1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh doanh bền vững: Hiểu từ cách mạng công nghiệp 4.0 tới năng lực đổi mới sáng tạo doanh nghiệp

16 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 412,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đi sâu phân tích về chủ thể và nội dung của năng lực đổi mới sáng tạo doanh nghiêp trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0 nhằm phục vụ doanh nghiệp kinh doanh bền vững. Cuối cùng, bài viết đề xuất một số gợi ý giúp doanh nghiệp phát triển năng lực đổi mới sáng tạo và kinh doanh bền vững.

Trang 1

KINH DOANH BỀN VỮNG: HIỂU TỪ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

TỚI NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO DOANH NGHIỆP

TS Lê Ngọc Thông Đại học Kinh tế Quốc dân Dương Trọng Hạnh Đại học Hoa Lư

Tóm tắt:

Bằng cách sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu tài liệu, phân tích – tổng hợp; lịch sử - lô gic; điều tra xã hội học; phỏng vấn; , bài viết chủ yếu tìm hiểu lý luận chung nhất về cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, năng lực đổi mới sáng tạo

và bản thân việc đổi mới sang tạo của doanh nghiệp, kinh doanh bền vững và mối quan hệ giữa các vấn đề này Từ đó, bài viết đi sâu phân tích về chủ thể và nội dung của năng lực đổi mới sáng tạo doanh nghiêp trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0 nhằm phục vụ doanh nghiệp kinh doanh bền vững Cuối cùng, bài viết đề xuất một số gợi ý giúp doanh nghiệp phát triển năng lực đổi mới sáng tạo và kinh doanh bền vững

Từ khóa: Cách mạng Công nghiệp, doanh nghiệp; đổi mới sáng tạo; kinh doanh bền vững; năng lực đổi mới sáng tạo;

Abstracts

By using a combination of theoretical research methods, documentary research, analysis - synthesis; history - logic; sociological Investigation; interview; , the essay explores the general theories of the industrial revolution 4.0, the capacity for innovation and the innovation

of the enterprise, the sustainable business and the relationship between the problems this From this, the article goes into the analysis and relate to the reality of the subject and the content of enterprise innovation capacity in the context of industrial revolution 4.0 to serve the business of sustainable business Finally, the paper proposes some suggestions to help businesses develop their capacity for innovation and sustainable business in Vietnam

Key words: business; capacity for innovation; industrial revolution, innovation;

sustainable business

1 Giới thiệu

Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0, đổi mới sáng tạo có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp như một tất yếu cho sự tồn tại và kinh doanh bền vững của doanh nghiệp Thực tế, các doanh nghiệp đã đặt ra mục tiêu kinh doanh bền vững Nhưng kết quả chưa khả quan, thiệt hại cho doanh nghiệp và cho cả đất nước Tìm ra và thực hiện giả pháp kinh doanh bền vững hiện nay như một trọng trách nặng nề và vinh quang của cá doanh nghiệp Trước hết nhận diện và chủ động can thiệt tới sự tác động từ Cách mạng Công nghiệp 4.0 năng lực toàn diện, năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

2 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu của bài viết là bổ sung làm rõ lý luận về cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, năng lực đổi mới sáng tạo và bản thân việc đổi mới sáng tạo, kinh doanh bền vững của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các vấn đề Trong đó, tìm hiểu kỹ về chủ thể và nội dung của năng lực đổi mới sang tạo của doanh nghiệp, như một yếu tố quyết định cho sự nghiệp kinh

Trang 2

doanh bền vững của doanh nghiệpy Từ đó đề xuất một vài gợi ý cho việc phát triển năng lực đổi mới sáng tạo, cho kinh doanh bền vững của doanh nghiệp

Để đạt tới mục tiêu trên, bài viết sử dụng tổng hợp các phương pháp: phân tích – tổng hợp; lịch sử - lô gic; nghiên cứu tài liệu; điều tra xã hội học và phỏng vấn, …

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Lý luận về mối quan hệ giữa cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và vấn đề kinh doanh bền vững của doanh nghiệp

