Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp 2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, khẳng định sự quan trọng của việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân, bao gồm quyền dân sự Điều 14 của Hiến pháp này nêu rõ các quy định liên quan đến vấn đề này.
Tại Việt Nam, các quyền con người và quyền công dân liên quan đến chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được công nhận và bảo vệ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Quyền con người và quyền công dân chỉ được hạn chế theo quy định của pháp luật trong những trường hợp cần thiết liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng.
Sự bảo hộ quyền dân sự một lần nữa được khẳng định tại Điều 2 BLTTDS 2015:
“1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật
Quyền dân sự chỉ có thể bị giới hạn theo quy định của pháp luật khi cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội, đạo đức xã hội, cũng như sức khỏe cộng đồng.
Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án có thẩm quyền Họ có thể yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, cũng như bảo vệ lợi ích của Nhà nước và quyền lợi hợp pháp của bản thân hoặc của người khác.
Khởi kiện là bước đầu tiên trong tố tụng dân sự, tạo ra cơ sở pháp lý cho quan hệ pháp luật và là yếu tố quan trọng để hình thành VADS Tòa án chỉ tiếp nhận và giải quyết vụ án dân sự khi nhận được đơn khởi kiện hợp pháp từ các đương sự.
Một trong những hoạt động quan trọng nhất trong công tác thụ lý VADS là việc Tòa án nhận và xem xét đơn khởi kiện Sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện, Tòa án sẽ tiến hành đánh giá nội dung của đơn và có thể trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu cần thiết.
Theo Điều 4 BLTTDS 2015, Tòa án có trách nhiệm trả lại đơn khởi kiện nếu không thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc chuyển đơn đến Tòa án có thẩm quyền Việc trả lại đơn khởi kiện phải được thực hiện trong khoảng thời gian hợp lý để Tòa án xem xét Nếu đơn khởi kiện bị trả lại, điều này có nghĩa là Tòa án không thụ lý vụ án dân sự (VADS).
BLTTDS 2004 sửa đổi năm 2011 quy định việc trả lại đơn khởi kiện tại Điều
BLTTDS 2015 đã thay thế BLTTDS 2004 sửa đổi năm 2011, với những sửa đổi và bổ sung tại Điều 192 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tốt hơn, quy định rằng Tòa án không được từ chối thụ lý vụ việc vì lý do hết thời hiệu khởi kiện Tuy nhiên, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động luôn biến đổi, dẫn đến sự bất cập trong quy định tại Điều 192, gây ra nhiều vướng mắc về căn cứ trả lại đơn khởi kiện và kiểm soát hoạt động này.
Tác giả thực hiện khóa luận với đề tài “Một số vấn đề về trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự” nhằm tìm hiểu các quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện Qua đó, tác giả mong muốn đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người và quyền công dân.
Tình hình nghiên cứu
Sau khi BLTTDS 2004 có hiệu lực pháp luật và được sửa đổi bổ sung năm
2011, đã có rất nhiều các công trình khoa học được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như:
Nguyễn Văn Cường, Trần Anh Tuấn và Đặng Thanh Hoa (chủ biên) cùng nhóm tác giả đã biên soạn cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi", được xuất bản bởi NXB Lao động - Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2012.
2 http://luanvan.net.vn/luan-van/de-tai-thu-ly-tra-lai-don-khoi-kien-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-32085/ (truy cập ngày 11/05/2019)
Bài viết này phân tích sự khác biệt giữa Luật sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, đồng thời lý giải và bình luận về những thay đổi quan trọng, đặc biệt là chế định Trả lại đơn khởi kiện cùng với hậu quả pháp lý liên quan đến việc này.
Các nghiên cứu ngắn được công bố trên các tạp chí chuyên môn, chẳng hạn như bài viết của Đặng Hoàng Quân (2013) với tiêu đề “Chủ thể khởi kiện VADS và thực tiễn áp dụng”, đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này.
Tạp chí Tòa án nhân dân (23) đã đăng bài của Đặng Thanh Hoa (2012) về việc đảm bảo quyền khởi kiện VADS theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung luật tố tụng dân sự.
Trong nghiên cứu của Đoàn Đức Lương và Đào Mai Hường (2013), tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải sửa đổi quy định về thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành Bài viết của Nguyễn Như Bích (2013) cũng đưa ra một số ý kiến về việc áp dụng không đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự liên quan đến khởi kiện và thụ lý vụ án Những ý kiến này góp phần làm rõ những bất cập trong hệ thống pháp luật hiện nay.
