Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TRANG
NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI: TRƯỜNG HỢP NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO
Ngành : Quản lý kinh tế
Mã số : 9.34.04.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2023
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI QUANG TUẤN
Phản biện 1: GS.TS Ngô Thắng Lợi
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Bích Loan
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp họp tại
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Vào hồi:…ngày…tháng…năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới đã chứng minh một trong các giải pháp phát triển bền vững đất nước, đó là tập trung vào việc tăng năng suất lao động thông qua đổi mới sáng tạo, nhất là đối với các doanh nghiệp Việc tăng trưởng kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có không thể duy trì lâu dài vì nguồn tài nguyên sẵn có dần cạn kiệt, còn đổi mới sáng tạo không bao giờ có giới hạn So sánh sự khác biệt về kết quả đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp giữa các quốc gia có thể thấy, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, năng lực của doanh nghiệp là chưa đủ, mà cần cả môi trường thể chế, cả các chính sách khuyến khích, cả hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ''Làm thế nào để thúc đẩy đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp?'' không chỉ
là câu hỏi học thuật mà còn là mối quan tâm lớn của các nhà quản lý Công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng toàn nền kinh tế của Việt Nam Công nghệ ngày càng phát triển, vòng đời của sản phẩm ngày càng ngắn hơn do có nhiều sản phẩm thay thế, đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng đổi
mới Chính vì vậy, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới: trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình nhằm đi sâu tìm hiểu nội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu tổng quát nêu trên, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
+ Tổng quan cơ sở lý luận về năng lực ĐMST của doanh nghiệp
+ Nghiên cứu thực trạng năng lực ĐMST của doanh nghiệp chế biến chế, tạo ở Việt Nam
+ Đánh giá ảnh hưởng của nhân tố bên ngoài và bên trong đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo bằng mô hình định lượng, trong đó tập trung xem xét tác động của 4 yếu tố (thể chế, phong cách lãnh đạo, nguồn nhân lực và năng lực kết nối) tới năng lực ĐMST quy trình của doanh nghiệp chế biến, chế tạo
Trang 4+ Đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy năng lực ĐMST trong các doanh nghiệp doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng trong bối cảnh mới
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào các câu hỏi chính sau đây:
1 Thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp chế biến, chế tạo
ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay như thế nào?
2 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo nói chung, đổi mới sáng tạo quy trình nói riêng của doanh nghiệp chế biến, chế tạo ra sao?
3 Các giải pháp chính sách để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong bối cảnh mới là gì?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là năng lực ĐMST
của doanh nghiệp chế biến, chế tạo và các giải pháp nâng cao năng lực ĐMST của doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong bối cảnh mới
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận xuyên suốt của luận án là duy vật lịch sử, xem xét năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam trong bối cảnh chung của nền kinh tế thời gian qua và có gắn kết chặt chẽ với thực trạng hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các yếu tố tác động đến năng lực
đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam nói riêng
Trang 5Luận án có cách tiếp cận hệ thống, gắn kết cơ sở lý luận với thực tiễn năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam, xem xét năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam như là một nội dung quan trọng để đảm bảo nâng cao năng suất và từ đó đóng góp trực tiếp cho nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp - một mục tiêu quan trọng của chiến lược đẩy
mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Luận án cũng kết hợp phương pháp định tính và định lượng để phân tích và đánh giá chính sách đối với hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo cũng như lượng hóa tác động của các nhân tố đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam
Trang 6Hình 0.1: Quy trình nghiên cứu
Nguồn: NCS
Xác định mục tiêu nghiên cứu:
+ Xác định đối tượng nghiên cứu + Xác định mục tiêu nghiên cứu + Xác định phương pháp nghiên cứu
Thu thập và phân tích dữ liệu
Tổng quan nghiên cứu:
+ Khoảng trống nghiên cứu
+ Câu hỏi nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết:
+ Các lý thuyết nghiên cứu + Các giả thuyết nghiên cứu + Xây dựng thang đo ban đầu
Nghiên cứu định lượng:
+ Thu thập dữ liệu qua bảng hỏi + Phân tích khẳng định nhân tố + Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính + Đánh giá từng nhân tố
KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP
VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 74.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu
Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, NCS sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, cụ thể như sau:
+ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu thứ cấp trong luận án chủ yếu được khai thác từ các số liệu do Tổng cục thống kê và một số bộ ban ngành Trung ương công bố chính thức như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Khoa học và Công nghệ… Trong các nguồn thông tin có các sách trắng
về doanh nghiệp, các chỉ số đo lường của quốc tế và quốc gia như Chỉ số cạnh tranh kinh tế, Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), các số liệu khác của các tổ chức kinh
tế quốc tế trong và ngoài nước… các tài liệu tham khảo là các luận án đã có, các bài báo chuyên khảo…
+ Phương pháp điều tra nhằm thu thập thông tin sơ cấp: Mục đích tiến hành khảo sát để kiểm định mô hình lý thuyết đưa ra
4.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin, dữ liệu
+ Phương pháp nghiên cứu tại bàn: NCS sử dụng phương pháp này trong nội dung tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đổi mới sáng tạo
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu: phương pháp này được sử dụng
để so sánh, phân tích định lượng, dự báo Thông qua các phương pháp này, tác giả đánh giá, so sánh về năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng theo thời gian Từ đó đưa ra giải pháp mang tính tập trung
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm tham khảo ý kiến một số nhà quản lý trong doanh nghiệp chế biến, chế tạo nhằm xem xét thực trạng năng lực đổi mới, sáng tạo của doanh nghiệp và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới, sáng tạo của doanh nghiệp Phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành trước khi thực hiện khảo sát để kiểm tra sự phù hợp của mô hình và thước
đo của các biến có được từ tổng quan lý thuyết Trên cơ sở đó, tác giả điều chỉnh thang đo cho phù hợp với bối cảnh cụ thể của ngành chế biến, chế tạo
+ Phương pháp mô hình: luận án sử dụng mô hình định lượng để đánh giá tác động của các yếu tố đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam thời gian qua, qua đó có thể thấy và dự báo được xu hướng vận động của năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong thời gian tới
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, nội dung luận án là một tài liệu góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề
lý luận về năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay, các
Trang 8tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng; vai trò của đổi mới sáng tạo tới nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh;
Thứ hai, luận án cung cấp một bức tranh về thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo tương đối đầy đủ Đánh giá toàn diện dưới góc độ quản lý kinh tế về các chính sách hỗ trợ, ưu đãi cũng như tạo lập môi trường thuận lợi khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo;
Thứ ba, luận án xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết về sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài tới năng lực đổi mới sáng tạo quy trình của doanh nghiệp chế biến, chế tạo, từ đó đưa ra kết luận đáng tin cậy về tác động cùng chiều của các yếu tố thể chế, phong cách lãnh đạo, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực kết nối tới năng lực đổi mới sáng tạo quy trình của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam;
Thứ tư, luận án đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng trong bối cảnh mới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Đóng góp về mặt lý luận
Thứ nhất, về mặt lý luận, nghiên cứu đã bổ sung các tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo, bổ sung các yếu tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam
Thứ hai, kết hợp các lý thuyết kinh tế học thể chế và lý thuyết lãnh đạo cấp cao và lý thuyết ĐMST mở để phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố tới năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng Ngoài yếu tố thể chế, luận án cho thấy sự ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo, nguồn lực con người, năng lực kết nối có ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp
Thứ ba, từ bức tranh về ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong nền kinh
tế, luận án làm rõ hơn vai trò của đổi mới sáng tạo trong nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của những doanh nghiệp trong ngành này
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Bên cạnh yếu tố nội lực luận án khẳng định một số nguồn lực bên ngoài có ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Điều này có hàm ý các doanh
Trang 9nghiệp chuyển từ đổi mới sáng tạo khép kín sang mô hình đổi mới sáng tạo mở là một
xu hướng ngày càng phổ biến Vì vậy, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần nâng cao năng lực kết nối, tương tác với các chủ thể bên ngoài nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực này và tìm kiếm sự hợp tác trong các hoạt động đổi mới sáng tạo
