tiếp với quá trình quản trị doanh nghiệp
3.3.1.3 Phương pháp thực hiện
Tác giả đã gửi phiếu điều tra đến 180 DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện Kết quả đến tháng 4 năm 2021, từ 180 phiếu điều tra gửi đi, tác giả thu về được 102 phiếu hợp lệ có thể sử dụng cho phân tích sơ
bộ, đạt tỷ lệ 57%
3.3.1.3 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ
Bảng 3.1 Tổng hợp các thang đo và biến quan sát bị loại
loại biến
Trang 9Tiếp thu tri thức TT6 0,850
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát sơ bộ
Kiểm định KMO và Bartlett’s trong phân tích các biến quan sát thuộc bộ thang
đo cho thấy chỉ số KMO = 0,790 thỏa mãn điều kiện KMO > 0.5 (Kaiser, 1974), sig =
0,000 < 0,05, chứng tỏ phân tích phù hợp để thực hiện phân tích nhân tố EFA
3.3.2 Nghiên cứu định lượng chính thức
3.3.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chính thức
Mục đích của nghiên cứu định lượng chính thức:
- Kiểm định ANOVA để so sánh mức độ đánh giá của DNNVV về các quá trình
quản trị tri thức và đổi mới sáng tạo theo các nhóm doanh nghiệp khác nhau
- Đánh giá lại độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha
- Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để kiểm chứng sự tồn tại của các khái niệm
nghiên cứu trong môi trường nghiên cứu cụ thể, xem xét tính tương thích của mô hình
với dữ liệu khảo sát thực tế
- Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
3.3.3.2 Mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn phương pháp chọn mẫu thuận tiện Đây
là phương pháp chọn mẫu phi xác suất trong đó tác giả tiến hành lựa chọn các phần tử
hình thành mẫu nghiên cứu theo tiêu chí thuận tiện cho việc tiến hành nghiên cứu Sau
khi loại bỏ các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp có thời gian hoạt động dưới 3
năm, số doanh nghiệp bị trùng, số lượng doanh nghiệp còn lại là 534 doanh nghiệp
3.3.2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng chính thức
Tác giả tiến hành lọc bảng hỏi, làm sạch dữ liệu, mã hóa những thông tin cần
thiết trong bảng câu hỏi, nhập liệu và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS phiên
bản 26 và AMOS 20 Thống kê mô tả dữ liệu thu thập bằng cách so sánh tần suất giữa
các nhóm khác nhau theo biến đặc điểm doanh nghiệp Phương pháp phân tích dữ liệu
chính thức được sử dụng cho luận án này là phân tích EFA, CFA và hồi quy bội
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thực trạng về doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Đổi mới sáng tạo trong DNNVV tại Việt Nam
Dựa vào dữ liệu khảo sát Doanh nghiệp của Ngân hàng thế giới, các DNNVV ở Việt Nam thực hiện tương đối các ĐMST về sản phẩm và quy trình, bao gồm cả việc áp dụng tự động hóa (OECD, 2021) Khoảng 33 % DNNVV tại Việt Nam giới thiệu sản phẩm đổi mới Tuy nhiên, ĐMST sản phẩm chủ yếu là thực hiện các thay đổi nhỏ từ các hoạt động hiện có, phần lớn ĐMST trong DNNVV tại Việt Nam không đến từ hoạt động
nghiên cứu và phát triển
