MỞ ĐẦUBài báo cáo dựa trên việc tổng hợp các dữ liệu từ cuộc nghiên cứu “Tiếp cận thông tin đại chúng của người dân khu vực phía Bắc năm 2019” để làm rõ thực trạng việc tiếp cận với các
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 0
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 3
1 Khái quát chung về khách thể nghiên cứu và mức độ tiếp cận thông tin chung 3
2 Ý kiến và nhu cầu về thông tin truyền hình 8 KẾT LUẬN 15
Trang 2MỞ ĐẦU
Bài báo cáo dựa trên việc tổng hợp các dữ liệu từ cuộc nghiên cứu
“Tiếp cận thông tin đại chúng của người dân khu vực phía Bắc năm 2019” để làm rõ thực trạng việc tiếp cận với các phương tiện truyền thông của các hộ gia đình hiện nay Vì với sự phát triển của khoa học – công nghệ, truyền thông đại chúng ngày càng phát triển, tuy nhiên mức độ phát triển có sự khác nhau giữa các vùng miền, ngành nghề Người dân có nhiều cơ hội để tiếp xúc với nhiều sản phẩm và các kênh truyền thông hơn Bài báo cáo nhằm làm rõ phương tiện truyền thông nào mà mọi người yêu thích nhất và dành nhiều thời gian để sử dụng nhất Hiểu rõ hơn ý kiến và những nhận xét của khách thể nghiên cứu về phương tiện truyền thông để có thê có cơ sở dữ liệu cho việc xây dựng và phát triển các kênh và ấn phẩm truyền thông tốt hơn nữa Tivi là phương tiện truyền thông đã có mặt từ lâu đời và gắn bó với người dân, đặc biệt nó ngày càng phát triển và dường như trở phương tiện không thể thiếu trong đời sống đối với nhiều hộ gia đình bởi cả người già, trẻ con đều xem truyền hình như một phương thức giúp giải trí, đó còn là nơi cung cấp những thông tin thời sự cho mọi người Vì vậy báo cáo sẽ tập trung vào mức độ tiếp cận thông tin chung của người dân và tập trung vào một phương tiện truyền thông đại chúng trong rất nhiều phương tiện, đó là truyền hình Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đai chúng chuyển tải bằng hình động
và âm thanh Kể từ khi truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã tạo ra một kênh thông tin quan trong trong đời sống xã hội Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
Mục đich của báo cáo là khái quát được mức độ tiếp cận với thông tin chung của người dân và phân tích rõ hơn ý kiến và nhu cầu thông tin về truyền hình Từ đó biết được thực trạng tiếp cận với truyền hình, so sánh sự
Trang 3khác nhau nếu có giữa nam và nữ trong nhu cầu, ý kiến và nhận xét đối với truyền hình
Báo cáo được thực hiện dựa trên việc tổng hợp số liệu từ nghiên cứu,
sử dụng phần mềm spss để phân tích, biến đổi các dữ liệu đã có, tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố và phân tích kết quả từ những dữ kiện thu được Sử dụng những kinh nghiệm và quan sát thực tế của tác giả khi tham gia cuộc nghiên cứu với tư cách là điều tra viên để giải thích và làm rõ hơn các vẫn đề Tìm kiếm và thu thập các tài liệu đã nghiên cứu trước đó về vấn đề thông tin đại chúng để tham khảo và đưa ra những lập luận có căn cứ và sức thuyết phục hơn
Trang 4NỘI DUNG
1 Khái quát chung về khách thể nghiên cứu và mức độ tiếp cận thông tin chung
Cuộc khảo sát về “Tiếp cận thông tin đại chúng của người dân khu vực phía Bắc năm 2019” được nghiên cứu ở 630 hộ tại các tỉnh Thanh Hóa,
