Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Về lý luận, Trong những năm qua, nhiều tác giả đã đánh giá ảnh hưởng của
đặc điểm công việc (ĐĐCV) tới KQLV của người lao động (NLĐ) với những tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một số biến trung gian là những trạng thái
tâm lý của NLĐ (Morgeson & Humphrey, 2006) trong đó có tinh thần làm việc
(TTLV) Song, mối quan hệ trung gian này đã được các tác giả kiểm chứng chủ
yếu tập trung tại một hoặc một số đặc điểm cốt lõi của công việc mà chưa có
nghiên cứu nào xem xét tất cả đặc điểm cốt lõi của công việc
Về thực tiễn, cùng với xu thế toàn cầu hóa và sự tiến bộ trong mọi lĩnh vực,
đặc biệt là sự phát triển về tri thức, các quốc gia phải đối mặt với những thách
thức rất lớn của sự phát triển này Vì vậy, các quốc gia phải tìm mọi cách để tăng
lợi thế của mình trong cạnh tranh trong đó phải kể lợi thế về giáo dục Các cơ
quan quản lý cũng như các trường ĐH luôn tìm mọi cách để nâng cao chất lượng
đào tạo, nâng cao đông lực làm việc (ĐLLV) và nâng cao kết quả làm việc
(KQLV) của giảng viên (GV)
Như vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của ĐĐCV đến KQLV của GV, và
sự ảnh hưởng này thông qua diễn biến về TTLV của GV là cần thiết Trong điều
kiện giới hạn, tác giả đã lựa chọn thành phố Hà Nội là không gian nghiên cứu
Bởi Hà Nội là trung tâm văn hóa, giáo dục của cả nước, tập trung đông các trường
ĐH Mức độ cạnh tranh giữa các trường diễn ra trên nhiều phương diện Từ lý do
trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của đặc điểm công việc tới kết
quả làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội” để nghiên cứu với
mong muốn có những đóng góp nhất định về mặt lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là kiểm định và ước lượng mô hình
nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm công việc và kết quả làm việc Ngoài
ra, nghiên cứu cũng kiểm định vai trò tác động trung gian của tinh thần làm
việc trong mối quan hệ trên Từ đó đưa ra các hàm ý nhằm hoàn thiện hơn các
đặc điểm công việc, nâng cao tinh thần làm việc và cải thiện kết quả làm việc
của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa ĐĐCV, TTLV và KQLV cũng như vai trò trung gian của TTLV trong mối quan hệ giữa ĐĐCV và KQLV
- Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về các quan hệ giữa ĐĐCV, TTLV
và KQLV cũng như vai trò trung gian của TTLV trong mối quan hệ giữa ĐĐCV
và KQLV
- Đề xuất những khuyến nghị nhằm hoàn thiện các ĐĐCV, tăng cường tính tích cực của TTLV nhằm nâng cao KQLV của GV
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án trả lời những câu hỏi nghiên cứu cụ thể sau:
(1) ĐĐCV có ảnh hưởng như thế nào đến KQLV của GV các trường ĐH tại
Hà Nội?
(2) ĐĐCV có ảnh hưởng như thế nào đến TTLV của GV các trường ĐH tại Hà Nội?
(3) TTLV có ảnh hưởng như thế nào đến KQLV của GV các trường ĐH tại Hà Nội?
(4) Ảnh hưởng của ĐĐCV đến KQLV thông qua TTLV của GV các trường ĐH tại Hà Nội như thế nào?
(5) Các khuyến nghị nào có thể đề xuất từ kết quả nghiên cứu để hoàn thiện ĐĐCV, nâng cao TTLV và cải thiện KQLV của GV các trường ĐH tại Hà Nội?
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là ảnh hưởng của ĐĐCV tới KQLV thông qua vai trò trung gian của TTLV
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu những tiêu chí đánh giá KQLV
của GV, ĐĐCV và biến trung gian là TTLV cũng như mối quan hệ của những
yếu tố này
- Về không gian: Luận án nghiên cứu đối tượng là các giảng viên hiện
đang thực hiện các công tác giảng dạy và nghiên cứu trong các trường đại học và học viện trên địa bàn thành phố Hà Nội (không bao gồm các trường, học viện an ninh và quốc phòng)
Trang 2- Về thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu từ năm 2018 – 2021 và dữ liệu
khảo sát tiến hành trong khoảng 3 tháng từ 1/12/2022-1/3/2023
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu
định lượng Phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện với 2 giai đoạn:
Nghiên cứu định tính sơ bộ và nghiên cứu định tính bổ sung Nghiên cứu định tính
sơ bộ nhằm bổ sung và điều chỉnh thang đo cho đặc điểm công việc, tinh thần làm
việc và kết quả làm việc Nghiên cứu định tính bổ sung để củng cố hơn kết quả
nghiên cứu định lượng Với nghiên cứu định lượng, luận án sử dụng công cụ xử
lý dữ liệu phổ biến là: Phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang
đo (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tính hồi quy
tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để kiểm định các giả
thuyết
5 Những đóng góp mới của luận án
Về mặt lý luận: Luận án đã phát triển mô hình về vai trò trung gian của
TTLV trong mối quan hệ giữa ĐĐCV và KQLV của GV về mặt lý luận và đã bổ
sung thêm được một số chỉ báo cho các thang đo về ĐĐCV và KQLV
Về thực tiễn:
(1) Luận án đã cung cấp những đánh giá về ĐĐCV của GV, TTLV và
KQLV của họ, đánh giá mức độ tác động của ĐĐCV đến KQLV với vai trò trung
gian của TTLV
(2) Kết quả nghiên cứu cho thấy các ĐĐCV của giảng viên có động tích
cực đến kết quả thực hiện công việc được giao, công việc phát sinh và tác động
ngược chiều đến hành vi cản trở công việc của giảng viên