3.1.1 Lý luận về cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0

Hiện nay người ta đưa ra nhiều nhận định về vấn đề này, theo chúng tôi có thể thống nhất

ở 1 số điểm Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh

Phạm Thế Trường1

(2018), đó là mô hình A - B – C – D - I Trong đó, AI trí tuệ nhân tạo; Big Data - dữ liệu lớn; Cloud Computing - điện toán đám mây; Digital Transformation

- chuyển đổi số; và Internet of Things - vạn vật kết nối Công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển Âu, Mỹ, một phần châu Á Từ đó xuất hiện nhiều cơ hội mới, và cả nhiều thách thức gây ra các bất bình đẳng, có thể phá vỡ thị trường lao động Bắt đầu từ lao động văn phòng, trí thức, lao động kỹ thuật, tiếp đến là lao động giá rẻ Tất cả đòi hỏi các doanh nghiệp thay đổi, dẫn tới sự bất ổn về kinh tế Riêng Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ đưa tới bất

ổn về đời sống; bất ổn về chính trị Đó là sự tồn tại, phát triển xã hội không bền vững, là sự chông chênh, dường như đảo lộn hệ giá trị sống, hệ giá trị con người, với phạm vi toàn cầu

Thành quả cách mạng kỹ thuật, cách thức giao tiếp trên Internet cũng đặt con người vào nhiều nguy hiểm về tài chính, sức khoẻ, an toàn bí mật cá nhân

Tập trung lại các thách thức, yêu cầu hoạtt động xã hội, cả quá trình kinh doanh phải được tiến tới tiếp cận với sự bền vững

3.1.2 Lý luận về kinh doanh bền vững

Căn cứ cho kinh doanh bền vững phải dự trên hiểu biết về phát triển bền vững

Đó là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng,

Yêu cầu của phá triển bền vững: bảo đảm có sự phát triển hiệu quả về kinh tế, công bằng cho xã hội và bảo vệ môi trường

1

Ông Phạm Thế Trường là Tổng Giám đốc Microsoft Việt Nam

2 Trích trong Báo cáo Our Common Future của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED nay là Ủy ban Brundtland

Trang 3

Hình 1 Mô hình phát triển bền vững 3

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Phát triển bền vững là sự dung hòa kinh tế - chính trị- môi trường – an ninh quốc phòng

Từ duy trì gia tăng sự bình đẳng giữa các thế hệ và xem đó như một triết lý bền vững Mục đích của phát triển bền vững, phục vụ con ngươi, sao cho mọi người sung túc không đói nghèo; được tiếp cận nền giáo dục phù hợp tiên tiến và sức khỏe Muốn vậy, cần giải quyết một cách cân đối các vấn đề về môi trường và phát triển đồng thời ở mọi cơ sở hoạt động và

là trách nhiệm của mọi thành viên xã hội

Các doanh nghiệp - chủ thể kinh doanh, chiến sỹ trên mặt trận kinh tế với sứ mệnh

phát triển bền vững, kinh doanh bền vững doanh nghiệp - sự định hướng hoạt động xã hội.

3.1.3 Kinh doanh bền vững

Đảm bảo được sự cân bằng của ba trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường, là đòi hỏi tất yếu đối với cộng đồng doanh nghiệp, nhằm đảm bảo quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan Khi đó, doanh nghiệp phải giải quyết nhiều nghĩa vụ, tốn kém Tực chất, đó là doanhnghiệp thực hiện trách nhiễm xã hội, thay đổi công nghệ tiên tiến hơn, ít gây hại cho môi trường Từ đó, tạo nên những lợi ích, những cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp về vốn

và hệ giá trị đóng góp, gia tăng giá trị của các bên liên quan lâu dài

Kinh doanh bền vững là kết quả của nhiều động thái trách nhiệm

- Thực hiện kinh doanh vì phát triển bền vững, phát hiện và can thiệp tới các tác động lớn nhất đến công ty về rủi ro cũng như cơ hội lâu dài