Thái Bình, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nội
Dựa vào kết quả của cuộc nghiên cứu, ta có biểu đồ dưới đây về tỷ lệ nam và nữ tham gia trả lời cuộc khảo sát
47.8 52.2
Tỷ lệ % người trả lời theo giới tính
Nam Nữ
Biểu đồ thể hiện giới tính người trả lời (%)
Trong 630 người tham gia trả lời thì có 301 nam (tương ứng với 47.8%) trong số người tham gia trả lời cuộc khảo sát và còn lại là nữ với số lượng là 329 người (tương ứng với 52.2%), như vậy số lượng nữ nhiều hơn nam
Dựa vào sự phân loại mức độ giàu nghèo của các hộ gia đình theo cán
bộ địa phương, ta thu được kết quả như sau: hầu hết các hộ có trong danh sách khảo sát đều có điều kiện kinh tế ở mức Trung bình với 85.6% tương ứng với 539 hộ; sau đó là các hộ khá giả với 10,5% tương ứng với 66 hộ, hộ
Trang 5nghèo là 2.2% tương ứng với 14 hộ, chỉ có 1.4% tương ứng với 9 hộ đói, hộ giàu chỉ có duy nhất 2 hộ trong tổng số 630 hộ và tương ứng với 0.3%
Hầu hết người trả lời đều là người dân tộc Kinh với 99.4% (tương ứng với 626 người trả lời), chỉ 0.5% là dân tộc Tày (tương ứng với 3 người) và 0.1% tương ứng với 1 người là dân tôc Mường Tương tự với tôn giáo, chủ yếu những người tham gia cuộc khảo sát là không theo tôn giáo nào (98.7%), 1% theo Phât giáo, 0.2% theo hồi giáo và 0.1% theo tôn giáo khác
Khi hỏi người trả lời về 3 hoạt động thường hay làm nhất trong thời gian rỗi và yêu cầu họ xếp theo thứ tự ưu tiên, ta thu được kết quả như sau:
Xem
vi, vi
deo,
CD/D
VD
Nói c
huyệ
n, tr
ao đ
tron
g gia
đình
Sang
hàn
g xóm
chơi
Đi th
ăm b
ạn b
è, đi
chơi
với b
ạn b è
Đi th
ăm h
hàng
Chơi
thể t
hao
Khôn
g làm
gì/n
ghỉ n
gơi t
huần
túy
Chơi
điện tử
Đọc s
ách/
báo Khác
0
5
10
15
20
25
30
35
40 35.7
5.1 7.5 3.8
0.8 4.4
15.6
3
14
4.8
Hoạt động thường làm nhất của NTL
Biểu đồ biểu thị hoạt động thường làm nhất của NTL
Dựa vào biểu đồ trên, ta có thể thấy rằng hoạt động mà khách thể nghiên cứu thường làm nhất trong thời gian rảnh là xem tivi, video, VCD/DCD với 35.7%; hoặc là họ nghỉ ngơi thuần túy, không làm gì với 15.6%, hoạt động thứ 3 mà mọi người thường làm trong lúc rỗi là đọc sách/báo với tỷ lệ là 14% Có thể thấy rằng dù ở nông thôn hay đô thị thì hoạt động mà hầu hết tất cả mọi người làm khi có thời gian rảnh là xem tivi, video và đây cũng được xem như hình thức giải trí mà nhiều người tiếp cận phổ biến nhất khi có thời gian
Trang 6Khi được hỏi về việc hộ gia đình đã có tivi chưa, hầu hết các gia đình đều đã có tivi với tỷ lệ là 96% (605 trường hợp), còn lại 4% trả lời rằng gia đình họ chưa có tivi Hiện nay, hầu hết các gia đình đều có tivi, và đây cũng
là lí do giải thích cho việc mọi người tiếp cận với tivi trong thời gian rảnh là nhiều nhất
Nói về mức độ tiếp cận với các phương tiện truyền thông đại chúng của người trả lời, ta có biểu đồ dưới đây:
Hàng ngày 1 vài lần/tuần 1 vài lần/tháng 1 vài lần/năm Không bao giờ
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
70.6
14.9
83.8
12.7
8.9
67.8 64.1
6
27.5
Xem truyền hình Nghe đài Đọc báo Sử dụng internet
Biểu đồ biểu thị mức đô tiếp cận với các phương tiện TTDC của khách thể nghiên cứu