(3) Luận án cũng đưa ra những đề xuất và gợi ý về chính sách cũng như
biện pháp tăng KQLV của các trường đại học ở Việt Nam nói chung và Hà Nội
nói riêng
6 Bố cục luận án:
Luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, tổng quan, mô hình nghiên cứu về đặc điểm công
việc và kết quả làm việc
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và kết luận
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẶC ĐIỂM CÔNG VIỆC VÀ KẾT QUẢ LÀM VIỆC 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm về đặc điểm công việc
Luận án tiếp cận theo quan điểm này và đưa ra khái niệm như sau: ĐĐCV
là những điểm riêng, phản ánh bản chất của mỗi công việc mang lại cho NLĐ, được biểu hiện thông qua mức độ đa dạng của công việc, tầm quan trọng, tính rõ ràng và hoàn chỉnh của công việc, quyền tự chủ trong công việc và thông tin phản hồi về kết quả công việc
1.1.2 Khái niệm về tinh thần làm việc
Trong luận án này tác giả tiếp cận TTLV theo Iqbal và cộng sự (2018) đưa
ra định nghĩa: TTLV được hiểu là một trạng thái tâm lý Nó là tổng hòa của tinh thần trách nhiệm với công việc, cảm giác thích thú khi làm việc, cảm nhận về ý nghĩa của công việc và sự chủ động của mỗi cá nhân trong thực hiện công việc cũng như giúp đỡ đồng nghiệp trong tổ chức (Iqbal và cộng
sự, 2018)
1.1.3 Khái niệm về kết quả làm việc
1.1.3.1 Kết quả làm việc
Trong luận án này KQLV được tiếp cận theo quan điểm của Koopmans
(2011) theo đó KQLV được tiếp cận theo hướng là cấu trúc đa chiều, là sản phẩm của những nỗ lực về mặt trí lực và thể lực, có thể đo lường trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua những hành vi trong việc sử dụng hiệu quả các kiến thức, kỹ năng và khả năng của con người KQLV là mức độ hoàn thành nhiệm vụ của một người khi thực hiện công việc KQLV gồm kết quả thực hiện công việc được giao (Task performance), kết quả thực hiện công việc phát sinh (Contextual performance), Hành vi cản trở công việc (Counterproductive work behavior)
1.1.3.2 Kết quả làm việc của giảng viên
Công việc của GV cũng như bao công việc khác có những đặc trưng riêng song đều hội tụ đủ các yếu tố cấu thành KQLV như những công việc khác Tác
Trang 3giả xin đưa ra định nghĩa về KQLV của GV như sau: KQLV của GV là sản
phẩm của những nỗ lực về mặt trí lực và thể lực của người GV, phản ánh số
lượng, chất lượng công việc và những hành vi của họ, được biểu hiện thông
qua kết quả thực hiện công việc được giao, kết quả thực hiện nhiệm vụ phát
sinh và hành vi cản trở công việc
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm công việc
Mô hình ĐĐCV (Job Characteristic Model – JCM) của Hackman &
Oldham (1976) vẫn được coi là một trong những mô hình thành công nhất trong
việc giải thích về ĐĐCV và chứng minh mối liên hệ giữa công việc với kết quả
đầu ra trong công việc của NLĐ (Elanain, 2009) Sau này, trong nghiên cứu của
Hack và Oldham (1980) đã trình bày hoàn chỉnh lý thuyết ĐĐCV Đã có nhiều
nghiên cứu về đặc điểm công việc được các tác giả quan tâm dưới góc độ đo
lường các đặc điểm của công việc Một trong số những nghiên cứu đó có thể kể
đến là nghiên cứu của Henry và cộng sự (1976), Suman và Srivastava (2009) Các
nghiên cứu này mới dừng lại ở phạm vi một tổ chức sản xuất, không có tính phổ
quát đối với các loại hình tổ chức khác Vì có thể, trong các tổ chức hay bối cảnh
khác có thể sẽ cho ra những kết quả khác nhau
Có thể thấy ĐĐCV được nghiên cứu trong rất nhiều lĩnh vực y tế, kinh tế,
sản xuất và kinh doanh, ngân hàng…Song, trong lĩnh vực giáo dục còn ít, trong
khi đây là một ngành có những đặc thù riêng
1.2.2 Các nghiên cứu về kết quả làm việc
KQLV có thể được đo lường bằng những khía cạnh giống nhau (ví dụ: kết
quả thực hiện nhiệm vụ được giao, những hành vi cản trở), nhưng cũng có những
khía cạnh khác biệt (ví dụ: có tác giả đề cập đến hành vi thích ứng, hay hành vi
theo bối cảnh) hoặc ngay trong những khía cạnh khác biệt đó cũng có những hành
vi trùng hợp nhau…Từ những khía cạnh tương tự và khác biệt đó của các mô hình
nghiên cứu trên, có thể tổng hợp KQLV của cá nhân gồm 3 khía cạnh chính: Kết
quả thực hiện nhiệm vụ được giao (Task performance), KQLV theo bối cảnh
(Contextual performance) và Hành vi cản trở công việc (Counterproductive work
behavior) Trong đó Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao có sự khác nhau giữa
các nghề, giữa các công việc do mỗi công việc có những đặc trưng lao động khác
nhau, sản phẩm khác nhau Kết quả làm việc theo bối cảnh và hành vi cản trở
công việc có thể sử dụng chung cho nhiều công việc
Như vậy, đối với các công trình nghiên cứu của về KQLV của giảng viên
đã cho thấy sự đa dạng và phong phú ở các khía cạnh phân tích Trong khi, Việt Nam cũng có những đặc trưng riêng của giáo dục đại học, đặc biệt trong giai đoạn này khi có Luật sửa đổi giáo dục đại học (2018) và Luật Giáo dục (2019) Khi đo lường KQLV của giảng viên các tiêu chí cũng có những đặc trưng riêng và được đánh giá từ nhiều nguồn: Như giảng viên tự đánh giá, người quản lý đánh giá hay những đánh giá từ phía sinh viên
1.2.3 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm công việc và kết quả làm việc
