1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

241 54 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Tác giả Nguyễn Thị Trang
Người hướng dẫn PGS. TS. Bùi Quang Tuấn
Trường học Học viện Khoa học xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận án tiến sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 241
Dung lượng 4,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới Trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TRANG

NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI: TRƯỜNG HỢP NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Hà Nội, 2023

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TRANG

NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI: TRƯỜNG HỢP NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO

Ngành : Quản lý kinh tế

Mã số : 9.34.04.10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI QUANG TUẤN

Hà Nội, 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan nội dung đề tài luận án “Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới: trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo” là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả

Các tài liệu, số liệu nêu trong luận án có nguồn trích dẫn rõ ràng, không vi phạm quy định của pháp luật Tác giả xin cam đoan những điều trên là đúng

sự thật, nếu sai, tác giả hoàn toàn xin chịu trách nhiệm

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Quá trình hoàn thành luận án là một chặng đường dài, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các Thầy/ cô giáo, các anh chị đồng nghiệp

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn là PGS

TS Bùi Quang Tuấn – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Thầy đã luôn tận tình hướng dẫn, định hướng và đồng hành cùng tôi ngay từ những ngày đầu thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, cô, anh, chị đang công tác tác Học viện Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ tôi hoàn thiện thủ tục và quy trình trong cả suốt khoảng thời gian dài

Đồng thời, luận án không thể hoàn thành nếu tôi không nhận được sự động viên, khích lệ từ các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, cô, anh, chị tại Khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh doanh và công nghệ

Hà Nội đã luôn động viên, quan tâm giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới trong gia đình, đã luôn ủng hộ về mọi mặt để tôi hoàn thành nhiệm vụ này

Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2023

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Trang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 11

1.1 Nghiên cứu về vai trò và bản chất của năng lực đổi mới sáng tạo 11

1.2 Các nghiên cứu về năng lực đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp 15

1.3 Các nghiên cứu về chính sách khuyến khích năng lực đổi mới sáng tạo 27

1.4 Các nghiên cứu về năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo 29

1.5 Đánh giá tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu 29

1.5.1 Đánh giá tình hình nghiên cứu 29

1.5.2 Khoảng trống nghiên cứu 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO 33

2.1 Cơ sở lý luận về năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp và ngành chế biến, chế tạo 33

2.1.1 Khái niệm về đổi mới sáng tạo và năng lực đổi mới sáng tạo 33

2.1.2 Phân loại năng lực đổi mới sáng tạo 42

2.1.3 Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với doanh nghiệp 46

2.1.4 Đặc điểm năng lực đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp 48

2.1.5 Khái niệm doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo 51

2.2 Các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp 52

2.2.1 Các nhân tố bên trong 52

2.2.2 Các nhân tố bên ngoài 57

Trang 6

2.3 Tiêu chí đo lường năng lực ĐMST 60

2.4 Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu 66

2.4.1 Lý thuyết kinh tế học thể chế 68

2.4.2 Mô hình kiến tạo tri thức SECI của Nonaka – Takeuchi (Socialization, Externalization, Combination và Internalization) và lý thuyết lãnh đạo cấp cao (Upper echolons theory) 71

2.4.3 Lý thuyết đổi mới sáng tạo mở và năng lực kết nối của doanh nghiệp 74

2.5 Mô hình nghiên cứu 74

2.6 Các giả thuyết nghiên cứu 77

2.6.1 Sự tác động của thể chế đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo 77

2.6.2 Phong cách lãnh đạo có tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo 78

2.6.3 Năng lực kết nối trong mạng lưới có tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo 79

2.6.4 Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp có tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo 80

2.7 Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp và bài học cho Việt Nam 80

2.7.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 80

2.7.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 83

2.7.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 85

2.7.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 88

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 91

Chương 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI 92

Trang 7

3.1 Các chính sách về đổi mới sáng tạo tại Việt Nam và chính sách

đối với ngành chế biến, chế tạo 92

3.1.1 Khung pháp lý về đổi mới sáng tạo 92

3.1.2 Chính sách định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 103

3.1.3 Các chính sách ưu đãi, khuyến khích ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thực hiện đổi mới sáng tạo 105

3.1.4 Đánh giá về chính sách đổi mới sáng tạo đối với doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 107

3.2 Thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo 111

3.2.1 Bức tranh về doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo giai đoạn 2011 - 2020 111

3.2.2 Đặc điểm năng lực ĐMST trong các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Việt Nam 118

3.2.3 Đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo 121

3.3 Nghiên cứu định lượng 124

3.3.1 Số liệu 124

3.3.2 Các biến và các thang đo 124

3.3.3 Mô tả mẫu khảo sát 128

3.3.4 Kiểm định sự tin cậy thang đo 135

3.3.5 Phân tích nhân tố 137

3.3.6 Phân tích tương quan 139

3.3.7 Phân tích hồi quy 140

3.3.8 Phân tích sự khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp về đổi mới sáng tạo 143

3.3.9 Tóm tắt kết quả kiểm định các giả thuyết của nghiên cứu 145

Trang 8

3.4 Luận bàn các kết quả nghiên cứu 146

3.4.1 Mối quan hệ giữa sự hỗ trợ của nhà nước và năng lực ĐMST quy trình 146

3.4.2 Mối quan hệ giữa sở hữu trí tuệ và năng lực ĐMST quy trình 147 3.4.3 Mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và năng lực ĐMST quy trình 148

3.4.4 Mối quan hệ giữa năng lực kết nối trong mạng lưới và năng lực ĐMST quy trình 149

3.4.5 Mối quan hệ giữa chất lượng nguồn nhân lực và năng lực ĐMST quy trình 150

3.5 Đánh giá chung 151

3.5.1 Kết quả đạt được trong năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng 151

3.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 160

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 163

Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI 164

4.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế 164

4.1.1 Bối cảnh quốc tế 164

4.1.2 Bối cảnh trong nước 165

4.1.3 Xu hướng tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 167

4.2 Cơ hội và thách thức đối với năng lực ĐMST của doanh nghiệp chế biến, chế tạo 169

4.2.1 Cơ hội 169

4.2.2 Thách thức 170

Trang 9

4.3 Quan điểm – định hướng về nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo

của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo 172

4.3.1 Quan điểm 172

4.3.2 Định hướng 176

4.4 Giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam 177

4.4.1 Hoàn thiện chính sách về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 178

4.4.2 Chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa về đổi mới sáng tạo 181

4.4.3 Tăng cường mối quan hệ hợp tác trong ĐMST của doanh nghiệp 185

4.4.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo dựng môi trường ĐMST cho doanh nghiệp 187

4.4.5 Phát triển mô hình hệ sinh thái đổi mới sáng tạo 190

4.5 Điều kiện thực hiện 191

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 195

KẾT LUẬN 196

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 198

TÀI LIỆU THAM KHẢO 199 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Dự án FIRST Dự án “Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa

học và công nghệ”

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến năng lực ĐMST 20

Bảng 1.2: Các nghiên cứu về tiêu chí đánh giá năng lực ĐMST của doanh nghiệp 23

Bảng 2.1 Các từ/ cụm từ có trong định nghĩa về đổi mới sáng tạo 37

Bảng 2.2: Phân loại đổi mới sáng tạo 42

Bảng 2.3: Tiêu chí đo lường năng lực đổi mới sáng tạo theo OECD (2005) 63

Bảng 2.4: Tiêu chí đo lường năng lực đổi mới sáng tạo theo Thông tư 17/2019/TT-BKHCN của Bộ KHCN 64

Bảng 2.5: Các lý thuyết về năng lực đổi mới sáng tạo 67

Bảng 3.1 Chính sách đổi mới, sáng tạo của Việt Nam qua các thời kỳ 93

Bảng 3.2 Số hiệu, ngày ban hành và tên chính thức của các luật 95

Bảng 3.3: Số hiệu, ngày ban hành và tên của một số Nghị định và Quyết định liên quan đến chính sách đổi mới sáng tạo 96

Bảng 3.4: Một số văn bản liên ngành liên quan đến chính sách đổi mới sáng tạo 97

Bảng 3.5: Tỷ trọng của công nghiệp và công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP 113

Bảng 3.6: Thực trạng doanh nghiệp chế biến, chế tạo đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh 117