Sơ Hải (2014) đã nêu rõ tầm quan trọng của việc thống nhất nhận thức về áp dụng pháp luật liên quan đến thời hiệu khởi kiện nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân Nguyễn Thị Hương (2011) đã phân tích những quy định mới về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự Trong khi đó, Nguyễn Thanh Hải (2013) đã thảo luận về vấn đề trả lại đơn kiện hay thụ lý giải quyết, góp phần làm rõ quy trình tố tụng.
BLTTDS 2015 đã mang đến nhiều thay đổi quan trọng, khắc phục những thiếu sót của BLTTDS 2004 Đặc biệt, trong hoạt động trả lại đơn khởi kiện, BLTTDS 2015 đã bổ sung các nội dung tiến bộ, dẫn đến sự phát triển của nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chế định này.
Nguyễn Thị Hương (2019) trong công trình "Khởi kiện và thụ lý VADS - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" đã nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến khởi kiện và thụ lý VADS, cung cấp cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế, thực trạng thi hành pháp luật và kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên, vấn đề trả lại đơn khởi kiện chỉ được đề cập một cách sơ lược và không được nghiên cứu chuyên sâu trong luận án.
Một số công trình nghiên cứu liên quan gián tiếp đến đề tài của tác giả bao gồm tác phẩm của Lê Thu Hà (2016), trong đó bàn về các vấn đề pháp lý của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng, được xuất bản bởi NXB Tư pháp.
Nguyễn Thị Hoài Phương (chủ biên) và nhóm TG (2016), Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt
Nam; Trần Anh Tuấn (Chủ biên) và nhóm TG (2016), Bình luận khoa học Bộ luật
Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, NXB
Tư pháp là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, cũng như các tài liệu từ Đại học Luật Hà Nội, việc nắm vững quy định và quy trình tố tụng dân sự là cần thiết để đảm bảo công lý và quyền lợi hợp pháp cho công dân.
(2012), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà
Nội; Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (2014), Giáo trình Luật tố tụng dân sự
Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội; Bế Hoài
Theo Anh (2016), bài viết phân tích quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 liên quan đến thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ, được đăng tải trên Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 03.
Thanh Hóa, Nguyễn Hồ Bích Hằng (2016) đã đề cập đến việc sửa đổi thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý, số 06 Cùng năm 2017, Nguyễn Nam Hưng nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc bảo vệ quyền con người trong hệ thống pháp luật hiện hành.
Viện kiểm sát nhân dân có vai trò quan trọng trong việc kiểm sát và trả lại đơn kiện, như đã nêu trong bài viết của Tạp chí Khoa học Kiểm sát Nghiên cứu của Nguyễn Nam Hưng (2018) cũng chỉ ra rằng việc xác định người khởi kiện trong vụ án dân sự (VADS) cần được xem xét từ góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện quy trình và quy định liên quan đến việc khởi kiện.
Huyền (2017) trong bài viết “Khởi kiện VADS theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” đăng trên Tạp chí Kiểm sát (12) cung cấp những tài liệu hữu ích cho nghiên cứu đề tài khóa luận Bài viết giúp tác giả có cái nhìn tổng thể về các khía cạnh của đề tài và nhận diện sự khác biệt giữa Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và 2004, đồng thời chỉ ra những thay đổi tiến bộ trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Mặc dù đã có những nghiên cứu về chế định trả lại đơn khởi kiện, nhưng vẫn thiếu các phân tích chuyên sâu về từng trường hợp cụ thể và mối liên hệ giữa các trường hợp này với hậu quả pháp lý tương ứng.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu một cách hệ thống và làm sáng tỏ những quy định trong Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 về một số vấn đề của trả lại đơn khởi kiện VADS
Bài viết phân tích những hạn chế và bất cập trong việc áp dụng pháp luật hiện nay, đặc biệt là trong quy trình trả lại đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả và tính khả thi trong việc xử lý đơn khởi kiện, từ đó bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Bài viết này làm rõ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành liên quan đến những trường hợp mà Tòa án có quyền trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự (VADS) Việc hiểu rõ các quy định này giúp các bên liên quan nắm bắt quy trình tố tụng và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình trong quá trình khởi kiện Các trường hợp cụ thể mà Tòa án có thể trả lại đơn khởi kiện sẽ được phân tích chi tiết, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quan về quy trình và yêu cầu cần thiết để đơn khởi kiện được chấp nhận.
Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng dân sự tại Việt Nam, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm từ các quốc gia khác để chỉ ra những bất cập và vướng mắc trong quy trình trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự (VADS).
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về việc trả lại đơn khởi kiện VADS.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của khóa luận dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến việc xây dựng Nhà nước và pháp luật nhằm quản lý Nhà nước và xã hội Đồng thời, bài viết cũng nhấn mạnh chủ trương và quan điểm trong việc xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Cơ sở thực tiễn của khóa luận dựa trên tình hình thụ lý và xét xử các vụ án dân sự (VADS) tại các phiên Tòa, thông qua các bản án dân sự, thông báo của Tòa án trên toàn quốc, cùng với các báo cáo tổng kết và số liệu thống kê từ Tòa án nhân dân.
Khóa luận áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, lôgic, quy nạp và khảo sát thăm dò ý kiến từ những người làm công tác thực tiễn, cùng với việc sử dụng kết quả thống kê, nhằm làm rõ các vấn đề trong nội dung luận văn.
Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung khóa luận bao gồm:
Chương 1: Trả lại đơn khởi kiện do người khởi kiện không đáp ứng điều kiện do pháp luật quy định
Chương 2: Trả lại đơn khởi kiện do vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN DO NGƯỜI KHỞI KIỆN KHÔNG ĐÁP ỨNG ĐIỀU KIỆN DO PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH
Do người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự
1.1.1 Do người khởi kiện không có quyền khởi kiện Để thực hiện được hành vi khởi kiện ra Tòa, trước nhất người khởi kiện phải có quyền khởi kiện
Pháp luật Tố tụng dân sự cho phép cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác nộp đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, cũng như lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng khi có căn cứ cho rằng quyền lợi của họ bị xâm phạm.
Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội (2017), quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân hoặc tổ chức có thể bị xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp Hành vi khởi kiện vụ án dân sự (VADS) chính là cách thức thực hiện quyền này của các chủ thể trong thực tế.
Pháp luật TTDS Việt Nam không đưa ra khái niệm quyền khởi kiện nhưng quy định các chủ thể có quyền khởi kiện ở Điều 186, 187 BLTTDS 2015
Chủ thể không có quyền khởi kiện được xác định theo Điều 186, 187 BLTTDS 2015 và hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 04/2017/NQ Theo đó, những chủ thể không nằm trong danh sách quy định tại các điều luật này sẽ không có quyền khởi kiện.
Thứ nhất Không phải là chủ thể giả thiết có quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hay tranh chấp
Pháp luật cho phép các chủ thể khởi kiện để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa án Nếu không có quyền và lợi ích bị xâm phạm, các chủ thể không có quyền khởi kiện Trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của một chủ thể, chính chủ thể đó sẽ quyết định có khởi kiện hay không, với điều kiện họ đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.
Căn nhà của ông bà A, B tại số 20 đường D, quận H, Tp Hà Nội giáp với căn nhà số 21 của bà T, có phần đất trống 2,5m² giữa hai căn nhà Ông bà A, B cho rằng phần đất này thuộc quyền quản lý của Nhà nước, nhưng bà T đã lấn chiếm và sử dụng Do đó, ông A, B khởi kiện yêu cầu bà T giữ nguyên hiện trạng đất trống và công nhận rằng diện tích này thuộc Nhà nước Tuy nhiên, nếu ông A, B chỉ yêu cầu công nhận diện tích đất này là của Nhà nước, họ sẽ không có tư cách khởi kiện vì không phải là chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
Theo Điều 186 BLTTDS, cơ quan, tổ chức và cá nhân có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền, tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Học viện tư pháp (2007) trong cuốn "Kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự" đã chỉ ra rằng, mặc dù có nhiều cá nhân, cơ quan và tổ chức liên quan đến việc giải quyết tranh chấp, nhưng không có quy định rõ ràng về việc họ có nhất thiết phải là một bên chủ thể trong quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp hay không.
Để khởi kiện trong trường hợp tranh chấp pháp luật, các cá nhân phải là bên chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp và có quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm Những người không trực tiếp tham gia vào quan hệ này, dù có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, sẽ không có quyền khởi kiện.
Cơ quan, tổ chức cần có tư cách pháp nhân để tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, theo quy định tại Điều 1 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó xác định chủ thể của quan hệ này bao gồm cá nhân và pháp nhân.