1.2.3.1 Mối quan hệ trực tiếp giữa đặc điểm công việc và kết quả làm việc
ĐĐCV là một trong các yếu tố có ảnh hưởng đến KQLV của NLĐ Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự ảnh hưởng này trong nhiều lĩnh vực khác nhau với mức độ ảnh hưởng khác nhau Nghiên cứu của Tungkiatsilp (2013) với mục đích điều tra tác động của ĐĐCV và sự thoải mãn trong công việc đối với KQLV của NLĐ trong ngành công nghiệp nhà hàng Hay nghiên cứu của Kemboi và cộng
sự (2013) nghiên cứu về tác động của mức độ đa dạng của công việc, thông tin phản hồi về KQLV tới KQLV của NLĐ Nghiên cứu của Wambui (2018) cho thấy ảnh hưởng của ĐĐCV đến KQLV của NLĐ tại các công ty tư nhân ở Nairobi, Kenya Kết quả cho thấy có 4 yếu tố của ĐĐCV bao gồm: sự đa dạng của các kỹ năng, mức độ rõ ràng và hoàn chỉnh của nhiệm vụ, quyền tự chủ và thông tin phản hồi KQLV có ảnh hưởng đến KQLV của NLĐ Khía cạnh tầm quan trọng của công việc không có mối liên hệ với KQLV Trong môi trường giáo dục, cũng có một số nghiên cứu xem xét mối quan hệ trực tiếp của ĐĐCV đến KQLV Nghiên cứu của Amahwa và Mukanzi (2018) xem xét mối quan hệ giữa ĐĐCV với KQLV của giáo viên các trường tiểu học Kenya Có thể thấy, mối quan hệ giữa ĐĐCV và KQLV được một số nghiên cứu đã đề cập đến song đối với môi trường giáo dục đặc biệt giáo dục đại học còn rất ít Vì vậy, cần có thêm các nghiên cứu để bổ sung lý thuyết và thực tiễn cho mối quan hệ này
1.2.3.2 Mối quan hệ gián tiếp giữa đặc điểm công việc và kết quả làm việc
Theo Hackman và Oldham (1975) các kỹ năng yêu cầu để thực hiện công
việc chính là mức độ đa dạng của công việc đó có ảnh hưởng đến KQLV và ảnh hưởng bởi những trạng thái tâm lý Những công việc đa dạng cho thấy có mối quan hệ tích cực với sự hài lòng công việc, ĐLLV và KQLV của nhân viên
Trang 4(Spector, 2012) Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ĐĐCV tới KQLV của NLĐ,
Prasetyo (2008) cho rằng ĐĐCV có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến KQLV,
kết quả này tương tự với nghiên cứu của Hajati và cộng sự (2018)
Nghiên cứu của Tungkiatsilp (2013) đã chỉ ra vai trò trung gian của sự thỏa
mãn công việc trong mối quan hệ giữa ĐĐCV với KQLV Kết quả này cũng tương
đồng với kết quả nghiên cứu của Matilu và cộng sự (2018) Hay đối với biến trung
gian là động lực làm việc, Wambui (2018) Choge và cộng sự (2014) hay Spector
(2012)
Ngoài ra một số nghiên cứu cũng đề cập đến vai trò trung gian của tinh thần
làm việc trong mối quan hệ giữa ĐĐCV và KQLV TTLV là sự tổng hợp của ba
yếu tố: Công việc có ý nghĩa, ý thức trong tập thể và các giá trị chuẩn mực
(Duchon và Plowman, 2005; Rego và Cunha, 2008) Các ĐĐCV sẽ làm cho NLĐ
cảm thấy công việc có ý nghĩa, họ sẽ có ý thức mang lại lợi ích cho cộng đồng Đối
với GV, nếu họ bị sức ép lớn (không chủ động và phát huy tính sáng tạo trong công
việc) sẽ dẫn đến tâm trạng căng thẳng, tinh thần làm việc đi xuống, từ đó hạn chế
ĐLLV (Alam và Farid, 2011)
Ngoài ra một số nghiên cứu tập trung vào hai mối quan hệ: cụ thể là ảnh
hưởng ĐĐCV tới TTLV và ảnh hưởng của TTLV tới KQLV như nghiên cứu của
Iqbal and Hassan (2016) hay hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của TTLV đến
KQLV như nghiên cứu của Rego và Cunha (2007) đã chỉ ra TTLV càng cao thì
KQLV của NLĐ càng cao
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Thứ nhất, qua tổng quan các nghiên cứu có thể thấy vai trò trung gian của
TTLV trong tác động của ĐĐCV đến KQLV còn ít nghiên cứu đề cập tới Vì vậy,
trong Luận án, tác giả đã sử dụng TTLV với vai trò là biến trung gian trong tác
động của ĐĐCV đến KQLV của GV các trường đại học ở Hà Nội để làm đầy
khoảng trống nghiên cứu
Thứ hai, tác giả đã bổ sung và điều chỉnh thang đo biến ĐĐCV cụ thể ở
các nhân tố “mức độ đa dạng của công việc”, nhân tố “tầm quan trọng của công
việc”, và nhân tố “thông tin phản hồi về KQLV” Đồng thời, tác giả điều chỉnh
và bổ sung thang đo biến kết quả làm việc cụ thể ở biến “kết quả thực hiện công
việc được giao” Thang đo TTLV cũng được điều chỉnh phù hợp với đối tượng
GV và bối cảnh giáo dục đại học ở Việt Nam
Thứ ba, các nghiên cứu chủ yếu tập trung trong các tổ chức, các lĩnh vực nghề nghiệp hoặc công việc khác mà ít quan tâm đến môi trường giáo dục, đặc biệt là các trường đại học và đối tượng giảng viên Sản phẩm của giáo dục là những con người, là tri thức, không phải là những sản phẩm có thể cân đo, đong đếm được Hơn nữa, trong bối cảnh Việt Nam, với những chính sách riêng, phương thức tổ chức và quản lý ở bậc giáo dục đại học khác với các quốc gia khác, cũng như có những đặc trưng riêng của các trường Đại học Đặc biệt khi Luật giáo dục mới được áp dụng và có những điều chỉnh trong “Luật giáo dục đại học”
Trên đây là những khoảng trống mà NCS sẽ tập trung nghiên cứu trong luận án nhằm tìm ra ảnh hưởng ĐĐCV tới KQLV với vai trò trung gian của TTLV Từ đó, luận án chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa để tăng cường cũng như làm giảm những ảnh hưởng tiêu cực của ĐĐCV đến KQLV của
GV, đồng thời khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu trước