Bảng 3.7: Cơ cấu phương thức thực hiện sản phẩm mới của doanh nghiệp 119

chia theo quy mô lao động 119

Bảng 3.8: Thang đo ”Năng lực kết nối trong mạng lưới” 125

Bảng 3.9: Thang đo ”Phong cách lãnh đạo” 126

Bảng 3.10: Thang đo ”Chất lượng nguồn nhân lực” 126

Bảng 3.11: Thang đo ”Thể chế” 127

Bảng 3.12: Thang đo ”ĐMST quy trình” 127

Bảng 3.13 Mô tả thông tin về loại hình doanh nghiệp khảo sát 128

Bảng 3.14 Mô tả thông tin về tổng số lao động trong doanh nghiệp 128

Bảng 3.15 Mô tả thông tin về vốn thành lập doanh nghiệp 129

Bảng 3.16 Mô tả thông tin về vốn cuối năm 2022 129

Bảng 3.17 Mô tả thông tin về nhóm khách hàng chính của các doanh nghiệp 129 Bảng 3.18 Mô tả thông tin về số lượng bằng phát minh, sáng chế 5 năm gần đây 130

Trang 12

Bảng 3.19 Mô tả thông tin về phương thức công ty thực hiện đối với ĐMST

quy trình 131

Bảng 3.20 Mô tả đánh giá về nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm 131

Bảng 3.21 Mô tả giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu, chi phí SX 132

Bảng 3.22 Mô tả vai trò đối với đa dạng hóa mẫu mã 132

Bảng 3.23 Mô tả vai trò đối với nâng cao giá trị thương hiệu của doanh nghiệp 132

Bảng 3.24 Mô tả vai trò đối với nâng cao khả năng cạnh tranh 133

Bảng 3.25 Mô tả vai trò đối với tăng lợi nhuận 133

Bảng 3.26 Mô tả vai trò đối với nâng cao mức độ an toàn trong sản xuất 133

Bảng 3.27 Mô tả vai trò đối với góp phần bảo vệ môi trường 134

Bảng 3.28 Mô tả vai trò đối với tham gia thị trường mới 134

Bảng 3.29 Mô tả vai trò đối với tăng thị phần 134

Bảng 3.30 Kết quả phân tích nhân tố cho các biến độc lập 138

Bảng 3.31 Kết quả phân tích nhân tố cho biến phụ thuộc đổi mới 139

Bảng 3.32 Ma trận hệ số tương quan 140

Bảng 3.33 Kết quả phân tích hồi quy 141

Bảng 3.34 Kết quả phân tích ANOVA cho loại hình doanh nghiệp 144

Bảng 3.35 Kết quả phân tích ANOVA cho quy mô doanh nghiệp 144

Bảng 3.36 Kết quả kiểm định phương sai bằng nhau và sự khác biệt 145

cho quy mô vốn 145

Bảng 3.37 Tóm tắt kết quả kiểm định giả thuyết của nghiên cứu 145

Bảng 3.38: Vị trí của Việt Nam về chỉ số đổi mới sáng tạo được WIPO đánh giá giai đoạn 2007 – 2022 152

Bảng 3.39 Chuyển đổi số trong doanh nghiệp Việt Nam (%) 157

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

Hình 0.1: Quy trình nghiên cứu 5

Hình 1.1: Cụm từ thường được sử dụng trong mỗi thuộc tính của ĐMST 14

Hình 2.1: Các giai đoạn đổi mới sáng tạo 34

Hình 2.2: Các thuộc tính của đổi mới sáng tạo 38

Hình 2.3: Các cấp độ năng lực 40

Hình 2.4: Chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo 41

Hình 2.5: Đổi mới sản phẩm 44

Hình 2.6: Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 61

Hình 2.7 Mô hình chuyển đổi tri thức của Nonaka 72

Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu của luận 76

Hình 3.1 Tỷ lệ vốn đầu tư xã hội ngành chế biến, chế tạo và ngành khai khoáng 111 Hình 3.2 Tốc độ tăng GDP, IIP tổng thể ngành công nghiệp và ngành 112

chế biến, chế tạo 112

Hình 3.3 Doanh nghiệp thành lập mới trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 114

Hình 3.4 Doanh nghiệp chế biến, chế tạo đang hoạt động 115

Hình 3.5: Mức tăng trưởng một số ngành chế biến, chế tạo năm 2020 116

Hình 3.6 Doanh nghiệp chế biến, chế tạo phân theo trình độ công nghệ của ngành 117

Hình 3.7: Tỷ lệ (%) số lượt các DN ĐMST được hưởng các hình thức hỗ trợ 118

từ nhà nước trong hoạt động ĐMST 118

Hình 3.8: Cơ cấu phương thức thực hiện sản phẩm mới của doanh nghiệp chia theo quy mô lao động 119

Hình 3.9: Mức độ áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 120

Hình 3.10: Doanh nghiệp ĐMST phân theo quy mô tỷ lệ vốn Nhà nước 121

Hình 3.11 Chỉ số năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp C CT phân theo ngành kinh doanh 122

Hình 3.12: Số lượng bằng phát minh, sáng chế từ năm 2018-2022 130

Hình 3.13 Phân phối phần dư và phân tán phần dưa chuẩn hóa- dự báo chuẩn hóa 142

Trang 14

Hình 3.14: Sự thay đổi thứ hạng của Việt Nam về ĐMST 152 giai đoạn 2007 – 2022 152 Hình 3.15: Thứ hạng các trụ cột đầu vào về ĐMST của Việt Nam, giai đoạn

2018 -2022 153 Hình 3.16 Các hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo 154 Hình 3.17: Thực trạng công nghệ của doanh nghiệp chế biến, chế tạo 154 Hình 3.17a: Công nghệ của doanh nghiệp 154 Hình 3.17b: Trình độ công nghệ của doanh nghiệp 154 Hình 3.18 Chiến lược đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chế biến, chế tạo

phân chia theo loại hình doanh nghiệp 156 Hình 3.19 Kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chế biến, chế tạo

theo trình độ công nghệ 158 Hình 3.20 Hoạt động R&D của doanh nghiệp Việt Nam phân theo quy mô 159

DANH MỤC HỘP

Hộp 3.1 Lợi ích của ĐMST quy trình với Công ty TNHH sản xuất vật tư thiết

bị Thành Đạt 135 Hộp 3.2 Phong cách lãnh đạo và đổi mới sáng tạo quy trình tại Công ty May

Đáp Cầu 149 Hộp 3.3: Công nghệ lạc hậu làm giảm khả năng cạnh tranh 155 Hộp 4.1: Việt Nam 2035 – Những thay đổi chiến lược quan trọng và lĩnh vực

cải cách chung 177

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nếu sử dụng chức năng tìm kiếm của google với từ “innovation” thì chỉ

trong 0.37 giây cho ra khoảng 1.990.000.000 kết quả tìm kiếm Điều này chứng tỏ trong thời gian gần đây, đổi mới sáng tạo đã thu hút sự quan tâm đặc biệt từ phía Chính phủ, doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đổi mới sáng tạo không chỉ là chìa khóa thành công của doanh nghiệp mà còn là một yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển bền vững của các quốc gia (Mortara & ceng sir, 2009; Tohidi & Jabbari, 2012)

Lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới đã chứng minh một trong các giải pháp phát triển bền vững đất nước, đó là tập trung vào việc tăng năng suất lao động thông qua đổi mới sáng tạo, nhất là đối với các doanh nghiệp Với xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ cũng như sự xuất hiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay, đổi mới sáng tạo tạo ra lợi thế cạnh tranh cho quốc gia nói chung và doanh nghiệp nói riêng Đổi mới sáng tạo cũng gắn bó mật thiết với những thay đổi trong cơ cấu nền kinh tế, nâng cấp công nghệ trong sản xuất và chuyển sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu

Tại sao lại có sự khác biệt đáng kể về thu nhập bình quân đầu người giữa các quốc gia, bản chất câu trả lời là năng suất lao động, đổi mới sáng tạo là một yếu tố quan trọng tác động tới năng suất lao động, điều cốt lõi của tăng trưởng kinh tế Việt Nam, với xuất phát điểm thấp, có thể tận dụng được lợi thế của người đi sau nhờ những tác động lan tỏa của đổi mới sáng tạo từ dòng chảy kiến thức và công nghệ của những người tiên phong

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2021-2030 đã xác định các đột

phá chiến lược là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ''Làm thế

nào để thúc đẩy đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp?'' không chỉ là câu hỏi học

thuật mà còn là mối quan tâm lớn của các nhà quản lý So sánh sự khác biệt về kết quả đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp giữa các quốc gia có thể thấy, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, năng lực của doanh nghiệp là chưa đủ, mà cần cả môi trường thể chế, cả các chính sách khuyến khích, cả hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Trang 16

Nhìn lại thời gian qua, các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo – ngành có vị trí và ảnh hưởng quan trọng đã đóng góp lớn vào tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam, trong đó năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp này