- Nhận định và góp phần trong phát triển bền vững trên thế giới và trong nước

- Xây dựng và thực hiện mô hình kinh doanh, các sản phẩm mới hoặc dịch vụ có thể được điều chỉnh, chuyển đổi hoặc sắp xếp lại các chuỗi cung ứng, …

Để phát triển bền vững, trước hết doanh nghiệp cần phải hiểu rõ phát triển bền vững là

gì, các cấu phần của nó ra sao ở các cấp độ khác nhau: toàn cầu, quốc gia, doanh nghiệp và đối với bản thân từng cá nhân

Muốn thực hiện được cácnhiệm vụ trên, doanh nghiệp dựa trên 2 tiền đề cũng là động lực chính cho sự phát triển và kinh doanh bền vững của doanh nghiệp: phẩm chất đạo đức và năng lực đổi mới sáng tạo

3.2 Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

3.2.1 Tiến trình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

3 Trương Quang Học - Hoàng Văn Thắng; “con đường phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi toàn cầu”, Đăng tải trên http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx

Trang 4

Về điều này cần làm rõ các nội dung: khái niệm, quy trình, hình thức, kết quả và đo lường đổi mới sáng tạo

3.2.1.1 Khái niệm: Đổi mới sáng tạo (innovation) của doanh nghiệp là quá trình doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay hệ thống quản lý mới, hình thành, điều chỉnh các mối quan hệ mới nhằm đáp ứng các yêu cầu mới của quá trình kinh doanh, của xã hội

3.2.1.2 Quy trình đổi mới sáng tạo:

Nghiên cứu Æ lập kế hoạch Æ tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật Æ thương mại hóa

Kết quả của tiến trình đổi mới sáng tạo: biến một phát minh thành sản phẩm, dịch vụ mới được thị trường chấp thuận (thực hiện được giá trị), doanh nghiệp thu được lợi nhuận

Trong quá trình kinh doanh, cũng cần quan tâm tới ba yếu tố cạnh tranh cơ bản: giá cả, chất lượng và dịch vụ

Tóm lại, đổi mới sáng tạo là quá trình bắt đầu từ một ý tưởng và kết thúc bằng việc triển khai thị trường thương mại thành công

Ý tưởng sáng tạo thường xuất hiện từ nhu cầu cạnh tranh thị trường tốt hơn, có thể đến

từ bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp Khi đó, doanh nghiệp phải giải bài toán cân đối, tối ưu giữa nguồn lực của doanh nghiệp và của đối thủ cạnh tranh trong môi trường kinh doanh vừa đã biết, vừa chưa biết, từ đó đánh giá cơ hội thành công trên thị trường Hiện nay môi trường kinh doanh mới được phủ bằng làn sóng công nghiệp 4.0 và sự can thiệp, bảo trợ,

hỗ trợ từ chính phủ Đồng thời, làn sóng đó cũng tham gia vào phía đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, đổi mới sáng tạo hàm ẩn rất nhiều rủi ro với hai hướng chiến lược đổi mới sáng tạo: (i) Doanh nghiệp xây dựng các kiến thức và năng lực có ưu thế hơn đối thủ cạnh tranh từ sử dụng công nghệ hay liên kết khách hàng – tạm gọi là lướt sóng công nghệ 4.0; (ii) Tạo ra các rào cản hợp pháp với đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn dựa vào vào công nghệ mới và tối đa hóa lợi nhuận – tạm gọi là đẩy sào, tách sóng

Theo Schumpeter (1934), trong doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo gồm 5 nhóm chính4: (1) cung cấp sản phẩm mới hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm đang có; (2) tthực hiện

phương pháp, quy trình, chất liệu sản xuất mới; (3) tìm kiếm, phát triển thị trường mới; (4) tạo

ra và phát triển nguồn cung ứng mới; (5) đổi mới tổ chức

Với OECD (2005), đổi mới sáng tạo được quy về hai hướng chính5: (i) đổi mới sáng tạo về bản thân sản phẩm, dịch vụ (với chức năng và giá cả mới tiến bộ hơn); (ii) đổi mới sáng tạo về cách tạo ra và thực hiện giá trị sản phẩm (ở cả 4 khâu của quá trình tái sản xuất: sản xuất, phân phói, trao đổi và tiêu dùng) Dù bằng cách nào, muốn đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp cần đầu tư (nghĩa rộng) rất lớn vào nguồn vốn và R&D