1.4 Các lý thuyết nền tảng
1.4.1 Lý thuyết đặc điểm công việc
Hack và Oldham (1980) đã trình bày hoàn chỉnh lý thuyết ĐĐCV Theo đó ĐĐCV có ba thành phần chính gồm: cốt lõi công việc, trạng thái tâm lý và KQLV Mỗi thành phần tương tác với nhau và ảnh hưởng đến ĐLLV của nhân viên, nghiên cứu cũng bổ sung thêm một số biến kiểm soát đó là kiến thức, kỹ năng và bối cảnh sự thỏa mãn công việc Trong đó, các nhà nghiên cứu đã tạo ra hai công
cụ bao gồm: Khảo sát về công việc (Job Diagnostic Survey - JDS) và mẫu đánh giá công việc (Job Rating Form - JRF) Học thuyết đã chỉ ra công việc có 5 đặc
điểm cốt lõi bao gồm: Mức độ đa dạng của công việc, tính rõ ràng của nhiệm vụ, tầm quan trọng của công việc, quyền tự chủ và thông tin phản hồi về kết quả công việc Các đặc điểm này có ảnh hưởng đến các trạng thái tâm lý của NLĐ và kết
quả sẽ ảnh hưởng đến ĐLLV, sự thỏa mãn công việc, và KQLV cuối cùng Đây
là một nghiên cứu lý thuyết nền tảng cho những nghiên cứu sau này về ĐĐCV cũng như ảnh hưởng của ĐĐCV đến thái độ và tinh thần làm việc của NLĐ
1.4.2 Lý thuyết sự kiện ảnh hưởng cảm xúc (Affective Events Theory - AET)
Lý thuyết sự kiện ảnh hưởng cảm xúc giải thích tổng quát mối quan hệ tích cực giữa TTLV và KQLV Các sự kiện quan trọng với tình huống công việc có thể tạo ra những cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực Những cảm xúc này có tác động
Trang 5đáng kể tác động đến thái độ và hành vi của NLĐ (Weiss và Cropanzano, 1996)
Theo đó, TTLV là một trải nghiệm tích cực khơi dậy cảm xúc tích cực có thể có
khả năng ảnh hưởng đến các hành vi cụ thể như sự hài lòng trong công việc và
KQLV Bổ sung thêm lý thuyết, Okeke và cộng sự (2016) chỉ ra rằng môi trường
làm việc gợi ra phản ứng tình cảm, phản ứng tình cảm ảnh hưởng đến sự hài lòng
trong công việc, cạn kiệt cảm xúc ảnh hưởng tiêu cực đến sự hài lòng trong công
việc và ảnh hưởng đến tâm lý và tinh thần của nhân viên từ đó ảnh hưởng đến
KQLV của họ TKCV rõ ràng và hợp lý giúp cho NLĐ có tâm lý tích cực và thoải
mái tại nơi làm việc và ngược lại Khi người lao động có tâm lý tốt, tích cực sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến KQLV của họ Vì vậy, luận án đã sử dụng học thuyết sự kiện
ảnh hưởng để giải thích cho mối quan hệ và sự ảnh hưởng ĐĐCV tới KQLV và
vai trò của TTLV trong mối quan hệ này
1.5 Mô hình nghiên cứu
Sau khi tổng quan các công trình nghiên cứu và dựa trên cơ sở lý thuyết
liên quan đến chủ đề nghiên cứu, tác giả nhận thấy mỗi công việc có nhiều đặc
điểm khác nhau song đều có 5 đặc điểm cốt lõi bao gồm: Mức độ đa đạng của
công việc, tính rõ ràng và hoàn chỉnh của công việc, tầm quan trọng của công
việc, quyền tự chủ trong công việc và thông tin phản hồi về kết quả làm việc Các
đặc điểm cốt lõi này có những ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các
biến trung gian trong đó có biến tinh thần làm việc Từ đó, tác giả đề xuất mô hình
nghiên cứu của luận án như sau:
1.5.1 Mô hình nghiên cứu
Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của ĐĐCV đến KQLV
của giảng viên
Nguồn: tác giả đề xuất
1.5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Từ những phân tích ở trên, 4 nhóm giả thuyết được đưa ra bao gồm:
Giả thuyết H1: Đặc điểm công việc tác động tích cực tới tinh thần làm việc bao gồm giả thuyết H1a đến H1e
Giả thuyết H2: Tinh thần làm việc tác động tích cực đến kết quả làm việc bao gồm giả thuyết H2a đến H2c
Giả thuyết H3: Đặc điểm công việc ảnh hưởng tích cực tới kết quả thực hiện công việc bao gồm giả thuyết H3.1a đến H3.1c, H3.2a đến H3.2c, H3.3a đến
TINH THẦN LÀM VIỆC
Mức độ đa dạng của công việc (skill variety)
ĐẶC ĐIỂM CÔNG VIỆC
Tính rõ ràng và hoàn chỉnh của công việc
(task identity)
Tầm quan trọng của
công việc (task significance)
Quyền tự chủ trong
công việc (autonomy)
Thông tin phản hồi về kết quả làm việc
(feedback)
Kết quả thực hiện công việc được giao
(Task performance)
KẾT QUẢ LÀM VIỆC
Kết quả thực hiện công việc phát sinh
(Contextual performance)
Hành vi cản trở công việc
(Counterproductive work behavior )
Trang 6H3.3c, H3.4a đến H3.4c và H3.5a đến H3.5c
Giả thuyết H4: Tinh thần làm việc là trung gian trong mối quan hệ giữa đặc
điểm công việc và kết quả làm việc bao gồm bao gồm giả thuyết H4.1a đến H4.1c,
H4.2a đến H4.2c, H4.3a đến H4.3c, H4.4a đến H4.4c và H4.5a đến H4.5c
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua năm bước: Nghiên cứu tổng quan,
nghiên cứu các học thuyết nền tảng, nghiên cứu định tính sơ bộ, nghiên cứu định
lượng và nghiên cứu định tính bổ sung
2.2 Thang đo nghiên cứu
2.2.1 Thang đo về đặc điểm công việc
Biến độc lập trong mô hình nghiên cứu được xác định là các ĐĐCV dựa
trên lý thuyết về thiết kế ĐĐCV được xây dựng và phát triển bởi Hackman và
Oldham (1980) gồm có 5 nhân tố là: (1) Mức độ đa dạng của công việc (PT), (2)
tính rõ ràng và hoàn chỉnh của công việc (RR), (3) tầm quan trọng của công việc
(QT), (4) quyền tự chủ trong công việc (TC), (5) thông tin phản hồi về KQLV
(TT) Luận án đã sử dụng thang đo trong nghiên cứu trước đây của Morgeson và
Humphrey (2006) và có điều chỉnh, bổ sung thông qua phỏng vấn sâu