đã góp phần vào việc hình thành mô hình phát triển bền vững trong tương lai Công nghệ ngày càng phát triển, vòng đời của sản phẩm ngày càng ngắn hơn do có nhiều sản phẩm thay thế Đặc điểm môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành đòi hỏi sản phẩm phải luôn đổi mới, thay đổi liên tục để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng khi có nhiều sự lựa chọn Quan điểm của Nhà nước đang rất khuyến khích hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp vì vậy xét về thể chế nhà nước có nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ cả về tài chính và phi tài chính

Tuy nhiên, hiện nay năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam nói chung, trong đó có các doanh nghiệp chế biến, chế tạo còn có những hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo Theo đó, cần thiết phải có nghiên cứu đánh giá thực trạng một cách hệ thống, đề ra giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong bối cảnh mới Chính vì

vậy, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

Việt Nam trong bối cảnh mới: trường hợp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo”

làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo (ĐMST) và tác động của các nhân tố đến năng lực ĐMST của doanh nghiệp chế biến, chế tạo, luận án đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực ĐMST của doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong bối cảnh mới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu tổng quát nêu trên, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

+ Tổng quan cơ sở lý luận về năng lực ĐMST của doanh nghiệp

Trang 17

+ Nghiên cứu thực trạng năng lực ĐMST của doanh nghiệp chế biến chế, tạo

ở Việt Nam

+ Đánh giá ảnh hưởng của nhân tố bên ngoài và bên trong đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo bằng mô hình định lượng, trong đó tập trung xem xét tác động của 4 yếu tố (thể chế, phong cách lãnh đạo, nguồn nhân lực và năng lực kết nối) tới năng lực ĐMST quy trình của doanh nghiệp chế biến, chế tạo

+ Đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy năng lực ĐMST trong các doanh nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam trong bối cảnh mới

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào các câu hỏi chính sau đây:

1 Thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay như thế nào?

2 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo nói chung, đổi mới sáng tạo quy trình nói riêng của doanh nghiệp chế biến, chế tạo ra sao?

3 Các giải pháp chính sách để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong bối cảnh mới là gì?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là năng lực

ĐMST của doanh nghiệp chế biến, chế tạo và các giải pháp nâng cao năng lực

ĐMST của doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong bối cảnh mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận án nghiên cứu các doanh nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam thuộc lớp ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo) của Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ và các chủ thể có liên quan bao gồm cả quản lý nhà nước

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: luận án xem xét thực trạng từ năm 2011 đến năm 2020, các giải pháp đề xuất áp dụng cho giai đoạn đến năm 2030

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp gồm 4 loại: năng lực đổi mới sáng tạo sản phẩm; đổi mới sáng tạo quy trình; đổi mới sáng tạo tổ chức; đổi mới sáng tạo

Trang 18

marketing (OECD, 2005) Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung xem xét thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo sản phẩm và đổi mới sáng tạo quy trình, đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực đổi mới sáng tạo quy trình của doanh nghiệp

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận xuyên suốt của luận án là duy vật lịch sử, xem xét năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam trong bối cảnh chung của nền kinh tế thời gian qua và có gắn kết chặt chẽ với thực trạng hoạt động

và phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các yếu tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam nói riêng

Luận án có cách tiếp cận hệ thống, gắn kết cơ sở lý luận với thực tiễn năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam, xem xét năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam như là một nội dung quan trọng để đảm bảo nâng cao năng suất và từ đó đóng góp trực tiếp cho nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp - một mục tiêu quan trọng của chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Luận án cũng áp dụng các phương pháp định tính và định lượng để phân tích

và đánh giá chính sách đối với hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo cũng như lượng hóa tác động của các nhân tố đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam Luận án đi sâu phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố thể chế, phong cách lãnh đạo, nguồn nhân lực và năng lực kết nối trong mạng lưới tới năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, từ đó cung cấp cơ sở để đưa ra những giải pháp, khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo

Trang 19

Hình 0.1: Quy trình nghiên cứu

Nguồn: NCS

Xác định mục tiêu nghiên cứu:

+ Xác định đối tượng nghiên cứu + Xác định mục tiêu nghiên cứu + Xác định phương pháp nghiên cứu

Thu thập và phân tích dữ liệu

Tổng quan nghiên cứu:

+ Khoảng trống nghiên cứu

+ Câu hỏi nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết:

+ Các lý thuyết nghiên cứu + Các giả thuyết nghiên cứu + Xây dựng thang đo ban đầu

Nghiên cứu định lượng:

+ Thu thập dữ liệu qua bảng hỏi + Phân tích khẳng định nhân tố + Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính + Đánh giá từng nhân tố

KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP

VÀ KHUYẾN NGHỊ

Trang 20

4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu

Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, NCS sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, cụ thể như sau:

+ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu thứ cấp trong luận án chủ yếu được khai thác từ các số liệu do Tổng cục thống kê và một số bộ ban ngành Trung ương công bố chính thức như ộ Kế hoạch và Đầu tư, ộ Thông tin và truyền thông, Bộ Khoa học và Công nghệ… Trong các nguồn thông tin có các sách trắng về doanh nghiệp, các chỉ số đo lường của quốc tế và quốc gia như Chỉ số cạnh tranh kinh tế, Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), các số liệu khác của các tổ chức kinh tế quốc tế trong và ngoài nước… các tài liệu tham khảo là các luận án đã

có, các bài báo chuyên khảo…

+ Phương pháp điều tra nhằm thu thập thông tin sơ cấp: Tác giả đưa ra bảng hỏi với các thang đo gần gũi, dễ hiểu nhất đối với người trả lời Mục đích tiến hành khảo sát để kiểm định mô hình lý thuyết đưa ra gồm tìm hiểu về mối quan hệ giữa các nhân tố với năng lực đổi mới sáng tạo quy trình được đề xuất trong các giả thuyết và tìm hiểu sự khác biệt về mối quan hệ này giữa các loại hình, quy mô doanh nghiệp

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu 5 người

Trong đó, 1 cán bộ Sở Khoa học công nghệ tỉnh, 4 cán bộ quản lý tại doanh nghiệp (đây là những vị trí quan trọng, trực tiếp tham gia vào hoạt động ĐMST quy trình của công ty nên những nhận định, chia sẻ của họ về ĐMST quy trình là đáng tin cậy ước nghiên cứu định tính này giúp tác giả nhận được sự tư vấn kỹ lưỡng của các chuyên gia nhằm điều chỉnh lại mô hình, thang đo và những khám phá mới ước này nhằm đánh giá tính khả thi của bảng hỏi, để tiếp tục sửa chữa và hoàn thiện bảng hỏi cho phù hợp hơn Từ đó điều chỉnh lại nội dung các câu hỏi, bổ sung thêm và bỏ bớt các câu hỏi không cần thiết trước khi triển khai khảo sát chính thức

Nghiên cứu định lượng chính thức:

Để chọn được mẫu khảo sát, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để lựa chọn doanh nghiệp thuộc ngành chế biến, chế tạo Chọn mẫu thuận

Trang 21

tiện là cách chọn trong đó đối tượng điều tra được lựa chọn một cách tình cờ hoặc thuận tiện, dễ dàng nhất cho người nghiên cứu thông qua các mối quan hệ gần gũi, quen biết

Nghiên cứu này xem xét lấy mẫu ở mức khá theo quy tắc của Tabenick & Fidell (2007); với cỡ mẫu tối thiểu là 50+8*p=98 (với p=6 là số biến độc lập của

mô hình) Tác giả thu về 100 phiếu hợp lệ Với số lượng 100 phiếu hợp lệ thu về, nghiên cứu được đánh giá là phù hợp Tác giả tiến hành khảo sát trực tiếp và trực tuyến theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện đối với cán bộ quản lý cấp trung trở lên như trưởng/ phó phòng có liên quan, các quản đốc/ phó quản đốc các phân xưởng sản xuất (Do việc khảo sát doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn nên việc khảo sát lấy mẫu theo phương pháp xác suất) Mỗi doanh nghiệp sẽ phỏng vấn một người Đây

là người nắm rõ tình hình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu được tác giả sử dụng để đánh giá lại độ tin cậy thang đo, tiếp theo phân tích tương quan được sử dụng để kiểm tra mối tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập

4.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin, dữ liệu

+ Phương pháp nghiên cứu tại bàn: NCS sử dụng phương pháp này trong nội dung tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đổi mới sáng tạo Đây là cơ sở giúp NCS xác định được khoảng trống nghiên cứu, xác định được vấn đề cần giải quyết và các nội dung được kế thừa từ các nghiên cứu trước

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu: phương pháp này được sử dụng

để so sánh, phân tích định lượng, dự báo Thông qua các phương pháp này, tác giả đánh giá, so sánh về năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng theo thời gian Từ đó đưa ra giải pháp mang tính tập trung

