1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận nghiên cứu xã hội học lứa tuổi

18 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tỉnh Vĩnh Long
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2000
Thành phố Vĩnh Long
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 42,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC1, Giả sử dự định nghiên cứu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long:...1 2, Qua bài viết xuất hiện những loại hình công việc mà người

Trang 1

MỤC LỤC

1, Giả sử dự định nghiên cứu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: 1

2, Qua bài viết xuất hiện những loại hình công việc mà người cao tuổi tham gia

là gì? 4

3, Những yếu tố nào ảnh hưởng/tác động đến lao động của người cao tuổi? 6

4, Mô hình sắp xếp gia đình phổ biến nào dành cho người cao tuổi hiện nay ở địa phương 8

5, Xu hướng về dịch vụ chăm sóc người già ở Việt Nam 12

Trang 2

NGƯỜI CAO TUỔI Ở MIỀN TRUNG VÀ NAM BỘ VIỆT NAM NĂM

2000 – PHÁC THẢO KẾT QUẢ TỪ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

(Những nghiên cứu chọn lọc về XHH nông thôn, Nxb KHXH, 2004)

1, Giả sử dự định nghiên cứu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long:

- Những giả thuyết nào có thể gợi ra từ bài viết

- Nêu các biến số phù hợp để kiểm chứng giả thuyết đó

Dựa vào kết quả nghiên cứu định tính và tài liệu điền dã từ các cuộc nghiên cứu trước, chúng ta có thể đặt ra những giả thuyết cho các cuộc nghiên cứu sau tại địa bàn nghiên cứu

Đề tài: Thực trạng và nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tỉnh Vĩnh Long

Tài liệu đã chỉ ra rằng 95% các cụ cao tuổi có bệnh và có nhu cầu chữa bệnh nhưng không đi chữa bệnh ở cơ sở Y tế Nhà nước, trong đó 70% với lý do

là không đủ tiền, 17% tự kiếm thuốc ở nhà chữa lấy (Hoàng Văn Tá, 1998) Tài liệu điền dã cũng xác nhận tình hình tương tự: người cao tuổi thường ít sử dụng dịch vụ y tế Vấn đề sức khỏe là nỗi lo chung của người cao tuổi ở tất cả các địa bàn nghiên cứu, tuy nhiên giải quyết vấn đề này lại thật nan giải đặc biệt là với những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp Trả tiền viện phí và các chi phí khác cho chăm sóc sức khỏe là vấn đề khó giải quyết với người cao tuổi, đặc biệt là những người ở vùng nông thôn Do vậy, khi ốm đau người già thường ở lại nhà chứ không đến bệnh viện vì khi đến viện họ phải trang trải cả tiền ăn uống, thuốc men Thậm chí có những người bệnh nặng cũng không dám đến viện vì họ sợ họ không thể trang trải nổi Họ thường điều trị bằng các thứ thuốc rẻ tiền mua ở cửa hàng thuốc gần nhà, hoặc nếu không có tiền chữa thì kiếm thuốc lá quanh làng Vậy nên được cấp sổ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh

Trang 3

là mong muốn của người cao tuổi ở nông thôn, đây là sự giúp đỡ thiết thực nhất với những người nghèo vì không phải ai cũng có tiền để đi viện

Từ những kết quả nghiên cứu định tính từ bài viết, chúng ta có thể đưa ra một số giải thuyết nghiên cứu sau:

- Hầu hết người cao tuổi ở tỉnh Vĩnh Long có nhu cầu cao sử dụng các dịch vụ khám và chăm sóc sức khỏe nhưng tỷ lệ sử dụng các dịch vụ Y tế lại ít

- Phần lớn mọi người cho rằng dịch vụ y tế tư tốt hơn dịch vụ y tế công (thái độ của bác sỹ, trang thiết bị, quy trình, thủ tục) nhưng họ vẫn sử dụng dịch

vụ y tế công nhiều hơn vì chi phí thấp hơn

- Thực trạng người cao tuổi chữa bệnh “bừa” bằng cách hái thuốc lá hoặc tự đi mua thuốc ở các cơ sở gần nhà diễn ra khá phổ biến đối

- Người cao tuổi muốn con cái hoặc người thân mang mình đi khám chữa bệnh hơn là họ phải tự đi, tỷ lệ người già đi khám bệnh cao hơn nếu có người mang họ đến viện so với những người tự đi

- Hầu hết người cao tuổi muốn có sổ bảo hiểm y tế để được nhận những sự trợ cấp từ Nhà nước và giảm bớt chi phí khám, chữa bệnh, đặc biệt là các hộ nghèo