Dựa vào số liệu từ biểu đồ rên, ta thấy rằng tivi và internet là hai phương tiện mà nhiều người tiếp cận nhất và cũng với mức độ thường xuyên nhất Phàn lớn mọi người đều tiếp cận với tivi và internet hàng ngày với tỷ lệ tương ứng là 70.6% và 64.1% Điều này cũng hoàn toàn không lạ khi tivi thì
đã xuất hiện từ lâu và hầu hết nhà nào cũng có, cũng sủ dụng, còn internet ngày càng phát triển và lan rộng ra toàn cầu với tốc độc chóng mặt, internet lại có ở nhiều nơi với mức độ bao phủ rộng rãi, đến thời điểm hiện tại thì người dân không khó khăn để có thể sử dụng dịch vụ internet Cuộc sống ngày càng hiện đại cùng sự phát triển của công nghệ, tivi kết nối được với
Trang 7internet, điện thoại kết nối internet và chi phí dịch vụ không quá cao đối với những gia đình có mức sống trung bình Vì vậy mọi người có cơ hội, điều kiện để dễ dàng tiếp cận với tivi và internet và khi có cả sự tích hợp sự chuyển động của cả hình ảnh lẫn âm thanh càng khiến người ta muốn sử dụng các phương tiện này hơn Đặc biệt, những người trẻ thường tiếp cận internet với mức độ thường xuyên hơn so với những người cao tuổi Nghe đài và đọc báo là những phương tiện mà hầu hết rất ít người sử dụng Tỷ lệ % số người chưa bao giờ tiếp cận với hai loại phương tiên này cũng khá cao: 83.8% số người cho rằng họ không bao giờ nghe đài và 67.8% người trả lời rằng họ không bao giờ đọc báo Những con số này có thể chưa biểu thị độ chính xác tuyệt đối nhưng nó cho thấy rằng nghe đài và đọc báo hiện nay không còn quá phổ biến với người dân nữa, mà thay vào đó là internet và tivi dĩ nhiên vẫn luôn là phương tiện truyền thông mà có độ phổ biến nhất từ trước tới nay
Thời gian trung bình mà mọi người dành cho việc xem truyền hình, nghe đài, đọc báo, sử dụng internet trong một ngày được thể hiện ở bảng dưới đây:
Xem truyền hình
băng/đĩa CD
internet
Thời
gian
trung
bình
(phút)
Thứ
2-thứ
6
Thứ
7
Chủ
nhậ
t
Thời gian trung bình tiếp cận với các phương tiện truyền thông đại chúng
Trang 8Thời gian trung bình mà mọi người xem truyền hình cao nhất so với thời gian trung bình sử dụng các phương tiện truyền thông khác, sau đó là internet Ở thời điểm hiện tại, dường như mọi người rất ít khi xem băng/đĩa
CD và rất ít hộ gia đình có đầu đĩa, đầu VCD Cũng vì sự phát triển của khoa học – công nghệ mà băng, đĩa không còn được sử dụng nhiều như trước nữa Mọi thứ cần xem lại đều có thể tìm kiếm trên internet, vì vậy nên hầu như các gia đình không mua băng/đĩa về để sử dụng nữa, vậy nên đến thờ điểm hiện tại rất ít hộ gia đình còn sử dụng loại hình sanr phẩm truyền thông này Mọi người có mức độ tiếp cận nhiều nhất với truyền hình và internet, vậy nên thời gian trung bình hàng ngày họ dành cho những kênh truyền thông này cũng nhiều Sử dụng internet nhiều chủ yếu là những người trẻ tuổi, họ có thể dùng
để giải trí và cho công việc
Khi được hỏi về mức độ tiếp cận với thông tin thời sự, hầu hết mọi người đều cho rằng họ nghe đượcthông tin thời sự hàng ngày với tỷ lệ là 57.3% (361lựa chọn), 3 – 6 ngày/tuần với tỷ lệ là 14.9% (94 lựa chọn), 1 – 2 lần/tuần có tỷ lệ người lựa chọn là 10% , với đáp án một vài lần/tháng thì có 4.4% người trả lời lựa chọn, chỉ có 0.5% tỷ lệ người cho rằng họ nghe thời sự một vài lần/năm nhưng có tới 12.9% người cho rằng họ chưa bao giờ nghe thông tin thời sự