+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm tham khảo ý kiến một số nhà quản lý trong doanh nghiệp chế biến, chế tạo nhằm xem xét thực trạng năng lực đổi mới, sáng tạo của doanh nghiệp và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới, sáng tạo của doanh nghiệp Phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành trước khi thực hiện khảo sát để kiểm tra sự phù hợp của mô hình và thước

Trang 22

đo của các biến có được từ tổng quan lý thuyết Trên cơ sở đó, tác giả điều chỉnh thang đo cho phù hợp với bối cảnh cụ thể của ngành chế biến, chế tạo

+ Phương pháp mô hình: luận án sử dụng mô hình định lượng để đánh giá tác động của các yếu tố đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam thời gian qua, qua đó có thể thấy và dự báo được xu hướng vận động của năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong thời gian tới

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, nội dung luận án là một tài liệu góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay Từ đó xác định sự ảnh hưởng cùng chiều của các yếu tố thể chế, phong cách lãnh đạo, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực kết nối tới năng lực ĐMST quy trình của doanh nghiệp chế biến, chế tạo

Thứ hai, luận án đã đánh giá được thực trạng năng lực ĐMST của doanh nghiệp chế biến, chế tạo một cách cập nhật Thông qua tiến hành khảo sát các doanh nghiệp với quy mô vốn, lao động, loại hình khác nhau, luận án đưa ra những kết luận có bằng chứng về tác động của các yếu tố đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam thời gian qua

Thứ ba, luận án đã đưa ra một số khuyến nghị cho các bên liên quan nhằm nâng cao năng lực ĐMST của doanh nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam Các đề xuất này là dựa trên các cơ sở nghiên cứu khoa học bằng phương pháp

Thứ hai, kết hợp các lý thuyết kinh tế học thể chế và lý thuyết lãnh đạo cấp cao và lý thuyết ĐMST mở để phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố tới năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng Ngoài yếu tố thể chế, luận án cho thấy sự ảnh hưởng của phong cách lãnh

Trang 23

đạo, nguồn lực con người, năng lực kết nối có ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

Thứ ba, từ bức tranh về ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong nền kinh

tế, luận án làm rõ hơn vai trò của đổi mới sáng tạo trong nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của những doanh nghiệp trong ngành này

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Bên cạnh yếu tố nội lực luận án khẳng định một số nguồn lực bên ngoài có ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Điều này có hàm ý các doanh nghiệp chuyển từ đổi mới sáng tạo khép kín sang mô hình đổi mới sáng tạo

mở là một xu hướng ngày càng phổ biến Vì vậy, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần nâng cao năng lực kết nối, tương tác với các chủ thể bên ngoài nhằm khai thác

có hiệu quả các nguồn lực này và tìm kiếm sự hợp tác trong các hoạt động đổi mới sáng tạo

Nghiên cứu đã xây dựng và kiểm định được mô hình lý thuyết về sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài tới năng lực đổi mới sáng tạo quy trình của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Theo đó có sự tác động cùng chiều của các yếu tố thể chế, phong cách lãnh đạo, năng lực kết nối, chất lượng nguồn nhân lực đến đổi mới sáng tạo quy trình của doanh nghiệp

Kết quả nghiên cứu của luận án cũng khẳng định vai trò của yếu tố thể chế (cụ thể là sự hỗ trợ của nhà nước, quyền sở hữu trí tuệ) tới năng lực đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Nhấn mạnh ý nghĩa của các chính sách nhằm hỗ trợ, cung cấp ưu đãi, khuyến khích cho các doanh nghiệp chế biến, chế tạo để kích thích họ đổi mới sáng tạo

Luận án đã đề xuất được một số giải pháp chủ yếu và khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy năng lực ĐMST trong các doanh nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam trong bối cảnh mới

7 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án được trình bày trong 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đổi mới sáng tạo và năng lực đổi mới sáng tạo

Trang 24

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

Chương 3: Thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam trong bối cảnh mới

Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam trong bối cảnh mới

Trang 25

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

VÀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Nghiên cứu về năng lực đổi mới sáng tạo được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, trong đó riêng lĩnh vực kinh tế và kinh doanh cũng đã có nhiều góc nhìn lí thuyết khác nhau Hiện nay, chưa tồn tại một lý thuyết thống nhất về đổi mới sáng tạo nào được toàn bộ cộng đồng khoa học cùng nhất trí thừa nhận Mỗi lý thuyết có một đóng góp nhất định, giúp làm rõ hơn bản chất của mối quan hệ giữa đổi mới sáng tạo và các yếu tố khác trong doanh nghiệp

Một câu hỏi quan trọng đặt ra là tại sao doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo? Lý do chủ yếu nhất là doanh nghiệp thực hiện các đổi mới sáng tạo khác nhau

để nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh thông qua việc giảm chi phí và/ hoặc tăng doanh thu, tăng thị phần…Doanh nghiệp có thể tự nhận thấy sản phẩm, dịch vụ đang cung cấp hay cách làm đang thực hiện không còn phù hợp hoặc không đem lại ưu thế cho doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh, vì vậy, cần

có sự thay đổi/ cải tiến để duy trì sự tồn tại và phát triển trên thị trường Thay thế các sản phẩm lỗi thời, mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ, gia nhập thị trường mới, giảm thời gian đáp ứng nhu cầu khách hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, hoàn thiện môi trường làm việc hay dây chuyền sản xuất… là những ví dụ cụ thể

về mục tiêu hay động lực khiến doanh nghiệp đổi mới sáng tạo (OECD, 2005)

Bằng việc tìm hiểu tài liệu, NCS tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước về vấn đề này

1.1 Nghiên cứu về vai trò và bản chất của năng lực đổi mới sáng tạo

Muốn có đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp cần nhận thức đúng về bản chất và phương thức thực hiện đổi mới sáng tạo Nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài

đã đề cập đến chủ đề này Nhóm này thường xem xét tác động của đổi mới sáng tạo lên năng suất lao động, lợi thế cạnh tranh, hoặc hiệu năng hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc sử dụng các phương tiện định tính hoặc định lượng Điển hình là các điều tra như Khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Doanh nghiệp nhỏ của

Trang 26

Anh Quốc (SBRC, 1992), CBI/Natwest (1997), các nghiên cứu của các tác giả như Baldwin (1995), Yamin và cộng sự (1999), Gunday và cộng sự (2011), Hassan và cộng sự (2013), Hashi và Stojcic (2013), Lin (2013), Erturk (2014) Nhóm này đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận khi khẳng định được tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo và năng lực đổi mới sáng tạo đối với sự thành công của doanh nghiệp Tuy nhiên, hạn chế của nhóm này là hiếm khi đưa ra được các đề xuất cụ thể nhằm nâng cao khả năng đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp

Đổi mới sáng tạo (Innovation) đã được đề cập đến từ những năm đầu thế kỷ

20, sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 Và có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới sáng tạo Trong số các nhà khoa học đương thời, Joseph Schumpeter (1883-1950) là nhà kinh tế học thường được nhắc đến như là

“cha đẻ” của lĩnh vực nghiên cứu này Các công trình nghiên cứu của ông đã có đóng góp rất lớn trong việc phát triển khái niệm sáng tạo và có ảnh hưởng sâu sắc đến các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo sau này

Theo quan điểm của Schumpeter, đổi mới sáng tạo luôn tồn tại, phát triển kinh tế phải được xem xét như một quá trình thay đổi về chất do đổi mới sáng tạo đem lại Nếu chỉ nghiên cứu nền kinh tế thông qua sự phân bổ các nguồn lực cho trước là chưa đủ Ông cho rằng đổi mới sáng tạo là sự “kết hợp mới” các nguồn lực sẵn có và phát triển kinh tế được thúc đẩy bởi đổi mới sáng tạo thông qua một quá trình năng động trong đó các công nghệ mới thay thế những công nghệ cũ [158]

Ngay từ những năm 1930, Schumpeter đã đưa ra 5 loại đổi mới sáng tạo chính, bao gồm:

- Giới thiệu sản phẩm mới hoặc cải tiến/thay đổi đáng kể chất lượng sản phẩm hiện có;

- Phát triển thị trường mới;

- Phát triển nguồn cung ứng mới cho nguyên liệu và các yếu tố đầu vào khác;

- Đưa ra phương pháp sản xuất mới;

- Đổi mới tổ chức

Như vậy, trong 5 loại trên có thể chia làm 2 nhóm là đổi mới sáng tạo về sản phẩm, dịch vụ và đổi mới sáng tạo về quy trình