Đổi mới sáng tạo không chỉ dừng lại ở nghiên cứu, sáng chế ra sản phẩm mới, mà phải hướng đến khai thác được nhu cầu lớn nhất trên thị trường Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo biểu hiện qua việc liên tục tạo ra giá trị mới để thu hút khách hàng tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ ngày một nhiều hơn, sẵn lòng trả với giá cao hơn

Đo lường hiệu quả của đổi mới sáng tạo: (i) qua doanh thu từ sản phẩm, dịch vụ; (ii)

số phát minh, sáng chế, song một phát minh sáng chế là kết quả của nhiều năm đầu tư cho R&D

4 Shumpeter, J (1934), The Theory of Economic Development, Harvard University Press.

5 OECD (2005), Manuel d'Oslo.

Trang 5

Lưu ý: Không chỉ căn cứ vào doanh thu hoặc lợi nhuận từ sản phẩm mới để đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo, sản phẩm mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu trong chu kỳ dòng đời sản phẩm

Đổi mới sáng tạo cần tuân thủ nguyên tắc nhất quán là tìm ra cách thức, giải pháp nhằm khai thác nhu cầu lớn nhất

3.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng chi phối tiến trình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Thực tế, nảy sinh rất nhiều yếu tố can thiệp, ảnh hưởng tới sự đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Mối quan hệ đó được thể hiện qua mô hình sau:

Hình 2 Các yếu tố chi phối sự đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp 6

(Nguồn: Tổng hợp từ Romijn & Albaladejo (2002); Wan & cộng sự (2005); Darroch(2005); Schulze & Hoegl (2008); Nguyễn Quốc Duy (2015)) Trong đó, con người là nhân tố chính – chủ thể của đổi mới sáng tạo + doanh nghiệp

có cấu trúc tổ chức linh hoạt, hữu cơ + đào tạo và phát triển nhân sự + văn hóa doanh nghiệp +

Tính tất yếu trong đổi mới sáng tạo của DN

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, doanh nghiệp đứng trước lựa chọn đổi mới sáng tạo, nghiên cứu phát triển hay là phá sản

3.2.1.4.Con đường đổi mới sáng tạo

Đổi mới sáng tạo được thực hiện bằng nhiều con đường

(1) Từ hợp tác quốc tế, thay thế công nghệ lạc hậu, việc hợp tác với các quốc gia, doanh nghiệp các quốc gia, tổ chức quốc tế có nền khoa học công nghệ phát triển là hoạt động quan trọng, hữu hiệu

Chương trình đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) CT này được thực hiện từ tháng 8/2009 – 2/2014 với nguồn hỗ trợ không hoàn lại của Chính phủ Phần Lan, thông qua IPP, Kết quả: xây dựng hệ thống chính sách khoa học công nghệ gồm Luật Khoa học Công nghệ và các chính sách phát triển khác, đồng thời hỗ trợ một số tổ chức khoa học công nghệ, viện nghiên cứu, các trường đại học ở Việt Nam tiến hành đổi mới sáng tạo, đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh

6 Trần Thị Hồng Việt (2016), “Nhân tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của cá doanh nghiệp da giày Hà Nội”, tạp chí Quản lý kinh tế số 74 (1+2/2016)

Trang 6

Bước đầu xây dựng một số doanh nghiệp khoa học công nghệ khoa học công nghệ đóng vai trò hạt nhân trong các doanh nghiệp, đưa khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh, tạo sản phẩm mới phục vụ sản xuất và đời sống

Nhận được nhiều kinh nghiệm quý báu từ Phần Lan và các quốc gia phát triển khác là làm thế nào để nâng cao chất lượng các dự án, đề tài nghiên cứu, đưa kết quả nghiên cứu vào cuộc sống

