ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
Trang 1LÊ THỊ BẢO NHƯ
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN
KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 9340301
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2022
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Mai Thị Hoàng Minh
Vào hồi… giờ… ngày… tháng……năm……
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Đại học Kinh tế TP HCM
Trang 3Lê Thị Bảo Như Ảnh hưởng của IFRS đến các khoản chênh
lệch kế toán – thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Kế toán Việt Nam tương lai và triển vọng, ISBN: 978-604-60-3012-6, tháng 5/2019, tr 315 – 318.
Mai Thi Hoang Minh & Le Thi Bao Nhu Book-taxdifferences and Accounting conservatism – Evidence from Vietnam,
Vietnam's Social-economic Develop, ISSN: 0868-359X, Volume 24,
Issue 2, Number 98 July 2019, pp 47 – 62
Lê Thị Bảo Như, Nguyễn Thị Thu Hậu & Nguyễn Thị KhánhVân Ảnh hưởng của chênh lệch kế toán – thuế đến quyết toán và
kiểm toán thuế thu nhập doanh nghiệp, Tạp chí Tài chính, ISSN:
2615-8973, Kỳ 2 tháng 10/2020 (739), tr 52-54
Lê Thị Bảo Như, Nguyễn Thị Thu Hảo & Nguyễn Thị HồngHạnh Các yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế thu nhập doanhnghiệp tại các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, ISSN: 2588 – 1051, 5(2), 2021, tr 1576 - 1588.
Bùi Quang Hùng, Mai Thị Hoàng Minh, Lê Thị Bảo Như.Trao đổi về tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi
nhuận của doanh nghiệp, Tạp chí Tài chính, ISSN: 2615-8973, Kỳ 2
tháng 9/2021 (761), tr 40-43
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Chất lượng lợi nhuận (LN) là đề tài được nghiên cứu nhiều trong cáctài liệu (Kousenidis và cộng sự, 2013) Trong đó, tính ổn định của
LN được xem như là đại diện của chất lượng LN (P Dechow vàcộng sự, 2010; Mohammady, 2010; Kousenidis và cộng sự, 2013)
Sự khác biệt giữa LN kế toán và thu nhập chịu thuế ảnh hưởng đếnchất lượng LN trên Báo cáo tài chính (BCTC) và do đó, những thôngtin này rất hữu ích đối với người sử dụng để dự báo LN tương lai(Hanlon, 2005; Tang, 2006; Lev và Nissim, 2004; H Choi và cộng
sự, 2020) Một số nhà hoạch định chính sách và báo chí cho rằng nêncông bố thêm thông tin về chênh lệch kế toán và thu nhập chịu thuế(BTD) và các công ty có BTD lớn vì những công ty này có thể đangthao túng các số liệu cho mục đích kế toán hoặc cho mục đích thuếhoặc cho cả hai (Hanlon và Heitzman, 2010)
Thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa BTD vàtính ổn định của LN và các khoản dồn tích như nghiên cứu của Mills
và Newberry (2001) đưa ra bằng chứng về độ lớn của BTD có quan
hệ cùng chiều với nhiều khoản mục trong BCTC Phillips và cộng sự
(2003) mở rộng nghiên cứu này và chỉ ra chi phí thuế thu nhập hoãnlại cung cấp thông tin hữu ích về hoạt động điều chỉnh LN thông quatổng các khoản dồn tích và dồn tích bất thường từ mô hình Jones(1991) và Modified Jones (Patricia M Dechow và cộng sự, 1995).Joos và cộng sự (2000) cho rằng mối quan hệ giữa LN trước thuế vàsau thuế thì yếu hơn khi BTD (theo giá trị tuyệt đối) lớn, đây là bằngchứng để các doanh nghiệp dùng BTD như là cơ hội để điều chỉnh
Trang 5LN Các nhà đầu tư sẽ nhận ra sự điều chỉnh LN trên, từ đó giảm sựtin tưởng của họ vào LN được công bố Nghiên cứu của (Blaylock vàcộng sự, 2012; Hanlon, 2005; Xie, 2001) cũng chỉ ra rằng BTD ảnhhưởng đến chất lượng LN và thành phần dồn tích trong LN Tương
tự, Blaylock và cộng sự (2012) cho thấy BTD xuất phát từ điều chỉnh
LN, tránh thuế và do các quy định khác nhau giữa kế toán và thuế,các nguyên nhân này đều ảnh hưởng đến tính ổn định của LN và cáckhoản dồn tích Tang (2007) cung cấp một số bằng chứng thựcnghiệm xác nhận BTD là công cụ hữu ích để điều chỉnh LN và quản
lý thuế sau khi đã loại bỏ những khác biệt trong việc ghi nhận số liệutrên các báo cáo cho mục đích kế toán và mục đích thuế Có thể thấy,các nghiên cứu trước đây tập trung vào nhận thức của nhà quản lýtrong việc ghi nhận các khoản dồn tích mà chưa xem xét đến tính ổnđịnh của dòng tiền, vấn đề này đã được đề cập trong nghiên cứu của(Hanlon, 2005) nhưng không được tiến hành nghiên cứu (Jeong vàChoi, 2019)