Trang 27

Từ những phát hiện và nghiên cứu ban đầu của Schumpeter, khái niệm đổi mới sáng tạo dần được phát triển hoàn thiện hơn và ngày càng được cộng đồng các nhà khoa học chú ý Từ đó đến nay có khá nhiều quan điểm khác nhau về đổi mới sáng tạo Sự đa dạng đó là do cách tiếp cận đổi mới sáng tạo từ các góc độ khác nhau (kinh tế, kỹ thuật, hành vi…), các đối tượng khác nhau (quốc gia, tổ chức, nhóm, cá nhân…) và các loại hình khác nhau (đổi mới sáng tạo sản phẩm, quy trình,

tổ chức…)

Định nghĩa của OECD (2005) hiện nay được nhiều nghiên cứu sử dụng phổ biến Theo đó, đổi mới sáng tạo có bốn loại hình: (1) đổi mới sáng tạo sản phẩm (product innovation); (2) đổi mới sáng tạo quy trình (process innovation); (3) đổi mới sáng tạo tổ chức (organizational innovation); (4) đổi mới sáng tạo marketing

(marketing innovation) [140] Phiên bản mới nhất của OECD (2018) đã sắp xếp lại

chỉ còn ĐMST sản phẩm và quy trình Đổi mới sáng tạo là một quy trình hay sản phẩm (bao gồm hàng hóa, dịch vụ) mới hoặc được cải tiến (hoặc kết hợp) có sự khác rõ nét với các sản phẩm hoặc quy trình trước đó của đơn vị và đồng thời được cung cấp cho người dùng tiềm năng (đối với sản phẩm) hoặc được đơn vị sử dụng (đối với quy trình) [141]

Nghiên cứu của Ram và cộng sự (2010), đã chỉ ra năm khía cạnh tổng quát thường được sử dụng để mô tả về đổi mới sáng tạo, bao gồm: (1) đổi mới sáng tạo

là cái gì đó mới; (2) đổi mới sáng tạo là phát minh; (3) đổi mới sáng tạo là một quá trình; (4) đổi mới sáng tạo là điều kiện cho sự thay đổi; (5) đổi mới sáng tạo là yếu

tố điều khiển giá trị [148]

Theo các tác giả này, trong năm khía cạnh trên của đổi mới sáng tạo thì trọng tâm vẫn là “một cái gì đó mới” và “cái mới” đó phải làm tăng giá trị hay mang lại

sự cải thiện cho đơn vị thực hiện

Một khía cạnh khác của đổi mới sáng tạo được Zaltman, Duncan và Holbek (1973) mô tả như “một quá trình sáng tạo, theo đó hai hay nhiều khái niệm hay thực thể được kết hợp theo một phương pháp mới để tạo ra một cấu hình mà trước đây chưa được biết đến bởi những người tham gia” Drucker (1985) cho rằng “đổi mới sáng tạo” là công cụ cụ thể của các doanh nhân, các phương tiện mà họ sử dụng để khai thác

sự thay đổi như một cơ hội để tạo ra công việc kinh doanh hay dịch vụ khác” [73]

Trang 28

Rogers (2003) lập luận rằng đổi mới sáng tạo là “một ý tưởng được thực thi, hoặc một đối tượng được coi là mới bởi một cá nhân hoặc đơn vị sử dụng nó” [152]

Cùng mục đích nghiên cứu về bản chất của đổi mới sáng tạo, Baregheh và cộng sự (2009) đã kế thừa và nhấn mạnh vào các giai đoạn đổi mới sáng tạo Theo các tác giả này, tất cả các bước cần phải có trong một quá trình đổi mới sáng tạo, thường bắt đầu bằng bước tạo ý tưởng và kết thúc bằng bước thương mại hóa [48]

Tóm lại, có thể thấy có rất nhiều nghiên cứu về định nghĩa và bản chất của đổi mới sáng tạo đã được đưa ra Mỗi định nghĩa khai thác những khía cạnh hay những thuộc tính khác nhau của đổi mới sáng tạo Điểm chung nhất khi nói về đổi mới sáng tạo chính là tính mới bất kể đó là mới trong hoạt động hay trong quá trình hay trong đầu ra

Hình 1.1: Cụm từ thường được sử dụng trong mỗi thuộc tính của ĐMST

Nguồn: [48]

Trên cơ sở phân tích các thuộc tính, các tác giả trên cũng đề xuất một định nghĩa riêng về đổi mới sáng tạo được kết hợp từ nhiều lĩnh vực khác nhau như tổ

chức, sản phẩm, quản trị… như sau: “đổi mới sáng tạo là một quá trình nhiều bước

qua đó các tổ chức chuyển đổi ý tưởng thành các sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình mới/ cải tiến, để vượt lên, cạnh tranh và làm khác biệt hóa bản thân một cách thành công trên thị trường” [48]

Đổi mới sáng tạo không chỉ dừng lại ở ý tưởng mà phải thực thi được điều gì

đó mới Một sản phẩm mới hoặc cải tiến được thực thi khi nó được giới thiệu ra thị

trường Những quy trình, phương pháp marketing hay phương pháp tổ chức được

Trang 29

mới sáng tạo có thể là việc thực thi một sự thay đổi lớn duy nhất hoặc là việc thực thi một tập hợp những thay đổi nhỏ cùng với nhau tạo nên một sự thay đổi lớn

Nghiên cứu về đổi mới sáng tạo của OECD (2005) là một bước tiến đáng kể

so với các nghiên cứu trước đó vốn chỉ tập trung vào các hoạt động khoa học công nghệ Rất nhiều các quốc gia trong và ngoài OECD đã tiến hành các điều tra về tình hình đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc dựa trên định nghĩa thống nhất về đổi mới sáng tạo của OECD Kể từ năm 1992, nhiều quốc gia ở châu Âu đã tiến hành các khảo sát định kỳ này Cho đến nay, đã có hơn 50 nước thường xuyên thực hiện khảo sát, không chỉ bao gồm các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển, trải dài từ châu Âu, qua châu Mỹ, và cả châu Á, châu Phi trong đó có thể kể đến là Hoa Kỳ, các nước thành viên của EU, Canada, Mexico, Australia, New Zealand, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Nhật, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan

Còn dưới góc độ tâm lý học, trong một nghiên cứu của các tác giả Lê Nam Hải, Hà Thị Hoài Hương, Đại học Huế coi sáng tạo là một thuộc tính của nhân cách con người Nhân cách sáng tạo được nhìn nhận thông qua hoạt động của cá nhân khi thực hiện những nhiệm vụ, những công việc nhằm đạt được mục đích đề ra Thông qua việc trình bày các quan điểm về sáng tạo của các nhà khoa học tâm lý để nhấn mạnh một số đặc trưng của nhân cách sáng tạo nhằm cung cấp một cái nhìn tích cực

về những phẩm chất cần có của con người sáng tạo [9] Ngoài ra, còn có những nghiên cứu về năng lực sáng tạo như: nghiên cứu quan hệ năng lực sáng tạo doanh nghiệp và quá trình khởi nghiệp bền vững, Nghiên cứu về năng lực sáng tạo của nông dân Việt Nam…

Như vậy, nhóm này khá phong phú về các nghiên cứu, tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đi sâu vào nghiên cứu quy trình tổ chức và quản lý hoạt động đổi mới sáng tạo, đồng thời chưa đánh giá được hiệu quả đầu tư cho đổi mới sáng tạo

1.2 Các nghiên cứu về năng lực đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp

Đổi mới sáng tạo ở cấp độ doanh nghiệp thường áp dụng rộng rãi ba lý thuyết là

lý thuyết quản trị dựa trên tri thức (ví dụ các nghiên cứu của Cohen và Levilthal, 1990),

lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực (ví dụ Kotabe và cộng sự, 2007) và lý thuyết quan

hệ mạng lưới (ví dụ nghiên cứu của Powell và cộng sự, 1996)

Trang 30

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo có xu hướng thiên về các doanh nghiệp lớn, có nguồn lực dồi dào, vậy làm thế nào để các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, có nguồn lực hạn chế có thể thực hiện các sáng kiến đổi mới sáng tạo Năm

2016 trong một nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ việc áp dụng các chiến lược quản trị tri thức “cá nhân hóa” và “bắt chước” có tác động tích cực tới đổi mới sáng tạo ở các doanh nghiệp Việt Nam Việc “bắt chước” các giải pháp của doanh nghiệp khác nhưng mới với doanh nghiệp của mình cũng là một loại đổi mới sáng tạo Nghiên cứu này ủng hộ luận điểm “bắt chước” là một biện pháp ít tốn kém và rủi ro, vừa giúp doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ nâng cao năng lực cạnh tranh Trên giác độ tri thức, “bắt chước” có thể coi là một quá trình học hỏi để thu nhận tri thức

từ bên ngoài nhằm phát triển sản phẩm mới, quy trình mới, hay cách thức marketing mới “ ắt chước” giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về các công nghệ và quy trình cơ bản mà các doanh nghiệp khác đã áp dụng từ trước