(1) Tháo gỡ ách tắc về chính sách

Doanh nghiệp Việt chưa đổi mới, sáng tạo, phát triển khoa học công nghệ do nhiều nguyên nhân Trong đó có nguyên nhân từ chính sách của Nhà nước bất hợp lý, thủ tục hành chính phiền phức; sự quan liêu của bộ máy hành chính Nhà nước chưa tạo ra được môi trường kết hợp giữa thị trường và khoa học công nghệ Dẫn tới, nhiều đề tài, dự án hay, xuất sắc không được sử dụng, doanh nghiệp thiếu giải giải pháp, công nghệ mới Tổng thể, việc xây dựng và sử dụng Quỹ phát triển khoa học công nghệ của doanh nghiệp chưa hiệu quả Do vậy, cần nhiều, rất nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo thông qua Quỹ đổi mới khoa học công nghệ quốc gia, Chương trình Sản phẩm quốc gia, quỹ đầu tư mạo hiểm… nhằm hình thành các nguồn lực phục vụ đổi mới sáng tạo, triển khai các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh Ở đó, doanh nghiệp là yếu tố quyết định, cộng với sự hỗ trợ tích cực từ khung khổ pháp lý khoa học công nghệ; các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và nguồn lực từ hợp tác quốc tế là những yếu tố quan trọng trong hành trang của doanh nghiệp trên con đường đổi mới sáng tạo

3.2.2 Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

Theo Tâm lý học7, năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đác của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả

Căn cứ vào mức độ phát triển của năng lực có thể chia năng lực thành hai loại: năng lực sáng tạo thể hiện ở những cá nhân có thể đem lại những giá trị mới, những sản phẩm mới quý giá cho xã hội; năng lực học tập nghiên cứu thể hiện ở chỗ cá nhân nắm vững nhanh chóng và vững chắc kỹ năng, kỹ xảo, tri thức theo một chương trình học tập nào đó

Các mức độ của năng lực: năng lực; tài năng; thiên tài

Vậy, năng lực là một yếu tố thành phần của nhân cách, nên các yếu tố ảnh hưởng tới

sự hình thành và phát triển nhân cách cũng là các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển năng lực Các yếu tố chi phối năng lực: (1) Yếu tố bẩm sinh, di truyền; (2) Yếu tố môi trường: gia đình, nhà trường, xã hội; (3) Sự hoạt động thực tiễn và giao tiếp: cá nhân và tập thể

Năng lực được hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất, “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”; thứ hai, “phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [64,

tr.656]

Vận dụng lý luận trên trong nghiên cứu năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, nhằm khẳng định nội dung và chủ thể năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

3.2.2.1 Nội dung năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

a Tiền đề ban đầu cho việc nghiên cứu là sự khẳng định với 2 điểm:

* Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp là năng lực thực hiện sự đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp

7 ThS Dương Thị Kim Oanh (ĐH Bách khoa Hà Nội, kho Sư phạm kỹ thuật), Bài giảng “Tâm lý học đại cương”

Trang 7

* Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp vừa là yêu cầu, vừa là tất yếu cho sự tồn tại của doanh nghiệp

b Nguồn gốc của năng lực đổi mới sáng tạo doanh nghiệp

Năng lực đổi mới sáng tạo doanh nghiệp là sản phẩm của sự thống nhất giữa các yếu

tố khách quan và nhân tố chủ quan trong doanh nghiệp hướng tới sự đổi mới sáng tạo doanh nghiệp Tại đây, các yếu tố khách quan giữ vai trò quyết định nội dung năng lực đổi mới sáng tạo; thông qua lăng kính chủ quan (một phần của chủ thể) sẽ hình thành nên năng lực đổi mới sáng tạo về tính chất, mục tiêu, đối tượng phục vụ

Lưu ý: trong chủ thể của năng lực đổi mới sáng tạo bao hàm cả yếu tố khách quan và

cả một số nhân tố chủ quan trong quan hệ nguồn gốc của năng lực đổi mới sáng tạo

Quan hệ giữa các thành tố đó được thể hiện bằng mô hình sau:

Hình 3 Nguồn gốc hình thành năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

Nguồn: Tác giả tự xây dựng

c Nội dung (thành tố) của năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

Xuất phát từ Tâm lý học, năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố có vai trò riêng tương ứng

* Cách thường dùng để xét nội dung đó bằng việc phương thứcthực hiện Với cách này năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp gồm 2 thành tố chính: năng lực đổi mới sáng tạo trong nhận thức và năng lực đổi mới sáng tạo trong hoạt động thực tiễn về kinh doanh của doanh nghiệp

Thành phần thứ nhất được biểu hiện ở khuynh hướng nhận thức và hành động, ở kết quả xử lý thông tin và nhất là kết quả hoạt động; là khả năng vận dụng, huy động tri thức kinh doanh đáp ứng mục tiêu doanh nghiệp

Xã hội đổi mới hiện nay đòi hỏi các thành viên của tổ chức phải có các năng lực tốt nhất, phù hợp nhất được kế thừa từ truyền thống tổ chức đó; đồng thời cần phải có những năng lực mới từ mô hình tổ chức, hoạt động và điều kiện mới

Thành phần thứ 2, năng lực thực hành đổi mới sáng tạo gồm kiến thức và kỹ năng thực hiện sự đổi mới sáng tạo gồm:

(1) Năng lực thực thi công vụ một cách khoa học, cần mẫn, trách nhiệm và đổi mới, sáng tạo Nhóm năng lực này bảo đảm công chức lao động có hiệu lực với năng suất, chất lượng và hiệu quả đáp ứng yêu cầu đặt ra và đem lại sự hài lòng đối với đối tượng được phục vụ

Trang 8

(2) Năng lực huy động sức mạnh của công dân, tập thể và cộng đồng Nhóm năng lực này bảo đảm công chức thực hành dân chủ cơ sở, tạo dựng được niềm tin, góp phần tăng cường sự đồng thuận xã hội, đoàn kết xã hội và kiến tạo, phát triển

* Căn cứ vào sự biểu hiện có thể nhận diện được, nội dung năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp gồm 4 khả năng (hay 4 năng lực thành phần)

(1) Khả năng tạo ra sự khác biệt ở sản phẩm, dịch vụ có tiềm năng mang về lợi nhuận vượt trội cũng như khả năng thích ứng với thị trường

(2) Khả năng thực hiện sự quan tâm của lãnh đạo, và khả năng nắm bắt và xử lý thông tin, và

sự đầu tư cho đổi mới sáng tạo của cácthành viên trong doanh nghiệp

(3) Khả năng đầu tư nguôn lực cho đổi mới sáng tạo

(4) Khả năng tạo ra bầu không khí sáng tạo trong doanh nghiệp, các thành viên doanh nghiêp ủng hộ và mạnh dạn đề đạt sáng kiến, tôn trọng và hỗ trợ triển khai các đề xuất và có quy tắc

rõ ràng hỗ trợ cho sáng tạo

(5) Khả năng nghiên cứu và phát triển (R&D)

Từ các nội dung đó, việc nghiên cứu năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp có thể dựa vào mô hình sau:

Hình 4 Khung năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp 8

Nguồn: Tác giả tự xây dựng Các nội dung đó, có thể vận động đồng thuận hay nghich nhau, tùy điều kiện trực tiếp của chúng, nhưng suy cho cùng, chúng tác động và tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo của DN

Một vài biểu hiện hay gặp: sản phẩm mới luôn khó đáp ứng nhu cầu thị trường và tiềm

ẩn nhiều rủi ro, kể cả khả năng thất bại; có giải pháp kỹ thuật để tạo ra sản phẩm mới, nhưng sản phẩm đó được phần đông khách hàng chấp nhận hay không;

Cần kết hợp kết quả sáng tạo từ năng lực thích ứng với R&D để xác định đầy đủ các giải pháp, dự án đổi mới sáng tạo Có được giải pháp, dự án mới chỉ là bước khởi đầu, quan trọng là sự quyết tâm đầu tư nguồn lực để thực hiện Cần phân tích mối quan hệ giữa các dự