Nghiên cứu đã xây dựng và kiểm định được mô hình lý thuyết về sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài tới năng lực đổi mới sáng tạo quy trình của doanh nghiệp chế biến, chế tạo
Kết quả nghiên cứu của luận án cũng khẳng định vai trò của yếu tố thể chế (cụ thể là sự hỗ trợ của nhà nước, quyền sở hữu trí tuệ) tới năng lực đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Nhấn mạnh ý nghĩa của các chính sách nhằm hỗ trợ, cung cấp ưu đãi, khuyến khích cho các doanh nghiệp chế biến, chế tạo để kích thích họ đổi mới sáng tạo
Luận án đã đề xuất được một số giải pháp chủ yếu và khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy năng lực ĐMST trong các doanh nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam trong bối cảnh mới
VÀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
1.1 Nghiên cứu về vai trò và bản chất của năng lực đổi mới sáng tạo
Joseph Schumpeter (1883-1950) là nhà kinh tế học thường được nhắc đến như
là “cha đẻ” của lĩnh vực nghiên cứu này Các công trình nghiên cứu của ông đã có
Trang 10đóng góp rất lớn trong việc phát triển khái niệm sáng tạo và có ảnh hưởng sâu sắc đến các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo sau này
Điển hình là các điều tra như Khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Doanh nghiệp nhỏ của Anh Quốc (SBRC, 1992), CBI/Natwest (1997), các nghiên cứu của các tác giả như Baldwin (1995), Yamin và cộng sự (1999), Gunday và cộng sự (2011), Hassan và cộng sự (2013), Hashi và Stojcic (2013), Lin (2013), Erturk (2014) Nhóm này đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận khi khẳng định được tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo và năng lực đổi mới sáng tạo đối với sự thành công của doanh nghiệp Tuy nhiên, hạn chế của nhóm này là hiếm khi đưa ra được các đề xuất cụ thể nhằm nâng cao khả năng đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp
1.2 Các nghiên cứu về năng lực đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
Nhóm nghiên cứu này thường đề cập đến ba nội dung:
(1) Nghiên cứu về tình hình đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp: Điển hình
là các điều tra khảo sát ở tầm quốc gia Đặc điểm của các khảo sát này là được tiến hành trên diện rộng với quy mô mẫu lớn (có thể lên đến 2000 doanh nghiệp trở lên)
(2) Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp: McGourty và cộng sự (1996), Shaw (1998), Balbontin và cộng sự (1999), Keogh (1999), Zhang và Cantwell (2011), Phan (2014) Các nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố chính ảnh hưởng đến năng lực ĐMST như: khả năng tài chính, yếu tố nhân lực đặc biệt là vai trò của người lãnh đạo, cơ sở hạ tầng, mức độ sẵn sàng về công nghệ, sự liên kết Còn theo Carboni (2011), Mansfield (1986) thì thể chế, trong
đó có thái độ của Chính quyền địa phương thông qua chính sách trợ cấp các hoạt động đổi mới, R&D đóng một vai trò quan trọng trong hành vi sáng tạo của doanh nghiệp Phan Thị Thục Anh (2005), kết luận về các yếu tố tác động tích cực như: Đào tạo, chia sẻ tri thức và sự hài lòng của nhân viên; Mức độ chú trọng khách hàng của doanh nghiệp; Sự ủng hộ của lãnh đạo/ nhà quản lý đối với đổi mới sáng tạo
(3) Các tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo: Các tiêu chí để đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp khá phong phú, bao gồm các yếu tố đầu vào hoặc các yếu tố đầu ra hoặc kết hợp cả hai nhóm yếu tố này
Các nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D): Các nghiên cứu của Rothwell (1994), Miller và Morris (1999), Chiesa (2001), và Nobelius, D (2003) đều cho thấy một xu hướng có tính quy luật, là mặc dù R&D mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn nhưng tính phức tạp ngày càng cao hơn và tỉ số rủi ro ngày càng lớn hơn Nhìn chung các nghiên cứu của Roussel
Trang 11và cộng sự (1991), Rothwell (1994), Miller và Morries (1998), Chiesa (2001), Nobelius (2003), Jain và Triandis (1990) và Frascati Manual năm 2002 của OECD
đã cung cấp khá toàn diện những lý luận về R&D và quản trị R&D
1.3 Các nghiên cứu về chính sách khuyến khích năng lực đổi mới sáng tạo
Các quốc gia nhận thức được rằng chính đổi mới sáng tạo là nguồn động lực chi phối tăng trưởng và việc bị thất bại trong cuộc chạy đua dành lợi thế đổi mới có thể
là nguyên nhân dẫn đến mức sống thấp Các chính sách đổi mới nhất quán, gắn kết phát huy hiệu quả
Nghiên cứu về chênh lệch giữa năng lực đổi mới của các nước vào năm 1978 và sau đó so sánh với năng lực đổi mới của các nước này vào năm 1999, Furman và Hayes đã phát hiện thấy rằng các nước tụt hậu ban đầu nhưng sau đó đã áp dụng các chính sách tăng cường đổi mới trong khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nguồn vốn nhân lực, đáng chú ý có Đài Loan, Đan Mạch, Ailen, Phần Lan, Singapo, và Hàn Quốc, cho thấy họ đã gia tăng được đáng kể các kết quả đổi mới của mình trên bình quân đầu người, và vào năm 1999 đã đuổi kịp các nước như Vương quốc Anh, Pháp,
và Italia