Tại Việt Nam, kể từ năm 2013, chính sách thuế đã được sửa đổithường xuyên không chỉ để hỗ trợ doanh nghiệp mà còn tăng cường
sự tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) (Loan và cộng sự,2018) Tình trạng tránh thuế ngày càng phổ biến, do các doanhnghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước đều lợi dụng các kẽ
hở và ưu đãi trong luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam đểtìm cách giảm nghĩa vụ thuế Kết quả này làm thu hẹp nguồn thu củanhà nước, có thể dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc phân bổ cácnguồn lực xã hội và có thể gây ra những tác động tiêu cực đến nềnkinh tế (Ha và cộng sự, 2021) Công tác kiểm tra thuế TNDN ngàycàng được quan tâm và tăng cường do lo ngại về việc tránh thuế củacác công ty, đồng thời giúp tăng nguồn thu của chính phủ và tăng
Trang 6mức thuế đối với các đối tượng đóng thuế Đồng thời, thị trườngchứng khoán Việt Nam đang nổi lên vấn đề chênh lệch số liệu số liệutrước và sau kiểm toán, đặc biệt là khoản mục LN (Nguyễn Việt vàNguyễn Văn Hương, 2017) Vì vậy, việc phân tích và hiểu các thôngtin về chênh lệch giữa kế toán và thuế (BTD), cụ thể là chênh lệchgiữa LN kế toán và thu nhập chịu thuế, tính ổn định của LN và cácthành phần trong LN cũng như ảnh hưởng của BTD đến tính ổn địnhcủa LN là hết sức cần thiết Mặc dù trên thế giới đã có các nghiêncứu trên diện rộng về BTD, mối quan hệ của nó với tính ổn định của
LN và các khoản dồn tích Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu cụ thểnào làm rõ vấn đề nêu trên đối với các doanh nghiệp tại các nướcđang phát triển như Việt Nam Đồng thời, Việt Nam đang từng bướchội nhập kế toán quốc tế, tiến gần hơn với IFRS, đánh dấu sự thayđổi này đó là Thông tư số 200/2014/TT-BTC (Thông tư 200) ra đời
và có hiệu lực cho việc lập và trình bày BCTC từ năm 2015 (Phan vàcộng sự, 2018)
Xuất phát từ những vấn đề vừa nêu, đóng góp chính của luận ánnhằm giải quyết thiếu sót của các nghiên cứu trước dựa trên nghiêncứu của (Blaylock và cộng sự, 2012; Hanlon, 2005) để tìm hiểu vềảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN và tính ổn định của cácthành phần trong LN tại các công ty niêm yết trên thị trường chứngkhoán Việt Nam trong 10 năm qua Như đã trình bày ở trên, trongluận án này, chỉ tiêu BTD chính là sự chênh lệch giữa LN kế toán vàthu nhập chịu thuế Sự khác biệt chính của đề tài so với các nghiêncứu trước ở việc (1) So sánh tính ổn định của LN và các thành phầntrong LN giai đoạn trước và sau khi áp dụng Thông tư 200; (2) Xemxét ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổnđịnh của dòng tiền, từ đó đánh giá tính ổn định của LN; (3) So sánh
Trang 7ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổnđịnh của LN và các thành phần trong LN qua 2 giai đoạn nghiên cứunhư đã trình bày Ngoài ra, cách tính BTD, xác định các công tythuộc nhóm điều chỉnh LN hay tránh thuế đều dựa trên các tiếp cậnmới phù hợp với điều kiện tại Việt Nam và loại bỏ được ảnh hưởngcủa mức thuế suất thuế TNDN thay đổi nhiều trong nhiều năm gầnđây.
2 Tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian qua
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận án nhằm đo lường tính ổn định của LN và của cácthành phần trong LN, xác định ảnh hưởng của BTD và các nguyênnhân gây ra BTD đến tính ổn định này như thế nào Đồng thời, luận
án còn tìm hiểu sự khác nhau của tính ổn định LN và các thành phầntrong LN dưới ảnh hưởng của BTD qua các giai đoạn áp dụng chế độ
kế toán tại Việt Nam
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung giải quyết cáccâu hỏi sau:
Câu 1: Tính ổn định của LN và các thành phần trong LN tại ViệtNam như thế nào? Tính ổn định này trong giai đoạn trước khi ápdụng Thông tư 200 (2010-2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200(2015-2019) có khác nhau không?