- Chỉ khi bệnh thực sự trầm trọng thì người cao tuổi mới đến bệnh viện, còn không họ sẽ tự điều trị tại nhà

Hệ thống biến số kiểm chứng giả thuyết trên:

 Biến số độc lập:

- Tuổi tác, tình trạng sức khỏe hiện tại

- Thu nhập, điều kiện kinh tế hộ gia đình

- Số con, tình hình kinh tế và tình trạng hôn nhân của con cái

- Độc lập hay phụ thuộc vào gia đình và các nguồn trợ cấp xã hội

- Có phải là đối tượng được nhận các đãi ngộ của Nhà nước hay không (vd: lương hưu, thương binh bệnh binh, )

Trang 4

 Biến phụ thuộc:

- Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tỉnh Vĩnh Long

- Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tỉnh Vĩnh Long

 Biến số môi trường:

- Sự phát triển của kinh tế - xã hội

- Các chính sách của Đảng, Nhà nước về việc khám, chữa bệnh và tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Thu nhập và điều kiện kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc tiếp cận với các dịch vụ Y tế và đồng thời cũng tác động đến quyết định sử dụng mô hình dịch

vụ Y tế của người cao tuổi Dù họ có đang bị bệnh và có nhu cầu đến bệnh viện nhưng không có khả năng chi trả tiền khám chữa bệnh thì họ cũng không thể đi viện Đây là yếu tố hạn chế khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi

Nếu có nhiều con, tình hình kinh tế của các con cũng có chút dư dả thì sẽ

có thể tạo điều kiện đưa bố mẹ đi thăm khám và sử dụng dịch vụ Y tế để chăm sóc sức khỏe Họ sẽ sẵn sàng đi khi có người đưa đi, và cảm thấy an tâm hơn khi

có người thân ở bên cạnh chăm óc, hỗ trợ cả về tình cảm lãn kinh tế khi cần Sự chu cấp của các con giúp cho người già có thêm tiền để chi trả cho cuộc sống và

đỡ áp lực hơn về mặt kinh tế, họ có thể thoải mái hơn trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ Y tế mà không bị quá gánh nặng về mặt kinh tế

Đối với những người cao tuổi việc được cấp sổ bảo hiểm rất quan trọng, đặc biệt là những cụ già nghèo ở nông thôn xa xôi lúc ốm đau bệnh tật không có tiền đi viện thì việc miến phí cho họ là hết sức cần thiết Mặc dù khi đến viện,

họ không được miễn phí hoàn toàn tất cả khoản tiền nhưng vẫn được Nhà nước

hỗ trợ một phần tiền cũng giúp được cho họ rất nhiều Hiện nay chỉ có nhóm

Trang 5

người về hưu được khám chữa bệnh tương đối đầy đủ do họ có chế độ bảo hiểm

xã hội

Các chính sách miễn giảm, hỗ trợ chi phí khám vừa chữa bệnh cho người cao tuổi mà Đảng, Nhà nước đưa ra có thể nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Từ việc hỗ trợ chi phí đối với việc tham gia vào các mô hình chăm sóc sức khỏe công đến việc đặt các mô hình chăm sóc người cao tuổi thuộc tư nhân vào trong sự quản lý, giám sát và thúc đẩy phát triển các mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi một cách tự nguyện với

sự tham gia là các tình nguyện viên từ cộng đồng để phổ biến hơn các dịch vụ này nhắm hướng đến tỷ lệ người cao tuổi tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ cao hơn

2, Qua bài viết xuất hiện những loại hình công việc mà người cao tuổi tham gia là gì?

Không phải tất cả nhưng số lượng người cao tuổi ở Việt Nam vẫn phải lao động để kiếm thêm thu nhập là con số không nhỏ

Theo kết quả một số cuộc điều tra của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì có tới 70% số người cao tuổi trong độ tuổi từ 60 – 70 còn phải lao động

để kiếm sống , trong số đó có tới 38% còn phải đóng vai rò chính trong kinh tế gia đình (Phạm Kiên Cường, 1998)

Số liệu điều tra về diều kiện sống của người cao tuổi do Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội cho biết chi tiết hơn: 44,89% người cao tuổi còn tham gia vào hoạt động kinh tế Trong đó, các cụ thuộc nhóm 60 – 69 là 48,93%; nhóm tuổi 70 – 74 là 43,26%; vẫn còn 25,94% các cụ 74 tuổi trở lên hiện còn tham gia hoạt động kinh tế Tỷ lệ tương ứng này đặc biệt cao ở vùng nông thôn (50,34%) trong đó các cụ thuộc nhóm tuổi 60 – 64 là 68,31%; nhóm tuổi 65 – 69

là 54,91%; nhóm tuổi 70 – 74 là 52,29% và nhóm tuổi trên 74% là 30,24% (Báo cáo kết quả điều tra, 1999)