Ở Việt Nam, KHCN và ĐMST đã và đang là vấn đề ngày càng được nhiều sự quan tâm của Chính phủ trong việc định hướng phát triển và các chính sách tạo điều
kiện phát triển thị trường KHCN
1.4 Các nghiên cứu về năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo
Một kết luận được đưa ra về năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm của tác giả Lê Thị Mỹ Linh: Các doanh nghiệp này thực hiện tương đối đều bốn loại đổi mới sáng tạo, trong đó đổi mới sáng tạo sản phẩm và đổi mới sáng tạo quy trình được thực hiện tốt hơn 2 loại còn lại Tác giả của nghiên cứu này đưa ra bảy nhân tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo đó là: Lãnh đạo truyền cảm hứng đổi mới sáng tạo, Nghiên cứu thị trường, Phổ biến tri thức, Nhân lực có khả năng đổi mới, Văn hóa đổi mới sáng tạo, Quản lý thúc đẩy đổi mới và Mạng lưới quan hệ
Trang 12Nhìn chung các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của đổi mới sáng tạo đối với kết quả hoạt động và sự phát triển của một doanh nghiệp, tại sao doanh nghiệp cần phải đổi mới sáng tạo Các học giả đã đề xuất nhiều định nghĩa và cách phân loại khác nhau về đổi mới sáng tạo Trong đó cách định nghĩa và phân loại của OECD (2005; 2018) được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay
1.5 Khoảng trống nghiên cứu
Thứ nhất, năng lực đổi mới có vai trò quan trọng đối với việc tăng năng suất lao động, tăng khả năng cho cạnh tranh cho doanh nghiệp Vậy ''Làm thế nào để thúc đẩy năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp?'' không chỉ là câu hỏi học
thuật mà còn là mối quan tâm lớn của các nhà quản lý So sánh sự khác biệt về kết quả đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp giữa các quốc gia có thể thấy, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, năng lực của doanh nghiệp là chưa đủ, mà cần cả môi trường thể chế, cả các chính sách khuyến khích, cả hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Một khoảng
trống cần được bổ sung nghiên cứu, đó là phân tích yếu tố thể chế (cụ thể hóa bằng
sự hỗ trợ của Nhà nước và quyền sở hữu trí tuệ) có tác động như thế nào tới năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Việt Nam đang rất khuyến khích các hoạt động đổi mới sáng tạo nên nhiều chính sách hỗ trợ được đưa
ra, vậy mức độ tiếp cận và hấp thụ các chính sách đó dưới góc độ đánh giá của quản
lý kinh tế ra sao
Thứ hai, qua tổng quan nghiên cứu, tác giả thấy có rất nhiều nghiên cứu về
vấn đề đổi mới sáng tạo được các tác giả tiếp cận từ các lý thuyết khác nhau Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thời gian, bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi đặc biệt dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập kinh tế quốc tế, các xu hướng phát triển trên thế giới… dẫn đến nhiều rủi ro trong hoạt động quốc tế, từ đó các nước coi trọng nguồn lực trong nước và điều này dẫn đến càng cần phải đổi mới sáng tạo Việc xem xét thực trạng, đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo một cách cập nhật và các chính sách liên quan đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng gắn với bối cảnh mới
là thực sự cần thiết
Trang 13 Thứ ba, các nghiên cứu trước liên quan đến năng lực đổi mới sáng tạo của
doanh nghiệp chế biến, chế tạo còn hạn chế về số lượng Do đó, nội dung nghiên cứu này chưa có một cái nhìn toàn diện và tổng quát NCS muốn tìm hiểu và bổ sung thêm nghiên cứu về vấn đề này trong bối cảnh mới, bởi chế biến, chế tạo là ngành có vai trò trụ cột đối với sự phát triển của kinh tế Việt Nam với sự tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau
Đây là một số những khoảng trống để NCS làm rõ trong nghiên cứu của mình trên cơ sở có sự kế thừa các nghiên cứu trước đó
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nội dung tổng quan nghiên cứu cho thấy, đổi mới sáng tạo là vấn đề đang rất được quan tâm đối với các quốc gia và doanh nghiệp Đổi mới sáng tạo giúp nâng cao khả năng cạnh tranh dựa trên yếu tố tri thức Đổi mới sáng tạo cũng gắn bó mật thiết với những thay đổi trong cơ cấu nền kinh tế, nâng cấp công nghệ trong sản xuất
và chuyển sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu
Có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh khái niệm, đặc điểm và phân loại đổi mới sáng tạo, chứng tỏ đây là vấn đề phức tạp, được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố bên trong doanh nghiệp như lãnh đạo, nguồn lực tài chính, văn hóa doanh nghiệp, phong cách lãnh đạo và các yếu tố bên ngoài như thể chế, mức độ cạnh tranh của thị trường, sự quan tâm đến khách hàng, cơ sở hạ tầng Nhận thức được tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo tới sự phát triển của quốc gia, chính phủ nhiều nước trên thế giới trong
đó có Việt Nam đã đưa ra các chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo Doanh nghiệp cần trở thành trung tâm trong quá trình đổi mới sáng tạo
Chính vì vậy, NCS sẽ kế thừa kết quả của các nghiên cứu đi trước đồng thời sẽ tiếp tục nghiên cứu những nội dung mới về chủ đề năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng Vì đây là một vấn đề còn khá mới mẻ và đang rất được quan tâm