án với nhau để tích hợp thành những chương trình đổi mới sáng tạo cốt lõi nhất, tránh việc đầu tư dàn trải, phân tán nguồn lực Đồng thời phải xác định được thời điểm hợp lý để thông

8

TS Huỳnh Thanh Điền ”Phát triển năng lực sáng tạo cho doanh nghiệp”, 16/5/2018 trên web

https://doanhnhansaigon.vn/goc-nha-quan-tri/phat-trien-nang-luc-sang-tao-cho-doanh-nghiep-1085653.html

Trang 9

báo kết quả đổi mới sáng tạo Khi doanh thu của sản phẩm truyền thống chững lại, nhu cầu về sản phẩm mới của khách hàng lộ rõ thì mới là thời điểm thích hợp để tung ra sản phẩm mới 3.2.2.2 Chủ thể của năng lực đổi mới sáng tạo doanh nghiệp

Căn cứ vào các luận điểm đã phân tích ở trên, năng lực thuộc lĩnh vực tinh thần của con người, chủ thể của năng lực là con người Do vậy chủ thể năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp là tập hợp cá thành viên tham gia hoạt động trong doanh nghiệp đó Trong đó

có 2 thành phần chính là người quản lý và người lao động

a Mối quan hệ giữa người lãnh đạo - quản lý và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

Lãnh đạo – quản lý đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với thành công của doanh nghiệp Vai trò: thiết lập mục tiêu, chiến lược doanh nghiệp; tập hợp và thúc đẩy cá nguuồn lực doanh nghiệp thực hiện mục tiêu đổi mới sáng tạo doanh nghiệp

Chìa khóa để lãnh đạo – quản lý thành công là khả năng làm chủ được các kỹ năng quan trọng, từ việc triển khai và quản lý các quá trình hoạt động đến việc truyền cảm hứng vươn tới

sự tiến bộ cho các thành viên trong doanh nghiệp

Với bộ phận lãnh đạo – quản lý, Richard L Hughes (2000) và các đồng sự nói tới năng lực sáng tạo bằng khái niệm “trí thông minh sáng tạo” – thuộc sáu khối năng lực, kỹ năng lãnh đạo.9

Hình 5 Năng lực, kỹ năng lãnh đạo

Nguồn: Tác giả tự xây dựng Trong đó, có năng lực lãnh đạo đổi mới sáng tạo là sự liên kết thống nhất từ nhiều yếu tố, được thể hiện qua mô hình sau:

Hình 6 Năng lực đổi mới sáng tạo của người lãnh đạo – quản lý doanh nghiệp

9 Lược dịch Richard L Hughes (2000) đăng tải trên www.askmen.com

Trang 10

Nguồn: Tác giả tự xây dựng

Do vậy, trí thông minh sáng tạo hay năng lực sáng tạo được tạo gồm: khả năng tổng hợp, phân tích, giải quyết vấn đề thực tiễn, cách tư duy, các đặc điểm tính cách, động lực bên trong

và những yếu tố bên ngoài

Vậy, năng lực đổi mới sáng tạo được xét trong quan hệ với con người sáng tạo và xã hội sáng tạo Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu các thành viên trong doanh nghiệp cần có khả năng nhận thức và hành động theo xu hướng của cuộc cuộc cách mạng Theo ông Phạm Thế Trường10

(2018), cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang hiện hữu trong đời sống sinh hoạt và trong kinh doanh, quản lý Nếu không muốn bỏ lại phía sau, doanh nghiệp cần sớm nắm bắt những đặc điểm, cũng là các điểm nhấn ưu việt của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, với mô hình A - B – C – D - I

Trong đó, AI trí tuệ nhân tạo; Big Data - dữ liệu lớn; Cloud Computing - điện toán đám mây; Digital Transformation - chuyển đổi số; và Internet of Things - vạn vật kết nối

b Mối quan hệ giữa năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp với người lao động trong donh nghiệp -Phát huy năng lực sáng tạo của người lao động11