2.2.2 Thang đo về tinh thần làm việc
TTLV đóng vai trò như một biến trung gian của mô hình nghiên cứu Thang
đo về TTLV trong luận án được kế thừa từ nghiên cứu của Iqbal và cộng sự
(2018) Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu định tính sơ bộ cũng như tham vấn
các chuyên gia, tác giả đã nhận được nhiều đóng góp quý báu để điều chỉnh lại
một số thuật ngữ cho phù hợp với bối cảnh của các GV đại học Bên cạnh đó, qua
nghiên cứu định tính sơ bộ, tác giả đã lược bỏ bớt các chỉ báo không thật sự rõ
ràng cũng như không phù hợp với GV tại Việt Nam
2.2.3 Thang đo về kết quả làm việc
Hiện nay đa phần các thang đo về KQLV được công bố trong các công
trình tại hầu hết là các thang đo chỉ có 1 yếu tố để đánh giá mức độ hoàn thành
công việc của NLĐ (Mousa, 2020; Nwanzu và Babalola, 2021) Tuy nhiên, Koopmans và cộng sự (2014) đã phát triển một thang đo về KQLV với 3 nhân tố là: (1) Kết quả thực hiện công việc được giao (DG), (2) kết quả thực hiện công việc phát sinh (PS) và (3) hành vi cản trở công việc (CT) Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu định tính, thang đo về KQLV cũng đánh giá là phù hợp với bối cảnh giáo dục tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu định tính sơ bộ
Ba khái niệm được kế thừa từ các thang đo gốc bao gồm (1) đặc điểm công việc, (2) tinh thần làm việc và (3) kết quả làm việc Các thang đo trong mô hình
đề xuất được kế thừa có điều chỉnh tham khảo từ các nghiên cứu trước và phát triển mới một phần thuộc tính ĐĐCV, KQLV Qua nghiên cứu định tính sơ bộ, các thang đo này được hiệu chỉnh để đánh giá thích hợp về giá trị nội dung (content validity) và bối cảnh nghiên cứu cho các trường ĐH ở Việt Nam
2.3.2 Nghiên cứu định lượng
2.3.2.1 Thiết kế bảng hỏi khảo sát
Bảng hỏi khảo sát gồm có 3 phần: Giới thiệu nghiên cứu, thông tin chung của đối tượng tham gia khảo sát và phần nội dung Trong đó:
- Phần giới thiệu: Phần này được tác giả trình bày mục đích, tầm quan
trọng cũng như ý nghĩa của nghiên cứu này đối với GV các trường ĐH Đồng thời, trong phần này, tác giả cũng đưa ra lời đề nghị các đối tượng tham gia trả lời bảng hỏi khảo sát một cách khách quan, trung thực và rõ ràng
- Phần thông tin chung: Luận án đề cập tới mối quan hệ giữa ĐĐCV, TTLV
và KQLV của GV trong các trường ĐH tại Hà Nội nên đối tượng tham gia trả lời bảng hỏi khảo sát được xác định là các GV đang thực hiện công việc giảng dạy
và nghiên cứu trong các trường ĐH tại Hà Nội Do đó, trong quá trình khảo sát
dữ liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu của luận án, tác giả đã thu thập thêm một số đặc điểm nhân khẩu học liên quan đến thông tin của các đối tượng khảo sát, gồm có: (1) Vị trí công việc, (2) loại tổ chức của hình trường, (3) chức danh nghề nghiệp, (4) khối ngành của trường, (5) trình độ chuyên môn, (6) giới tính, (7) độ tuổi, (8) số năm công tác
- Phần nội dung: Trong phần này, các câu hỏi được thiết kế theo tuần tự
Trang 7các biến độc lập, biến trung gian và cuối cùng là các biến phụ thuộc Trong đó,
các biến độc lập là các ĐĐCV, biến trung gian là TTLV và các biến phụ thuộc là
KQLV Các câu hỏi khảo sát đã được thiết kế tuân thủ nghiêm ngặt theo mô hình
nghiên cứu Đối tượng tham gia trả lời khảo sát là GV đang thực hiện công việc
giảng dạy và nghiên cứu trong các trường ĐH tại Hà Nội sẽ trả lời tất cả các câu
hỏi trong bảng hỏi khảo sát dưới hình thức trắc nghiệm để đánh giá sự am hiểu
của họ về những nội dung được trình bày trong bảng hỏi khảo sát
2.3.2.2 Diễn đạt và mã hóa lại thang đo
Sau khi được hiệu chỉnh và chuyển ngữ từ thang đo tiếng Anh sang thang
đo tiếng Việt, các thang đo đã được đánh giá bởi 20 GV hiện đang công tác tại
các trường ĐH ở Hà Nội để điều chỉnh lại một số thuật ngữ trong thang đo gốc
phù hợp hơn với bối cảnh và ngữ cảnh trong các trường ĐH tại Việt Nam
2.3.2.3.Mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Tác giả đã gửi tổng cộng khoảng 1.100 bảng hỏi khảo sát cả trực tiếp (giấy
A4) và trực tuyến (qua email) sát tới 22 trường ĐH và học viện trên địa bàn thành
phố Hà Nội Mỗi trường đại học, tác giả đã gửi 50 bảng hỏi khảo sát tới 50 giảng
viên khác nhau về độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác,
lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu để có thể đánh giá chính xác nhất thực trạng về
ĐĐCV cũng như TTLV và KQLV của GV tại các trường đại học tại Hà Nội hiện
nay
Thời gian khảo sát được diễn ra trong vòng 3 tháng được tính từ ngày
01/12/2022 đến hết ngày 01/03/2023 Kết thúc thời gian khảo sát, tác giả thu được
tổng số 417 bảng hỏi khảo sát (đạt tỷ lệ 41,7%)
2.3.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
Sau khi thu thập dữ liệu và mã hóa, nghiên cứu sinh tiến hành xử lý trên phần
mềm SPSS 20 với các bước Phân tích nhân tố khám phá (EFA), Kiểm định độ tin
cậy của thang đo theo hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích mối quan hệ tương quan
hai chiều và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (hồi quy bội) theo phương pháp
bình phương nhỏ nhất (OLS): để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu giữa các