Đặc biệt hơn có sự khác nhau gữa nam và nữ trong mức độ tiếp cận với thông tin thời sự, kết quả được thể hiện ở bảng dưới đây:
Mức độ
Giới
tính
Hàng
ngày
3-6 ngày/
tuần
1-2 ngày/
tuần
Một vài lần/tháng
Một vài lần/năm
Không bao giờ
Tổng
cộng
Dựa vào những số liệu ở trên, ta có thể thấy nam giới là những người thường xuyên nghe được các thông tin thời sự hơn, có thể là do nam giới hay
Trang 9quan tâm đến các thông tin chính trị, tình hinh trong nước ngoài nước hơn so với phụ nữ, vì vậy mức độ họ tiếp cận với thời sự nhiều hơn Cả nam và nữ đều cho rằng họ nghe thông tin thời sự hàng ngày đều chiếm tỷ lệ cao hơn, và phần trăm người nam nhỉnh hơn so với nữ, chính vì vậy mà tỷ lệ không bao giờ nghe thời sự của nam giới cũng thấp hơn so với nữ, điều này là hoàn toàn phù hợp
Khi được hỏi về 3 nguồn thời sự quan trọng đối với NTL (sắp xếp theo thứ tự ưu tiên), kết quả thể hiện ở dưới biểu đồ sau:
Quan trọng 1 Quan trọng 2 Quan trọng 3
0
10
20
30
40
50
60
70 64.8
24.4
19
0
0
0.5
1.7
7.5
14 16.2
24.3
13.8
Truyền hình Đài Báo/tạp chí Sách Bố/mẹ Anh/chị/em Người thân Bạn bè/hàng xóm internet
khác
Biểu đồ biểu thị nguồn cung cấp thời sự quan trọng với NTL
Từ biểu đồ trên có thể thấy rằng truyền hình là nguồn quan trọng nhất cung cấp thông tin thời sự cho mọi người với tỷ lệ là 64.8%, sau đó là internet Điều này hoàn toàn dễ hiểu và phù hợp với kết quả mà ta đã thu được ở trên khi phân tích mức độ tiếp cận với phương tiện truyền thông tin cũng là tivi và internet Người dân tiếp xúc nhiều với hai phương tiện này nên đây cũng sẽ là nguồn cung cấp những thông tin thời sự quan trọng cho khách thể nghiên cứu
2 Ý kiến và nhu cầu về thông tin truyền hình
Tỷ lệ người xem tivi/truyền hình của mọi người khá cao, trên 74% số
Trang 10người được khảo sát cho rằng họ có xem truyền hình Đến thời điểm hiện tại, hầu hết tất cả các hộ gia đình đều có tivi, và thậm chí nhiều nhà có nhiều hơn một chiếc tivi Vậy nên không lạ khi tỷ lệ xem truyền hình lại cao, nếu có sự khác nhau thì khác ở mức độ, thời gian và tần suất xem giữa các khách thể nghiên cứu Khi được hỏi về mức độ xem truyền hình và địa điểm xem thì kết quả thu được đó là phần lớn mọi người xem truyền hình tại nhà của mình và xem hàng ngày tương ứng với tỷ lệ là 63.8%; mọi người hiếm khi xem truyền hình tại nơi công cộng và nhà hàng xóm, có đến 58.4% số người cho rằng họ không bao giờ xem tivi ở nơi công cộng và 53.5% số người thừa nhận họ không bao giờ xem truyền hình tại nhà hàng xóm Hầu như hộ gia đình nào cũng có tivi nên họ sẽ xem tại nhà, trừ những trường hợp đặc biệt như có bóng đá, xem chương trình thể thao, các cuộc thi thì họ có thể xem ở nhà hàng xóm hoặc ở những nơi công cộng
Đối với các trường hợp trả lời rằng họ không xem truyền hình, khi được hỏi về lý do không xem thì thu được kết quả thể hiện ở biểu đồ dưới đây:
không có tivi Nơi xem tivi tập thể xa
Không thích đi xem nhờ
Không có thời gian xem
Không hấp dẫn Không thích/không có nhu cầu
1.7 0.2 0.3
14.6 1.4
5.1
Tỷ lệ % người lựa chọn