Trang 6

Vì tuổi đã lớn, sức khỏe có thể suy giảm và “kén” việc hơn so với những người trẻ tuổi, những công việc cần đến nhiều sức khỏe, thể lực tốt, phải mang vác đồ nặng hay những công việc cần độ nhanh nhạy, linh hoạt thì hầu như người già không thể đảm đương Họ sẽ lao động và làm các công việc dựa trên nguồn vốn có của gia đình như vườn tược, ruộng nương và tình trạng sức khỏe của bản thân

Công việc cũng có sự phân chia khác nhau giữa giới tính của người cao tuổi, với những cụ bà, họ thường đi chợ bán hàng và hàng hóa để bán có thể rau

họ tự trồng được, rổ giá, chổi tự đan Còn các cụ ông thường sửa chữa đồng hồ tại nhà, sửa chữa xe, làm đồng Với những gia đình có ruộng nhưng vì tuổi cao thì họ thường cho khoán ruộng cho người khác làm và lấy một phần lúa từ số lứa mà người nhận khoán làm Với những người còn sức khỏe thì họ vẫn làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi lợn bò để kiếm thêm thu nhập

Đáng chú ý là thời gian dành cho lao động kiếm sống của người cao tuổi không kém thời gian của một người lao động bình thường, họ đôi khi không phải lao động để nuôi sống chính bản thân họ mà còn lo cho các con, ví dụ muốn cho mỗi con một ít gọi là của ăn của để, con cái nếu ai lấy lập gia đình rồi thì đỡ lo còn với những người chưa lập gia đình thì các cụ vẫn lo và vẫn làm lụng để dành cho con dù bản thân phải rất tiết kiệm, chắt bóp Với những người

có lương hưu, dù không cao nhưng cũng vẫn có khoản tiền coi như là thu nhập

cố định hàng tháng, họ vẫn làm việc nhưng thời gian làm khong cần cật lực như các ông/bà không có lương, thu nhập bấp bênh, làm được ngày nào hay ngày đó

Ở những lứa tuổi trẻ hơn (50 – 60) người cao tuổi vẫn phải làm việc nặng, thậm chí còn đóng vai trò lao động chính trong gia đình Họ còn làm thuê, làm mướn và làm nhiều việc khác nhau cùng lúc

Với những người cao tuổi nếu như không tham gia vào hoạt động kinh tế thì phần lớn trong số đó vẫn đóng góp một phần công sức không nhỏ cho gia đình trong việc trông nom việc nhà, giữ cháu Thường thì những người cao tuổi

Trang 7

này sống cùng con cái, các con sẽ thực hiện vai trò làm kinh tế còn các cụ ở nhà

đỡ đần con cái trong việc chăm só, dạy dỗ các cháu cũng như làm các công việc nhà trong gia đình mà theo như nhiều người gọi đó là “làm việc lặt vặt”

3, Những yếu tố nào ảnh hưởng/tác động đến lao động của người cao tuổi?

Có nhiều yếu tố tác động đến lao động của người cao tuổi, từ loại hình công việc mà họ làm cho đến thời gian lao động trong một ngày

Yếu tố đầu tiên nhắc đến đó chính là kinh tế của hộ gia đình Suy cho cùng mục đích tham gia vào hoạt động kinh tế của người cao tuổi là để tăng thêm thu nhập cho chính bản thân và gia đình của họ Nguyện vọng có việc làm

ở người cao tuổi Việt Nam trước hết là do chỗ họ không có nguồn thu nhập hoặc

có nhưng quá ít ỏi, không đủ sống Khi đó, họ phải mưu sinh bằng các hình thức làm việc khác nhau phù hợp với khả năng của họ để kiếm tiền, có thể là trồng trọt, chăn nuôi hay sửa chữa vật dụng, bán hàng ở chợ Điều kiện kinh tế cũng

là yếu tố ảnh hưởng đến số giờ lao động của người cao tuổi Người già thường

có quan niệm rằng họ “đã ở thế gần đất xa trời”, vậy nên có làm ra nhiều tiền thì lúc chết cũng không thể mang theo được, làm đủ ăn đủ mặc đủ lo bản thân Các công việc mà người già làm thường không mang lại thu nhập quá cao vì vậy, để kiếm tiền đủ trang trải mọi thứ thì thời gian họ phải lao động cũng không kém gì một người lao động bình thường