biến độc lập, trung gian và phụ thuộc Nếu tác động của biến độc lập tới biến
trung gian hoặc các biến phụ thuộc có p-value < 0,05, đồng thời hệ số Beta
chuẩn hóa > 0 thì các biến độc lập tác động tích cực tới các biến phụ thuộc,
ngược lại nếu hệ số Beta chuẩn hóa < 0 thì các biến độc lập tác động tiêu cực tới các biến phụ thuộc Bên cạnh đó, vì luận án sử dụng biến trung gian trong trong mô hình nghiên cứu nên theo Baron và Kenny (1986), các bước phân tích hồi quy tuyến tính được xác định như sau:
- Bước 1: Kiểm định mối quan hệ giữa các biến độc lập và các biến phụ thuộc
- Bước 2: Kiểm định mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến trung gian
- Bước 3: Kiểm định mối quan hệ giữa biến trung gian với các biến phụ thuộc
- Bước 4: Kiểm định mối quan hệ giữa biến độc lập và biến trung gian với biến phụ thuộc
2.3.3 Nghiên cứu định tính bổ sung
Sau khi có kết quả phân tích định lượng chính thức, các kết quả cho thấy có một số kết luận không đồng nhất với mô hình và giả thuyết ban đầu, tác giả đã tiến hành nghiên cứu định tính bổ sung nhằm tìm thêm các câu trả lời và giải thích nhằm hiểu rõ hơn các kết quả nghiên cứu định lượng
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Bối cảnh các trường đại học tại Hà Nội
Theo Niên giám thống kê (2021), tính đến hết năm học 2021, hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam có 242 trường bao gồm 176 trường công lập, 66 trường ngoài công lập Hà Nội là địa phương có số lượng các trường đại học cao nhất cả nước, cụ thể năm 2021 Hà Nội có 77 trường đại học trong đó có 62 trường công lập và 15 trường ngoài công lập (không bao gồm các trường an ninh và quốc phòng) Tổng số giảng viên ở Hà Nội năm 2021 là 26.292 người (Theo Niên Giám thống kê, 2021)
3.2 Kết quả kiểm định thang đo
Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy với 45 chỉ báo (biến quan sát) ban đầu, sau 2 lần phân tích có 3 biến bị loại là TT1, TT3 và QT4, 42 biến quan sát còn lại đã có sự hội tụ và phân biệt vào 9 nhóm nhân tố tương ứng
Trang 8với 9 biến ban đầu trong mô hình nghiên cứu, trong đó có 5 biến độc lập, 1 biến
trung gian và 3 biến phụ thuộc Các biến độc lập, trung gian và phụ thuộc lần lượt
tương ứng với các biến trong các nghiên cứu trước đây của Mogeson và
Humphrey (2006), Iqbal và cộng sự (2018), Koopmans và cộng sự (2014) Đồng
thời, kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha trong luận án này gần giống
với các nghiên cứu trước đây của Mogeson và Humphrey (2006), Iqbal và cộng
sự (2018), Koopmans và cộng sự (2014) Điều này cho thấy các thang đo có độ
tin cậy tốt, đồng thời hoàn toàn phù hợp với bối cảnh Việt Nam
3.3 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu
Nhìn chung, các biến đều có giá trị từ 1-5, đảm bảo mẫu điều tra trải rộng
tới các đối tượng nghiên cứu Giá trị trung bình của các biến đều dao động quanh
4, giá trị độ lệch chuẩn xấp xỉ 1, cùng việc giá trị trung bình các nhân tố theo đặc
điểm không có sự khác biệt, đạt ở mức từ 3- 4, cho thấy hầu hết các GV nhận
định câu hỏi điều tra xoay quanh mức bình thường, đồng ý và rất đồng ý
3.4 Phân tích tương quan hai chiều
Kết quả phân tích tương quan hai chiều cho thấy trong số các biến độc lập:
(1) Mức độ đa dạng của công việc (PT), (2) tính rõ ràng và hoàn chỉnh của công
việc (RR), (3) tầm quan trọng của công việc (QT), (4) quyền tự chủ trong công
việc (TC), (5) thông tin phản hồi về kết quả làm việc (TT), mặc dù có một số cặp
biến như TT – TC, TT – PT, TT – QT và TT – RR có mối quan hệ tương quan tại
mức ý nghĩa 5% nhưng không cặp biến nào có hệ số tương quan Pearson > 0,7
nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng (Hair và cộng sự, 1998)
Ngoài ra, đối với biến trung gian tinh thần làm việc (TV) với các biến độc
lập: tất cả các cặp biến trung gian với biến độc lập gồm có: TV – PT, TV – RR,
TV – QT, TV – TC, TV – TT đều có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 5% Bên
cạnh đó, đối với các biến phụ thuộc: (1) kết quả thực hiện công việc được giao
(DG), (2) kết quả thực hiện công việc phát sinh (PS) và (3) hành vi cản trở công
việc, có thể nhận thấy rằng biến trung gian (TV) cũng có mối quan hệ tương quan
tại mức ý nghĩa 5% với tất cả các biến phụ thuộc
Đặc biệt, đối với biến phụ thuộc “Hành vi cản trở công việc” (CT) chỉ có
mối quan hệ tương quan với duy nhất biến độc lập “Thông tin phản hồi về kết
quả công việc” (TT) và biến trung gian “tinh thần làm việc” (TV) Tuy nhiên, tất
cả mối quan hệ tương quan của biến CT với các biến TV và TT đều là mối quan
hệ ngược chiều tại mức ý nghĩa 5%
3.5 Phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất Đối với Kết quả thực hiện công việc được giao, (1) Mức độ đa dạng của
công việc, (2) tính rõ ràng và hoàn chỉnh của công việc (RR), (3) thông tin phản hồi về KQLV (TT) và (4) tinh thần làm việc (TV) tác động tích cực tới Kết quả thực hiện công việc được giao Đồng thời , hệ số β chuẩn hóa của (1) Mức độ đa dạng của công việc, (2) tính rõ ràng và hoàn chỉnh của các công việc (RR), (3) thông tin phản hồi về KQLV (TT) lần lượt là: 0,094 < 0,135; 0,153 < 0,180; 0,302