Nhóm nghiên cứu này thường đề cập đến ba nội dung:

(1) Nghiên cứu về tình hình đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp

(2) Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp

(3) Các tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo

Thứ nhất, các nghiên cứu về tình hình đổi mới sáng tạo trong các doanh

nghiệp: Hướng nghiên cứu về thực trạng đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp tập trung vào nghiên cứu và phát hiện ra tính chất, đặc điểm, tính quy luật của các quá trình đổi mới sáng tạo diễn ra trong công ty, bắt đầu từ việc nhận diện cơ hội, đề xuất ý tưởng mới, đánh giá và lựa chọn ý tưởng, chuyển đổi các ý tưởng thành các sản phẩm/dịch vụ, quy trình, hệ thống quản lý mới, phát triển năng lực đổi mới sáng tạo thông qua việc xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo trong phạm vi toàn công ty Những nghiên cứu thuộc nhóm này xem xét các doanh nghiệp có được những đổi mới sáng tạo gì trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 3-5 năm Điển hình

là các điều tra khảo sát ở tầm quốc gia Đặc điểm của các khảo sát này là được tiến hành trên diện rộng với quy mô mẫu lớn (có thể lên đến 2000 doanh nghiệp trở lên) Thành công của nhóm này là cho thấy một bức tranh tổng thể về thực trạng đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp của một đất nước, hiểu được mối liên hệ giữa đổi

Trang 31

mới sáng tạo trong các ngành nghề, các khu vực khác nhau của nền kinh tế, từ đó góp phần nâng cao hiểu biết về “hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia” (national innovation system) Hạn chế của các nghiên cứu này là thường thiên về mô tả thực trạng, ít kiểm định các nguyên nhân tại sao doanh nghiệp có hay không thực hiện đổi mới sáng tạo

Thứ hai, các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến đổi mới sáng tạo trong

các doanh nghiệp: nhóm này thường chỉ ra các nhân tố quyết định đến đổi mới sáng tạo, ví dụ như nghiên cứu của McGourty và cộng sự (1996), Shaw (1998), Balbontin và cộng sự (1999), Keogh (1999), Zhang và Cantwell (2011), Phan (2014) Mỗi một nghiên cứu đó đều có đóng góp nhất định cho kho tàng tri thức về đổi mới sáng tạo ở cấp độ doanh nghiệp Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào xem xét toàn diện vấn đề này Đa số các công trình, ví dụ nghiên cứu của Balbontin

và cộng sự (1999), Keogh (1999), Rujirawanich và cộng sự (2011) chỉ tập trung vào một hoặc hai loại đổi mới sáng tạo nhất định Một số nghiên cứu (ví dụ Zhang và Cantwell, 2011) xem xét các nhân tố tác động lên đổi mới sáng tạo nói chung nhưng lại coi đổi mới sáng tạo như một khái niệm tổng hợp mà chưa tách bạch được các loại hình đổi mới sáng tạo khác nhau

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo còn có các nghiên cứu thực nghiệm thường đưa ra kết quả về sự ảnh hưởng mạnh mẽ của đầu

tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đối với đổi mới sáng tạo như các nghiên cứu của Cerulli and Poti (2008), Mairesse and Mohnen (2010) Theo các nghiên cứu của các tác giả này, khả năng tài chính là yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp có nên quyết định đổi mới sáng tạo hay không Doanh nghiệp muốn tiến hành bất kỳ hoạt động gì trong đó có đổi mới sáng tạo, đều phụ thuộc vào khả năng chi trả cho các khoản đầu tư Đổi mới sáng tạo thường được xem là kết quả từ đầu tư vào R&D Mức chi cho R&D là phương pháp đo lường đổi mới được sử dụng phổ biến nhất Tương tự như bất kỳ khoản đầu tư nào khác, các hoạt động chi tiêu cho R&D đòi hỏi nguồn lực tài chính không nhỏ vì phải bỏ ra một khoản lớn cho nhân sự R&D với mức lương cao vì họ có trình độ cao [17], [60]

Bên cạnh khả năng tài chính, một số nghiên cứu cũng khẳng định vai trò quan trọng của yếu tố nhân lực, khả năng tiếp thu, nắm vững công nghệ của đội ngũ

Trang 32

nhân lực Các nghiên cứu thực nghiệm của Galende and Suarez (1998, 1999) đã xác nhận tác động của năng lực nhân viên đối với thành công của các hoạt động đổi mới sáng tạo của một công ty Một doanh nghiệp có khả năng đổi mới sáng tạo là một doanh nghiệp sở hữu đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân giỏi, có thể nắm bắt và làm chủ công nghệ mới đồng thời có thể cải tiến công nghệ nhập cho phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp mình [78], [79] Bên cạnh đó, yếu tố chi phí đào tạo trong nghiên cứu của Abdu và Jibir (2017), cũng có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo Chi phí đào tạo liên quan đến việc giới thiệu các sản phẩm và quy trình mới hoặc cải tiến cũng được coi là một phương pháp đầu vào đo lường đổi mới sáng tạo của một doanh nghiệp [39]

Nhóm các nghiên cứu trong nước chủ yếu đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam Nghiên cứu của Phan Thị Thục Anh và cộng sự (2015) nhấn mạnh đến yếu tố thuộc về lãnh đạo, trong đó tầm nhìn

và sự ủng hộ của lãnh đạo có vai trò là yếu tố thúc đẩy/ cản trở đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp [26]

Mới đây, một nghiên cứu về đổi mới sáng tạo có tính toàn diện được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc trường Đại học Kinh tế quốc dân từ năm 2013 đến

2016 Kết quả của nghiên cứu này đã phân tích rõ thực trạng cũng như các nhân tố tác động lên đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, được xem xét trên tất cả các khía cạnh: sản phẩm, quy trình, marketing, tổ chức

Những khó khăn khi thực hiện đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam cũng được các nhà khoa học trong nước đề cập nghiên cứu Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Anh, Đoàn Quang Hưng và Nguyễn Thị Phương Mai (2013) cho thấy các tổ chức tham gia vào hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia còn chưa mạnh và chưa phối hợp được chặt chẽ với nhau, quan hệ giữa cơ quan KH&CN với doanh nghiệp còn lỏng lẻo, thiếu liên kết quốc tế Sự yếu kém về

cơ sở hạ tầng, mức độ sẵn sàng về công nghệ cũng như hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia dẫn đến thực tế rằng doanh nghiệp Việt Nam khó phát triển được những đổi mới sáng tạo đột phá Doanh nghiệp Việt thường có xu hướng chấp nhận hoặc điều chỉnh đổi mới sáng tạo đã có sẵn hơn là tự phát triển chúng [135]

Đổi mới sáng tạo không mang tính đơn lẻ của từng doanh nghiệp, nghĩa là không phải doanh nghiệp nào thực hiện đổi mới sáng tạo sẽ chỉ có doanh nghiệp đó

Trang 33

được hưởng lợi và hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp không chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài Mà ngược lại, đổi mới sáng tạo mang tính hệ thống, nó phụ thuộc vào sự liên kết và tương tác giữa các doanh nghiệp với các tổ chức khác Lundvall (1992) và Cooke (1992) đã lần lượt đưa ra thuật ngữ “hệ thống đổi mới quốc gia (NIS)” và “hệ thống đổi mới khu vực (RIS)” Các doanh nghiệp, các trường đại học hay các viện nghiên cứu và chính quyền địa phương là những nhân tố cấu thành hệ thống đổi mới này Theo các tác giả này, sự hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp với các tổ chức trong hệ thống đổi mới khu vực như các trường đại học, các viện nghiên cứu có tác động quan trọng đối với hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp vì nó tạo nên lợi thế kinh tế nhờ quy mô, cũng như tạo thuận lợi trong việc phổ biến kết quả của đổi mới [119]

Còn theo Carboni (2011), Mansfield (1986) thì thể chế, trong đó có thái độ của Chính quyền địa phương thông qua chính sách trợ cấp các hoạt động đổi mới, R&D đóng một vai trò quan trọng trong hành vi sáng tạo của doanh nghiệp Nội dung của thể chế, chính sách bao gồm các quy định của pháp luật, chính sách về đầu

tư, tài chính, công nghệ, thị trường… của chính quyền Điều này điều tiết cả đầu vào và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, do đó đây là yếu tố giúp phân bổ các nguồn lực có hiệu quả, thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo,

cụ thể là đổi mới công nghệ [74], [142]