Sự độc lập hay phụ thuộc của người cao tuổi vào gia đình hay các nguồn trợ cấp xã hội cũng có tác động không nhỏ đến lao động của những người cao tuổi Những người có lương hưu hay có được sự hỗ trợ từ các tổ chức, đoàn thể cho dù là khoản nhỏ nhưng cũng giảm được sự áp lực về mặt kinh tế cho người cao tuổi, họ sẽ lao động để kiếm thêm thu nhập nhưng không nhất thiết phải làm nhiều thời gian và vất vả như những người cao tuổi không nhận được sự hỗ trợ hoặc nguồn thu nhập ổn định Cũng tương tự như vậy với những người già hay nhận được sự hỗ trợ từ các con Với những người cao tuổi sống cùng con cái

Trang 8

trong một hộ gia đình, đa số họ không cần phải tham gia vào hoạt động kinh tế

mà họ sẽ góp phần lớn công sức vào việc trông nom nhà cửa, giữ cháu cho con cái của họ có thể tập trung vào việc làm kinh tế Ở độc lập tách hộ thì người cao tuổi sẽ có cuộc sống tự do hơn, nhưng đồng thời họ cũng phải làm việc để kiếm thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống độc lập đó

Số con và tình trạng đã kết hôn hay chưa của các con cũng ảnh hưởng đến

sự lao động của người cao tuổi Họ không chỉ lao động để nuôi sống họ mà đôi khi là các con của mình, đặc biệt là những người chưa kết hôn Bậc cha mẹ nào cũng muốn dành dụm chút tiền cho con của mình để hỗ trợ các con trong cuộc sống, có thể là làm việc kiếm tiền mua đất để cho các con mỗi đứa mỗi phần đất làm ăn, sinh sống dù cho họ có phải tiết kiệm hay chắt bóp Lao động kiếm tiền

để còn có khoản để dành cho những lúc đau ốm bệnh tật cũng không phải phiền

hà đến các con Số con đông cũng có nghĩa là họ có nhiều điều phải lo nghĩ và trách nhiệm hơn đối với tất cả các con Có nhiều gia đình, các con đi làm ăn xa, không phụ giúp hay hỗ trợ cha mẹ được nhiều, có khi họ còn để lại con mình ở nhà để ông bà chăm nhưng số tiền gửi về phụ cấp cho cha mẹ già và con mình ít

ỏi, không đủ chi tiêu thì những người cao tuổi thuộc các trường hóp này còn phải lao động nhiều hơn không chỉ để nuôi bản thân mà còn lo cho cháu của mình, họ phải chi trả tiền học, tiền ăn Thu nhập không cao khiến họ phải làm nhiều giờ lao động hơn và thậm chí là tranh thủ thời gian để thực hiện nhiều công việc mỗi ngày

Nếu gia đình có các nguồn sẵn có như đất đai ruộng, có vườn có ao thì người cao tuổi vẫn tận dụng đất vườn, ao để trồng trọt, chăn nuổi công việc đồng áng họ vẫn tham gia, chỉ khi bị bệnh hoặc già yếu quá thì họ sẽ khoán cho người khác phần ruộng đó, không làm nữa mà chỉ lấy một phần gạo từ người nhận khoán Các cụ ở nông thôn thường có thói quen nuôi gà, vịt, chẳng biết bán được bao nhiêu nhưng để dành cho những lần con cháu sum họp có cái để ăn, để thắp hương là chủ yếu, không phải đi mua ngoài mà có thể dùng của nhà làm ra

Trang 9

Người cao tuổi thường trồng các loại rau, quả trong vườn, chăn nuôi vừa với mục đích tự cung tự cấp để nuôi sống bản thân mình, không phải chi tiền để mua những thứ đó và cũng để kiếm thêm thu nhập

Tình trạng sức khỏe, giới tính và sự hiểu biết cá nhân cũng ảnh hưởng đến loại hình công việc và thời gian lao động của người cao tuổi Thông thường các

cụ bà sẽ làm các công việc yêu cầu sự tỉ mẩn, khéo léo như đan lát, may vá và đi chợ bán hàng Còn người cao tuổi giới tính nam thì có thể sửa chửa vật dụng, làm các công việc yêu cầu nhiều sức khỏe hơn Nếu khỏe mạnh thì họ có thể làm được nhiều việc, cường độ lao động cũng nhiều hơn so với những người sức khỏe yếu Người cao tuổi thường hay mắc các căn bệnh mãn tính và chính những bệnh mà họ mắc phải cũng hạn chế loại hình công việc mà họ có thể tham gia Với những người có hiểu biết nhất định về một lĩnh vực nào đó, họ có thể tận dụng lợi thế đó để kiếm thêm thu nhập, ví dụ một am hiểu về các bài thuốc dân gian, các loại thuốc lá, thảo mộc tự nhiên, họ thường chữa hoặc cung cấp các thang thuốc cho người dân ở địa phương với mức giá vừa phải