< 0,463 nên có thể kết luận rằng TTLV (TV) là trung gian một phần trong mối quan hệ giữa (1) mức độ đa dạng của công việc, (2) tính rõ ràng và hoàn chỉnh của công việc và (3) thông tin phản hồi về KQLV và Kết quả thực hiện công việc được giao (Baron và Kenny, 1986)
Đối với Kết quả thực hiện công việc phát sinh, hệ số p-value của các
biến độc lập: (1) Quyền tự chủ trong công việc, (2) mức độ đa dạng của công việc
và (3) tầm quan trọng của công việc (QT) lần lượt là 0,082; 0,142 và 0,204 > 0,05 nên đã bị mất ý nghĩa thống kê Do vậy, TTLV (TV) đóng vai trò trung gian toàn phần trong mối quan hệ giữa (1) quyền tự chủ trong công việc, (2) mức độ đa dạng của công việc (3) tầm quan trọng của công việc (QT) với Kết quả thực hiện công việc phát sinh (PS) Ngoài ra, hệ số p-value của các biến độc lập (4) tính rõ ràng và hoàn chỉnh của các công việc (RR) và (5) thông tin phản hồi về KQLV lần lượt là 0,012 và 0,000 < 0,05 nên có ý nghĩa thống kê Bên cạnh đó,
hệ số β chuẩn hóa của (4) tính rõ ràng và hoàn chỉnh của các công việc (RR)
và (5) thông tin phản hồi về KQLV lần lượt là: 0,119 < 0,153 và 0,205 < 0,409 nên có thể kết luận rằng TTLV (TV) là trung gian một phần trong mối quan hệ giữa tính rõ ràng và hoàn chỉnh của các công việc (RR) và thông tin phả n hồi
về KQLV tại mức ý nghĩa 10% với Kết quả thực hiện công việc phát sinh (PS) tại mức ý nghĩa 5% (Baron và Kenny, 1986)
Đối với hành vi cản trở công việc, hệ số p-value của thông tin phản hồi
về KQLV là 0,014 < 0,05 nên tác động tích cực tới hành vi cản trở trong công việc Đồng thời, hệ số β chuẩn hóa của thông tin phản hồi về KQLV là -0,214 nên khi đối tượng GV càng có nhiều thông tin phản hồi KQLV thì họ càng có ít
Trang 9hành vi cản trở trong công việc Tuy nhiên, hệ số p-value của của TTLV (TV) là
0,963 > 0,05 nên đã bị mất ý nghĩa thống kê Do vậy, có thể kết luận rằng khi
thêm biến TTLV (TV) không đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa
ĐĐCV và hành vi cản trở công việc
Tinh thần làm việc (TV) đóng vai trò trung gian một phần trong mối quan
hệ giữa PT, RR và TT với kết quả thực hiện công việc được giao Trong khi
đó, TTLV đóng vai trò trung gian toàn phần trong mối quan hệ giữa TC, PT,
QT và kết quả thực hiện công việc phát sinh; đồng thời TTLV còn đóng vai trò
trung gian một phần trong mối quan hệ giữa RR, TT và kết quả thực hiện công
việc phát sinh Ngoài ra, TTLV còn đóng vai trò trung gian một phần trong
mối quan hệ giữa TT và hành vi cản trở công việc
Kết quả kiểm định giả thuyết cho thấy 16 giả thuyết không được chấp
nhận bao gồm: Giả thuyết H1b, H3.1c, H3.2c, H3.3a, H3.3c, H3.4a, H3.4c,
H4.1b, H4.1c, H4.2c, H4.3a, H4.3b, H4.3c, H4.4a, H4.4b, H4.4c
CHƯƠNG 4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT LUẬN
4.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu
4.1.1 Tác động của các đặc điểm công việc tới kết quả làm việc
4.1.1.1 Tác động của các đặc điểm công việc tới kết quả thực hiện công việc
được giao
ĐĐCV tác động tích cực tới kết quả thực hiện công việc được giao Kết
quả này giống với các nghiên cứu trước đây của Kahya (2007) ở Thổ Nhĩ Kỳ
cũng như nghiên cứu của Amahwa và Mukanzin (2018) tại Kenya Hai nhân tố
là: (1) Quyền tự chủ trong công việc (TC) và (2) tầm quan trọng trong công việc
(QT) không tác động tích cực tới kết quả thực hiện công việc được giao (DG)
Bên cạnh đó, ba nhân tố là: (1) Mức độ đa dạng của công việc (PT), (2) tính rõ
ràng và hoàn chỉnh của công việc (3) thông tin phản hồi về KQLV lại tác động
tích cực tới kết quả thực hiện công việc được giao (DG) Đồng thời, thông tin
phản hồi về KQLV tác động lớn nhất tới kết quả thực hiện công việc được giao
Kết quả này cho thấy khi người GV càng có kỹ năng chuyên môn cao, làm nhiều
công việc đa dạng trong các lĩnh vực khác nhau sẽ khiến họ hào hứng hơn với công việc cũng như có thể giải quyết được công việc hiệu quả hơn với KQLV cao hơn
4.1.1.2 Tác động của các đặc điểm công việc tới kết quả thực hiện công việc phát sinh
ĐĐCV tác động tích cực tới kết quả công việc phát sinh Kết quả này giống với các nghiên cứu trước đây của Kahya (2007) ở Thổ Nhĩ Kỳ cũng như nghiên cứu của Amahwa và Mukanzin (2018) tại Kenya Các ĐĐCV được xây dựng bởi Hackman và Oldham (1980) gồm có: (1) Mức độ đa dạng của các kỹ năng (PT), (2) quyền tự chủ trong công việc (TC) (3) tầm quan trọng của công việc (QT) (4) tính rõ ràng và hoàn chỉnh của công việc (RR) (5) thông tin phản hồi về KQLV (TT) đều tác động tích cực tới Kết quả thực hiện công việc phát sinh Trong đó, thông tin phản hồi từ KQLV tác động lớn nhất tới Kết quả thực hiện công việc phát sinh của đối tượng GV trong các trường ĐH tại Hà Nội hiện nay Ngoài ra, mức độ đa dạng của công việc (PT) cũng tác động tích cực tới kết quả thực hiện công việc phát sinh (PS)
4.1.1.3 Tác động của các đặc điểm công việc tới hành vi cản trở công việc