Câu 2: BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của LN và cácthành phần trong LN? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi ápdụng Thông tư 200 (2010-2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200(2015-2019) có khác nhau không?
Câu 3: Các nguyên nhân gây ra BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính
ổn định của LN và các thành phần trong LN? Ảnh hưởng này trong
Trang 8giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010-2014) và giai đoạn
áp dụng Thông tư 200 (2015-2019) có khác nhau không?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm: Tính ổn định của LN, tính ổn địnhcủa các thành phần trong LN, BTD, các nguyên nhân gây ra BTDcủa các công ty ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Các công ty niêm yết trên thị trường Việt Nam, bao gồm thị trườngchứng khoán TP HCM (HOSE) và thị trường chứng khoán Hà Nội(HNX) với dữ liệu thu thập từ năm 2010 – 2019 Đây chính làkhoảng thời gian mà các BCTC của các doanh nghiệp niêm yết đượccung cấp tương đối đầy đủ Đồng thời, quá trình hoạt động của công
ty chịu ảnh hưởng của môi trường hoạt động bất lợi như dịch bệnhCovid-19 diễn ra mạnh ở Việt Nam trong năm 2020, 2021 làm ảnhhưởng đến LN và các chỉ tiêu trên BCTC, do đó, tác giả không cậpnhật giai đoạn nghiên cứu trong hai năm này
Loại trừ ra khỏi mẫu các công ty: (1) Có ít quan sát thu thập được domới niêm yết, (2) các công ty thuộc nhóm ngành ngân hàng, tàichính, bảo hiểm vì có những quy định hoạt động đặc thù riêng biệt,(3) các công ty không thu thập được dữ liệu cần thiết trong BCTCliên tục 3 năm, (4) các công ty không áp dụng Thông tư 200 sau năm2014
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Ý nghĩa của nghiên cứu
Về mặt lý thuyết
Trang 9Đề tài đóng góp cho lý thuyết gồm bốn yếu tố Đầu tiên, luận áncủng cố lý thuyết về BTD, tính ổn định của LN và thành phần trong
LN trong bối cảnh Việt Nam Thứ hai, nghiên cứu cung cấp các bằngchứng về ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN và các thànhphần trong LN ở Việt Nam Thứ ba, cung cấp cách thức phân nhómcác công ty dựa trên nguyên nhân gây ra BTD và xem xét ảnh hưởngcủa các nguyên nhân trên đối với tính ổn định của LN và của cácthành phần trong LN Cuối cùng, bằng cách so sánh các kết quảnghiên cứu giai đoạn trước và sau khi áp dụng Thông tư 200, luận áncũng cho thấy ảnh hưởng của chế độ kế toán mới này đối với tính ổnđịnh của LN Những điều này có ý nghĩa trong việc nghiên cứu kếtoán, thuế và mở rộng hiểu biết về mối liên hệ BTD và tính ổn địnhcủa LN cũng như các thành phần của LN trong bối cảnh Việt Nam.Đồng thời, nghiên cứu còn là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theoliên quan đến BTD, các nguyên nhân gây ra BTD, tính ổn định của
LN và các thành phần trong LN
Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu giúp nâng cao chất lượng dự đoán LN trongtương lai thông qua việc làm rõ tính ổn định của LN và của các thànhphần trong LN, từ đó giúp các nhà đầu tư, cổ đông có cái nhìn đầy đủhơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm đưa quyết địnhđầu tư, các chiến lược cạnh tranh… một cách đúng đắn
Thông qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhângây ra BTD đến tính ổn định của LN và các thành phần trong LN,các nhà quản lý, kế toán trưởng có thêm thông tin để quản lý LN,nâng cao chất lượng LN trình bày trong BCTC, cập nhật kiến thức,tuân thủ các quy tắc ghi nhận các nghiệp vụ trong các giai đoạn ápdụng chế độ kế toán khác nhau
Trang 10Ngoài ra, kết quả nghiên cứu là cơ sở giúp các cơ quan nhà nước, cácnhà hoạch định chính sách có thêm thông tin để quản lý các doanhnghiệp, xây dựng các nguyên tắc và chế độ kế toán và thuế một cáchkhoa học, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế.