Để đảm bảo sự tương thích giữa quy định về chủ thể khởi kiện trong Điều 186 BLTTDS và các quy định về quan hệ pháp luật dân sự trong Bộ luật Dân sự 2015, cần sửa đổi Điều 186 BLTTDS và các điều luật liên quan Cụ thể, cần thay thế cụm từ “cơ quan, tổ chức” bằng “pháp nhân”.
Theo quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp, chỉ các bên đương sự mới có quyền khởi kiện, trừ khi có quy định khác Các bên đương sự cũng có quyền tự do chấm dứt tố tụng trước khi hết hạn theo quyết định của Tòa án hoặc theo quy định của pháp luật.
Như vậy, pháp luật TTDS Pháp giới hạn chủ thể có quyền khởi kiện, theo đó
Chỉ các bên đương sự mới có quyền khởi kiện, trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật Việc giới hạn này nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ dân sự, ngăn chặn lạm dụng quyền khởi kiện và sử dụng nó cho những mục đích không chính đáng Đồng thời, điều này cũng giúp Tòa án giảm tải những vụ kiện không có căn cứ.
Theo Điều 186 BLDS 2015, cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có thể khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, mà không nhất thiết phải là bên trong quan hệ pháp luật tranh chấp Hơn nữa, cơ quan, tổ chức khởi kiện cũng không cần phải có tư cách pháp nhân.
6 Nhà pháp luật Việt – Pháp (1998), Bộ luật Tố tụng dân sự nước Cộng hòa Pháp, NXB Chính trị quốc gia,
Cách hiểu này tương đồng với quy định của pháp luật TTDS Liên Bang Nga, cụ thể tại khoản 1 Điều 3 BLTTDS quy định rằng công dân và tổ chức có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của họ khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 4 BLTTDS cũng đưa ra các quy định liên quan.
“Công dân, tổ chức có quyền, tự do và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền khởi kiện VADS tại Tòa án” 7
Thực tiễn áp dụng đã có sự không thống nhất giữa cách giải quyết vấn đề này như sau
Bản án dân sự phúc thẩm số 18/DS-PT ngày 20/7/2016 của TAND tỉnh X yêu cầu ông A phải trả bà B số tiền 400.000.000 đồng Vào ngày 10/9/2016, ông A đã bán căn nhà của mình cho bà C, và hợp đồng mua bán giữa hai bên đã được công chứng Tuy nhiên, sau khi nhận tiền từ bà C, ông A đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà B.
Do người khởi kiện không nộp tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật
1.2.1 Khái niệm, ý nghĩa của tạm ứng án phí
Tạm ứng án phí dân sự, hay khoản tiền án phí tạm nộp, là khoản chi phí cần thiết để giải quyết các vụ án dân sự Người yêu cầu giải quyết tranh chấp, bao gồm nguyên đơn, bị đơn, và các bên liên quan, phải nộp khoản tạm ứng này để khởi động quy trình giải quyết yêu cầu của họ Ngoài ra, người kháng cáo cũng cần nộp án phí để có thể yêu cầu xem xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án sơ thẩm.
Khác với án phí, TƯAP là khoản tiền tạm nộp trước và có khả năng được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ cho đương sự sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực, tùy thuộc vào nghĩa vụ nộp án phí của người đã nộp TƯAP.
Chế định về nghĩa vụ nộp TƯAP là cần thiết để hạn chế các vụ kiện và kháng cáo vô căn cứ, đồng thời đảm bảo tính hợp pháp của yêu cầu Người nộp TƯAP phải thực hiện nghĩa vụ này để khởi động quy trình giải quyết yêu cầu của họ; nếu không, họ sẽ không thể yêu cầu Tòa án xem xét TƯAP cũng tạo ra trách nhiệm cho người kháng cáo trong việc tham gia vào quá trình giải quyết theo quy định của pháp luật Hơn nữa, chế định này giúp giảm thất thu từ án phí, là biện pháp hiệu quả để thu trước một phần án phí từ đương sự.
Pháp luật tố tụng nước ngoài quy định về vấn đề TƯAP, cụ thể như Điều 118 LTTDS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, nêu rõ rằng đương sự phải nộp lệ phí thụ lý vụ án theo quy định Đối với các vụ án tài sản, bên cạnh lệ phí thụ lý, còn phải nộp án phí theo quy định hiện hành.