ĐMST quy trình khá phổ biến ở DNNVV ở Việt Nam Khoảng 34% DNNVV tại Việt Nam giới thiệu những quy trình mới, tỷ lệ này cao thứ hai trong khu vực ASEAN, chỉ sau Philippine Khoảng cách giữa DNNVV và các công ty lớn trong đổi mới quy trình là khoảng 10 điểm phần trăm, cao hơn so với tỷ lệ đổi mới sản phẩm (8.7 điểm phần trăm) nhưng thấp hợp so với trung bình của các nước ASEAN (17 điểm phần trăm) Chỉ 19% DNNVV tại Việt Nam thực hiện ĐMST tổ chức, mặc dù nhiều nghiên cứu chỉ ra đổi mới tổ chức sẽ tăng hiệu suất doanh nghiệp Mặt khác, tỷ lệ DNNVV tại Việt Nam thực hiện ĐMST marketing khá cao (31%), cao hơn tỷ lệ doanh nghiệp lớn ở Việt Nam (29%), khoảng 50% trong số này là thực hiện làm website kinh doanh
4.2 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
4.2.1 Thông tin về đối tượng khảo sát
Sau 2 tháng kể từ khi bắt đầu gửi phiếu khảo sát, tác giả thu về 358 phiếu (đạt
tỷ lệ 67,04 %) Số lượng phiếu thu được thấp do không thể liên hệ được với doanh nghiệp qua email, điện thoại; một số doanh nghiệp đã thay đổi địa điểm làm việc; và một số doanh nghiệp không hỗ trợ trả lời phiếu điều tra Số lượng doanh nghiệp không thu được phiếu điều tra chủ yếu tập trung vào đối tượng doanh nghiệp siêu nhỏ Tác giả tiến hành sàng lọc phiếu điều tra, loại bỏ những phiếu không hợp lệ như: điền thiếu các thông tin quan trọng, hoặc thiếu trên 10% thông tin Cuối cùng, số phiếu đạt đủ điều kiện nhập và phân tích dữ liệu là 332/358 phiếu (đạt tỷ lệ 92,74 %) Tác giả kiểm tra tính trùng lặp của mẫu nghiên cứu và 332 quan sát đều đảm bảo hoàn toàn độc lập, không trùng lặp Về khu vực khảo sát, tác giả cố gắng thu thập đúng với dự kiến, nhưng số phiếu điều tra hợp lệ có thể dùng phân tích chỉ vừa đủ theo số liệu dự kiến tối thiểu (332) phiếu Tuy nhiên, về cơ bản, số phiếu thu được phân bổ khá hợp lý
và có thể chấp nhận được để xử lý và phân tích
4.2.2 Thực trạng đánh giá của doanh nghiệp nhỏ và vừa về quản trị tri thức
Để đánh giá thực trạng quản trị tri thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, tác giả đã sử dụng điểm đánh giá trung bình, độ lệch chuẩn và khoảng tin cậy
95% đối với tiếp thu tri thức; sáng tạo tri thức; lưu trữ tri thức; sử dụng tri thức; chia
Trang 10sẻ tri thức; và đổi mới sáng tạo
4.3 Phân tích so sánh nhóm
Để xem xét sự khác biệt trong đánh giá về quản trị tri thức và đổi mới sáng tạo
theo các nhóm doanh nghiệp có hình thức sở hữu khác nhau, các nhóm doanh nghiệp
thuộc các ngành nghề khác nhau, các nhóm doanh nghiệp theo quy mô (tính theo số
lao động) khác nhau nghiên cứu sử dụng kiểm định ANOVA
4.4 Kiểm định thang đo
Kiểm định chất lượng thang đo
Kết quả đánh giá độ tin cậy của các thang đo bằng Cronbach’s Alpha cho thấy
tất cả các thang đo trong các biến trong mô hình nghiên cứu đều đảm bảo độ tin cậy
khi giá trị Cronbach’s Alpha đều vượt ngưỡng yêu cầu thông lệ là 0,6 Giá trị
Cronbach’s Alpha nếu loại biến tổng của từng biến quan sát đều nhỏ hơn hoặc bằng
Cronbach’s Alpha của từng thang đo Vì vậy, thang đo của các biến được sử dụng trong
nghiên cứu đáp ứng yêu cầu cho các bước tiếp theo
Phân tích nhân tố khám phá
Theo kết quả kiểm định, KMO = 0,830 thỏa mãn điều kiện 0,5<=KMO<=1, phân
tích nhân tố là thích hợp với dữ liệu thực tế, quy mô mẫu điều tra đủ điều kiện thích
hợp để tiến hành phân tích nhân tố
bằng 0 trong tổng thể có ý nghĩa thống kê vì giá trị P-value (Sig.) xác định được từ mẫu
điều tra là 0,000 nhỏ hơn so với mức ý nghĩa 0,05 (hay 5%) Vì vậy, có thể bác bỏ giả
Phương sai trích = 66,716% và Eigenvalues = 2,967>1 cho biết 66,716 % thay