Lao động trong doanh nghiệp rất đa dạng về trình độ, kỹ năng chuyên môn, văn hóa Năng lực (kiến thức, kỹ năng, và thái độ) của người lao động được hình thành từ học tập, và củng cố, phát triển trong quá trình làm việc

Theo Van de Ven (1986), sự sáng tạo của người lao động có tác dụng to lớn thúc đẩy

sự thành công của doanh nghiệp Hành vi sáng tạo của họ là một yếu tố tạo nên sự đổi mới; còn Amabile (1988) lại cho răng, sự sáng tạo của cá nhân là khi cá nhân (hoặc nhóm) nảy sinh

ý tưởng mới hoặc hữu ích hay đề xuất các cơ chế, quy trình mới để thực hiện các nhiệm vụ, hoặc xác định các sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng Sự sáng tạo có liên quan đến một thuộc tính cố hữu doanh nghiệp – thuộc tính tương tác

Trong đó, sự sáng tạo của nhân viên là nền tảng cho những nỗ lực của công ty nhằm đổi mới doanh nghiệp Scott & Bruce (1994) cho rằng, hành vi đổi mới có quy trình thực hiện:

Nhận diện các vấn đề phát sinh Æ hình thành nên những ý tưởng hoặc giải pháp mới

và hữu ích Æ chuẩn bị nguồn lực và lên kế hoạch thực hiện Æ ứng dụng ý tưởng vào thực tế

Điều đó được thể hiện qua mô hình sau:

10 Ông Phạm Thế Trường là Tổng Giám đốc Microsoft Việt Nam

11

Dựa vào 1 số nội dung của ThS Phạm Hồng Liêm (Khoa Du lịch, Trường Đại học Khánh Hòa), “Phát huy năng lực sáng tạo của người lao động

Ngày đăng: 30/06/2021, 09:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Baumgarten, D., Geishecker, I. & Gửrg, H. (2010), “Ofshoring, tasks, and the skill-wage pat-tern”, CEGE Discussion Paper, 98. Retrieved from http://ssrn.com/abstract=1574784. doi:10.2139/ssrn.1574784. YES Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ofshoring, tasks, and the skill-wage pat-tern
Tác giả: Baumgarten, D., Geishecker, I. & Gửrg, H
Năm: 2010
2. Bharadwaj, S. & Menon, A. (2000). “Making innovation happen in organizations: Individual creativity mechanisms, organizational creativity mechanisms or both?”, Journal of Product Innovation Management, 17, 424–434 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Making innovation happen in organizations: Individual creativity mechanisms, organizational creativity mechanisms or both
Tác giả: Bharadwaj, S. & Menon, A
Năm: 2000
3. Farr, J. & Ford, C. (1990). “Individual innovation”. In M. West, & J. Farr (eds), Innovation& Creativity at Work (pp. Psychological & Organisational Strategies (63-80)). Wiley:Chichester, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Individual innovation
Tác giả: Farr, J. & Ford, C
Năm: 1990
4. Gong, Y., Huang, J.C. & Farh, J.L. (2009), “Employee learning orientation, transformational leadership, and employee creativity: The mediating role of employee creative self-efficacy”, Academy of Management Journal,52, 765-778 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Employee learning orientation, transformational leadership, and employee creativity: The mediating role of employee creative self-efficacy
Tác giả: Gong, Y., Huang, J.C. & Farh, J.L
Năm: 2009
5. Michael, L.A.H., Hou, S.T. & Fan, H.L. (2011), “Creative self-efficacy and innovative behavior in a service setting: Optimism as a moderator”, The Journal of Creative Behavior, 45(4), 258-272 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Creative self-efficacy and innovative behavior in a service setting: Optimism as a moderator
Tác giả: Michael, L.A.H., Hou, S.T. & Fan, H.L
Năm: 2011
6. Preiss, K.J., & Spooner, K. (2003), “Innovation creation and diffusion in the Australian economiy”, International Journal of Entrerpreneurship and Innovation Management, 3, 197-210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Innovation creation and diffusion in the Australian economiy
Tác giả: Preiss, K.J., & Spooner, K
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w