Các học giả Aubert, 2005 và Hobday, 2005 nhìn chung nhất trí với nhau rằng đổi mới sáng tạo bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài của doanh nghiệp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của cạnh tranh và sự thay đổi trong nhu cầu thị trường Cạnh tranh được coi là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, thực hiện đổi mới sáng tạo, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất [42], [72] Môi trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt sẽ khiến doanh nghiệp phải tự thay đổi để đạt được hiệu quả, nếu không muốn bị đào thải khỏi thị trường [35] Bên cạnh đó, đổi mới sáng tạo cũng xuất phát từ nhu cầu của thị trường Những thay đổi trong nhu cầu, đặc biệt là thay đổi về xu hướng, thị hiếu của khách hàng sẽ buộc doanh nghiệp phải đổi mới sáng tạo để khách hàng chấp nhận Ngược lại đối với những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường ít cạnh tranh hoặc nhu cầu biến động ít thì chỉ cần cố gắng ở mức độ vừa phải, duy trì những gì sẵn có là tổ chức đó đã có thể tồn

tại với kết quả hoạt động ở mức độ chấp nhận được [154]

Trang 34

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo, cũng có khá nhiều tác giả quan tâm Bên cạnh ảnh hưởng của môi trường bên ngoài, đổi mới sáng tạo trong tổ chức cũng bị ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố nội bộ Một trong những yếu tố nổi bật được rất nhiều nghiên cứu chỉ ra là quan điểm và sự ủng hộ của nhà lãnh đạo đối với hoạt động đổi mới sáng tạo Lãnh đạo trong tổ chức tạo ra môi trường và bầu không khí trong đó các nhân viên tương tác để cùng đạt mục tiêu Sự ủng hộ của lãnh đạo là điều kiện không thể thiếu đối với đổi mới sáng tạo Chỉ khi lãnh đạo thực tâm muốn thay đổi, muốn thực hiện cái mới thì hoạt động đổi mới sáng tạo mới có thể được thực thi Đây chính là nỗ lực “từ trên xuống” giúp cho hoạt động đổi mới sáng tạo được lan rộng [149]

Bảng 1.1: Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến năng lực ĐMST

De Jong &

Brouwer (1999)

Văn hóa

Cơ cấu tổ chức Các nguồn lực và công cụ Đặc điểm của doanh nghiệp Rouvinen (2002) Sử dụng nguồn tri thức bên

ngoài

Sự hợp tác với nhà cung cấp, sản xuất thiết bị

Tuổi trung bình của nhân viên Avermaete &

cộng sự (2004)

Năng lực của đội ngũ

Cải thiện quản trị nội bộ Sự kiểm soát của Chính phủ

Đầu tư vào đổi mới Phan (2015) Đào tạo, chia sẻ tri thức và sự

hài lòng của nhân viên

Sự ủng hộ của lãnh đạo/ nhà quản lý đối với đổi mới sáng tạo Mức độ chú trọng khách hàng Smith & cộng sự

(2008)

Phong cách quản lý và lãnh đạo Quản lý tri thức

Trang 35

Các nguồn lực Quá trình đổi mới

Cơ cấu của tổ chức Chiến lược

Người lao động Saunila & cộng

sự (2014)

Phát triển ý tưởng và cơ cấu tổ chức

Năng lực khai thác kiến thức Khách hàng và thị trường Năng lực quản lý rủi ro

Năng lực quản lý sự thay đổi Năng lực phát triển kinh doanh

Nguyễn Quốc Duy (2015) cũng chỉ ra các yếu tố tác động đến đổi mới sáng tạo từ bên ngoài là mối quan hệ liên kết, nghiên cứu phát triển và tiến bộ công nghệ; mối quan hệ với hiệp hội chuyên gia; và chính sách hỗ trợ đổi mới Cũng theo tác giả này, khi tổng kết cơ sở lý thuyết về đổi mới sáng tạo và các nhân tố tác động đã chỉ ra các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp bao gồm các nhân tố ảnh hưởng bên trong là các thuộc tính chung của công ty; các nhân tố thuộc về chiến lược cấp công ty và kiểm soát các hoạt động; các nhân tố thuộc về tổ chức, văn hóa và lãnh đạo; các nhân tố thuộc về nguồn lực và chiến lược chức năng [17]

Đối với các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng, môi trường cạnh tranh là yếu tố bên ngoài tác động thúc đẩy nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo để bản thân doanh nghiệp tồn tại và phát triển Doanh nghiệp

Trang 36

sẽ không có động lực đầu tư cho đổi mới sáng tạo nhất là đổi mới công nghệ khi không có áp lực từ thị trường, đối thủ cạnh tranh hoặc khi không thực hiện đổi mới vẫn còn có thể tồn tại trên thị trường Ngoài áp lực từ thị trường, nhận thức của doanh nghiệp, năng lực tiếp thu và làm chủ công nghệ mới của doanh nghiệp cũng

là yếu tố thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ

Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố công nghệ và đổi mới sáng tạo đến phát triển của doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp chưa có hoặc chưa xây dựng một chiến lược đổi mới sáng tạo cho riêng doanh nghiệp mình Có nhiều nguyên nhân mà trước nhất đó là việc doanh nghiệp cho rằng đổi mới công nghệ cần phải đầu tư nhiều và tốn kém Doanh nghiệp chưa nhận thấy có nhu cầu đổi mới sáng tạo là nguyên nhân thứ hai Sự ủng

hộ từ lãnh đạo cấp cao đóng vai trò quan trọng đẩy mạnh quá trình đổi mới sáng tạo, cho phép tổ chức thích nghi với những thay đổi nhanh chóng và bảo vệ mình trước môi trường bất định Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy sự ủng hộ của quản lý cấp cao là cần thiết để tạo ra một môi trường hỗ trợ và cung cấp đủ nguồn lực Tư duy của người quản lý có hướng đến đổi mới hay không sẽ quyết định đến việc doanh nghiệp thực hiện đổi mới Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Đức Anh (2018), nếu như độ tuổi của chủ doanh nghiệp Việt Nam tăng thêm 1 tuổi thì khả năng đổi mới của doanh nghiệp giảm 0,3% do tuổi càng lớn, khả năng chấp nhận rủi ro của chủ doanh nghiệp ngày càng giảm đi

Một nghiên cứu gần đây của Phùng Minh Thu Thủy và Nguyễn Thọ Đạt (2019), kết quả nghiên cứu định lượng trên các doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy chỉ có hoạt động nghiên cứu và phát triển có tương quan dương với năng lực đổi mới và phát triển trong khi kết quả nghiên cứu định tính cho thấy những yếu tố nội sinh như hoạt động nghiên cứu và phát triển, kinh nghiệm của nhà quản lý và năng lực của đội ngũ lao động có tác động tới năng lực đổi mới sáng tạoc của doanh nghiệp [29]

Một số các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo trong các ngành cụ thể Điển hình như đổi mới sáng tạo sản phẩm và đổi mới sáng tạo quy trình hướng đến yếu tố

“xanh” trong khách sạn (đổi mới sáng tạo sản phẩm xanh và quy trình xanh) [21] Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo quy trình trong các doanh

Trang 37

nghiệp phát điện Việt Nam dựa trên: lý thuyết lãnh đạo cấp cao (được cụ thể hóa là lãnh đạo nghiệp chủ), lý thuyết tri thức tổ chức (được cụ thể hóa là vốn trí tuệ) và lý thuyết học hỏi tổ chức (được cụ thể hóa là năng lực hấp thụ) (Vũ Hồng Tuấn, 2020) Phong cách lãnh đạo nghiệp chủ có tác động đến đổi mới sáng tạo quy trình trong bối cảnh nghiên cứu ở nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam Bên cạnh đó, lãnh đạo nghiệp chủ cũng là nhân tố quan trọng tác động gián tiếp đến kết quả kinh doanh thông qua vốn nhân lực, vốn quan hệ và ĐMST quy trình [38]

Thứ ba, các nhà khoa học nghiên cứu về tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới

sáng tạo của doanh nghiệp Nhóm này thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả Các tiêu chí để đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp khá phong phú, bao gồm các yếu tố đầu vào hoặc các yếu tố đầu ra hoặc kết hợp cả hai nhóm yếu tố này Ví dụ tiêu biểu một số tác giả sau:

Bảng 1.2: Các nghiên cứu về tiêu chí đánh giá năng lực ĐMST

của doanh nghiệp

Cirera & Muzi (2016) Chi phí cho R&D

Các hoạt động đổi mới sáng tạo

Sản phẩm/ dịch vụ mới Quy trình mới

Số lượng bằng phát minh, sáng chế

Phần trăm doanh thu từ sản phẩm mới

Hagedoorn & Cloodt

(2003)

Đầu vào cho hoạt động đổi mới và phát triển (R&D)