đổi của mỗi nhân tố được giải thích bởi các biến quan sát của nhân tố
Phân tích nhân tố khẳng định
Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) được sử dụng trong luận án
nhằm xem xét sự phù hợp của mô hình lý thuyết với dữ liệu nghiên cứu, kiểm định tính
hội tụ, tính phân biệt và sự tin cậy của mô hình Qua phân tích Nhân tố khẳng định, giá
trị Chi bình phương điều chỉnh theo bậc tự do (Cmin/df) = 1,260 <5; chỉ số TLI và chỉ
số thích hợp so sánh CFI > 0,9; chỉ số RM-SEA = 0,030 < 0,05 Kết quả tính toán cho
thấy các chỉ số của mô hình đều thỏa mãn, mô hình được chấp nhận với dữ liệu nghiên
cứu, nói cách khác mô hình đo lường phù hợp tốt với dữ liệu thực tế
Kiểm tra độ chính xác và tin cậy của mô hình
Sau khi loại bỏ biến quan sát TT1 khỏi mô hình CFA ban đầu, mô hình CFA vẫn
đảm bảo sự phù hợp với giá trị Chi bình phương điều chỉnh theo bậc tự do (Cmin/df)
= 1,271 <5; chỉ số TLI và chỉ số thích hợp so sánh CFI = 0,979 > 0,9; chỉ số RM-SEA
= 0,029 < 0,05 và các giá trị CR >0,6, AVEs cao hơn 0,5 và tính phân biệt thỏa mãn nếu giá trị căn bậc hai của AVE lớn hơn hệ số tương quan giữa các thang đo và giá trị của AVE lớn hơn MSV thỏa mãn yêu cầu Do đó có thể khẳng định các thang đo trong
mô hình nghiên cứu đều đạt được giá trị hội tụ và giá trị phân biệt để tiếp tục tiến hành
kiểm định các giả thuyết
Qua kết quả phân tích CFA, tác giả kết luận các biến độc lập và phụ thuộc phù hợp với mô hình lý thuyết và dữ liệu nghiên cứu, các khái niệm nghiên cứu đều đảm bảo độ tin cậy, tính hội tụ và tính phân biệt
4.5 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
4.5.1 Kết quả phân tích tương quan
Kết quả cho thấy tất cả các giá trị sig trong tương quan Pearson giữa tất cả các biến độc lập và biến phụ thuộc đều bằng 0,000 (< 0,05), chứng tỏ các biến độc lập đều có tương quan tuyến tính mạnh với biến phụ thuộc, nghĩa là khi giá trị của các nhân tố quá trình quản trị tri thức càng cao thì giá trị của đổi mới sáng tạo trong DNNVV cũng càng cao
Hệ số tương quan Pearson giữa từng cặp biến độc lập với nhau đều <0,8 nên có thể dự đoán không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến
4.5.2 Kết quả phân tích hồi quy bội
Mức độ giải thích của mô hình
bởi các biến độc lập của mô hình, hay nói cách khác 68,1% sự biến thiên của “Đổi mới
sáng tạo trong DNNVV” được giải thích bởi 5 quá trình QTTT và 31,9% sẽ do các yếu
tố khác ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên Chỉ số Durbin-Waston d = 1,886 (nằm trong khoảng 1<d<3), kết luận không có hiện tượng tự tương quan của phần dư
Mức độ phù hợp: Kiểm định F có Sig <0,00 có thể kết luận rằng mô hình đưa
ra phù hợp với dữ liệu thực tế Hay nói cách khác, về tổng thể, các biến độc lập có tương quan tuyến tính với biến phụ thuộc với mức độ tin cậy 99%
Kiểm định hiện tượng cộng tuyến của các biến độc lập: hệ số VIF của các biến
độc lập đều nhỏ hơn 2, chứng tỏ dữ liệu trong vi phạm giả định đa cộng tuyến
Hệ số hồi quy chuẩn hóa: Trong bảng 4.26 cho thấy mức độ tác động theo thứ
tự mạnh nhất tới thấp nhất: (F_CS) Chia sẻ tri thức; (F_SD) Sử dụng tri thức; (F_LT) Lưu trữ tri thức; (F_ST) Sáng tạo tri thức; và (F_TT) Tiếp thu tri thức
Bảng 4.1 Mức độ tác động của các biến độc lập