17 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức, tr 237
Nếu gặp khó khăn trong việc nộp án phí, người dân có thể đề nghị Tòa án Nhân dân xem xét hoãn nộp, giảm mức án phí hoặc miễn nộp án phí.
Tương tự Điều 700 BLTTDS Cộng hòa Pháp quy định: “trong mọi vụ kiện,
Tòa án có quyền yêu cầu bên thua kiện bồi thường một khoản tiền cho bên thắng kiện để bù đắp các chi phí ngoài án phí Tuy nhiên, Tòa án cũng cần xem xét tính công bằng và hoàn cảnh kinh tế của bên thua kiện trước khi đưa ra quyết định Dựa trên các yếu tố này, Tòa án có thể quyết định miễn khoản bồi thường cho bên thua kiện.
Pháp luật tố tụng Nhật Bản cũng có những quy định liên quan đến vấn đề trợ giúp pháp lý:
Tòa án có thể quyết định trợ giúp pháp lý cho những người không đủ khả năng chi trả chi phí kiện tụng hoặc những người đang gặp khó khăn đặc biệt trong cuộc sống Quy định này chỉ áp dụng khi không thể khẳng định rằng họ không có cơ hội thắng kiện.
2 Việc trợ giúp pháp lý sẽ được quy định tại mỗi cấp Tòa án”
Nhiều quốc gia không có chính sách hỗ trợ chi phí và trợ giúp pháp lý, khiến nhiều người phải từ bỏ việc kiện tụng Tại Brazil, chỉ những người giàu có hoặc cực kỳ nghèo mới có khả năng tham gia vào các vụ kiện, trong khi những người nghèo thường bị loại trừ do hệ thống trợ giúp tư pháp gần như không tồn tại hoặc rất hiếm.
Pháp luật ở nhiều quốc gia quy định rằng các bên liên quan phải nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa án có thể xem xét và thụ lý vụ án.
TƯAP gồm TƯAP sơ thẩm và TƯAP phúc thẩm 19
TƯAP sơ thẩm là khoản tiền mà nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp Khoản tiền này được nộp tại cơ quan thi hành án cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm và được gửi vào tài khoản tạm giữ tại kho bạc Nhà nước.
20 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2017), tlđd (16), tr 238 và 242
Nghĩa vụ nộp tiền TƯAP dân sự sơ thẩm của các đương sự được quy định tại Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Điều 25 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Theo đó, những người có nghĩa vụ nộp TƯAP bao gồm các đương sự liên quan trong vụ án.
Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động phải nộp tiền TƯAP dân sự sơ thẩm, trừ khi được miễn hoặc không phải nộp Nếu có nhiều nguyên đơn với yêu cầu độc lập, mỗi người phải nộp tiền TƯAP riêng Trong trường hợp các nguyên đơn có cùng một yêu cầu, họ sẽ nộp chung tiền TƯAP.
Trong trường hợp vụ án có nhiều bị đơn với yêu cầu phản tố độc lập, mỗi bị đơn cần nộp tiền tạm ứng theo yêu cầu riêng của mình Ngược lại, nếu các bị đơn có cùng một yêu cầu phản tố, họ sẽ phải nộp chung tiền tạm ứng.
Trong trường hợp vụ án có nhiều người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, mỗi người cần nộp tiền TƯAP theo yêu cầu riêng của mình Nếu những người này có cùng một yêu cầu độc lập, họ sẽ phải nộp chung tiền TƯAP.
Khi Tòa án xem xét yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và chia tài sản nhưng hòa giải không thành công, nếu các bên không đạt được thỏa thuận về chia tài sản và việc nuôi dưỡng, chăm sóc con cái, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết yêu cầu này và chuyển sang thụ lý vụ án để giải quyết Đồng thời, Tòa án cũng yêu cầu các đương sự nộp tiền TƯAP theo quy trình giải quyết vụ án dân sự.
Mức TƯAP sơ thẩm: được xác định trên cơ sở mức án phí sơ thẩm mà đương sự phải nộp trong VADS 21
Do người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán
1.3.1 Thực trạng quy định của pháp luật về sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện
Pháp luật các quốc gia quy định khác nhau về xử lý đơn khởi kiện Ở Mỹ, theo pháp luật tố tụng dân sự, tất cả đơn khởi kiện đều được tiếp nhận chính thức mà không bị trả lại, kể cả khi vụ kiện đã bắt đầu không hợp lý.