ĐĐCV tác động tới hành vi cản trở trong công việc Điều này khác với các nghiên cứu trước đây trên thế giới của Kahya (2007) ở Thổ Nhĩ Kỳ cũng như nghiên cứu của Amahwa và Mukanzin (2018) tại Kenya, bởi vì các nghiên cứu này không đề cập tới yếu tố “hành vi cản trở công việc” trong thang đo về KQLV Tuy nhiên, trong số các ĐĐCV được thiết kế bởi Hackman và Oldham (1980) thì chỉ có duy nhất yếu tố “thông tin phản hồi về KQLV” (TT) tác động ngược chiều tới hành vi cản trở trong công việc (CT) Tuy nhiên, 4 yếu tố còn lại không tác động tiêu cực (ngược chiều) tới hành vi cản trở công việc Mặc dù kết quả của nghiên cứu này không có tác động nhưng có thể ở một nghiên cứu khác, trong một bối cảnh khác hoặc với một đối tượng nghiên cứu khác, không phải là GV các trường ĐH thì có thể những ĐĐCV kể trên sẽ tác động tiêu cực tới hành vi cản trở trong công việc
4.1.2 Tác động của các đặc điểm công việc tới tinh thần làm việc ĐĐCV tác động tích cực tới TTLV của nhân viên Kết quả này giống với các nghiên cứu trước đây của Iqbal và Hassan (2016) tại Pakistan cũng như
Trang 10nghiên cứu Iqbal và cộng sự (2018) tại Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy tất
cả các yếu tố của ĐĐCV tác động tích cực tới TTLV của GV các trường ĐH tại
Hà Nội tại mức ý nghĩa 5% Ngoài ra, tính rõ ràng và hoàn chỉnh của công việc
(RR) còn tác động tích cực tới TTLV (TV) ở mức ý nghĩa 10% Đồng thời, dựa
vào hệ số β chuẩn hóa có thể kết luận rằng, trong số các ĐĐCV được thiết kế bởi
Hackman và Oldham (1980) thì thông tin phản hồi về KQLV (TT) tác động lớn
nhất tới TTLV (TV) của GV các trường ĐH tại Hà Nội
4.1.3 Tác động của tinh thần làm việc tới kết quả làm việc
TTLV tác động tích cực tới KQLV Kết quả này giống với kết quả trong
các nghiên cứu của Mousa (2020) tại Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất
(UAE) cũng như nghiên cứu của Nwanzu và Babalola (2021) tại Nigeria Kết quả
ước lượng chỉ ra rằng TTLV tác động tích cực tới tất cả các khía cạnh của Trong
đó, TTLV tác động tích cực tới Kết quả thực hiện công việc được giao và Kết quả
thực hiện công việc phát sinh Tuy nhiên, TTLV tác động tích cực tới Kết quả
thực hiện công việc phát sinh lớn hơn tới Kết quả thực hiện công việc được giao
Đồng thời, TTLV tác động tiêu cực tới hành vi cản trở trong công việc
4.1.4 Tác động của các đặc điểm công việc và tinh thần làm việc tới kết quả
làm việc
TTLV đóng vai trò trung gian một phần trong mối quan hệ giữa: (1)
Mức độ đa dạng của công việc, (2) tính rõ ràng và hoàn chỉnh của công việc, (3)
thông tin phản hồi về KQLV (TT) với Kết quả thực hiện công việc được giao
(DG) Tuy nhiên, TTLV không đóng vai trò trung gian trong số các ĐĐCV theo
như thiết kế của Hackman và Oldham (1980) là: (4) Quyền tự chủ trong công việc
(TC) và (5) tầm quan trọng của công việc (QT) với Kết quả thực hiện công việc
được giao
4.1.4.2 Tác động của các đặc điểm công việc và tinh thần làm việc tới kết quả
thực hiện công việc phát sinh
TTLV đóng vai trò trung gian toàn phần trong mối quan hệ giữa: (1)
Mức độ đa dạng của công việc (PT) (2) tầm quan trọng của các nhiệm vụ (QT)
và (3) quyền tự chủ trong công việc (TC) với KQLV được phát sinh (PS) Trong
khi đó kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng (4) mức độ đa dạng của công việc
(PT) và tính rõ ràng và hoàn chỉnh của các công việc (RR) cũng tác động tích cực
tới Kết quả thực hiện công việc phát sinh (PS) thông qua vai trò trung gian một
phần của TTLV (TV)
4.1.4.3 Tác động của các đặc điểm công việc và tinh thần làm việc tới hành vi cản trở công việc
TTLV không tác động tới hành vi cản trở trong công việc Điều này có
nghĩa là TTLV không đóng vai trò trung gian nào trong mối quan hệ giữa các ĐĐCV theo nghiên cứu của Hackman và Oldham (1980) gồm có: (1) quyền tự chủ trong công việc, (2) mức độ đa dạng của công việc, (3) tầm quan trọng của các nhiệm vụ, (4) tính rõ ràng và hoàn chỉnh của các công việc, (5) thông tin phản hồi về KQLV Kết quả này gần giống với kết quả trong nghiên cứu của Iqbal và Hassan (2016) tại Pakistan khi TTLV cũng không đóng vai trò điều tiết nào trong mối quan hệ giữa ĐĐCV và các hành vi cản trở trong công việc
4.2 Một số đề xuất và khuyến nghị
4.2.1 Đề xuất hoàn thiện các yếu tố đặc điểm công việc
4.2.1.1 Mức độ đa dạng của công việc Thứ nhất, đối với các GV trẻ có trình độ phù hợp, đam mê nghiên cứu và
có mong muốn cống hiến, các trường cần tạo môi trường để học có thể phát triển nghề nghiệp
Thứ hai, hàng năm các trường ĐH có thể tổ chức những lớp tập huấn, nâng
cao nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng giảng dạy, kỹ năng giao tiếp thậm chí là những khóa chuyên sâu về tâm lý học cho
Thứ ba, các cấp quản lý hay nhà quản trị trong các trường ĐH này cần phải
khuyến khích GV tham gia nghiên cứu khoa học bằng cách tài trợ kinh phí cho các bài báo trong nước được đăng tải trên các tạp chí uy tín (1 điểm) hoặc các tạp chí Quốc tế có thứ hạng cao theo các bảng xếp hạng ISI (Hoa Kỳ) hay Scopus (Hà Lan)
Thứ tư, các trường ĐH cần tăng cường kết nối với doanh nghiệp như thành
lập một trung tâm kết nối doanh nghiệp – ĐH để các tường ĐH có thể trực tiếp
tổ chức các chương trình nghề nghiệp như Workshop hay Job Fair để các doanh nghiệp có thể đến trực tiếp các trường ĐH tuyển dụng hay trao đổi, tọa đàm với sinh viên hay các chương trình tham quan doanh nghiệp (Factory Tour)
4.2.1.2 Tính rõ ràng và hoàn chỉnh của các công việc