4, Mô hình sắp xếp gia đình phổ biến nào dành cho người cao tuổi hiện nay ở địa phương

Từ xưa tới nay, ở Việt Nam, phần đa mọi người đều quan niệm rằng con trai sẽ là người gánh vác gia đình, thờ cúng tổ tiên và lo cho cha mẹ lúc đau ốm tuổi già, còn con gái lấy chồng thì theo nhà chồng, lo cho cha mẹ chồng Vì thế

mà khuynh hướng thiên về đằng nội là điều phổ biến và đặc biệt là ở miền Bắc

và miền Trung Đa số người già ở các điểm nghiên cứu sống với con trai Điều này rõ nét hơn ở địa bàn nông thôn Tại nông thôn, người cao tuổi thường xác định rằng dù đói dù no, dù có khổ cực đến mấy cũng sóng cùng con trai để sau này có người lo cho mình

Bên cạnh khuôn mẫu sống chung với con trai (như ở miền Bắc và miền Trung) thì ở miền Nam có khá nhiều trường hợp người coa tuổi sống cùng con gái với lí do là con gái thường thương bố mẹ nhiều hơn, quan tâm, chăm sóc và

Trang 10

chu đáo hơn con trai Ở miền Bắc và Trung, con rể thường không muốn sống cùng bố mẹ vợ vì họ sợ bị nói “ăm bám” hay “phụ thuộc” vào nhà vợ, vậy nên rất ít khi con rể chấp nhận và ở rể nhà vợ Còn ở miền Nam,mọi người có phần suy nghĩ thoáng hơn về vấn đề này, đồng thời con rể lại hay nhờ bên vợ nhiều hơn, ở đó họ sống sướng hơn ở nhà mình Ngoài ra, con gái thường hay xử xự nhẹ nhàng với người già, hợp ý với người cao tuổi Dựa vào kết quả của cuộc thảo luận nhóm ở đề tài, mọi người đều có sự đồng tình với ý kiến rằng mỗi khi người gia đau ốm, con trai chỉ hỏi thăm sơ sơ và qua loa rằng cha mẹ uống thuốc

gì để họ đi mua Còn trong những trường hợp đó thì con gái là người săn sóc tận tụy, đỡ đần và lo lắng cho cha mẹ nhiều hơn, lo từng miếng ăn, giặt giũ Dù đã

có chồng nhưng họ vẫn có thể chăm nom chu đáo và tận tình khi cha mẹ ốm đau bệnh tật Mặc dù tình thương giữa con trai và con gái là như nhau nhưng cách biểu lộ tình cảm của họ là khác biệt Con trai được xã hội và gia đình kỳ vọng giao cho trách nhiệm lớn lao là lo công to việc lớn, xây nhà dựng cửa và họ không có thời gian để lo cho bữa ăn giấc ngủ của cha mẹ như con gái, mặt khác nhiều người muốn giúp bố mẹ nhưng lại sợ vợ nói ra nói vào Do vậy nhiều người cao tuổi nhận thấy rằng khi cha mẹ còn sống, con gái có phần thương bố

mẹ hơn, có của ngon của lạ họ thường đùm bọc gói ghém lại mang về biếu cha biếu mẹ Còn con trai cũng thương mẹ, nhưng có thể là không để ý hoặc có muốn gói về cho bố mẹ thì lại ngại vợ nên không làm được

Quan niệm về sống với con trai và con gái đã có sự thay đổi, thường thì trong thâm tâm của người cao tuổi vẫn xác định nên sống với con trai để có người thờ cúng và duy trì dòng dõi Thế nhưng trên thực tế, nhiều người lại nhận được sự trợ giúp từ con gái nhiều hơn

Hơn nữa, ở khu vực miền Nam và miền Tây, các yếu tố truyền thống không còn in dấu ấn đậm trong văn hóa như ở miền Bắc và miền Trung, vì vậy

tỷ lệ người cao tuổi lựa chọn ở cùng con gái cũng nhiều hơn Quan hệ gia đình ở đây cúng khá lỏng lẻo, sau khi cưới vợ gả chồng cho các con xong, cha mẹ xem

Ngày đăng: 28/09/2023, 12:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w