8 Cấu trúc của luận án
Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài được trình bày dướidạng 5 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 5: Kết luận và các hàm ý quản trị
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
1.1 Các nghiên cứu có liên quan
1.1.1 Nghiên cứu về tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN
1.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN
và của các thành phần trong LN
1.1.3 Ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN
1.2 Kết quả đạt được từ các nghiên cứu trước
Nghiên cứu về tính ổn định của LN và các thành phần trong LN
Các nghiên cứu về tính ổn định của LN và các thành phần trong LNxuất hiện từ rất sớm (từ những năm 1969) Bằng nhiều phương phápkhác nhau, các nhà nghiên cứu đa phần chứng minh được LN có tính
ổn định, LN năm nay có thể ảnh hưởng đến LN của năm tiếp theo.Đồng thời, các thành phần của LN năm hiện tại cũng ảnh hưởng đến
LN tương lai, trong đó, thành phần dòng tiền có tính ổn định và ảnhhưởng đến LN tương lai nhiều hơn thành phần dồn tích
Nghiên cứu ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN
Mối quan hệ giữa BTD và chất lượng LN được nghiên cứu chủ yếutheo hai hướng nổi bật, là tiền đề nhiều nghiên cứu sau này:
Trang 12Hướng thứ nhất, Lev và Nissim (2004) cho thấy tổng BTD cung cấpthông tin về LN trong tương lai, tuy nhiên, chênh lệch tạm thời thìkhông liên quan đến sự thay đổi LN.
Hướng thứ hai, (Hanlon, 2005; Phillips và cộng sự, 2003) cho thấyBTD tạm thời có ảnh hưởng nghịch chiều đến tính ổn định của LNtrước thuế
Theo hai dòng nghiên cứu này, các tác giả sau này chia BTD thànhcác loại các nhau và điều tra ảnh hưởng của chúng đến tính ổn địnhcủa LN Mỗi loại như trên có ý nghĩa khác nhau đối với tính ổn địnhcủa LN và các thành phần trong LN tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu
và môi trường thể chế mà công ty hoạt động Hầu hết các nghiên cứusau này đều khẳng định BTD có ảnh hưởng cùng chiều (hoặc nghịchchiều) đến tính ổn định của LN và thành phần dồn tích trong LN.Tuy nhiên, kết quả không đồng nhất khi xét đến các yếu tố kiểm soátnhư số năm hoạt động của doanh nghiệp, hệ thống pháp lý của từngnước hay nhu cầu thông tin của cổ đông
Rất hiếm các đề tài về mối quan hệ giữa BTD và thành phần dòngtiền, và kết quả của những nghiên cứu này cũng cho kết quả khôngđồng nhất, chủ yếu tập trung ở các nước phát triển, nơi có hệ thống
kế toán và thuế tương đối ổn định, chưa có công bố toàn diện về ảnhhưởng của BTD đến tính ổn định của LN và các thành phần trong
LN tại các nước đang phát triển
Nghiên cứu ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính
ổn định của LN và của các thành phần trong LN
Các nguyên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng nguyên nhân gây raBTD là từ tránh thuế, điều chỉnh LN hoặc từ sự khác biệt giữa chuẩnmực kế toán và thuế Ảnh hưởng của các nguyên nhân trên đến tính
ổn định của LN và thành phần dồn tích trong LN có thể là cùng chiều
Trang 13hay nghịch chiều, tùy vào mẫu và phương pháp nghiên cứu của từngtác giả Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các nguyên nhân gây raBTD đến tính ổn định của dòng tiền vẫn chưa nhiều.
Tại Việt Nam, hiện chưa tìm thấy công bố về ảnh hưởng của BTD vàcác nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của LN và các thànhphần trong LN Tuy nhiên, trong nước đã có một số nghiên cứu vềtính ổn định của LN và các thành phần trong LN, một số nghiên cứukhác về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng LN của công ty, BTDảnh hưởng như thế nào đến thông tin trong BCTC; ngoài ra, một sốnghiên cứu cũng đề cập đến các yếu tố như điều chỉnh LN, tránh thuế
và sự khác nhau của quy định kế toán – thuế ảnh hưởng như thế nàođến tình hình hoạt động của công ty Những bài báo về vấn đề nàychưa nhiều, phương pháp nghiên cứu còn đơn giản nhưng bước đầuđịnh hình cơ sở lý thuyết và định hướng nghiên cứu sâu hơn trongtương lai Ở Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác, vẫncòn khe hổng trong các tài liệu nghiên cứu về tính ổn định của LN và
dự đoán LN dưới ảnh hưởng của BTD cần được giải quyết
1.3 Khe hổng nghiên cứu
Thứ nhất, chưa có nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về tính ổnđịnh của LN và của các thành phần của LN trong 10 năm qua đối vớicác doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Thứ hai, chưa tìm thấy nghiên cứu ảnh hưởng đồng thời của BTDđến các thành phần dồn tích và dòng tiền trong LN
Thứ ba, nghiên cứu về ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN
và của các thành phần trong LN tại các nước đang phát triển, trong
đó có Việt Nam đang bị thiếu hụt
Thứ tư, chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của các nguyên nhân gây
ra BTD đến tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN tại