Số lượng bằng sáng chế Thông báo về sản phẩm mới

Quy trình mới/có cải tiến

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trang 38

Các nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D)

Theo OECD, đổi mới sáng tạo bao gồm toàn bộ các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại hóa dẫn đến hoặc có ý định dẫn đến việc thực thi đổi mới sáng tạo Hoạt động đổi mới sáng tạo không chỉ bao gồm hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) mà còn cả những hoạt động sau R&D liên quan đến sản xuất, phân phối và triển khai cũng như các hoạt động bổ trợ bao gồm đào tạo, nghiên cứu thị trường, thử nghiệm thị trường, mua máy móc thiết bị hay tiếp nhận tri thức mới…Một số hoạt động đổi mới sáng tạo tự bản thân nó thực sự sáng tạo, trong khi một số khác cần thiết cho việc thực thi đổi mới sáng tạo R&D đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình đổi mới sáng tạo

R&D là một trong những hoạt động của đổi mới sáng tạo Có rất nhiều các nghiên cứu nước ngoài về hoạt động R&D, đánh giá hiệu quả và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này OECD (2002) chỉ ra những ranh giới của R&D với các hoạt động khoa học khác có ý nghĩa quan trọng giúp các doanh nghiệp xác định rõ ràng và đúng trọng tâm trong đầu tư cho R&D, xác định đúng các chi phí đầu vào, kết quả đầu ra của R&D và qua đó tính chính xác hiệu quả của R&D Theo cách tiếp cận của OECD (2002) quy trình R&D bao gồm 2 giai đoạn: giai đoạn nghiên cứu với mục đích chính là tìm ra kiến thức mới và giai đoạn phát triển với mục đích chính là ứng dụng các kiến thức mới đó trong việc phát minh ra sản phẩm hoặc quy trình mới Tuy nhiên, các quy trình R&D cụ thể cho các tổ chức R&D khác nhau với các mục tiêu khác nhau sẽ có nhiều điểm khác biệt, phụ thuộc vào sự lựa chọn

và sắp xếp các hoạt động trong quy trình đó

Những nội dung cơ bản về R&D và quản trị R&D được Roussel, P.Saad, Erickson trong năm 1991 giới thiệu trong cuốn sách “Third generation R&D”, xuất bản bởi Arthur D.Little Inc ở Boston (MA) Theo Roussel và cộng sự (1991), R&D trong công nghiệp có ba vai trò chính, là chống đỡ, hỗ trợ và mở rộng hoạt động kinh doanh hiện tại; phát triển theo chiều sâu năng lực công nghệ và phát triển hoạt động kinh doanh mới của doanh nghiệp Các tác giả cũng phân tích sự khác biệt về vai trò của R&D sản phẩm và R&D công nghệ và dựa vào mức độ thực hiện các hoạt động nghiên cứu (R) và hoạt động phát triển (D) để phân chia hoạt động R&D ở các doanh nghiệp thành 3 loại cơ bản: R&D cơ bản, R&D ứng dụng và R&D toàn diện

Trang 39

Các nghiên cứu sau đó của Rothwell (1994), Miller và Morris (1999), Chiesa (2001), và Nobelius, D (2003) đều cho thấy một xu hướng có tính quy luật, là mặc

dù R&D mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn nhưng tính phức tạp ngày càng cao hơn và tỉ số rủi ro ngày càng lớn hơn Việc quản trị hệ thống R&D đa công nghệ, đa dự án thực sự là một nhiệm vụ khó khăn thách thức đối với các doanh nghiệp

Nhìn chung các nghiên cứu của Roussel và cộng sự (1991), Rothwell (1994), Miller và Morries (1998), Chiesa (2001), Nobelius (2003), Jain và Triandis (1990)

và Frascati Manual năm 2002 của OECD đã cung cấp khá toàn diện những lý luận

về R&D và quản trị R&D Trong đó, Frascati Manual năm 2002 của OECD cung cấp những khái niệm tiêu chuẩn và những giới hạn trong R&D, cung cấp những chỉ dẫn trong khảo sát và thống kê các dữ liệu tài chính, nhân lực cho R&D Những nghiên cứu này đã giúp cho tác giả nhận định và tiếp cận được nhiều vấn đề của R&D nói riêng và hoạt động đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nói chung

Khi nghiên cứu về đổi mới công nghệ, các tác giả Mai Lê Thúy Vân và các đồng nghiệp tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đăng trên Tạp chí phát triển Khoa học & Công nghệ (Chuyên san Kinh tế - Luật và quản lý, Tập 2, số 2, 2018) cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng “ưa chuộng” đổi mới quy trình nhiều hơn so với đổi mới sản phẩm Tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện cả hai loại đổi mới này còn thấp (chiếm khoảng 25,33% số doanh nghiệp được khảo sát) Nghiên cứu chỉ ra rằng doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho R&D và đào tạo nguồn nhân lực Nguyên nhân chủ yếu do hạn chế về nguồn lực tài chính và hoạt động này có mức độ rủi ro cao Phần lớn vốn huy động cho đổi mới công nghệ trong quá khứ đều đến từ vốn chủ sở hữu (75%), tiếp đến là các nguồn vốn tín dụng (21%) [16] Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lương Minh Huân và Nguyễn Thị Thùy Dương (2016), kinh phí chủ yếu cho các hoạt động cải tiến công nghệ đến từ nguồn vốn tự có của doanh nghiệp (chiếm 73,07%), tiếp đến là nguồn đi vay (chiếm 23,17%) [15]

Cũng theo nghiên cứu của các tác giả, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam rất ít khi hợp tác với doanh nghiệp bên ngoài hoặc cơ quan nghiên cứu trong quá trình đổi mới sáng tạo công nghệ của doanh nghiệp (hơn 80% doanh nghiệp được khảo

Trang 40

sát hoàn toàn thực hiện quá trình đổi mới công nghệ trong nội bộ doanh nghiệp) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu về đổi mới sáng tạo của Phùng Xuân Nhạ và

Lê Quân (2013) Theo hai tác giả này, sự phối hợp giữa doanh nghiệp với các tổ chức khác cũng rất ít, tỷ lệ chỉ có 16% doanh nghiệp từng làm việc với một đơn vị nghiên cứu và 17% doanh nghiệp từng làm việc với trường đại học [30]

Trong nghiên cứu về đổi mới sáng tạo doanh nghiệp, Phùng Xuân Nhạ và Lê Quân kết luận doanh nghiệp Việt Nam đã bước đầu quan tâm đến đổi mới sáng tạo nhưng chủ yếu chỉ phục vụ cho mục tiêu ngắn hạn, chưa thực sự đầu tư cho hoạt động này Tuy nhiên, hoạt động đổi mới sáng tạo này cũng đã đem lại những kết quả tích cực, đóng góp từ 11 – 20% doanh thu cho phần lớn các doanh nghiệp Đặc biệt, lĩnh vực công nghệ sinh học và vật liệu xây dựng, công nghệ môi trường có doanh thu đến từ sản phẩm mới lớn nhất Hầu hết, các doanh nghiệp đều gặp khó khăn về chi phí đổi mới sáng tạo Doanh nghiệp chưa phân định và xác định rõ ràng các chi phí Trong giai đoạn từ 2010 – 2012, trên 80% số doanh nghiệp được khảo sát có mức chi cho hoạt động đổi mới sáng tạo dưới 3 tỷ đồng Các khoản chi chủ yếu cho tư vấn và chuyển giao công nghệ Không có doanh nghiệp nào trả tiền để mua bằng phát minh sáng chế

Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu trên đã thực hiện khá lâu, từ những năm

1990 và đầu thập niên 2000 Do vậy với sự thay đổi nhanh chóng như hiện nay, cần

có nghiên cứu tổng hợp và phát triển thêm những nhân tố mới, những vấn đề mang tính thời sự vào một lĩnh vực đang được quan tâm như R&D, đổi mới sáng tạo

Năm 2019, ộ Khoa học và Công nghệ tiến hành một cuộc điều tra thu thập thông tin về đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, trong đó điều tra thí điểm hơn 7000 doanh nghiệp chế biến, chế tạo trên toàn quốc Thông tin từ cuộc điều tra này rất hữu ích trong việc đánh giá, nhìn nhận năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Theo kết quả điều tra ĐMST trong doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2014 –

2016 của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2018), trên 60% doanh nghiệp cho rằng ĐMST giúp họ cải thiện chất lượng của hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn chỉ ra những rào cản tới hoạt động đổi mới sáng tạo xếp theo thứ tự điểm cao nhất xuống như sau: Chi phí cho hoạt động đổi mới công nghệ quá cao (2,29/5 điểm), Thiếu nhân lực có đủ trình độ chuyên môn để có thể

Ngày đăng: 07/09/2023, 18:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w