Tỷ lệ % người lựa chọn
Lý do không xem truyền hình
Trang 11Từ biểu đồ trên có thể thấy rằng lý do chủ yếu dẫn đến việc nhiều người không xem tivi là do không có thời gian (14.6% tỷ lệ người cho rằng họ không có thời gian để xem truyền hình) Cuộc sống ngày càng hiện đại, và con người ngày càng tất bận hơn với việc tham gia lao động để phát triển kinh
tế hộ gia đình, vì vậy thời gian nghỉ ngơi, giải trí của họ sẽ ít dần đi, điều đó cũng đồng nghĩa với việc thời gian dành cho việc xem tivi cũng không có nhiều Hơn nữa với sự phát triển của công nghệ hiện nay, dường như có nhiều thứ hấp dẫn con người hơn là tivi như điện thoại kết nối internet, máy tính, người ta tìm đến các phương tiện giải trí khác thuận tiện hơn, ví dụ: điện thoại
di động kết nối internet có thể giải trí được ở mọi lúc, mọi nơi, thậm chí có thể cập nhập tin tức và tình hình rất nhanh; nhiều gia đình muốn xem tivi thì phải ngồi ở phòng khách, nhiều người lựa chọn sử dụng máy tính hoặc điện thoại và ở phòng riêng của họ thay vì phải ngồi ở phòng khách để xem Chính
vì vậy mà nhiều người cảm giác hiện tại họ không có nhu cầu hoặc không thích sử dụng tivi vì những phương tiện khác có vẻ như tiện lợi hơn với họ
Về kênh mà máy thu hình của hều hết các hộ gia đình thường thu được
sẽ được thể hiện ở dưới bảng sau:
Kênh truyền hình mà máy thu hình của các hộ gia đình thu được
Các kênh VTV1, VTV2, VTV3 là các kênh truyền hình mà hầu hết máy thu hình của tất cả các hộ gia đình đều bắt được, đây là các kênh của Đài truyền hình Việt Nam, mang tính phổ cập cao, phần lớn tất cả các hộ gia đình trên khắp địa bàn Việt Nam đều có thể tiếp cận và bắt được những kênh này
Trang 12Đây cũng là những kênh mà mọi người thường hay xem, đặc biệt là các chương trình thời sự Mỗi tỉnh đều có một kênh riêng, vì vậy máy thu hình dễ dàng hơn trong việc bắt được kênh ở tỉnh mình Nếu như tivi chỉ có dàn ăng-ten và không có sự hỗ trợ của đầu kỹ thuật số, kết nối internet với tivi hoặc sử dụng các dịch vụ dành cho việc kết nối với máy thu hình thì tivi không có khả năng bắt được các kênh như VTC14, VTC7, Nước ngoài Đây cũng là các kênh mà không được quá nhiều người xem, vì vậy họ thậm chí không chú ý đến/không biết máy thu hình nhà mình có bắt được những kênh này hay không
Khi được hỏi về 3 chương trình mà người dân yêu thích nhất (sắp xếp theo thứ tự ưu tiên), ta thu được kết quả thể hiện qua biểu đồ dưới đây:
Ưu tiên 1 Ưu tiên 2 Ưu tiên 3
47.5
11.7
5.1 5.6
16.3
3.3 1.3
6.5
3 1.3
5.4 1.7
13.7
4.8
14.9
13.2
16.8
Thời sự Thể thao Khoa học - giáo dục Văn học - nghệ thuật Kinh tế Văn hóa - xã hội giải trí
Biểu đồ biểu thị chương trình truyền hình yêu thích của người dân
Qua biểu đồ trên, có thể thấy rằng chương trình thời sự được nhiều người lựa chọn là chương trình ưu thích nhất với tỷ lệ là 47.5% , chương trình thể thao là ưu thích , chương trình thể thao là ưu thích , chương trình thể thao
là ưu thích , chương trình thể thao là ưu thích , bên cạnh đó, cũng có nhiều người chọn giải trí là chương trình ưu thích nhất của mình với tỷ lệ là 14.9%, đặc biệt những người cho rằng giải trí là chương trình yêu thích nhất của họ