Theo quy định tại Điều 133, khoản 2 của BLTTDS Nhật Bản, nếu đơn khiếu nại không tuân thủ nội dung yêu cầu, Thẩm phán chủ tọa sẽ chỉ định thời gian hợp lý để bổ sung Nếu nguyên đơn không thực hiện việc bổ sung các thiếu sót trong thời gian quy định, Thẩm phán có quyền bác bỏ đơn khiếu nại.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, sau khi nhận đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án sẽ phân công một Thẩm phán để xem xét đơn Thẩm phán có thể đưa ra các quyết định như yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, tiến hành thụ lý theo thủ tục thông thường hoặc rút gọn nếu đủ điều kiện, chuyển đơn đến Tòa án có thẩm quyền khác, hoặc trả lại đơn nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Thẩm phán có trách nhiệm xem xét đơn khởi kiện và kiểm tra nội dung của nó Nếu phát hiện thiếu thông tin cần thiết, thẩm phán yêu cầu người nộp đơn sửa đổi trong thời hạn nhất định Nếu người nộp đơn không thực hiện yêu cầu, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện.
Về nguyên tắc, đơn khởi kiện phải có đầy đủ các nội dung quy định tại khoản
Điều 189 BLTTDS 2015 quy định các thông tin cần có trong đơn khởi kiện, bao gồm: ngày, tháng, năm làm đơn; tên Tòa án nhận đơn; thông tin cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện, người có quyền và lợi ích được bảo vệ, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kèm theo số điện thoại, fax và địa chỉ email (nếu có) Đơn khởi kiện cũng phải nêu rõ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm và các vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết Ngoài ra, cần cung cấp thông tin về người làm chứng (nếu có) và danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Nếu đơn khởi kiện thiếu các nội dung cần thiết, người khởi kiện sẽ phải sửa đổi và bổ sung đơn trong thời hạn được Thẩm phán quy định.
24 Nguyễn Thị Hương (2019), tlđd (15), tr 83 - 84
Theo khoản 2, khoản 3 Điều 191 BLTTDS 2015, người khởi kiện có 45 ngày để sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện Nếu không thực hiện yêu cầu này, Thẩm phán sẽ trả lại đơn và các tài liệu kèm theo So với BLTTDS 2004, quy định về việc trả lại đơn đã rõ ràng hơn Đặc biệt, Điều 192 BLTTDS 2015 quy định rằng nếu người bị kiện hoặc người có quyền lợi cố tình giấu địa chỉ, Tòa án vẫn sẽ thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện theo thủ tục chung mà không trả lại đơn.
Nếu người khởi kiện không cung cấp tài liệu và chứng cứ chứng minh quyền lợi hợp pháp theo quy định tại khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án có quyền trả lại đơn khởi kiện.
Theo Điều 193 BLTTDS 2015, Thẩm phán chỉ có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện khi đơn khởi kiện thiếu nội dung theo Khoản 4 Điều 189 Quy định này loại trừ quyền của Thẩm phán trong việc trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm phạm.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 189 BLTTDS, việc kèm theo tài liệu và chứng cứ chứng minh quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện là khuyến nghị, không có ràng buộc về hậu quả nếu không thực hiện.
Nếu người khởi kiện không cung cấp tài liệu và chứng cứ để chứng minh quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm, Thẩm phán sẽ không có quyền bác đơn khởi kiện.
1.3.2 Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện do người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện Đối với trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện do người khởi kiện không bổ sung tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án
Tôi không biết!
Tòa án có thể yêu cầu người khởi kiện nộp thêm tài liệu và chứng cứ để chứng minh quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm Nếu không đáp ứng yêu cầu này, đơn khởi kiện sẽ bị trả lại.
Thông báo số 15/2017/TB-TA ngày 04/07/2017 của TAND huyện Nhà Bè gửi cho bà Lê Thị Mãnh
Bà Lê Thị Mãnh, cư trú tại 121/44A Lê Thị Riêng, phường Bến Thành, thành phố Hồ Chí Minh, đã khởi kiện ông Hồ Tấn Hạ yêu cầu trả lại nhà và đất thuộc quyền sở hữu của gia đình bà, theo Giấy chứng nhận số CH00555 được Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè cấp cho ông Lê Văn Hồng (đại diện cho những người thừa kế) và bà Lâm Thị Hường vào ngày 17/8/2010.